tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23619807
Lý luận phê bình văn học
21.05.2018
Trầm Thanh Tuấn
“Tụng giá hoàn kinh sư” bài thơ chói ngời khí phách, khát vọng Việt


Trong cái hào khí chói ngời của “Thời đại Đông A” nước ta đã sản sinh ra một võ tướng kiệt xuất, cũng là một thi nhân có những vần thơ “thanh thoát, nhàn nhã, sâu xa lí thú” (1). Đó chính là Trần Quang Khải (2), một vị tướng then chốt có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông mà những vần thơ thấm đẫm tinh thần yêu nước của ông mãi được đời truyền tụng. Trong những trước tác của Trần Quang Khải mà hậu thế còn lưu giữ, Tụng giá hoàn kinh sư [從駕還京師] là một thi phẩm tiêu biểu. Bài thơ này được viết khi Trần Quang Khải đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông [陳聖宗] và vua Trần Nhân Tông [陳仁宗] về Thăng Long sau chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử và giải phóng kinh đô năm 1285. Bài thơ là một khúc khải hoàn thể hiện hào khí từ những chiến công oanh liệt và khát vọng thái bình thịnh trị của con người Đại Việt. Tất cả những điều ấy được thể hiện trong một bài ngũ ngôn tứ tuyệt cô đọng, hết sức hàm súc:


Nguyên tác chữ Hán:


奪槊章陽渡


擒胡鹹子關


太平須致力


萬古此江山


Dịch nghĩa:


Cướp giáo giặc ở bến Chương Dương


Bắt quân Hồ ở cửa Hàm Tử


Thái bình rồi nên dốc hết sức lực


Muôn đời vẫn có non sông này.


Dịch thơ:


Chương Dương cướp giáo giặc,


Hàm Tử bắt quân thù.


Thái bình nên gắng sức,


Non nước ấy nghìn thu.


(Bản dịch của Trần Trọng Kim)


1. Hai câu thơ đầu hiện ra cấu trúc đối hoàn hảo, tạo dựng tư thế chiến đấu hết sức bất khuất của quân dân đời Trần và bức tranh toàn cảnh của cuộc chiến đấu chống quân Mông – Nguyên:


Đoạt – Chương Dương độ


Cầm – Hàm Tử quan.


Những động từ mạnh đoạt []- cầm [], đăng đối với nhau được đưa lên hàng đầu nhằm khắc họa tượng đài người anh hùng thời Trần trong thế đối đầu bọn xâm lăng: cướp giáo, bắt giặc! Những hình ảnh ấy có sức cô đọng. Nó bất tử hòa, vĩnh viễn hóa những khoảnh khắc lịch sử kì vĩ của con người Việt Nam “Thời đại Đông A”.


Hai địa danh gắn liền với những cuộc chiến đấu then chốt giành thắng lợi rực rỡ của dân tộc được đưa vào bài thơ cũng là một nghệ thuật minh chứng cho cách lựa chọn hình ảnh đặc trưng của tứ tuyệt Đường luật – dĩ thụ tả lâm (lấy cây để tả rừng). Chọn hai trận thắng tiêu biểu nhất, từ đó có thể vẽ ra bức tranh toàn cảnh của cuộc kháng chiến với khí thế hào hùng của dân tộc, cái khí hạo nhiên mạnh mẽ đã xông lên tận trời cao để át cả sao Ngưu ấy đã làm cho giặc ngoại xâm phải kinh hồn bạt vía. Với cách tổ chức hình ảnh như thế đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật độc đáo, tạo sự cộng hưởng tương tác giữa các hình tượng. Một hình ảnh cụ thể, chỉ có thể tạo ra một lớp nghĩa cụ thể, nhưng khi hai hình ảnh này kết hợp lại chúng sẽ tạo ra một lớp nghĩa mới rộng lớn hơn. Việc thi nhân sử dụng hai động từ có cùng trường nghĩa: đoạt – cầm và hình ảnh hai trận đánh có cùng tính chất trong một kết cấu đối xứng đã tạo nên một sự khái quát cao độ, một tầng nghĩa mới cao vút lên, thoát khỏi sự ràng buộc của câu chữ.


Trong hai câu thơ đầu, thi nhân còn tận dụng triệt để hiệu quả của phép tỉnh lược đại danh từ chủ thể.


…Đoạt sóc Chương Dương độ


…Cầm Hồ Hàm Tử quan


Ai là người đoạt giáo? Ai là người bắt giặc? Quân dân đời Trần! Như vậy phép tĩnh lược ở đây đã thể hiện tính phổ quát của đối tượng. Đây là chiến công không phải là của riêng ai mà là của cả dân tộc.


Từ tầm cao của chính nghĩa, đại nghĩa, Trần Quang Khải đã gọi quân giặc là Hồ []. Đây là danh từ mà người Trung Quốc chỉ những dân tộc “phiên giậu” ở phía Bắc, hung hãn, man rợ, chưa được khai hóa. Như vậy từ Hồ mang nghĩa âm tính rất mạnh. Cách nghĩ, cách nhìn về đội quân mà vó ngựa xâm lăng trải dài từ Á sang Âu như thế đã thể hiện tầm vóc tư tưởng lớn lao của Trần Quang Khải: Sự hung hãn, tàn bạo chỉ là sức mạnh nhất thời, chỉ có tấm lòng yêu nước, kiên trinh và ý nguyện xả thân vì nước là trường tồn. (Chúng ta biết câu nói của Trần Bình Trọng, câu nói lưu danh vào thiên cổ, là minh chứng hùng hồn cho đỉnh cao chủ nghĩa yêu nước của dân tộc).


2. Hai câu thơ cuối, thể hiện khát vọng xây dựng đất nước của quân dân thời Trần. Câu thơ thứ ba, thi nhân lại tiếp tục tạo dựng phép tĩnh lược: Thái bình… tu trí lực nhằm tăng cường sức thuyết phục cho lời kêu gọi lên tất cả đối tượng. Từ đó mở rộng tối đa các đối tượng. Như vậy việc giữ gìn thái bình ấy không phải là của riêng ai mà của tất cả mọi người dân Đại Việt. Nền thái bình chỉ có thể trường tồn trên nền tảng đoàn kết dân tộc. Cả dân tộc hết sức mình để bảo vệ thành quả của công cuộc kháng chiến thắng lợi. Đây không những lời kêu gọi mà nó còn thể hiện một tầm nhìn chiến lược: không được ngủ yên trong chiến thắng. Công cuộc định vũ công đã vất vả mà công cuộc hưng văn trị cũng không kém gian lao, có như thế thì đất nước mới có thể: Vạn cổ thử giang sơn.


Câu thơ cuối của bài thơ thể hiện khát vọng mãnh liệt của cả dân tộc, xây dựng một đất nước vững bền “vạn cổ”. Có thể xem đây là tiếng nói của thời đại kí thác vào thế hệ mai hậu? Và lịch sử nước nhà đã chứng minh ngọn lửa ấy vẫn luôn tiếp tục được giữ gìn và thắp sáng qua bao thế hệ người Việt Nam theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc.


Vua Trần Thánh Tông có làm hai câu thơ tặng Trần Quang Khải:


一大功名天下有


兩朝忠孝世間無


Nhất đại công danh thiên hạ hữu


Lưỡng triều trung hiếu thế gian vô.


(Công danh trọn một đời, thiên hạ còn có người như ông – Tấm lòng trung hiếu đối với hai triều vua thì thế gian không ai có).


Trần Quang Khải hoàn toàn xứng đáng với hai câu thơ ca ngợi ấy vì tấm lòng của ông đối với quê hương đất nước, đặc biệt là tầm cao của tư tưởng ông. Đáng tiếc tập thơ Lạc đạo của ông bị thất lạc không còn; tuy nhiên, với số lượng ít ỏi thơ văn của ông còn lưu lại được, đặc biệt là bài Tụng giá hoàn kinh sư, rõ ràng là một viên ngọc sáng trong văn chương thời trung đại, thiết tưởng cũng đủ để xác lập một vị trí trong dòng thơ văn yêu nước của dân tộc.


 


Trầm Thanh Tuấn


____


(1) Phan Huy Chú [潘輝注] – Lịch triều hiến chương loại chí [歷朝憲章類誌] (tập IV, phần Văn tịch chí), NXB Sử học, 1961, Hà Nội.


(2) Trần Quang Khải [陳光] (1241-1294) là con trai thứ ba của Trần Thái Tông [陳太宗]. Dưới triều Trần Thánh Tông [陳聖宗] (1258 – 1278), Trần Quang Khải được phong tước Chiêu Minh đại vương. Năm 1247, ông được giao chức Tướng quốc Thái úy. Năm 1282, dưới triều Trần Nhân Tông [陳仁宗], Trần Quang Khải được cử làm Thượng tướng Thái sư, coi nắm toàn quyền nội chính. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288), Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai sau Trần Quốc Tuấn, có nhiều công lao to lớn trên chiến trường. Tác phẩm của Trần Quang Khải có tập thơ Lạc đạo nhưng đã thất truyền chỉ còn lại dăm bảy bài. Tuy nhiên, với những bài thơ còn lại cũng đủ tạo dựng cho Trần Quang Khải một vị trí trong dòng văn học yêu nước của dân tộc mà tiêu biểu nhất vẫn là bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Bính – Nhà thơ của nhiều thời - Bùi Mạnh Nhị 16.08.2018
Giang hồ Nguyễn Bính - Phạm Xuân Nguyên 16.08.2018
Hai không gian sống trong thơ Nguyễn Bính trước cách mạng - Lê Thị Dục Tú 16.08.2018
Những bài viết về thơ Đỗ Nam Cao - Nhiều tác giả 16.08.2018
Cảm thức nơi chốn trong thơ Nguyễn Bính trước 1945 - Đỗ Hải Ninh 15.08.2018
Trở về như là Nguyễn Bính… - Nguyễn Thanh Tâm 15.08.2018
Con người và đặc sắc thơ Nguyễn Bính qua một số chân dung văn học - Hà Thị Kim Phượng 14.08.2018
Giá trị truyện thơ Túi ba gang của Nguyễn Bính - Lê Nhật Ký 14.08.2018
Tỳ bà truyện nhìn từ phía truyện thơ nôm bình dân - Phạm Phi Na 13.08.2018
Bướm, hoa, mùa Xuân và cảm hứng thân phận trong thơ Nguyễn Bính - Nguyễn Thị Quốc Minh 13.08.2018
xem thêm »