tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019789
20.02.2009
Vũ Bằng
Phù Dung ơi, vĩnh biệt! (Chương 24 - 1)

Xưa nay, hiếm có ai nghiện thuốc phiện mà cai thành công như nhà văn Vũ Bằng, tác giả của Phù Dung ơi, vĩnh biệt! Phù dung là "mỹ từ" để chỉ thuốc phiện, mà ngày nay người ta thường dùng một mỹ từ khác để gọi, đó là nàng tiên nâu. Dù là phù dung hay nàng tiên nâu thì mức độ nguy hiểm của chất gây nghiện này không hề khác nhau chút nào. Còn nguy hiểm thế nào ư, cứ đọc mấy dòng này của Vũ Bằng thì biết: "Chao ôi, thuốc phiện đối với tôi hoàn toàn là một "lẽ sống" mất rồi. Hồ chậm hút thì rức đầu, sổ mũi, buồn chân buồn tay, ho gằn, hoa mắt, sồng giở chết giở, trông rất ai oán. Phải đi tiệm hút luôn. Mỗi bữa thuốc, tôi hút đến năm chục điếu". Rồi: "Kiếp sống rõ não nùng. Tôi không sợ gì cả, nhưng sợ chết và sợ không được hút đúng giờ giấc", và: "Thì ra đến bây giờ tôi mới hiểu rắng: thuốc phiện làm cho người ta muốn sống không được mà muốn chết cũng không được nữa. Bao nhiêu cái thanh cao nâng loài người lên trên loài vật đều thu vào trong cái dọc và làn khói nâu".


Một khi đã coi thuốc phiện trở thành lẽ sống của đời mình rồi thì làm sao mà cai nghiện được? Cai có nghĩa là từ bỏ, mà từ bỏ lẽ sống thì sống đấy nhưng coi như đã chết rồi. Nhưng may mà đoạn văn chúng tôi trích ở trên, hai từ lẽ sống nằm trong ngoặc kép, tức cái lẽ sống đích thực của người viết thiên truyện này không bao giờ từ bỏ. Vẫn biết cai nghiện là điều khó khăn, như tác giả thừa nhận: "Tôi gá nghĩa với Phù Dung chốc cũng đã bốn mươi mốt tháng trời: sái tình đã nặng, chữ duyên đã nồng, không phải mỗi lúc mà bỏ nó như một cái khăn tay rách. Thôi, Giời đã bắt ăn ở với nhau thì cũng đành nhắm mắt, chứ biết nói năng sao?".


Nói thì có vẻ bất cần đời vậy nhưng rồi con người nghiện này đã quyết tâm cai nghiện và cai được. Đoạn chúng tôi trích đăng trong Văn chương Hồn Việt số 1 này được đánh số thứ tự là 24, không kể phần bạt thì coi như là chương cuối quyển Phù Dung ơi, vĩnh biệt của Vũ Bằng rồi. Nhân vật tôi ở đây không ai khác hơn là chính tác giả, vì trước khi chia tay với nàng Phù Dung nguy hiểm này, tác giả đã gặp một nàng khác, chính là người con gái xứ Huế từng một thời nằm chung chiếu ở tiệm hút vớt chàng. Nàng giờ đã thân tàn ma dại. Tình xưa nghĩa cũ, Vũ Bằng đã dẫn nàng vào tiệm hút và ngồi tiêm cho nàng như ngày xưa nàng tiêm cho chàng hút vậy. Rồi hai người chia tay và tác giả kết luận:  "Nàng đi về với thuốc phiện, còn tôi đi về nhà". Một người đã bỏ nhà ra đi, lấy tiệm hút làm nhà mà bây giờ nhất quyết về nhà thì cái công cuộc cai nghiện thuốc phiện của tác giả hay của Vũ Bằng kết quả ra sao, hẳn bạn đọc cũng đoán biết được phần nào.


Thái Thành Đức Phổ


 


Chương 24


 


Tôi nhớ như mới ngày hôm qua cái buổi chiều mà tôi vận quần áo đàng hoàng đi từ cổng nhà thương Phủ Doãn ra ngoài đường. Lòng tôi bối rối. Tôi không biết đi về đâu cả. Về nhà? Hay về quán trọ? Hay đi tìm một khách sạn nào để nghỉ đêm?


Tính ra, đến hôm nay, tôi ở nhà thương tất cả một tháng hai ngày. Thời gian đó dài dằng dặc. Tôi thấy khao khát một cái gì. Tôi thèm không khí nơi thoáng đãng. À, bây giờ mà về đâu thì cũng uổng cả: tôi phải gỡ những thì giờ đã mất. Tôi thở mạnh, tôi hít vào nhiều. Sợ rằng nếu bây giờ gọi xe đi thì uổng mất cái thú được ngắm cảnh phố xá và người ngựa chen nhau đi lại, tôi nhất quyết đi bộ, và đi thật chậm. Cái gì đối với tôi cũng lạ và cũng đẹp. Lạ nhất là ở ngoài đường không có người ốm. Ai cũng đi được bằng hai chân, không cần dùng đến cái nạng và ai cũng có thể gật đầu, giơ tay, cười, nói. Thích thật. Một người đàn ông cầm khăn đưa cho một cô bạn gái. Cô bạn gái đánh rơi. Người đàn ông cúi gập lưng xuống và nhặt lên nhanh như chớp. Giá ở nhà thương, chỉ cái cử chỉ đó người ta làm cũng mất mấy phút đồng hồ. Ấy là chưa nói rằng cái ông nhặt khăn kia lại còn biết cười nữa để gây cho việc nhặt khăn của mình một cái duyên. Cô bạn gái chúm miệng lại và cũng cười cảm tạ. Tình thật! Ở nhà thương, bao giờ lại có cảnh du lòng như thế! Không. Ở đó, mặt người ta méo, miệng người ta lệch, mắt người ta ướt. Người ta không biết cười là gì cả.


Còn ở đây!...


Đây là đường phố. Người ta cười. Cười thì sướng lắm. Người ta đi lại. Đi lại được như thường thì thú lắm. Người ta nói. Nói được với người rằng mình khỏe thì hả lắm. Ấy thế mà đường phố lại còn sạch sẽ và nhẵn lì như vừa mới lau xong. Bấy giờ lại là tiết Giêng Hai, cây cối đương đâm chồi nẩy lộc. Chim hót, chim hót. Tường nhà nào cũng vừa mới quét vôi ăn Tết xong. Cửa nhà nào cũng mới sơn. Cả cái nước Hồ Gươm, người ta hình như cũng vừa cho vào máy lọc. Tất cả, tất cả đều gây ra một sự hòa hợp tiết tấu, nhịp nhàng. Gỗ, đá mà có linh hồn thì cũng phải kêu lên: "Được sống thì sướng thật! Được sống thì sướng thật!". Cái mái nhà nếu biết nói, có lẽ cũng cầu trời cho có một cái mũi để ngửi, đôi mắt để trông, hai tai để nghe. Nghe, trông và ngửi cái cuộc đời mà dưới thì có đất nâu và thơm, mà trên chỉ có trời bát ngát và xanh biêng biếc. Trời, Đất và Người, còn bài thơ nào hay cho bằng!


Chính tôi, lúc đó, tôi cũng muốn làm thơ lắm. Làm thơ ca ngợi bất cứ cái gì tôi ngửi thấy (tường nhà người ta cũng thơm, bởi vì không có mùi nước đái quỷ hay thuốc vàng), bất cứ cái gì tôi nghe thấy và bất cứ cái gì tôi trông thấy. Nhưng hồ nghĩ được một tứ hay, hồ tìm ra được một chữ đẹp thì những người đi ở dưới đã chen tôi để bước lên. Người ta đẩy tôi, người ta xô tôi, người ta lấn át tôi. Cụt hứng! Và tôi nghĩ: "Ô hay! Họ đi đâu mà đông thế này?". Tôi đứng dừng lại. Hàng trăm, hàng ngàn người kéo nhau đi như nước chảy về mạn nhà dây thép. Té ra hôm đó là một ngày chợ phiên! Không kịp nghĩ hay hỏi thăm xem cuộc chợ phiên đó tổ chức vì nghĩa cử gì, tôi cứ rảo bước xông vào đám đông. Mạnh được yếu thua, ông ạ. Một người, năm tháng trước biết tôi, bây giờ gặp ở chỗ này, liệu có còn nhận được không? Vừa nghĩ thế thì một tràng vỗ tay nổi lên ở giữa đường. Cố nhìn vào, tôi thấy một con phượng kết bằng hoa tiến lên. Rồi một con rùa. Rồi một cái thuyền trên có những dân Hy Lạp ngồi chèo. Rồi một cái tàu thủy. Rồi cái thành cổ trong có hai viên nữ tướng. Mà lạ, sao lại có bạn bè tôi ngồi ở chung quanh? Thì ra đó là một cuộc thi xe hoa. Báo tôi làm cũng dự vào để giúp vui. Ô tô nhà báo kết thành một tòa thành mà hai vị nữ tướng ngồi trên kia là Trưng Trắc và Trưng Nhị.


Một người bạn nhận ra tôi trước nhất. Anh kêu:


- Lên đây! Lên đây làm một vòng!


Vốn không ưa sự đông đảo và ầm ĩ, giá phải khi khác thì tôi đã "cám ơn" to một tiếng rồi lùi lại mà trốn mất. Nhưng hôm nay, không hiểu con ma con mãnh gì đã giục tôi? Không nghĩ ngợi, tôi nhảy tót ngay lên ô tô ngồi. Và tôi cũng reo hò. Và tôi cũng vỗ tay. Và tôi cũng ném giấy hoa nhặng cả lên trên trời. Làm như thế, không phải là tôi vui vì hội. Chính là để tỏ cho mọi người đều biết rằng tôi sướng. Tôi sướng! Tôi sướng lắm, giời ơi! Tôi đã cai được thuốc phiện rồi! Những ngày mai của tôi sẽ luôn luôn vui vẻ như ngày hôm nay. Tôi tin như vậy. Tôi nói to lên như vậy. Nhưng...


Nhưng không. Đời mà vui vẻ mãi như thế thì người ta điên mất. Người ta không phải là voi mà chịu đựng được mãi sự sướng quá, hay khổ quá. Vui vẻ được một đêm, một ngày, tôi đã thấy có một cái gì "nhàm nhàm" ở trong tôi. Thú thực, tôi bắt đầu sợ - sợ rằng nếu cuộc đời cứ như thế mãi, ngày nào cũng sướng như ngày nào, có lẽ tôi khổ lắm. Giá có làm ăn gì thì ngày giờ cũng chóng qua đi. Chết một lỗi tôi lại bảo rằng tôi còn mệt, cần phải nghỉ ngơi mươi bữa nữa. Vả lại, chính mẹ tôi cũng muốn cho tôi ở nhà dưỡng bệnh và ăn tẩm bổ cho lại sức! Ấy thế là tôi thấy buồn buồn. Bởi vì có cái đời gì lại chia ra như thế này không:


Sáng, ăn rất nhiều cơm rồi xem sách để ngủ. Chiều lại ăn rất nhiều cơm rồi lại xem sách để ngủ. Chỉ ngủ với ăn! Người ta tự thấy là một con vật rất xấu xa mà thiên hạ gọi nôm na là con lợn! Người mà làm con lợn thì xấu quá. Thà đi làm một thằng người hư hỏng còn hơn. Không, ông đoán lầm. Tôi muốn hư hỏng, nhưng không muốn hút thuốc phiện. Tôi đã gớm mặt nó rồi. Tôi muốn tìm một thú tiêu khiển gì khả dĩ làm quên được tôi là con lợn. Tôi nghĩ mãi và đã tìm được ra. Đó là rượu. Uống rượu chứ! Có thế, họa may tôi mới khác con lợn được. Bởi vì lợn có bao giờ uống rượu đâu! Huống chi, uống rượu, tôi lại còn quên được những sự buồn tẻ của cõi đời và nhất là đỡ hẳn được chứng nóng ruột mà mấy hôm nay tôi lại thấy. Một người bạn vẫn kể cho tôi nghe chuyện một người Pháp uống rượu bợm lạ lùng. Uống suốt ngày không say. "Áng chừng ruột, gan và ống thực quản của ông ta có chất dầu nên rượu uống vào miệng thì tuột ra thận để cho thận bài tiết ra bên ngoài". Anh bạn vẫn nói với tôi như thế. Lại kể thêm rằng: Cái ông người Pháp đó rất lấy thế làm bất mãn nên đã tìm hết các cách để làm cho say. Hơi rượu hồ hả, ông lại phải há miệng ra tu lập tức. Một chai rượu con bèn bẹt, vì vậy luôn luôn phải để ở túi quần đằng sau. Tuy thế, chưa đủ. Ông phải tổ chức nhà ông thành một cái hầm chứa rượu. Nghĩa là bạ đâu cũng rượu, sờ vào chỗ nào cũng rượu.


Tôi không có cái tham vọng theo gót bực sâu rượu đó. Nhưng mỗi ngày, tôi cũng làm một chai bố mới xong. Uống bất cứ rượu gì. Tôi đã đạt được ý muốn: không nóng ruột nữa. Tôi quên được những sự buồn tẻ trong cõi đời. Tôi ngủ say như chết. Nhưng mỗi khi tỉnh rượu, tôi lại thấy sầu hơn, thiếu thốn hơn. Đôi khi trong óc tôi nẩy ra một tư tưởng cực kỳ gớm ghiếc: "Lại hút. Lại hút xem ra thế nào!".


Thuốc phiện có sự kỳ quặc như thế đó. Ở nhà thương, hàng ngót nửa tháng trời, tôi không nghĩ đến nó và không thèm nó. Có trời hiểu làm sao, mấy bữa nay, nó lại luôn luôn đến làm bận trí óc tôi như một nàng kiều nữ đa tình ở trong những chuyện cổ xưa hiện lên đem giọng nói và điệu bộ quyến rũ chàng thư sinh hiếu học.


Chàng thư sinh muốn rứt bỏ hình ảnh ma quái đi, đứng dậy, hét lên một tiếng, rồi chạy ra sân, múa kiếm. Tôi múa con dao cũng không được, đành là phải chạy vào bàn viết, tìm cái bút và tờ giấy, viết mấy chữ này rất to:


"Cha ta sống lại mà bảo ta hút thuốc phiện, ta cũng không được hút".


Rồi dán lên đầu giường để luôn luôn trông thấy và luôn luôn ghi nhớ.


Hôm sau, tôi lại đổi câu cách ngôn đi:


"Thuốc phiện giết hại cả dân tộc mày, làm cho bao nhiêu người ở chung quanh mày sống ai oán, chết khổ sở, mày có nhớ không?".


Hôm sau nữa, lại viết:


"Mày mất bao nhiêu công trình, trí lực mới có được ngày nay. Nếu bây giờ mày hút một điếu thì rồi sẽ hút mãi, công tu luyện chẳng thiệt thòi lắm ru?".


Tôi biết. Tôi biết rằng phàm những người đã cai mà lại dại dột hút vào một điếu thì sẽ lại bắt ngay, cũng như tôi biết rằng phương pháp dán giấy lên tường, nhiều bác sĩ người Âu cho là một phương pháp hay nhất để tập trung ý chí. Nói vụng các ngài đây, phương pháp đó hay ở chỗ nào kia. Với tôi, quả thực, chẳng ăn thua gì cả. Tôi vẫn nhớ thuốc phiện như thường. Tôi nghĩ hết cách để hút một điếu mà không bắt lại. Nhưng không có kế gì cả. Tôi lại càng chán nản hơn. Biết bao phen đương ngồi bó gối trên giường, tôi vùng dậy mặc quần áo đi bơ phờ ngoài phố như một người mất trí. Tiếc rằng ở ngoài phố, nhà nước lại không đóng những cái gương để cho khách bộ hành soi mặt, nên đến tận bây giờ tôi vẫn chưa biết mặt tôi khi đó ra thế nào. Song cứ lấy trí tưởng tượng ra mà xét, tôi cũng thừa biết rằng mặt tôi "lố" lắm. Một ông bá hộ đi tìm vợ lẽ; một thiếu phụ mất cắp; hay một chàng trai trẻ tuổi bị tình nhân ruồng bỏ, tưởng cũng chỉ có thể trơ đến thế. Tôi tự thấy là một anh hóa dại si đi chơi ngoài phố mà không biết đương làm gì. Một cái ô tô mà húc vào tôi, có lẽ tôi cũng không biết nữa. Cứ nhè chính giữa đường mà đi. Không phải tôi nuôi một ý tưởng tự tử đâu. Tự nhiên tôi thấy được đi giữa đường thì sướng lắm. Nhiều lúc, phu xe quát tôi lên và những người đi xe đạp rẩy tôi ra. Giựt mình, tôi nhẩy lên hè đi một lát. Rồi như có ma rủi, lại xuống đường mà đi phè phè ra.


Người ta vẫn thường kể chuyện rằng những người bị ma rủi xuống hồ thường cũng làm như tôi lúc đó. Nghĩa là họ không thích đi trên đất bằng, nhưng cứ thích xông xuống nước. Truyền rằng những kẻ xấu số này thấy ở dưới nước có những lâu đài, dinh thự và vườn tược đẹp hơn ở trên mảnh đất chúng ta đương sống. Họ tiến vào. Nước rẽ ra một mảng. Người ấy bị ma lôi xuống đáy sông, đáy hồ, đáy ao, chờ cho bao giờ lại rủi được một người khác thì mới có hy vọng lên làm người.


Từ đó, tôi lại càng tin rằng thuốc phiện có ma. Mà con ma thuốc phiện cũng rủi người ta như những con ma ở hồ, ở ao. Tôi nghĩ lại những cơn vật vã ở nhà thương tháng trước, những đêm chong mắt ra không ngủ. Tôi nghĩ lại những điệu bộ hèn hạ của Soạn khi hết thuốc đến gãi đầu xin tôi tiền. Tôi nghĩ lại những bè bạn nghiện ngập của tôi, có người nằm chết ở đình chùa, có người tự tử, và có người, như Tính, co rúm lại mà chết đau chết đớn, bên cạnh đờm dãi và máu tím.


Thôi! Thôi! Thôi! Ghê lắm. Tôi không dám nghĩ nữa đâu. Một điếu, cũng không dám hút. Đành là khổ vậy. Hút để mà đi đến những kết quả ai oán như thế, tôi không dám.


"Miễn là khỏe thì chứng gì cũng hết". Tôi tự nhủ thế. Và tôi càng ra sức ăn nhiều. Cách một tuần lễ, tôi lại đi cân một lần. Càng thấy cân lên, tôi lại càng tẩm bổ. Nghe thấy nói ở đâu có thuốc hay, cũng tìm đến mua. Ngoài ra, tôi lại ra tâm ra sức tập thể thao. Tập đủ các cách. Tập suốt cả ngày. Tập đến nỗi mẹ tôi và em tôi phải kêu lên. Chính tôi cũng phải cho là tập như thế thì ngấy quá. Kết quả thật tốt. Tôi cân được năm mươi mốt cân, bốn lạng. Người tôi to lớn hẳn. Nhiều người bảo là trệ. Không cần. Tôi lấy trệ làm thú lắm. Tinh thần tôi sảng khoái. Tôi nghĩ ra nhiều điều rất hay. Hay nhất là điều quyết định này:


"À, bây giờ ta đã cai được rồi. Tốt lắm. Nhưng cái khó có phải ở sự cai được hay không đâu. Chính là ở sự có giữ gìn được mãi hay không vậy.


Ta cần giữ cho lòng khỏi bị ám ảnh, khỏi bị sa ngã, khỏi có ý muốn hút lại, dẫu rằng một điếu...".


Tôi nghĩ bâng khuâng như thế. Sau mãi, tôi tìm ra một cách để giữ không hút lại.


Cách đó thế này:


"Ngẫm kỹ, người ta hút thuốc phiện vì hai cớ: một là buồn quá, hai là sướng quá. Nhưng dù sướng quá hay buồn quá, muốn hút người ta cũng cần phải có tiền. Tôi cũng thế: tôi hút bởi vì tôi có tiền của tôi. Tiền đó, không phải đem nuôi ai cả, nên tôi tiêu láo lếu. Nếu bây giờ tôi không có tiền nữa, tất là tôi giữ được. Bởi vì không có tiền nữa thì ai bán thuốc cho tôi".


Ấy thế mà lại hay kia đấy. Tôi suy nghĩ rất kỹ càng trong một đêm nữa. Sáng hôm sau, viết một bức thư gửi đến tòa báo tôi làm với mấy câu giản dị. Đoạn, tôi nằm bắt chân chữ ngũ nhìn lên xà nhà. Một mối tự kiêu nở lên trong lòng tôi như một đóa hoa bé nhỏ. Tôi thấy mình là một vĩ nhân, một người can đảm. Chớ ai cười, tôi thấy tôi anh hùng như Câu Tiễn. Tiễn căm thù Phù Sai đã bắt mình làm một thằng tù ở nước Ngô. Không lúc nào không nghĩ đến chuyện diệt Ngô. Khi nào buồn ngủ lại lấy cỏ lục mà đánh vào mặt. Chân lạnh muốn rụt thì lại dấp nước vào. Mùa đông thường ngồi gần nước băng, mà mùa hạ ngồi gần đống lửa. Xếp củi mà nằm lên trên, không dùng giường nệm; lại treo quả mật ở cạnh chỗ ngồi, thỉnh thoảng nếm một tị cho đắng miệng.


Không. Tôi không nằm gai mà tôi cũng chẳng nếm mật làm gì. Muốn giữ cho mình lúc nào cũng xa thuốc phiện, tôi cho là làm cách nào để không có xu mà tiêu nữa là ổn nhất. Làm được như vậy, tôi cho là hay lắm. Bức thư tôi gửi đến nhà báo, chính là bước đầu tôi tự đày đọa thân tôi. Tôi đã thành công rạng rỡ. Tôi không thể hút được, tôi lại còn không thể đi chơi vớ vẩn. Ai còn lạ gì đất Hà thành. Một bước ra đường, một tốn. Không có tiền trong túi, xin mời ông nằm nhà.


Thì nằm nhà, chính là điều tôi mong! Tôi bắt đầu lại tập đọc sách như hồi còn nằm nhà thương. Bè bạn, hàng ngày, đến thăm tôi, như đến thăm một vị ẩn sĩ nằm trong núi. Tôi chẳng thiết trò chuyện cùng ai. Lắm khi, tôi cũng không biết rằng họ định nói gì. Tôi không nghĩ đến thuốc phiện nhưng lúc nào cũng thấy nhớ một cái gì: Óc tôi rỗng, bụng tôi rỗng, mà chân tay tôi cũng rỗng. Chàng Lưu, Nguyễn mơ cảnh hoa đào nước suối có lẽ cũng chỉ bâng khuâng buồn đến thế mà thôi. Tôi e rằng đó là một triệu chứng dở sẽ sinh ra tai họa. Nhưng biết làm sao được? Tôi bưng mặt khóc. Nhưng lúc buồn nhất, thấy mình sắp sa ngã, tôi lại gợi hình ảnh của cô tôi trong óc. Tôi lầm thầm khấn nguyện và - lạ thay là sự tin tưởng! - tôi thấy yên dần. Mỗi lúc, tôi lại thấy phấn khởi lên một chút. Tôi yên trí rằng cô tôi, ở trên kia, đang phù hộ cho tôi. Tôi lạy cô. Tôi khấn cô thương lấy tôi mà gạt bỏ những tư tưởng càn rỡ của tôi ra khỏi óc. Đồng thời, tôi lại bảo tên bồi tiêm của tôi - lúc này y đã trở lại làm tiệm rồi - lúc nào rỗi rãi thì đến với tôi nói chuyện. Tôi thích nghe y kể chuyện cai thuốc phiện lượm lặt được ở tiệm và tôi muốn biết cả ý kiến của những người trước kia hút cùng tiệm với tôi. Dư luận đó phiền toái lắm. Chỉ có một hai người cho rằng tôi bỏ được. Còn một trăm người đều bảo: "Có mà bỏ ăn!". Bỏ ăn? Đó là một lời nói mỉa. Họ muốn tỏ ra rằng tôi bỏ bố vờ. Nay mai, lại bổ đi hút ngay đấy chứ gì! Cứ bỏ mãi, ông cho thì chết sớm!


Nguồn: Phù Dung ơi, vĩnh biệt. Vũ Bằng Toàn tập, tập 1. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »