tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019816
20.02.2009
Vũ Bằng
Phù Dung ơi, vĩnh biệt! (Chương 24 - 2)

Nghe mà tức quá. Tấm lòng tự ái, tưởng đã mất, bỗng lại sôi lên. À, họ đã nói thế thì được, được. Rồi ta sẽ cho họ xem ta là một thằng như thế nào. Người khác không bỏ được mà ta bỏ được thì mới giỏi!


Tôi bèn hỏi tên bồi tiềm:


- Thế anh? Anh cho rằng tôi có bỏ được hay không?


- Ông hỏi như vậy, không thể nào đáp được. Thôi thì con cũng cứ chúc cho ông bỏ được tiệt nó đi. Nhưng ông phải cẩn thận lắm lắm. Theo lời người ta nói với con, cái nghề bỏ thuốc phiện này dai dẳng lắm, một hai tháng chưa nước gì. Đấy, xem như ông Ba Quảng. Bỏ được bảy tháng rồi, ai chẳng tưởng là thoát hẳn. Vậy mà sang đến tháng thứ tám thì nó sinh ra chứng giật gân, méo mồm, phải hút lại ngay. Ông Ích cai năm tháng rưỡi, sinh ra đau bụng đi kiết rồi chỉ có một tuần chủ nhật, róc cả thịt đi, "nằm trên giường mà trông như một bộ xương ở trường thuốc người ta lấy giấy bóng dầm nước phiết ra bên ngoài". Lại vừa đây, ông có biết không? Ông Thường Sơn vẫn nằm nói chuyện với cô Paulette ấy mà!... Chết rồi, ông ạ.


- Chết rồi? Làm sao?


- Cũng tại cai thuốc đấy. Ông ta dùng một thứ thuốc cai tài lắm - nghe như có mật ong và lòng trứng. Bỏ hẳn. Hút vào thì hen. Trông thấy thuốc phiện thì sợ. Ai chẳng mừng. Vậy mà ba hôm trước đây, chết rồi. Chết đột nhiên quá. Y như là mộng.


- Có ai biết ông ấy chết vì cớ gì không?


- Cả tiệm nói về ông ta không ngớt. Theo lời ông Bính, ông ta chết vì hư hỏa. Thế này: Phàm người nào mà nghiện thuốc rồi cai thì hư hỏa bốc lên gớm lắm. Nó làm cho cuồng lên và chỉ ròng nghĩ đến đàn bà. Mà chân thận thì lại kém. Ông Ích, nghe đâu cũng thế. Mà vợ ông ta lại đẹp và hình như lại khỏe. Một tối kia, hai vợ chồng đi ngủ: chẳng làm sao. Đến sáng dậy thì ông chồng đã chết còng queo ở bên cạnh vợ từ bao giờ rồi. Mắt cứ vàng ra. Thịt mềm lại như sợi bún. Cả tiệm rất sợ. Một vài ông ngâm câu:


Mẫu đơn hoa hạ tử,


Tác quỷ dã phong lưu.


“... Nhưng ông tính, chết như thế thì lấy gì làm sung sướng! Thiên hạ người ta đàm tiếu cho như ó...


Nghe mà phát sốt phát rét cả người! Trong một phút, lòng tôi bủn rủn. Nhưng lát sau, nghĩ  đến người cô linh thiêng lúc nào cũng phù hộ cho tôi; nghĩ đến công mình chịu đựng bao nhiêu sự khổ não để cai cho được đến ngày nay; nghĩ đến những lời nói tức của thiên hạ "cho rằng tôi không bỏ được", tôi lại thấy bừng bừng cả người lên. Ý định "phải bỏ cho kỳ được" ở trong tôi thêm mạnh.


... "Người khác không bỏ được mà ta bỏ được thì mới giỏi... Người khác không bỏ được mà ta bỏ được thì mới giỏi... Người khác không bỏ được mà ta bỏ được thì mới giỏi...".


Những lúc đó, tôi càng thấy cô tôi là một hình ảnh cứu vớt rất cần có cho tôi. Rất khổ là những ai bỏ thuốc phiện mà không có một linh hồn để che chở, một hình ảnh để thờ phụng và một nguồn thương để suy xét và tự lấy làm điều răn!


Ví có phải chết, tôi cũng cam tâm. Phụ một người đã thương yêu mình và che chở cho mình, điều đó, không khi nào tôi dám. Muốn cho trí óc đỡ vẩn vơ lo nghĩ, tôi đọc những truyện anh hùng, liệt nữ. Tôi vào thư viện mượn những sách y học để khảo về nhiễu chứng của thuốc phiện và xem những cái hại do thuốc phiện gây ra.


Quả như lời tên bồi tiêm đã nói! Chừa được hơn một tháng, nhiễu chứng chưa thể nào hết được. Mấy hôm sau, một nhiễu chứng đến thăm cái bụng tôi thật và làm cho tôi lo sợ. Tôi sinh ra đau bụng lạnh dạ, mệt đứt hơi đứt ruột. Có lẽ một người khác thấy thế luôn một tuần lễ đã hoảng vía lên mà hút lại. Nhưng tôi, nhờ giời, tôi lập được cái tính kiên gan, nên nhất định không hút "xem ra thế nào". Đồng thời, tôi hết sức tìm ở các sách ta và dò hỏi các ông lang có tuổi xem nên uống vị gì cho khỏi. Người thì bảo tôi lấy huyền hồ với cam thảo sắc lên uống. Người thì bảo tôi lấy bột phòng phong một lạng hòa với nước giếng mới gánh mà uống. Người thì bảo tôi lấy mía sơn-rượu vắt nước, hòa với gừng mà uống. Chẳng sợ công thuốc gì cả, tôi cứ uống bừa bãi đi. Tôi lại uống cả lá ổi sao vàng nữa. Thế rồi thì khỏi. Khỏi, không biết vì thứ thuốc nào. Nhưng hai hôm sau, mẹ tôi trông tôi, ngạc nhiên mà nói rằng:


- Tôi trông mặt anh hình như nặng ra thì phải.


Thoạt đầu, tôi không tin. Cầm lấy gương soi và không thấy gì khác cả. Nhưng hôm sau, ai ai cũng nói như mẹ tôi. Tôi bắt đầu lo sợ. Đến ngày thứ tư thì chính tôi cũng nhận thấy tôi phù thật. Chân tay tôi to ra và cử động khó khăn. Mặt nặng. Bụng cũng lớn. Chân tôi không đi được giày nữa. Quần áo tôi mặc căng ra. Tôi cầm lấy gương: Ối ông Hácđi ơi! Mặt tôi to bằng cái chảo sắt hai hào rưỡi!


Không có lời nào tả được nỗi lo sợ của tôi. Lại hàng trăm người mách thuốc. Lại đi mượn sách thuốc về xem. Lại hàng mấy chục cái đơn kê giúp. Một người lên bộ mặt thương xót, bảo tôi lên hút lại. Tôi cười. Thuốc ta không khỏi thì tôi tiêm thuốc tây, cần gì! Tôi vẫn là một con bò mộng. Mặt cứ bủng ra. Mắt híp lại như hai sợi chỉ. Tiêm, vô ích. Tôi lại uống. Uống thuốc tây. Uống thuốc tây, không ăn thua. Thì tôi lại uống thuốc ta. Hai tháng đã qua. Tôi đã gần như tuyệt vọng. Bây giờ thì có đến hàng chục người bảo tôi: "Thôi, hút đi. Không có lại chết sớm... Có trông thấy thằng gì đấy không? Đến lúc cùng đường, phải hút lại thì đã muộn. Hà hơi vào cũng không được nữa".


Mẹ tôi không nói gì cả, cứ gia công đi tìm ông lang và đi lễ, xin thẻ cho tôi. Đọc nét mặt người, tôi thấy rằng người sợ lắm. Giá tôi nói một câu: "Phải hút lại không có thì chết mất", mẹ tôi có lẽ cũng nghe ngay. Nhưng thà là tôi chết!... Còn hơn là để cho mẹ tôi chết vì thấy cái mộng mới nhóm lên tan vỡ như cái bong bóng xà phòng. Từ thuở bé tới giờ, chưa lúc nào tôi lại gan lì như thế. Tôi cứ gia công mà uống thuốc. Có ngày đổi thuốc đến ba lần. Mỗi lần uống một thứ thuốc mới, tôi lại khấn cô tôi. Làm như thế, tôi thấy lòng thêm vững. Rồi tôi yên trí là thể nào tôi cũng khỏi. Càng yên trí hơn nữa là lá số của tôi đại hạn hồi đó không có một sao gì xấu quá mà tiểu hạn lại có Thiên đồng, Thiên hỉ, Hoa cái là những sao cũng khá. Ấy thế mà cứ tin nhảm như vậy lại hay. Tôi tin rằng không chết, nên tôi không cần hút lại. Muốn ra thế nào thì ra.


Một buổi sáng, mẹ tôi lên gác, bảo:


- Hôm qua mợ lên đền Sóc xin một quẻ thẻ cho anh. Lạy ngài, ngài thiêng lắm. Xin ba lần mới được. Mợ mượn mấy người đoán giúp thì thánh đều dạy là bản mệnh vững, thế nào cũng gặp quý nhân phù trợ. Đây này, cất đi. Còn gói này là gói thuốc lá, mợ vừa mua khi nãy của một người Mường bán thuốc ơ. Mợ cũng kể bệnh của anh như thế. Người ta đưa cho nắm lá này, bảo sắc vàng lên, hạ thổ một lúc rồi đem sắc lên mà uống. Cái thuốc này không biết thế nào mà nói được. Có khi hàng trăm, hàng nghìn không khỏi, mà có khi chỉ một vài xu lại khỏi, cũng không biết chừng. Vậy mợ bảo sắc lên anh uống nhé. Biết đâu quẻ thẻ lại không ứng vào người Mường này, mà đó lại chẳng là một quý nhân?...


- Thôi, bây giờ thuốc gì thì con cũng uống. Mợ cứ bảo sắc đi.


Tôi không khó tính. Mà tôi cũng không lóe mắt vì cái lạ của người, đi miệt thị của mình. Không. Tôi cho là ở đời cái gì cũng có thể làm cho ta chết được mà cũng có thể làm cho ta sống được. Biết đâu... Biết đâu... Tôi uống chén nước thuốc lá đầu tiên, đầy những tin tưởng vui tươi trong óc. Rồi nằm yên lặng, ngủ một giấc. Dậy, tôi thấy rằng thứ thuốc đó có tính cách thông tiểu tiện, mà lại làm cho biết đói. Tôi ăn nhiều hơn mọi bữa. Lòng tôi như cũng nở nang hơn. Sáng hôm sau, quả thực là kỳ tài, ông ạ. Người tôi nhẹ hẳn đi đến bốn phần. Tôi đem chỗ nước thuốc còn thừa uống nốt. Cả ngày tôi sôi bụng. Việc tiêu hóa rất dễ dàng. Tôi chỉ còn phù độ ba phần mười trước. Thú quá. Tôi thấy nhẹ thênh thênh. À, kiên tâm cũng có khác. Mấy hôm nọ mà nhát gan thấy phù đã hoảng lên đi hút, bây giờ tôi đã nghiện lại mất rồi, còn đâu! Phải cố uống thêm một lần nữa mới được. Nhưng lá hết mất rồi. Mẹ tôi ngồi cả ngày ở cửa hàng để chờ người Mường bán thuốc ơ.


Người bán thuốc ơ đó ngẩn ra mà nói:


- À, cái lá, hôm qua? Thế nhưng mà tôi hết rồi.


Người Mường kia không làm tiền đâu. Mụ bảo mẹ tôi:


- Nhưng cụ không lo. Tôi bảo thực. Đó là lá phèn đen đấy. Cụ cho ra chợ mua độ ba xu thì khối.


Ba xu lá, tôi uống hai ngày. Chưa hết, đã khỏi như người thường. Tôi giơ tay, tôi giơ chân. Dễ chịu lắm. Tôi vỗ đôm đốp vào bụng. Không có gì là trướng cả. Ông ơi, bà ơi, tôi khỏi rồi. Vạn tuế lá phèn đen! Tôi muốn chạy vòng quanh Đông Dương, và đến tỉnh nào cũng gân cổ mà kêu lên như thế. Hơn nữa, tôi còn cho lá phèn đen là thuốc tiên, có tính cách tiêu trừ bách bệnh. Nào thuốc phiện muốn giở trò gì thì giở! Lá phèn đen! Nào nhiễu chứng gì muốn phát ra thì phát! Lá phèn đen! Tôi thách Phù Dung tiên nữ với cả ổ nhà nàng đấy! Đã có lá phèn đen đây rồi! Đã có lá phèn đen đây rồi! Đã có lá phèn đen đây rồi!


Suốt một tháng trời, tôi nằm đợi những biến chứng khác của thuốc phiện. Chẳng thấy gì khác cả. Tôi yên tâm lắm lắm. Tôi lại càng ăn khỏe. Tôi lại càng uống thuốc khỏe. Và tôi càng khỏe. Tính ra năm tháng sau khi cai, tôi lợi ra tất cả được mười sáu cân. A, cái đó không phải là ít ỏi. Tôi biết có người tẩm bổ suốt đời mà không thể lên được năm cân thịt. Chỉ có nửa năm mà tôi lên cân như thế, há chẳng phải là một sự sung sướng mà nhiều người cầu không được?


Vừa lúc đó, một người bạn cũ trả tôi một số tiền. Tôi đem trả hết cả những nợ sái sảm cũ còn lại. Nhân dịp, tôi muốn từ biệt ả phù dung lần cuối. Tôi đến chào vợ chồng ông ký ở cạnh nơi tôi trọ và biếu cái bàn đèn của tôi. Đến nơi, không có một người nào cả. Thì ra vợ chồng ông ký đã bị nhà đoan cho ngồi tù từ bao giờ rồi. Mà cái bàn đèn của tôi thì anh Soạn đã đem đi bán rẻ lấy tiền để hút. Thôi, cũng may. Tôi đoạn tuyệt được hẳn với thuốc phiện, không còn gì dính líu với tôi hết cả. Cái bàn đèn của tôi hiện có lẽ đang tản mát mỗi nơi một thứ. Đố ai tìm được di tích có một hồi tôi nghiện đấy!


Tôi bước nhẹ trên đường. Hoa nở dưới chân tôi. Tôi là tiên hạ giới.


Sướng thế này mà không đi chơi đây đó thì cũng uổng mất một đời trai trẻ.


Còn bao nhiêu tiền, tôi đút kỹ cả vào trong túi áo rồi lẳng lặng về xếp áo quần vào va ly. Tôi nghĩ một ngày. Tôi nghĩ hai ngày. Tôi nghĩ ba ngày.


Rồi không nói với ai, tôi xách va ly ra tàu.


Tôi đi Sài Gòn.


"Những người nghèo là những người được Trời thương. Những người đau khổ là những người được ở gần Trời nhất...".


Tôi không nhận như bà Selma Lagerloff phàm người nghèo khổ đau đớn nào làm điều lỗi thì cũng được lên Thiên đường. Nhưng sau một cuộc đi xa trong bốn năm trời, tiếp xúc với những cảnh đau thương cơ cực, tôi thấy rằng cái khổ quả là một bài học mà Trời đem đến để giúp ích người ta. Những người thật được Trời thương xót, Trời mới cho đau khổ.


Ngẫm lại một quãng đời đã qua, tôi thấy như tỉnh một giấc chiêm bao và giật mình thon thót. Ôi, nếu cứ nhờ cha mẹ cơm ăn áo mặc, rồi có bao nhiêu tiền thì để dành đó mà hút rồi say, nằm tơ mơ tự tôn tự đại thì bao giờ lại biết được rằng ở dưới gầm trời này có muôn ngàn cách sống khác nhau thế này? Bốn năm trời... Khi thì ở với dân Hời ăn đu đủ trừ cơm rồi tắm suối và nhìn những cái tháp xưa; lúc thì làm giám thị giữa đất Sài thành hoa lệ; lại khi chung đụng với phu phen ở giữa rừng, trên một mảnh phên con và nghe tiếng cọp gầm ở bên kia núi! Bốn năm trời cơ cực đã dạy cho tôi nhiều lẽ phải, điều hay và đã thay tâm đổi tính cho tôi không biết bao nhiêu mà kể. Thấy người ta chắt chiu cái sống, chịu hết các sự đau khổ để mà sống, miễn là sống, tôi thấy hối hận mình đã có một thời kỳ coi khinh coi thường cái sống của Trời cho. Một ý muốn làm cho những ngày còn thừa lại của đời mình có một ý nghĩa lúc nào cũng thúc giục tôi. Tôi không dám còn có cái cao vọng làm nên vương tướng. Nhưng tôi muốn rằng sẽ được sống như những người phu phen kia, những người thư ký kia, những người Mọi kia. Như thế, có lẽ trước, tôi cho là không có nghĩa gì cả, là sống y như chết, nhưng bây giờ thì tôi thấy sống như thế kể cũng đã là khó lắm. Sống không ích kỷ. Sống mà chịu đựng được những sự đau khổ ở trên đời này không kêu than. Sống mà giữ được cái đạo Giời ở trong tâm và thương yêu những người chung quanh mình. Lòng tự phụ ở trong tôi giảm bớt đi; những mối oán thù xã hội; những tư tưởng bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu; những ý định giết người (vì tự mình cho mình là có thiên tài thì có quyền giết được người) chẳng mấy lúc tiêu tán hết. Chính tôi thấy một sự thay đổi lớn ở trong tôi như ánh sáng đến thay thế cho bóng đêm.


Thì ra đến giờ tôi mới biết rằng: cai được thuốc phiện thì lòng mình gột được hết cái nhựa đen đi, đó là việc đáng mừng. Nhưng đáng mừng hơn cả là tâm óc mình, một khi mình cai được thuốc phiện, cũng gột được hết những ý nghĩ và tư tưởng xấu xa, hèn hạ.


Tìm được lý tưởng đó trong việc cai của mình, tôi thấy vững dạ vô cùng. Nhiều lúc tôi tin rằng không bao giờ tôi lại còn bị tiên nữ Phù Dung lung lạc được.


Chính đó là điều cần. Bỏ thuốc phiện mà lúc nào cũng sợ rằng mình có thể mắc lại, không lấy gì làm chắc chắn. Người ta luôn luôn thắc thỏm. Mà thắc thỏm, theo ý tôi nghĩ, chỉ có cái ý là mình lại không tin mình.


Không, bất cứ việc gì mình làm, ta cũng phải tìm cho nó một cái nghĩa. Cái nghĩa đó tìm ra thì ta mới có thể có một lòng tin được. Tin rằng mình không hút nữa, tôi thấy lòng thanh thản hẳn và không còn hồi hộp. Tôi thấy hoàn toàn là một người thanh khiết, như chưa từng bao giờ thưởng cái vị phù dung. Khác một chút là người nào chưa từng thưởng cái vị phù dung không thể biết sức mạnh gớm ghiếc của nó ra thế nào.


Ai cũng có thể bị nó lung lạc được. Nó không thích những người nói khôn. Kẻ nào mà chửi nó thì nó thù nó oán. Tôi đã từng biết nhiều người đã làm những việc bẩn thỉu vào cái bàn đèn, và có khi lại dùng cái dọc tẩu làm đồ đi tiểu. Ai chẳng tưởng những người đó suốt đời không mắc nghiện? Ấy vậy mà chỉ sau vài năm cách mặt, một buổi xấu trời kia, gặp họ, ta đã thấy môi họ thâm, vai họ so, da họ bủng. Phải, họ đã nghiện từ bao giờ rồi.


Tôi cũng có hai người bác ở trong trường hợp đó. Trước kia, thấy tôi hút, hai ông khạc nhổ. Một trong hai ông đó, một đêm hát cô đầu, đã lấy phân chuột đánh lẫn vào sái cho tôi hút rồi lại đem giấu cái tẩu của tôi vào một chỗ... âu là ta cứ gọi là một chỗ không sạch sẽ. Tôi vẫn để tâm về chuyện đó và lấy làm nhục lắm. Thì tài thay là Trời! Ông khu xử đâu ra đấy.


Một đêm kia, ở Sài Goòng về Hà Nội, tôi cùng mấy người bạn đi chơi tiệm. Tôi không hút, chỉ nằm tiêm và ăn quýt. Tự nhiên ông bác thứ nhất của tôi đến vỗ vai tôi dậy, kéo sang giường ông nói chuyện. Thì ra ông ấy nghiện quách mất rồi. Chuyện nọ dắt chuyện kia. Sau, tôi biết té ra ông bác thứ hai của tôi cũng thế, mà có khi hơn thế nữa.


"Người ta không nên nói khôn với thuốc phiện". Tôi nhắc đi nhắc lại câu nói đó. Tôi bắt đầu sợ cho những ai đã chế bác hay chửi rủa những người nghiện hút. Riêng tôi, từ sau khi cai được thuốc rồi, tôi lại càng không dám nói động đến những người bất hạnh đã sa vào bả Phù Dung. Nói vụng họ, tôi chỉ thương cho họ cũng như tám năm trước đây, nằm bên cạnh bàn đèn tôi đã thương cho chính thân tôi. Thế thôi. Còn như mở miệng khuyên họ cai đi, lạy Giời lạy Phật! Tôi thực chưa dám thi hành lần nào cả, dù là đối với những người bạn thân yêu nhất.


Tôi không dám khuyên họ bỏ thuốc phiện, bởi vì tôi không muốn mang tiếng là "chưa khỏi vòng đã cong đuôi". Tôi không dám khuyên họ bỏ thuốc phiện bởi vì tôi không dám hoàn toàn chắc rằng từ giờ đến chết tôi có hút lại không. Nhưng tôi còn không dám khuyên họ bỏ thuốc phiện bởi vì tôi biết rằng có nhiều người nghiện sống ở trong những trường hợp ai oán quá. Đó là những thanh niên trên không chằng, dưới không rễ, có một người vợ đụt quá với một lũ con cả ngày chỉ kêu đói và đòi ăn quà luôn miệng.


Những thanh niên nghiện ngập đó, muốn cai không có thuốc. Thảng hoặc có, lại không đành lòng mà nằm nhìn vợ đói con khát quanh mình. Bởi vì cai thì thuốc phiện phải vật. Mà thuốc phiện đã vật thì không đi làm lụng được. Một ngày nằm đấy là một ngày chết chóc của cả một gia đình. Người ta, dù nghiện, lắm khi cũng tự thấy không thể nhẫn tâm như thế được. Đành là cứ nấn ná đợi một cơ hội tốt hơn. Nghĩa là làm được một chuyến khả dĩ có đủ tiền cung cấp cho vợ con đủ ăn tiêu trong mười lăm bữa hay một tháng. Ác thay, cơ hội tốt đó không bao giờ lại cả. Vay mượn thì không được - bởi vì ai lại cho những người nghiện ngập vay mượn tiền nong bao giờ? Những người đó đành là cứ phải kéo dài cuộc sống ở trong sự đợi chờ. Trong khi đó, người ta vẫn phải hút như thường vậy. Hút mỗi ngày mỗi nặng hơn. Hút cho đến lúc người ta tự thấy không còn hy vọng cai được nữa.


Không. Tôi không có ý bênh người nghiện. Trường hợp nghiện không cai được, vừa kể, chỉ là một trường hợp mà ta gặp rất ít, cũng như rất ít người phải hút không dám cai vì những bệnh kinh niên, nếu không có thuốc phiện thì sẽ chết.


Tôi lại cũng nhận rằng còn có một số người nghiện nữa sở dĩ không cai được là vì có vợ đẹp. Nhưng các ngài hẳn phải công nhận như tôi số người nghiện muốn chết vì tình với Phù Dung tiên nữ, những người nghiện mà không bao giờ có ý tưởng cai, ở xã hội ta rất nhiều. Ở đâu, các ngài cũng thấy họ nói rằng: "Cai làm gì? Tôi hút cũng chưa đến nỗi chết ai kia mà!". Hay: "Người nào thì cũng đến một lần chết. Tôi có chết vì thuốc phiện thì cũng có gì lạ đâu!". Hay: "Các ông cứ làm như cai được thuốc phiện thì ghê lắm. Tôi hỏi các ông: Ví dụ bây giờ tôi cai được thuốc phiện, có thể nào trong một lúc tôi thành được một vĩ nhân như tôi đã mong ước lúc thiếu thời hay không? Hẳn là không. Vậy thì thôi, ông cứ để cho tôi hút. Tôi là một thanh niên có một tâm trạng như người thanh niên Nga vào thế kỷ trước, lấy câu châm ngôn "Được cả hay là không có gì" để mạt sát nhà vua mà cũng là để mạt sát một chế độ xã hội mà họ cho là tồi bại".


Chao ôi, ở đời này, còn gì buồn hơn là chính mắt mình phải trông thấy những nguồn sống tiêu ma một cách đau khổ như thế; mà những người nói lên những câu đó lại không thở dài một tiếng nhỏ, lại cũng không thèm động lấy một cái gân mặt nào! Tôi sầu quá và có cảm tưởng của một người đi thăm bạn ốm nặng, mà bước vào phòng người bệnh tuyệt nhiên không ngửi thấy mùi thuốc bắc, cũng chẳng trông thấy một đôi mắt lệ. Sự thản nhiên của người ta đối với cái chết làm cho ta rùng mình.


Ấy đó. Chính vào trường hợp đó, tôi đã gặp một thiếu phụ nghiện trong một tiệm sang ở phía bắc Hà thành.


Tôi sẽ không bao giờ quên được cuộc gặp gỡ này. Tôi cảm giác người đàn bà trẻ tuổi ăn gio nuốt khói đó sẽ còn luôn luôn ám ảnh tôi, làm tôi chết không nhắm mắt, chết không mát ngót.


Đó là một đêm mưa riêu riêu về tiết hoa vàng. Ở một quán rượu ra, Hải và tôi đi trên hè cỏ nói chuyện về sinh kế. Hải hỏi:


- Em hỏi thật. Anh có bỏ thuốc phiện thật hay anh bịp?


- Câu đó, nếu phải một người khác hỏi, có lẽ em đã cười mà không phân trái phải. Nhưng với anh là một người đã mười lần hỏi em và đã mười lần em vẫn trả lời mà anh vẫn chưa tin, xin thú thực em rất lấy làm tiếc rằng sao ở đời bây giờ người ta lại không còn giữ cái hình phạt lấy sọ những người ngu và bướng làm cái đồ dùng đi tiểu như ở thời Xuân Thu Chiến quốc.


“Nhưng thôi. Nói làm gì, vô ích. Anh ơi, anh đi chơi với em từ sáng, tất anh đã biết từ sáng đến giờ em chưa hút qua một điếu nào. Vậy bây giờ muốn biết chắc chắn hơn nữa, anh em ta cùng vào tiệm. Anh gọi lấy thuốc rồi đốt cho bồi tiêm hút. Nếu em mà ho, ngáp hay hắt hơi anh cứ việc đánh em và từ giờ không gọi em là thằng Bằng nữa mà cứ việc gọi bằng một cái tên rất tục, tùy ý anh chọn lựa. A, thế nào, anh Phượng độ này ra sao?


- Em không gặp luôn luôn như trước nữa. Nhưng em thấy người ta nói rằng anh ấy đương sửa soạn xuất bản một tờ báo lớn viết bằng chữ Pháp để làm một cơ quan chiến đấu cho những người vô sản. Em lại còn nghe đồn rằng có tới năm chục bạn đồng chí giúp sức, nhưng ngay từ bây giờ em đã biết trong đám năm chục đồng chí đó có tới ba mươi anh nghiện dở.


Nguồn: Phù Dung ơi, vĩnh biệt. Vũ Bằng Toàn tập, tập 1. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »