tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23228920
11.05.2018
Trần Vàng Sao
Tôi bị bắt (tiếp và hết)


- Những người hàng xóm đến thăm mỗi lúc một nhiều. Chị Rạm, nhà ở trước mặt nhà


tôi, nói:


- Mạ cứ nói em e chết rồi. Thôi rứa là mạ vui. Vui rồi.


Quay sang mẹ tôi, chị cười:


- Chị sướng chưa, bữa ni hết khóc rồi. Chào Đính ơi, đêm mô cũng khóc, cũng hò,


cũng hát. Nói ngang đây, chị Rạm chảy nước mắt. Chị hỏi tôi:


- Đi rứa có cực không em?


- Dạ, cực chứ.


Thằng Thái Ngọc San về. Đi theo hắn là 1 cô bé người nho nhỏ. Thằng San ngúc ngắt


cái đầu, cười:


- Mạ thấy chưa, con nói hắn còn mà mạ không tin.


Mẹ tôi nói:


- Hắn tội lắm, lâu lâu lại về gặp mạ, nói mạ đừng lo, mai mốt thằng Đính về.


Thằng San giới thiệu cô bé với tôi, Phan Lê Dung. Mẹ tôi định đi nấu nước, thằng San


nói để hắn nấu. Mẹ tôi ra ngoài sân nói chi đó với thằng San và Dung. Té ra mẹ tôi


dặn đừng cho ai nấu hết, mẹ tôi sợ bỏ thuốc độc.


Ngó quanh không thấy con Bi đâu, tôi hỏi: “a, con Bi đâu rồi?”. Con Bi mới đi đâu về


đang hớt hơ hớt hải đứng ngoài cửa. Thấy tôi về, nó 3 chân 4 cẳng chạy lên chợ Đông


Ba báo cho mẹ nó, là o tôi biết là tôi đã về.


Chiều rồi. Cơn mưa hôm qua làm cho khí hậu dịu đi. Trời không có nắng nữa. Tôi ra


đứng ngoài thềm nhìn cây cối. Thằng Trần Đại Lang, 1 thằng bạn cũ đến thăm tôi.


Hắn là đại úy bộ binh. Tôi hỏi thằng Phạm May ở đâu. Thằng Lang nói, thằng May là


thiếu úy, phụ trách phân chi khu Phú Vang. Có lẽ bây giờ hắn kẹt ở Đà Nẵng. (Bây


giờ thì cả 2 thằng đều đi HO, 1 thằng HO7, 1 thằng HO10). Thằng Lang đi rồi, hai


103


anh bộ đội đóng quân ở nhà bên cạnh bước vào nhà tôi. Hai anh bảo nghe tôi ở miền


Bắc mới vào, đến thăm và khuyên tôi nên lên cơ quan ở lại đêm, tình hình an ninh ở


đây chưa bảo đảm. Trước khi thằng San và Dung lên, hắn cũng nói tôi nên lên chỗ


hắn làm việc ở lại.


Tôi bước vào nhà thắp 3 cây hương lên bàn thờ.


IV. Ở Huế


Sáng hôm sau, ngày 26.05.1975, tôi với thằng San ra uống cà phê trước mặt Bưu điện


Huế. Tại đây, và về sau này, tôi thường gặp 1 vài người vốn quen biết trước kia, có


người là cơ sở của cách mạng, có người mới tham gia. Ở những quán cà phê vỉa hè


trong những ngày mới đầu này, hiếm lắm mới thấy những người đã thoát ly lên rừng


lâu năm. Nhiều đứa quen biết cũ thấy tôi quá mừng:


- Giải phóng rồi mà không thấy mi, đứa nào cũng nghĩ là mi chết rồi. Răng chừ mới


về Đính.


Tôi cười không nói gì hết. Sau này, có đứa loáng thoáng nghe kể về sự tích của tôi,


hoảng và tìm cách tránh tôi. Liên hệ với tôi thì không có lợi gì cho sinh mạng chính trị


và con đường sống trong chế độ mới này của họ. Tôi nói với thằng San là tôi về nhà


1, 2 ngày rồi mới gặp tổ chức.


Bây giờ tôi đi thủng thẳng về nhà. Kể từ nay tôi có thể nói tôi về nhà được rồi. Tôi


không cảm thấy mình xa lạ. Hình như tất cả đều còn lại trong trí nhớ của mình. Tôi


chỉ có cái cảm giác, sau 10 năm đi xa, con đường Thuận An rộng ra và cao hẳn lên,


còn căn nhà của tôi thì nhỏ lại.


Trở về Vỹ Dạ là trở về với tuổi thơ của mình, gặp lại tuổi thơ của mình, sống với tuổi


thơ của mình, sống với mình. Tôi ở nhà tôi như lâu nay tôi không đi đâu hết. Tất cả


đều thân mật và gần gũi. Những lỗ đạn bắn trên tường, trên song cửa sắt hồi 52-53,


những hình tôi vẽ lúc nhỏ bằng bút chì và mũi dao trên tường có hơi mờ đi. Con trâu


gỗ gãy đầu vẫn nằm dưới góc bàn thờ. Những vết bùn của trận lụt năm 1953 còn mắc


trong các kẹt tủ. Rồi tôi quanh quẩn ngoài vườn trong nhà. Cây vú sữa cao và rậm


quá, tháng năm vẫn còn trái chín. Cây hải đường vẫn như thế. Tôi mở tủ sách ra, tất cả


như còn nguyên. Chẳng có chi thay đổi, chỉ có âm u và tàn tạ hơn. Mẹ tôi bảo sau khi


tôi đi có người đến đòi sách tôi mượn, mẹ tôi nói, để chờ thằng Đính về đã. Những


chồng phích ghi chép của tôi được xếp gọn gàng trong 1 góc. Những gì của tôi, có dấu


vết của tôi có thể gợi cho mẹ tôi nhớ tới tôi đều được cất giữ, không ai động đến


được. Những năm sau này, khi tôi đã có vợ con, tủ sách báo cứ vơi dần, khi năm ba


quyển, khi 1 chồng đem qua chợ Đông Ba hay ra chợ Vỹ Dạ đổi lấy gạo. Thời buổi


này gạo quý hơn sách.


Cuộc cách mạng này kinh khủng thật. Không phải nó chỉ thay đổi tâm tính, thái độ, tư


tưởng của từng con người mà thay đổi vị trí của từng đồ vật trong từng nhà, cái ghế,


cái bàn, cái tủ, cái giường, tôn lợp trên mái nhà, lư hương trên bàn thờ… đều thay đổi


chỗ, xếp đặt lại tất cả. Hôm qua cái bàn còn để đó, hôm nay không còn nữa, cái bàn


đã đi qua nhà khác, đã ở ngoài chợ. Cuộc cách mạng này đã phá hết, phá tan hết


những gì mà từng gia đình đã bòn mót bao nhiêu năm nay từ ông cha đến con cháu để


nuôi sống mình, để tồn tại với đời. Và những người làm cách mạng đã thay thế những


104


gì mà họ đã phá sạch bằng công an, bằng quyền lực trấn áp, bằng mệnh lệnh, khẩu


hiệu, băng cờ.


Tôi nghe nói, khoảng năm 1972-1973, trong chiến dịch Phượng Hoàng, bọn cầm


quyền ở Huế đã đưa lên đài truyền hình và dán ảnh tôi và thằng Nguyễn Đình Nghĩa


khắp thành phố, kêu gọi chúng tôi chiêu hồi và hứa sẽ thưởng tiền cho người nào bắt


được chúng tôi hoặc chỉ điểm chúng tôi. Bọn chúng không biết tôi lúc đó đang hoạn


nạn ở Sơn Tây. Chúng tưởng tôi và thằng Nghĩa đã lọt về thành phố và đang hoạt


động nằm vùng. O Lài tôi kể rằng nghe dưới trụ sở quận Phú Vang có treo ảnh tôi, o


lót tót chạy về xem. Vừa bước chân vào cửa quận, 1 người quen ở trong làng, lúc đó


đang bị gọi về thẩm vấn vì có liên quan với Việt Cộng, nói ngay: “O đi mô rứa? Lên


cho rồi! Có bóng thằng Đính treo trong a. Lên cho rồi!”. Nhưng o tôi cứ vào. “Để tui


vô coi thử có phải thằng Đính không?”. “Chà, cái bóng của mi đẹp thiệt. Không biết


nó kiếm ở mô ra”. O nói với tôi, suốt 10 năm tôi đi, bọn công an, mật vụ, dân vệ cứ


rình rập chung quanh nhà tôi hoài. Nhiều lúc o tôi đi bán bánh về khuya, tụi hắn chặn


trong xóm, khi thì giả đò mua bánh còn, khi thì cứ tự tiện giở rổ rá ra, xáo hết lá bánh


lên xem. “Tụi hắn cho là tao có giấu truyền đơn”. Có lần tụi dân vệ xộc vào nhà (nhà


o tôi ở sát nhà tôi) giữa lúc o đang cúng. Bọn hắn nói: “Chà, hai mạ con mà cúng


nhiều dữ hí! Ăn chi cho hết”. Tụi hắn cho là o tôi giả đò cúng để tiếp tế cho Việt


Cộng. Tôi theo Việt Cộng, o tôi nhất định phải có liên hệ. Khoảng 2 tháng sau tôi đã


lên núi, 1 hôm o đang làm gì đó trong nhà bếp của tôi, bỗng nghe thịch 1 cái, 1 gói


giấy từ trên nhà rớt xuống. “Tao hết hồn. Đây là gói truyền đơn hay giấy chi đó mà


trước khi đi mi nhét lên mái. Tao đút liền. Nhưng cũng khun, tao thắp 3 cây hương


trong bếp, may trong nhà còn mấy tờ giấy tiền vàng bạc, tao lấy đi 1 liên, rồi đút mấy


cái tờ giấy của mi. Đụng ai vô thình lình tao nói là đút vàng bạc”.


Còn mẹ tôi sau năm 1968, hễ nghe ở đâu có Việt Cộng bị bắt hoặc bị bắn chết, xa


mấy cũng lò mò đến xem có phải con mình không. “Này, cái mụ này, tới đây làm chi


hỉ?”. Thấy mẹ tôi lăm xăm đi tới mấy thằng lính nạt. Mẹ tôi nói: “Nghe dưới ni có bán


gà vịt rẻ tui xuống mua”. “Gà vịt mô mà gà vịt. Đi cho rồi!”. Đêm nào mẹ tôi cũng


thắp hương van vái bốn phương trời mười phương Phật và ba tôi phù hộ cho tôi tai


qua nạn khỏi. Cả xóm giữa đêm khuya nghe tiếng hò ở xa đều biết mụ Đính đi bán đã


về. “Có một thằng con mà bây giờ không biết sống chết ở nơi mô nữa, tội thiệt!”. Mấy


người hàng xóm kể: “Mỗi lần mạ đi bán về khuya, nhớ mi, buồn khóc rồi uống rượu.


Trời mưa, đường trơn, bổ lên bổ xuống. Có bữa tao phải gánh giùm gánh cháo về nhà.


Về đến nhà, thấy cây đèn leo lét, rồi mạ ngồi nơi cửa hát, có khi ngồi rứa bà ngủ quên


luôn”. Càng về sau không chịu nổi cảnh trống vắng, cảnh cô quạnh, mẹ tôi đi bán có


khi ngủ luôn ngoài chợ. Về nhà, thấy nhà thấy cửa mà không thấy tôi, mẹ tôi chịu


không nổi.


Hai ba hôm sau, tôi đến Ban tổ chức thành ủy ở 16 Lý Thường Kiệt, trình diện và để


nhận công tác. Tôi cũng cứ tưởng bở. Ông Ngô Yên Thi, Trưởng ban tổ chức thành


ủy, cho biết là tổ chức thành phố không có quyền, tôi phải qua tổ chức tỉnh, phải có


quyết định của tỉnh, thành phố mới nhận tôi được. Tôi đến Ủy ban nhân dân cách


mạng kiêm quân quán tỉnh Thừa Thiên (?) đóng ở tòa hành chính của chính quyền cũ.


Tôi lên lầu. Căn phòng to rộng, nhiều bàn ghế. Tôi hỏi phòng tổ chức. Người ta chỉ


cho tôi đi đến bàn cuối phòng phía bên trái gặp đồng chí cụt tay. Tôi nhớ không chắc,


hình như ông ta tên Trác. Tôi đưa giấy giới thiệu của đảng đoàn Văn nghệ và giấy


giới thiệu của đoàn đi Nam.


- Tôi ở Hà Nội mới vào.


Ông ta đọc, rồi quay ngược lại hai tờ giấy để trước mặt tôi.


105


- Anh là Trần Vàng Sao?


- Phải


Tôi trình bày 1 vài điều về trường hợp của tôi.


- Anh còn giấy tờ gì nữa không?


- Tôi có trong danh sách của đoàn Thừa thiên vào Huế sáng 30.4.


Ông ta nhìn tôi:


- Giấy tờ này chưa đủ.


Ông ta gõ gõ ngón tay của bàn tay còn lại lên hai tờ giấy nói xẵng giọng:


- Đây là giấy giới thiệu tiêu chuẩn ăn đi đường.


Thế còn lệnh hành quân đâu? Phải có lệnh hành quân, không thời ai biết đi B1, B2


hay B3, B4. Phải có lệnh hành quân!


Tôi nói cho ông ta biết là đoàn chỉ có tôi mượn giấy này và phải trả lại. Còn lệnh hành


quân thì đoàn phải giữ. Vả lại, những người cùng đi chung với tôi, bây giờ đã phân


tán các nơi, khó tìm họ được.


- Phải có lệnh hành quân. Có lệnh hành quân mới nhận anh được.


Tôi về 26 Lê Lợi, may là gặp ông Võ Trấp đang ở đó. Ông đưa cho tôi lệnh hành quân


của Bộ tư lệnh hành quân Quân Giải phóng nhân dân miền Nam. Ông bảo tôi: “thôi


anh giữ luôn, tôi cũng chẳng cần nữa”.


Sáng hôm sau tôi lại lên phòng tổ chức tỉnh, đưa lệnh hành quân cho ông cụt tay. Ông


ta chỉ ngó qua, rồi trả lại cho tôi:


- Trường hợp của anh hơi gay đây. Anh không có giấy giới thiệu của Ban thống nhất


trung ương. Tỉnh không nhận anh được.


Tức máu lên, tôi nói:


- Anh bảo tôi phải có lệnh hành quân, có lệnh hành quân rồi anh bảo phải có giấy của


Ban Thống nhất. Tôi đã nói với anh rồi là tên tôi nằm trong danh sách đoàn Thừa


Thiên vào đây ngày 30.04.


- Trường hợp của anh khác.


Trường hợp của anh khác. Tôi đừng tưởng bở. Anh thanh niên trông nhỏ hơn tôi ngồi


bàn bên cạnh với ông cụt tay:


- Trong danh sách của đoàn ngày 30.04 có tên anh Đính.


Ông cụt tay làm như không để ý lời anh thanh niên nói. Ông ta ghé sát anh thanh niên


nói gì đó, rồi nhìn tôi một cái, đưa tay đẩy tờ lệnh hành quân về phía tôi sát cạnh bàn.


Tôi cầm tờ giấy quay đi.


Tôi về lại ban tổ chức thành ủy. Ông Ngô Yên Thi trả lời “Tỉnh không nhận, chúng tôi


cũng chịu. Thành không có quyền”. Ông ta nói như cười. Tôi về.


Lúc này, tôi hay lên chỗ thằng Thái ngọc San làm việc - Cơ quan Mặt trận thành phố


– ở chơi, gặp bạn bè nói chuyện và thường ở lại ăn cơm. Ở chỗ này tôi đã bắt đầu thấy


những bộ mặt không mấy thiện cảm với tôi. Những thằng ở rừng về, những đứa mới


tham gia làm lơ tôi. Bạn bè đã có kẻ nhìn tôi bằng con mắt ái ngại. Nhiều đứa đã cố ý


tránh tôi. Cách mạng đang thắng lợi mà tôi là 1 tên phản động chống đảng. Thằng thì


106


cho tôi không ở trong hàng ngũ của nó, đứa thì sợ quen tôi sẽ bị nguy đến sinh mạng


chính trị. Chơi với tôi thằng nào cũng thấy không những không có lợi mà còn mang


họa vô ích. Nhiều đứa vốn quen nhau ở Huế, sau lên rừng thường thấy mặt nhau tình


cờ gặp tôi cũng giả đò không thấy. Tôi bị coi khinh. Cho tới hôm nay những năm 91,


92, 93 này, những thằng bạn cũ ngày trước sắp đi HO cũng lánh mặt tôi và những anh


em khác. “Hiểu cho tao với, để cho tao đi trót lọt cái đã, không lỡ nữa chừng bị ách lại


thì quá cực”. Thằng Trần Hữu Thục nói với tôi sáng 31.07.1993 như vậy. Bọn tôi


thông cảm bọn hắn.


Cũng có thằng gặp tôi không dám chào hỏi. Hắn ngụy, tôi cách mạng. Nên khi chạm


mặt, những đứa này khựng lại: “À, à anh…”. Anh cái cục cứt à… chơi với nhau lúc


nhỏ, anh chi mà anh”. Rồi nắm tay nhau đi uống cà phê, nói chuyện đời. Cũng có đứa


mấy lâu thấy tôi giữa đường, lại giả tảng không thấy. Đến khi có dịp gặp nhau, hắn


nói: “nói thiệt, mi đi bên tê về, tau cũng ngại. Tau ngụy mà. Lỡ chào mi, mi lơ thì sao.


Nhưng khi thấy mi ngày nào cũng đi bộ qua Đập Đá, quần áo lùi xùi, tau chẳng ngại


chi nữa”. Tức cười thiệt.


Cuối tháng 6.1975, tôi nhận được giấy mời đến Ban tổ chức thành ủy làm việc. Mời


anh Trần Văn Đính mở vòng đơn tức Trần Vàng Sao đóng vòng đơn. Tôi lại đến nhà


số 16 Lý Thường Kiệt. Ông Trưởng ban tổ chức nhìn tôi:


- À anh.


Ông ta nói miệng tưởng như cười. Da mặt ông hơi chì, môi thâm, hai hàm răng có khi


khít lại:


- Trường hợp của anh có nhiều khó khăn, anh Nhân ạ (Hình như lúc đó ông gọi tôi là


Nhân, tên ở Chiến Khu của tôi).


Và ông ta nói lại những điều đã nói với tôi bữa trước, rằng tỉnh không nhận tôi, thành


không thể giải quyết, bố trí công tác cho tôi được. Tôi nói:


- Tôi là cán bộ của thành ủy cho ra Bắc chữa bệnh. Bây giờ tôi trở về, thì thành ủy


phải sắp xếp công tác. Sao anh lại nói thành phố không có quyền.


Ông ta lại nói miệng như cười:


- Tôi cũng biết thế. Thành phố hiện nay rất thiếu cán bộ, mà những người như anh thì


lại rất cần, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc tổ chức. Anh phải hiểu cho.


Ông ta đưa cho tôi một tờ giấy:


Anh sang Ban tổ chức tỉnh ủy gặp ông Lê Thái Tâm. Chỉ có ban tổ chức tỉnh ủy mới


giải quyết được trường hợp của anh.


Giấy giới thiệu cũng viết bằng mực tím, cũng Trần Văn Đính, mở ngoặc đơn tức Trần


Vàng Sao, đóng ngoặc đơn.


Tôi sang Tam Tòa vào 1 phòng ở khoảng giữa dãy nhà về phía bên phải. 1 ông mặc


quần áo ngủ đang ngồi trên giường. Ông ta đứng dậy đi tới bàn giấy bên cửa sổ gần


cửa ra vào. Tôi đưa giấy giới thiệu. Ông ta à 1 tiếng. Tôi kéo ghế ngồi. Ông ta mở hộc


bàn, lấy 1 tờ giấy đưa cho tôi.


Ban chấp hành Đảng bộ


Thừa Thiên-Huế


Ban Tổ chức


107


Số 196/TC


Ngày 30 tháng 6. 1975


Kính gởi: Ban tổ chức Trung ương


Ủy Ban thống nhất Trung ương


Đồng chí Nguyễn Đính quê ở Thừa Thiên cùng đi với đoàn đ/c Đổ Nhuận vào Thừa


Thiên chúng tôi chưa tiếp nhận được vì:


- Địa phương chưa có yêu cầu


- Chưa có giấy tờ thuyên chuyển hợp lệ


Vậy chúng tôi xin chuyển đ/c Đính trở ra Ban để đảm bảo thực hiện đúng theo nguyên


tắc thủ tục điều động của Ban đã quyết định.


TM. Ban tổ chức Tỉnh ủy


Trưởng Ban


Lê Thái Tâm


Ông ta nói:


- Bây giờ anh phải ra Bắc. Ở đây chúng tôi không nhận anh.


- Thế tôi đi bằng cách nào?


- Anh sang tổ chức thành mà hỏi. Thành sẽ giải quyết.


Tôi đứng dậy, kẹp 2 ngón tay vào 1 góc tờ giấy vừa bước ra vừa nói, chào anh. Qua


Ban tổ chức thành ủy, ông trưởng ban bảo:


- Tổ chức tỉnh ủy trả anh ra Bắc thì phải lo phương tiện cho anh chớ:


Tôi nói:


- Tỉnh lại bảo thành phố giải quyết.


Thôi về cho rồi. Tôi dại thiệt. Mắc chi mà phải loanh quanh luẩn quẩn tự mình hành


hạ mình. Ở Hà Nội thì tìm cách vào Huế. Vào Huế lại chạy chỗ này qua chỗ khác để


xin làm việc. Chu cha, tham gia cách mạng bao nhiêu năm nay không lý về không à,


mất mặt. Tôi dại thiệt. Mắc chi mà chạy đôn chạy đáo cho cực mà nhục như thế. Qua


cầu Mỹ Chánh rồi thì cứt hết. Cứ về nhà ở với mạ, ngó cây cối chim chóc là vui


sướng rồi. Tôi dại quá.


Tôi ngó ông trưởng ban tổ chức thành ủy:


- Tỉnh nói qua thành, thành nói qua bên tỉnh. Thôi tôi về.


Tôi về. Đường Lý Thường Kiệt buổi sáng trời không nắng to. Qua Phòng thông tin


Hoa Kỳ, đối diện hơi chếch một chút có hai cây dừa mọc cong trước cửa ngỏ một


ngôi nhà, tàng lá che đến lề đường. Người ta kể có 1 ông bán phở gánh cách đây mấy


chục năm, nửa đêm qua đây bị 1 trái dừa khô rớt bể đầu chết ngay tại chỗ. Không biết


có thiệt hay không? À, ở nhà mình còn một quyển sách mượn của Phòng thông tin


Hoa Kỳ từ năm 1965, chưa trả thì đã trốn lên núi, cuốn La Jeunesse de Lénine (Three


who made a revolution của Bertram D. Wolfe), bản dịch tiếng Pháp của René


108


Guyonnet. Tôi ra quán cà phê Bưu điện. Ba bốn đứa đã ngồi ở đó. Thằng San hỏi:


“Răng mi?”. “Như cứt họ”. Cà phê ngon thật.


Tới ngang đây tôi coi hết nước rồi. Nhưng chưa ngất ngư nên tôi vẫn còn cố. Tôi phải


biết rằng người ta không bao giờ để cho tôi chết, người ta sẽ làm cho tôi hoàn toàn bất


lực, tê liệt, mất hết tác dụng. Chế độ này muốn cho tất cả mọi người đều trở thành


những kẻ bị thiến hoạn về tư tưởng. Hai ba ngày sau đó, theo lời khuyên của bạn bè, 1


buổi chiều, tôi đến gặp ông Trần Thanh Văn (Trần Anh Liên), Bí thư thành ủy Huế tại


nhà riêng của ông ở 14 Lý Thường Kiệt. Ông Văn là người lịch thiệp và khiêm


nhường. Ông người Hà Nội. Hồi ở trên rừng hay gặp ông và nói chuyện với ông. Tất


nhiên là ông ta đã được báo cáo về tôi rất rõ. Tôi đưa cho ông cái công văn của Ban tổ


chức tỉnh ủy gửi trả tôi lại cho Ban thống nhất trung ương. Ông Văn xin lỗi đã để kính


trong phòng. “Thôi anh đọc cho tôi nghe cũng được”. Nghe xong, ông Văn nói giọng


hơi gắt:


- Làm gì đến nổi phải thế. Chỉ cần 1 cú điện thoại là được thôi.


Ông hỏi tôi:


- Thế anh đã gặp anh Lanh chưa?


Tôi biết ông Văn hỏi tôi như thế vì trước kia tôi là cơ sở của ông Lanh, phó bí thư


thành ủy.


Tôi nói:


- Tôi có gặp anh Lanh. Anh Lanh chỉ nói là “tại cậu hết”, rồi bỏ đi.


Ông Văn mời tôi uống nước và hút thuốc. Tôi nói:


- Tôi đến gặp anh để báo cho anh biết trường hợp của tôi, không rồi sau này các anh


lại nói vì sao không cho các anh biết.


- Thế bây giờ anh có định ra Bắc không?


- Không, không khi nào tôi ra Bắc hết.


Ông Văn gật đầu:


- Anh đừng dại mà ra Bắc. Anh mà ra Bắc là bị nắm đầu liền.


Ông còn nói động viên tôi 1 vài câu nữa, và câu cuối cùng là “để tôi hỏi ý kiến của


các anh ở thường vụ xem sao”.


Tôi về nhà. Trời bắt đầu tối. Cây vú sữa lá vẫn lao xao. Con chó mực vẫy đuôi mừng.


Mẹ tôi đi bán chưa về. Tôi thắp 1 cây đèn để giữa nhà, rồi giở lồng bàn ra, trên cái


mâm gỗ, 1 tô cháo, 1 tô canh, một cái chén úp trên cái đĩa. Tôi rót 1 ly nước chè uống


ực 1 cái, rồi rót thêm 1 ly nữa, bắc 1 cái ghế ra ngồi trước cửa nhà lớn hút thuốc ngó


trời đất cây cối. Đứa nhỏ bên hàng xóm ru em hát, bên cạn thời chống, bên su thời


chèo… Một lát sau, có 1 đứa nhỏ đứng ngoài hàng chè tàu thấy trong nhà có đèn nói


với vào:


- Anh Đính, anh Đính ơi! Chút nữa anh đem đèn ra cho mụ. Mụ nói mụ bới cơm rồi.


Tôi về ở nhà. Cỏ trong vườn mới làm đã mọc đầy. Buổi sáng tôi nhổ lông gà, lông vịt


hay rửa lòng heo lòng bò giúp mẹ tôi. Buổi trưa tôi bắc bánh bột lọc, khoảng 2 giờ mẹ


tôi gánh cháo ra chợ Vỹ Dạ, chiều tối lại lên bán trên múi Đập Đá trước lầu Hữu Ước.


109


Tôi ở nhà hết đọc, viết, lại lên chỗ thằng San chơi. Trước tôi còn hay lên, nay chỉ


thỉnh thoảng. Trong bạn bè, anh em quen biết đã có nhiều tiếng xì xào về việc tôi bị


tống cổ ra Bắc. “Nghe nói thằng Đính hồi ở miền Bắc có làm thơ chống Đảng và nói


xấu Bác Hồ”, “Nghe đâu ở miền Bắc thằng Đính bị kết tội chống Đảng, chống chế


độ”, “thằng Đính phản động”, “uổng thiệt, tham gia cách mạng bao nhiêu năm!”,


“Hình như thằng Đính có bị đấu tố, khiếp thật!”.


Cứ như thế, những dấu hỏi, dấu than như thế cứ xa gần xì xào quanh tôi, lúc nhỏ, lúc


to, lúc miệng này qua tai khác, lúc trợn mắt thở phù trong phòng kín, trước mặt, sau


lưng, đầu ngõ, bên cạnh nhà. Không có tên công an khu vực nào nơi tôi ở không lẽo


đẽo bên tôi cách này thế khác. “Thằng Đính là 1 tên phản động chống Đảng, chống


chế độ, làm thơ nói xấu Bác Hồ”. Đời tôi tàn rồi.


Một hôm tôi đi chơi về, thấy trên bàn có 1 mảnh giấy để lại


Đính,


Cố gắng dàn xếp với trên tổ chức. Nếu không thì về Vỹ Dạ nằm tu. Còn ra Bắc thì dứt


khoát không ra. Chỗ tao cũng hơi rắc rối.


TNS


Tôi hiểu ý thằng Thái Ngọc San là tôi không nên đến chỗ hắn làm việc nữa. Nhiều


đứa đã tránh xa tôi. Nhiều đứa đã ngó lơ giả đò không thấy tôi. Nhiều đứa cực chẳng


đã phải chào tôi cho có lệ. Và nhiều đứa cũng cứ về nhà tôi chơi, đi uống cà phê với


tôi rất thân mật.


Một buổi sáng có tiếng xe Honda tắt máy ngay trước cửa ngõ. 1 anh chàng mặc quần


áo bộ đội, đội mũ cối, dắt xe vào. Lại mệt nữa, tôi giật mình, thôi công an rồi. Anh ta


bước lên thềm, đứng trước cửa. À, thằng Năm ở Ban tuyên giáo thành ủy. Anh ta chào


tôi:


- A, anh Nhân.


Anh ta lấy trong xắc cốt ra 1 phong bì, đưa cho tôi. Tôi mở ra, công văn của thành ủy.


Thành ủy Huế


Số 072/CV


CÔNG VĂN


Anh Nguyễn Đính (Trần Vàng Sao) là cán bộ của cơ quan Thành ủy được Thành ủy


giới thiệu ra Bắc chữa bệnh từ 1969 nay đã trở về Huế. Hiện nay anh Nguyễn Đính


chưa có đủ giấy tờ chính thức của Trung ương. Trong khi chờ đủ giấy tờ để bố trí


công tác chính thức, Thành ủy Huế tạm sắp xếp anh Nguyễn Đính ăn ở tại cơ quan


Tuyên huấn Thành ủy (diện khách).


Thành ủy Huế quyết định:


Ban Tuyên giáo thành chịu trách nhiệm quản lý việc ăn ở của anh Nguyễn Đính. Ban


Kinh tế Thành bảo đảm tiêu chuẩn ăn ở. Ban tổ chức tiếp tục giải quyết thủ tục giấy


tờ của anh Nguyễn Đính. Các Ban chiếu công văn này để thi hành.


Ngày 20.07.1975


110


TM Thành ủy Huế


Phó bí thư


Hoàng Lanh


Tất nhiên những người lãnh đạo ở đây không thể thả lỏng tôi mà phải quản lý chặt tôi.


Hơn nữa nếu họ không cho tôi làm việc thì sẽ gây ra 1 dư luận dù nhỏ không có lợi


cho họ trong giới sinh viên, giáo chức, văn nghệ sĩ ở Huế. Đằng nào tôi cũng là 1


trong những sinh viên Huế đầu tiên thoát ly tham gia kháng chiến chống Mỹ.


Và bây giờ tôi được nhận làm “diện khách”.


Khi thằng Ngô ở Hà Nội vào thăm nhà nghe chuyện này hắn cười thật to:


- Diện khách! Tham gia cách mạng bao nhiêu năm bây giờ về làm… diện khách. Quá


mất dạy. Hắn chơi mi đó.


Ba ngày sau tôi lên ở nhà số 22 Lý Thường Kiệt làm khách của Ban tuyên giáo thành


ủy Huế. Tôi không làm gì hết chỉ ăn, ở. Trần Phá Nhạc, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn


Thượng Khanh, Võ Quê cũng ở đây. Buổi sáng, buổi chiều tụi nó sang cơ quan ở 20


Lý Thường Kiệt làm việc, tôi nằm đọc sách hoặc về nhà hay đi lang thang. Trưa,


chiều ăn cơm với tụi nó. Trong số anh em ở đây tôi thân với Trần Phá Nhạc hơn, mặc


dù mới quen. Tôi hay đi uống cà phê với Nhạc. Buổi tối 2 đứa thường chở nhau bằng


xe đạp loanh quanh luẩn quẩn trong thành phố.


Tôi được cho ăn ở, hưởng các tiêu chuẩn, chế độ như anh em khác, nhưng không làm


gì hết. Thật ra lúc này tôi chẳng là cái gì hết để cho họ phải theo dõi xem tôi có liên


hệ với những phần tử xấu hay địch hoặc xem sự tiến bộ của lập trường, tư tưởng của


tôi đến mức độ nào. Tôi chẳng là cái gì cả và họ cũng chẳng cần tôi. Vấn đề là tôi phải


bị quản lý và đối với dư luận, tôi vẫn không bị bỏ. Tôi kệ cũng không được. Tuần đầu,


tôi cứ ở 22 Lý Thường Kiệt. Về sau chán tôi cứ về nhà luôn. Tôi ăn cơm ở nhà, ngủ ở


nhà. Có khi 2, 3 ngày tôi không đến 22 Lý Thường Kiệt. Và tôi cũng chẳng có gì


buồn phiền, chán nản, mệt mỏi. Tôi về nhà tôi và sống với mẹ tôi. Tôi có anh em bạn


bè thân mật của tôi.


Tôi không còn nhớ ngày nào tháng nào nữa, đâu khoảng tháng 6, không biết có phải


không, trước ngày đổi bạc lần thứ nhất 1 ngày, một buổi chiều, từ nhà lên đang đi trên


đường Lý Thường Kiệt tôi bị gọi giật lại “Nhân, Nhân ơi!”. Tôi dừng lại. Ông Hoàng


Lanh đang ngồi trên ô tô với người nhà từ ngôi nhà số 10 vòng qua bên kia đường.


Ông ta ló đầu ra cửa xe. Tôi đứng phía bên này đường.


- Nhân, bắt đầu từ bữa ni anh làm việc ở Ban tuyên giáo nghe. Có điện Hà Nội vào


rồi. Rứa thôi nghe.


Sáng hôm sau tôi ghé 20 Lý Thường Kiệt làm việc và được cho làm ở tiểu ban tuyên


truyền. Công việc chẳng có gì, vừa làm vừa chơi cũng được. Chỉ có vất vả là thời gian


tôi về khu phố Vĩnh Lợi làm công tác bầu cử Quốc hội. Tôi không có xe đạp. Mỗi


ngày tôi phải đi bộ từ nhà lên trụ sở Ủy ban nhân dân Vĩnh Lợi, trưa về nhà ăn cơm.


Ăn xong đi liền, chiều lại về nhà. 2, 3 ngày tôi phải đến cơ quan báo cáo tình hình.


May lúc đó chân cẳng tôi còn tốt.


Phần đông những người ở Ban tuyên giáo là những anh em bạn bè quen biết. Không


khí làm việc vui vẻ, thân mật. Một buổi trưa gần hết giờ làm việc, Nguyễn Đắc Xuân


đứng nói với tôi cạnh cửa ra vào:


111


- Đính nì, tao đã đề nghị mức lương của mi là 56 đồng. Tao phải đấu tranh dữ lắm. Có


nhiều người không đồng ý. Tao ở trong ban xếp lương của cơ quan. Mi thấy rứa có


được không? (tôi nhớ hình như thằng Xuân nói: “tao đã xếp cho mi”).


Tôi hỏi:


- Rứa lương mi mấy?


- Ờ… ờ 73.


- Rứa à.


Tôi không nói gì nữa và cũng không để ý đến thái độ của hắn. Mấy ngày sau đó, cũng


khoảng gần trưa, ông Trần Duy Ưu, Trưởng Ban tuyên giáo, bảo tôi vào phòng làm


việc của ông, ông gần gặp riêng tôi. Sau khi nói cho tôi biết là thường vụ Thành ủy đã


có quyết định xếp lương cho cán bộ, ông đưa cho tôi tờ quyết định về mức lương của


tôi: 56 đồng (cán sự 2). Ông nói:


- Anh thấy thế nào?


Tôi ngó tờ quyết định không nói. Tôi biết cách đây mấy ngày cán bộ Ban tuyên giáo


đã nhận quyết định lương. Riêng tôi thì có khác là thủ trưởng cơ quan gọi vào phòng


riêng để đưa quyết định và hỏi ý kiến. Ông ta nhắc lại:


- Chúng tôi đề nghị mức lương của anh là 56 đồng, và thường vụ đã thống nhất ý


kiến. Anh thấy sao? Tôi nói:


- Tôi được cho đi làm việc là may rồi. Còn xếp bao nhiêu là quyền các anh.


Khoảng cuối tháng 5 đầu tháng 6.1976, thằng Xuân một hôm đang ngồi làm việc,


trong phòng chỉ có tôi và hắn, vừa cười vừa nói:


- Nghe mi có người yêu rồi phải không? Con Hay làm ở khu phố Vĩnh Lợi chớ chi


nữa?


- Ừ, mà răng đăng?


- Hình như con Hay là con sĩ quan ngụy phải không mi?


- Mi đảng viên mi phải sợ. Tao yêu ai thì tao yêu. Chắc là họp chi bộ thằng Xuân có


nói gì đó về chuyện của tôi nên sau đó ông Trưởng ban tuyên giáo hỏi tôi:


- Nghe anh đã đặt vấn đề với cô Hay nào đó công tác ở Ủy ban Vĩnh Lợi phải không?


Ông ta cũng vừa cười vừa nói giọng Thừa Thiên làm dáng pha Bắc. Mà cô ấy là con


của một ông thiếu tá ngụy?


Tôi cười:


- Trung tá anh ạ, và đã từng làm quận trưởng quận Phú Vang.


Lúc này Ban tuyên giáo đã dời ra số 1 Hoàng Hoa Thám. Một số người đã chuyển đi


công tác nơi khác. Võ Quê ra Hội Văn nghệ, Trần Phá Nhạc qua đài truyền thanh


Huế, Nguyễn Thượng Khanh xin đi học đại học y khoa. Từ lâu tôi đã biết thế nào tôi


cũng phải đi khỏi chỗ này. Mà thật ra trong cái guồng máy tổ chức của chế độ này tôi


không có 1 chỗ nào cả. Tôi đã bị đuổi. Có người đã bảo tôi: “một thằng như mi, ai mà


để công tác ở ban tuyên giáo”. Tôi đã nghe khi gần khi xa, khi to khi nhỏ từ những


người ở trong cơ quan hoặc từ những người thân của những người trong cơ quan rằng


tôi sẽ chuyển về công tác ở Ủy ban nhân dân xã Hương Lưu.


Tháng 6.1976, tôi có quyết định của Thường vụ thành ủy về Hương Lưu. Một buổi


sáng tôi đang ngồi làm việc, thằng Lãm cán bộ Ban tổ chức ở phòng bên cạnh lăm


112


xăm bước vào đến bên cạnh thằng Nguyễn Khoa Điềm, cúi gập mình lên bàn nói nhỏ


nhỏ chi đó rồi đi ra. Thằng Lãm vừa ra khỏi cửa, thằng Điềm, lúc này là phó ban


tuyên giáo phụ trách tiểu ban tuyên truyền, ngẩng mặt lên gọi tôi:


- Anh Đính, tôi có chuyện cần bàn với anh.


Bàn làm việc của tôi đối diện với bàn của hắn. Tôi ngồi xuống cái ghế để trước mặt


bàn hắn:


- Thường vụ quyết định anh về công tác ở Hương Lưu. Anh nghĩ sao?


Tôi nói:


- Tôi đi đâu là quyền của các anh.


Tôi quay lại bàn làm việc, vừa mới ngồi xuống thì thằng Lãm lại sang. Và cũng như


lần trước hắn cúi gập mình lên bàn thằng Điềm và đưa cho thằng Điềm 1 tờ giấy, rồi


đi về. Thằng Điềm lại ngẩng mặt lên:


- Anh Đính, anh cho tôi nói cái này 1 chút.


Tôi bước sang. Thằng Điềm đưa cho tôi 1 tờ giấy: Quyết định của Thường vụ thành


ủy do ông Hoàng Lanh, phó bí thư phụ trách tổ chức ký, điều động tôi về công tác tại


Ủy ban nhân dân xã Hương Lưu với chức vụ đã sắp sẵn, trưởng ban văn hóa thông


tin. Quyết định đã ký cách đây ba ngày. Điềm nói:


- Tôi cũng không biết gì về việc này.


Tất cả sự việc diễn ra trong vòng chưa đầy 5 phút.


Sau 1 ngày tôi nhận quyết định, ông trưởng ban tuyên giáo gặp tôi nói:


- Đi công tác về tôi mới biết là anh đã có quyết định tăng phái về Ủy ban nhân dân xã


Hương Lưu.


Tôi nói:


- Anh Điềm, bí thư chi bộ cũng nói với tôi là anh không biết gì về chuyện này. Bây


giờ anh là thủ trưởng cơ quan và là thành ủy viên anh cũng bảo là anh mới biết. Thế là


thế nào? Cách đây 1 tháng, anh Nguyễn Đắc Xuân đã nói với tôi là tôi sẽ về Hương


Lưu. Hôm qua, đến lấy cá tôi chào chị Vững tôi về Hương Lưu. Chị Vững cười: tôi


biết lâu rồi, chi bộ họp đã nói chuyện chú sẽ về Hương Lưu.


Và, nhân tiện đưa tiễn mấy ông cán bộ ở Hà Nội vào giảng dạy ở trường đảng thành


phố, tôi được mời ghép đến ăn mấy cái kẹo, uống một hai ly trà gọi là tiễn đưa tại


trường đảng ở đường Phan Đình Phùng.


Tôi về công tác ở Ủy ban xã Hương Lưu từ tháng 6.1976 đến 31.12.1976. Văn hóa


thông tin ở các khu phố, xã là băng cờ, khẩu hiệu trang trí trong các ngày lễ và các


buổi họp của ủy ban. Hằng ngày tôi đến cái phòng nhỏ số ….. đường Thuận An ngồi


chõm rõm với 1 cậu thanh niên làm công tác văn hóa thông tin kiêm đánh máy cho


Ủy ban và 1 cô y tá nói chuyện với nhau, ngó xe cộ và người đi đường qua lại. Căn


phòng này trước là hiệu may của 1 người đã bỏ đi Nam, được chia làm 2, một bên là


ban văn hóa thông tin, 1 bên là trạm y tế. Buổi chiều cán bộ định suất nghỉ, còn cán


bộ tăng phái đi làm việc, tôi tới ngồi 1 chút rồi cũng đi về.


Có 1 hôm, bà Hoa, bí thư chi bộ xã Hương Lưu, hỏi tôi: “Tối nay, 7 giờ, anh đến nhà


tôi, có 1 đồng chí công an ở tỉnh muốn gặp anh. Không can chi đâu, anh đừng lo”. Tối


113


đó tôi đến nhà bà Hoa. 1 ông khoảng trên 40 tuổi, mặc quần áo công an đang ngồi nói


chuyện với bà Hoa giữa nhà. Ông ta nói:


- Hôm nay tôi nhờ chị Hoa mời anh đến đây cho tiện, tôi có 1 vài chuyện muốn hỏi


anh. Ông ta cười. Anh đừng lo. Không phải chuyện của anh đâu.


Rồi ông ta hỏi tôi:


- Chắc anh đã đọc tờ Văn nghệ Bình Trị Thiên số 1. Anh thấy nội dung của hình vẽ


của Bửu Chỉ trên tờ bìa như thế nào?


À, tôi biết rồi. Bìa trước và bìa sau của tờ Văn nghệ Bình Trị Thiên số 1 đang “có vấn


đề” và đang gây dư luận xôn xao ở thành phố này. Các ông lãnh đạo tỉnh đang bực


mình. Tôi nói:


- Trang bìa vẽ 1 nhà máy và 2 đường sắt đi đến nhà máy. Thế thôi.


Ông ta ậm ừ trong miệng rồi hỏi nữa:


- À, à… thế anh có quen với anh Bửu Chỉ không? Anh thấy anh Bửu Chí là người thế


nào? Tôi hỏi như thế vì anh là người tham gia cách mạng đã lâu.


- Tôi mới quen anh Chỉ gân đây thôi. Tôi chưa hiểu anh Chỉ cho lắm, cho nên tôi


không thể nói gì về anh ấy.


Lần khác, lúc đó tôi được phân công vào tổ bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố


gì đó tôi không còn nhớ tại địa điểm thôn Phao Võng. Khoảng 10 giờ đêm, trong lúc


tổ bầu cử đang kiểm phiếu, có 3, 4 thanh niên ăn mặc thường phục ngang nhiên bước


vào ngó nghiêng, ngó ngửa, chỉ trỏ nói tiếng to, chẳng coi ai ra gì cả, tất nhiên là theo


sau có 1 cán bộ Ủy ban. Công an về kiểm tra nắm tình hình xem có bọn phản động,


chống đối phá hoại bầu cử hay không. Một tay thanh niên nói giọng miền ngoài đến


trước mặt tôi hỏi:


- Phiếu bầu có gì lạ không anh Đính?


Nhiều lần làm công tác bầu cử tôi biết là công an thường đến những địa điểm bầu cử


và ngay cả Ủy ban thành phố trong đêm kiểm phiếu để kiểm tra những phiếu bất hợp


lệ, và phiếu trắng có những dấu viết phản động, chống chế độ như thế nào.


Tay này nhìn tôi gật gật đầu. Hắn có 1 khuôn mặt choắt, láng, trông trợt trợt, hình như


tên Dũng thì phải. Hắn nói:


- À, chắc anh không biết tôi, chứ tôi thì tôi biết rõ anh lắm, anh Đính nghe.


Tôi nói:


- Tôi làm hướng dẫn cho cử tri đi bỏ phiếu nên không biết. Anh hỏi những người


kiểm phiếu.


Trong lúc đó, những người đi cùng với hắn đang lục lọi, trăn qua trở lại những phiếu


bầu mà chúng nghi là có vấn đề ở bàn kiểm phiếu.


Cuối tháng 12.1976, tôi có quyết định lên công tác tại phòng văn hóa thông tin thành


phố Huế. Chuyển chỗ này, chuyển chỗ khác không bao giời tôi được báo trước, chớ


đừng nói là hỏi ý kiến trước. Thình lình 1 cái người ta đưa quyết định cho tôi. Vừa


bước chân vào trụ sở Ủy ban, 1 người nói:


- A, ông Đính, ông có quyết định về phòng văn hóa thông tin. Sướng chưa? Nhận


quyết định mà đi này.


114


Ngày…. tháng 1.1976 tôi cưới vợ. Vợi tôi tên là Nguyễn Thị Hay lúc này đã thôi làm


việc ở khu phố Vĩnh Lợi, đang học lớp y sĩ xã ở trường y tế Bình Trị Thiên.


Trong thời gian tôi làm việc ở Phòng văn hóa thông tin thì xảy ra đại hội văn nghệ


tỉnh Thừa Thiên. Tôi tưởng như thế này dẫu sao tôi cũng được yên. Bây giờ tôi lại bị


bới ra. Một tên phản động làm thơ chống chế độ, nói xấu lãnh tụ như tôi ai mà cho dự


đại hội văn nghệ. Tôi nghe nói là thường vụ tỉnh ủy và thành ủy không đồng ý để tôi


dự đại hội. Có cái nghiệt tôi vốn là ủy viên ban chấp hành Chi hội Văn nghệ Giải


phóng Trị Thiên. Ông Tường gặp tôi ở trước cửa trường Đại học sư phạm lúc tôi đi


làm việc về, nói: “Tao đã đề nghị anh Lanh cho mi dự đại hội văn nghệ”. Ông Tường


làm như tôi nghe tin này thì mừng lắm. Tôi nói “Thôi anh ơi, thêm mệt cho tôi. Anh


có cho tôi năm đồng ba trự thì tôi mừng, tôi cám ơn anh. Chớ chuyện đó… tôi không


thiết. Anh để cho tôi yên”. Nói thật, tôi chẳng thiết gì về chuyện dự đại hội văn nghệ


và cũng chẳng để ý gì đến chuyện này nữa. Tôi có lý của tôi. Như tôi hằng ngày vẫn


viết, vẫn làm thơ, không bao giờ tôi nghĩ là thơ tôi sẽ được đăng báo hay xuất bản.


Rồi 1 buổi chiều tôi vừa ra khỏi cổng Phòng văn hóa thông tin, số 1 Trương Định, ông


Trưởng phòng đi hon đa ra, dừng xe lại: “Anh Đính, chi bộ đã đồng ý để anh tham dự


đại hội văn nghệ”. A, tức cười chưa! Về sau tôi bị tố là 1 kẻ không biết ăn năn hối cải;


đảng đã khoan hồng và độ lượng với tôi như thế mà tôi thì cứ chống đảng, chống chế


độ.


Trước đó, lúc tôi còn ở Ban tuyên giáo thành ủy, trong thời gian Ban vận động thành


lập Hội Văn nghệ Thừa Thiên chuẩn bị in tập thơ “Huế từ ấy”, ông Tường nói tôi


chép bài “Bài thơ của một người yêu nước mình” của tôi để in vào tuyển tập này. Khi


tôi đưa bài thơ cho ông Tường ở 26 Lê Lợi, ông nói” “Đính ơi, tao nghĩ mi đừng để


tên Trần Vàng Sao nữa mà để tên Nguyễn Đính. Nguyễn Đính thì ai cũng biết”. “Anh


nói chi lạ rứa? Anh mà còn còn sợ à?”. “Ý của ông Trần Hoàn như thế?”. “Đăng hay


không là quyền anh, đổi tên tác giả là quyền tôi. Tôi không bao giờ đổi tên Trần Vàng


Sao hết. Nếu đăng anh không được quyền đổi tên tác giả. Tôi sẽ kiện có một tên


Nguyễn Đính ăn cắp thơ Trần Vàng Sao”. Một hôm tan buổi họp gì đó ở ty văn hóa


thông tin (lúc đó ở số ….. Lê Lợi), ông Trần Hoàn, trưởng ty, gặp tôi trên thang gác đi


xuống nói: “Nhân, nhân ơi, thôi được rồi, cứ để tên Trần Vàng sao trong bài thơ của


anh. Vừa rồi tờ Văn nghệ Giải phóng ở Sài gòn đã đăng lại bài thơ đó và để tên Trần


Vàng Sao”. Thằng cha quá khôi hài. Hình như lúc đó không biết có phải là Lê Nhược


Thủy hay không có viết về bài thơ này của tôi trên Văn nghệ Giải phóng. Tác giả tỏ ra


có cảm tình với bài thơ của tôi.


Sau này khi ra tờ Văn nghệ Bình Trị Thiên, rồi Sông Hương, bạn bè khuyên tôi nên


đăng thơ cho vui, “chỗ anh em với nhau, ai vô đó”. Tôi không chịu. “Cái thằng chi


lạ”. “Rứa mi làm thơ rồi cất trong tủ à, hay chỉ đọc cho con Bồ Câu nghe thôi à?” (Bồ


Câu là đứa con gái đầu của tôi). Tôi chỉ cười. Lúc Sông Hương sắp ra số 1, có người


rủ tôi: “mi phải gửi bài đăng Sông Hương số 1”. Tôi lắc đầu, Sông Hương ra được vài


số, thằng Điềm đến nhà tôi nói tôi đưa 2 bài thơ cho hắn đăng. Tôi nói: “thôi đăng làm


chi. Tao không thích”. Hắn mượn tôi 1 số bài đem về đọc. “Cho mi mượn đọc, chứ


đừng đăng”. Lúc này thằng Điềm làm Tổng biên tập tạp chí Sông Hương. Mấy ngày


sau tôi gặp hắn đòi mấy bài thơ với lý do tôi chỉ có một bản duy nhất đó. Hắn báo là


bà Mỹ Dạ mượn. Tôi lên nhà ông Tường liền và lấy lại mấy bài thơ về. May quá. Một


bữa khác, gặp tôi bà Mỹ Dạ nói: “Anh Điềm bảo Dạ: răng chị lại đưa mấy bài thơ lại


cho thằng Đính. Chị cứ chọn mà đăng. Mà răng anh chướng rứa, anh Đính? Đăng cho


vui chứ”. “Thôi chị ơi!”. “Anh sợ à?”. “Đụng tôi bị tù thì làm răng?”. “Anh ở tù thì


bọn này bói”. “Rứa ai nuôi con tôi?”. “Nói rứa thôi, đưa thơ đăng đi anh Đính”. Anh


em bạn bè khuyên nhủ, nói nhiều lần, cầm lòng không đậu, tôi đưa bài “Những ngày


115


còn nhỏ của tôi ở Vỹ Dạ” để đăng. Bài thơ dài nên chỉ trích đăng 1 số đoạn có chừng


mực. Từ đó, nhờ tấm lòng của bạn bè, thỉnh thoảng thơ tôi lại được đăng ở Sông


Hương. 1 số bài trong những bài này của tôi đã bị báo chí, đài phát thanh, đài truyền


hình và nhiều người có chức quyền ở tỉnh này xỉ vả tôi dữ tợn, tóm một lời, họ cho tôi


là phản động. Có người ở báo Công an Bình Trị Thiên gọi tôi là chó, rằng lúc ở Hà


Nội Đảng đã khoan hồng cho tôi mà nay tôi lại không biết điều… Nhưng đó là những


chuyện xảy ra về sau này.


Những tháng năm này cả nhà tôi đói.


Chủ Nhật, ngày 12.11.1977.


Có khi đầu óc tôi trống không. Tôi không muốn nghĩ gì hết. Tôi đi rồi đứng lại. Phố


xá cứ đông người, ồn ào. Ở 1 vài góc đường người ta đứng đông lại, quần áo dày


dép, khăn mũ đủ thứ đủ loại, ta có địch có, nửa ta nửa địch có, thứ này 1 nửa, thứ kia


1 nửa, đeo vào người, choàng lên vai, vắt lên cổ, đội lên đầu, không cần kiểu cách và


làm đẹp; mặc cho có mặc, đeo cho có đeo. Những khuôn mặt trắng bệch, không tái


xanh, không mốc meo, không béo đỏ, hơi hốc hác 1 tí, phấn khởi; những khuôn mặt


mở toét miệng cười, những khuôn mặt bình tĩnh, tuổi trẻ để ria… Đầu óc tôi trống


không.


Huế đang có những ngày như tết. Trời ấm, không có nắng, không biết được trưa sớm,


không phải để mưa, đôi khi loáng thoáng 1 chút gió, rồi mất đi, cây cối lại đứng yên.


Đã có ngày mưa vào buổi trưa buổi chiều, rồi lại có nắng. Trời cứ không chừng độ


như thế này.


Như buổi mai này chủ nhật và tôi nghỉ phép 15 ngày, tôi ngồi ở nhà, trời cũng yên


lành vô cùng. Chim kêu trên mái ngói…


Thứ hai, ngày 12.12.1977.


Buổi sáng tươi tốt và có tiếng gà gáy, tiếng trẻ con nói ngoài đường. Mùa đông không


có mưa to suốt ngày. Thỉnh thoảng 1 vài cơn mưa lào rào vào buổi trưa, buổi tối.


Sáng sớm trời chưa nắng kịp, rồi trưa trưa nắng hửng, trời lại trong và ấm ấm. Có


khi suốt buổi mai không có chút nắng, trời không phân biệt được trưa sớm. Những


ngày này ở Huế hay như thế.


Huế thường bắt đầu 1 ngày bằng cái bình yên và lặng thinh của trời đất vào buổi sớm


mai và hết 1 ngày vào lúc không còn tiếng động to và rất vắng, thành phố lại dần dần


yên tĩnh. Những ngày mới giải phóng, về đêm thành phố này yên tĩnh một cách kỳ cục.


Đường vắng, cái vắng vẻ đó vốn không phải của Huế, nó nặng và câm, chứ không


phải bình yên. Buổi sáng ở Hà Nội cũng có khác. Tinh mơ Hà Nội yên lặng, rồi khi


không ào ào lên tiếng người, tiếng guốc dép, xe cộ. Huế chưa có được cái không khí


đó, từ sự yên tĩnh sang sự ồn ào không phải thình lình, khi không nổi ào lên, mà dần


dần từng lúc từng chặp, từng nơi, từng chỗ cho đến khi trời sáng trắng ra; có khi cái


ồn ào đó lại ngưng đi 1 chút.


116


Theo đúng ngày khai trong giấy khai sinh, hôm nay, ngày 12 tháng 12.1977, tôi chẳn


36 tuổi. 36 tuổi có 1 đứa con trai hơn 15 ngày tuổi và với những cơn dạ dày cứ khi có


khi không bình thường.


Thứ Hai, ngày 2.1.1978


Tôi đã không có thì giờ để trong đêm 31.12.1977 viết vài chữ vào đây. Con tôi đau và


hết gạo. Một ngày đầu năm, trời không nắng, trời không mưa, trời không biết được


buổi mai, buổi chiều, trời cứ như trời những ngày tết. Hình như đêm mồng 1 trời có


mưa cho đó và suốt ngày mồng 2 trời mưa to. Bây giờ mới có 1 cơn mưa đầu mùa


đông. Thôi tôi tức ngực lắm rồi, đi ngủ đây.


Thứ tư, ngày 4.1.1978


Câu chuyện được kể như thế này, không phải, 1 thằng bé bảy tám tuổi kể thế này: lâu


nay con không có bữa mô ăn no hết, có ngày con chỉ được 1 chén cơm, mấy anh và


em con cũng rứa. Cả nhà cứ bị say sắn hoài. Đứa em út 2 tuổi khi mô cũng được ăn


nhiều hơn, nhưng ăn rồi em con nó cũng cứ khóc. Mạ con chết rồi, mạ uống thuốc


chuột mạ chết. Và mấy ngày ni, con và anh em con được ăn no, ăn bữa mô cũng còn


dư cơm bắt nhiều, lại có thịt gà, thịt heo nữa, mỡ loạn lắm. Mai thì đưa đám mạ con.


Con không khóc được.


Thứ năm, ngày 12.01.1978.


1 tuần ăn muối, thỉnh thoảng có 5 hào ruốc và mỡ. Hết gạo, hết mì, không có cũi.


Ván, gỗ mặt ghế, chân bàn, chân ghế cũ đều đem chẽ chụm. Sữa của mạ con Bồ Câu


trong và không cương như trước nữa. Tôi xin được 3 trái đu đủ ở cơ quan về xào với


ruốc. Vợ tôi nói: mấy bữa ni sữa có hơi cương nhờ có đu đủ. Ngày 7.1., Bồ Câu phải


bú bình, mỗi ngày 2 bữa, và chỉ mới bú được sữa hộp 2 ngày, nay phải bú nước gạo


với đường. Cơn dạ dày cứ hành hạ tôi, không kịch liệt, cứ ngấm ngầm, kéo tôi gục


xuống.


Cả nhà vẫn vui vì Bồ Câu ngoan. Hôm nay, Hay mua phần gạo của mình. Không có


chuyện tiêu chuẩn người đẻ, vẫn có độn. Được vậy là quá quý rồi. Tôi nói với vợ nấu


3 lon đi em, gạo không a.


Thứ Ba, 13.6.1978


Một con chuột chạy băng qua đường Trương Định, từ connex này sang connex khác


(trước kia ở đây là 1 quán cà phê). Con chuột chạy từng bước một, nhổm từng bước


một cố hết sức đẩy cái thân của nó di chuyển, nhưng không vội vàng, không trốn


chạy. Phía trên lưng con chuột, 1 đôi ba sợi lông con dài mọc trên 1 vệt trắng loét có


vảy. Đoạn cuối cùng của cái đuôi cũng trắng bệch và cùn ở đầu mút. Thân con chuột


cong lên, nó chập choạng chạy. Nó dừng lại, bò lui 1 mô mất hơi cao rồi vất vả từng


bước đục vào connex. Tôi không gớm guốc chi con chuột hết, tôi không tởm. Tôi thấy


nó quá tồi tệ, quá bần tiện và quá cực. Con chuột đã không cần trốn tránh khi thấy


con người. Nó hết sức và quá mệt rồi.


117


Chủ Nhật, 29.10.1978


Cả nhà ăn bột mì xay từ mì hột, trừ Bồ Câu. Được như thế đã là quý lắm rồi. Hầu như


vợ tôi và tôi chẳng tiêu 1 xu gì cho riêng mình hết. Cuộc sống vất vả nhưng vui. Bây


giờ chỉ cần có những thứ có chất bột độn vào dạ dày, không phải khi nào cũng được


đầy, miễn là có để ấm bụng. 1 tô bún, 1 bữa ăn có cá thịt, dù rất ít, chỉ là họa hoằng.


Còn ngoài ra có khi không có nước mắm mà ăn. Vợ tôi gầy, tôi hay đau. Mẹ tôi không


được khoẻ. Sức đọc và viết có giảm đi, vì thức khuya không được dài. Nếu vợ tôi đủ


ăn, chỉ cần cơm nhiều hơn, thêm 1 ít thức ăn có chất tanh là béo, con tôi sẽ khá hơn.


Mọi thứ mua theo tiêu chuẩn cung cấp, kẻ cả chỉ một bao thuốc tôi cũng bán, trừ


nước mắm, mỡ và những thứ cần thiết cho bữa ăn. Tệ hơn nữa là hôm qua mua được


2 cân cà rốt, 1 bắp su cũng phải bán 1 nửa để mua gạo. Cơn dạ dày cứ đau rất bất


thường, hầu như không ngày nào không đau, không đêm nào tôi ngủ được thẳng giấc.


Cơ thể thường rã rời và mệt mỏi.


Thứ Ba, ngày 31.10.1978


Mong có 1 bữa cơm không, ăn với cá, cá vụn, với muối và 1 chút ớt.


Thứ Hai, 22.07.1979


Nhà cứ không có gạo hoài. Có nửa lon, 1 lon dành cho Bồ Câu. Phải bới sắn non,


nhưng chỉ vài ba bữa, còn thì quá non. Hay chưa có được gạo. Giấy trả về làm việc từ


1.6. Chúng mày không có gạo thì chúng mày đói chứ tao có đói đâu.


Gạo.


Bây giờ ai cũng chỉ mong, không phải bữa nào cũng cơm mà sắn cũng được, mỳ hột


cũng được. Miễn là dộng vào cho đầy cái dạ dày. Ước mơ của thiên hạ thì cũng đơn


giản thôi: làm sao bữa nào nồi cũng đầy cơm, đầy tràn ra, đến nỗi hôi khói. Có cơm


ăn với chi cũng được, với muối, nước mắm thì tuyệt rồi. Người ta không ao ước gì


hơn nữa. Không có mơ ước, không có hy vọng.


Và không ai dám nói ra những suy nghĩ của mình về chế độ, thậm chí những suy nghĩ


của mình về 1 người thứ ba cho 1 người thứ 2 nghe. Người ta phải nói láo hoặc nói


nhỏ. Kinh khủng thật. Thành ra có 1 không khí chính trị giả dối trong dân chúng.


Nhưng mà chưa ai chết ngay cho. Có người nói: không chết tươi ngay mà chỉ chết


mòn, chết dần; ngày nào cũng cố ráng làm việc. Cố tìm cho ra những thứ chi ăn được


dộng vào miệng. Chưa lúc nào người lao động làm việc cật lực, siêng năng, hết sức


như bây giờ, chưa bao giờ lao động lại có ý nghĩa thiết thân như bây giờ. Lao động


không phải là một cách để tồn tại của con người. Lao động để có cái ăn, để khỏi chết,


để khỏi bò, rồi quỵ xuống như con vật. Thành ra cái ý nghĩa của lao động đã đạt đến


đỉnh cao của nó: người ta lao động cho chính thể xác của người ta sống và để cho


nhân loại còn có con người đang ngu ngoe, động đậy trên trái đất này. Lao động để


sống như 1 con vật, chứ không phải để thành người.


Ngày 28.7.1979


… không phải người ta không cần gì nữa hoặc mất hết lòng tin mà người ta không


còn biết tin là gì nữa, người ta không có lòng tin. Nói đúng ra là thế này: Bây giờ


118


không phải người ta khủng hoảng niềm tin (đó chỉ là 1 cách nói chữ). Bởi vì người ta


không thể sống mà không tin vào 1 cái gì cả, kể cả người không có lý tưởng vẫn tin


vào cái không có lý tưởng của mình. Điều dễ sợ là con người bây giờ sống bị buộc


phải tin, và sự bị buộc phải tin này như một bệnh dịch lan từ người này sang người


khác, nó khống chế người này đến người khác; nó kiểm soát, nó đe dọa, đọa đày, vật


vã. Nó làm cho con người mất cá tính và tư cách của mình. Nói gọn lại, nó đẩy con


người và cũng tự con người đó đẩy mình sống trong 1 tình trạng ngột thở không cựa


quậy được. Người đó tự giam cầm mình.


Tôi có nói với 1 người quen: người nào là tri thức bây giờ họ cũng không biết cái trí


thức của họ là gì nữa, và họ phải dùng cái tri thức của họ ở đâu và để làm gì. Sự hiểu


biết bây giờ là cái cùm để cùm người có trí thức lại. Mô Phật. Đồ tư sản, bọn tiểu tư


sản bây đã ăn phải cái bả tự do của bọn tư sản rồi!.


Thứ Hai, 31.12.1979


Một hai ba ngày một tuần mẹ tôi, vợ tôi, tôi ít khi có cơm ở trong bụng. Bồ Câu có


bữa ăn bánh canh, và cơm thì thường với nước ruốc hoặc muối. Cả nhà không no,


mệt rã rời chân tay. Tôi không thức khuya được, mắt mờ đi rất nhiều, và những cơn


dạ dày.


Thứ Sáu, 1.2.1980


Đói và những cơn dạ dày, có nửa tháng nay cả nhà chưa khi nào được 1 bữa no. Một


tuần gần đây thì chuối non nấu với ruốc và bột sắn, bột mì, mì sợi. Bồ Câu chỉ có cơm


với ruốc hoặc nước mắm. Có bữa Bồ Câu cũng không có cơm.


Tôi không có đủ sức nghĩ đến những chuyện khác.


Thèm ăn, vợ tôi có nhiều bữa đói lả đi. Tôi lại đi ỉa ra máu.


Ngày mai sẽ mua được gạo tháng 2. Có chắc họ bán gạo vào ngày mai không?


Thương Bồ Câu quá.


Khoảng tháng 11, 12.1979, tại Phòng văn hóa thông tin thành phố Huế đã xảy ra vụ


“Biên bản 68 trang”. Vì vụ này tôi bị đẩy về lại xã Hương Lưu. Những người lãnh đạo


thành phố này đã quy tội tôi và 1 số người khác là đã đã kích động, xúi giục cán bộ


nhân viên Phòng văn hóa thông tin quấy phá, làm loạn, chống lãnh đạo, thóa mạ đảng.


Trưởng phòng văn hóa thông tin lúc đó là 1 tay gian ngoan và bần tiện. Biên bản 68


trang đánh máy là biên bản của buổi họp ngày 7.12.1979 của công đoàn Phòng văn


hóa thông tin và Phòng thể dục thể thao tố cáo ông ta đã lợi dụng việc thảo luận của


cán bộ nhân viên về dự thảo Hiến Pháp mới (bằng văn bản báo cáo tổng hợp các buổi


họp thảo luận) để buộc tội 1 số cán bộ là đã không tin tưởng vào sự lãnh đạo của


đảng, và trong quá trình làm việc đã lợi dụng khả năng, kể cả những khuyết điểm, sai


lầm của cán bộ nhân viên dưới quyền của ông ta làm thủ đoạn để tiến thân v.v… Buổi


sáng 1 số anh em đến Phòng văn hóa thông tin để đánh máy biên bản, cô Khánh, em


của Nguyễn Khoa Điềm, nói riêng với tôi: “Anh Điềm có bảo em nói với anh, là anh


em làm như thế (tức là đã phê bình, tố cáo những thủ đoạn của ông Trưởng phòng


trong các buổi họp) là đủ rồi. Thành ủy Huế đã biết. Không nên làm biên bản gửi lên


Thường vụ. Làm như thế sẽ không có lợi cho anh”. Tôi nói: “tất nhiên chúng ta không


làm gì được tên trưởng phòng này. Nhưng chúng ta phải tỏ thái độ của chúng ta. Bây


119


giờ chúng ta không gửi biên bản lên thành ủy, anh em sẽ bảo chúng ta sợ và đã thỏa


hiệp”.


Biên bản gửi lên thành ủy. Nguyễn Đức Hân, phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành


phố Huế phụ trách văn xã, đến Phòng văn hóa thông tin họp các cán bộ chủ chốt (tôi


không được dự), vừa vuốt ve, dụ dỗ, vừa trấn áp, đe dọa và nói cho họ biết tôi là 1


người như thế nào: lập trường và tư tưởng phản động, chống đảng, chống chế độ, làm


thơ nói xấu Hồ Chủ Tịch v.v… Sau cái màn gợi ý, thổ ngọt và hăm dọa này, ngày


19.12, ngày 21.12 và ngày 31.12.1979, nguyễn Đức Hân hầm hầm kéo 1 đoàn cán bộ


thành ủy và Ủy ban nhân dân đến Phòng văn hóa thông tin để đàn áp.


Nguyễn Đức Hân kết tội tôi và 5 anh em khác là “một làn gió độc, 1 đám hồng vệ


binh lộn xộn, có xu hướng biệt phái, xúi giục, quấy phá, gây chia rẽ nội bộ, dùng cách


đấu tranh hợp pháp chống địch ngày trước để đấu tranh chống ta nhằm làm 1 cuộc đảo


chính nội bộ, thóa mạ đảng, xúc phạm đến tổ chức…”. Ông ta xỉ vả tôi “Đảng rất độ


lượng, rất chân tình đối với anh Đính. Anh quấy cái Phòng thông tin này hơi nhiều.


Anh Đính đáng ra là bị xử lý khác, nhưng khi ở miền Bắc vào anh được thành ủy nhận


ngay. Anh là 1 quần chúng lạc hậu...”. Rồi tôi được gọi lên Phòng tổ chức Ủy ban.


Ông Lớn, trưởng phòng, bảo thẳng tôi: “Ủy ban chuyển anh về công tác ở Hương


Lưu”. Tôi hỏi: “có phải vì chuyện vừa xảy ra ở Phòng văn hóa mà tôi phải về Hương


Lưu không”. “Làm gì có chuyện đó”.


Và những người đồng lòng với tôi rồi cũng phải mỗi đứa mỗi ngã, bằng cách này


hoặc bằng cách khác.


Đói, cực, vợ tôi bỏ làm việc Nhà nước. Tháng 4.1979, tốt nghiệp trường trung cấp y tế


tỉnh, lớp y sĩ xã, tháng 6 đi làm ở trạm y tế Vĩnh Lợi, lương định suất 36 đồng cộng 2


đồng chuyên môn là 38 đồng, lương thực 11 cân, nhưng 2 tháng sau mới cho mua,


đầu năm 1980 vợi tôi xin nghỉ. Xoay xở buôn chèo bán chẹt chi cũng còn hơn đi làm


cho Nhà nước, có điều nghỉ làm việc thì mất tiêu chuẩn 11 cân lương thực với giá


cung cấp. Vợ tôi đi Vinh, gọi là đi buôn, năm bảy cân phân đạm, một hai tá bút chì,


vài cân cà phê bột… Một chuyến bốn năm ngày, vất vả vì phải trốn bọn thuế vụ, 1


phần nữa là bọn quái cướp giựt tự do trên tàu. Đến chuyến thứ 7 thì lỗ, cà phê bị bắt ở


Ga Vinh. Liều thêm 1 chuyến thứ 8, thì vợ tôi đau. Sau đó, vợ tôi đi bán thuốc lá,


bánh kẹo tại các sân bãi biểu diễn văn nghệ, rồi triêng gióng lên chợ Thông, Lựu Bảo


mua thơm mít về chợ Đông Ba bán, rồi qua chợ Đông Ba gánh nước đá thuê, coi ngó


hàng hóa cho người ta…


Vợ tôi nghỉ việc có 2 tháng tôi mới đi cắt tiêu chuẩn gạo. Kệ, gian được tháng nào đỡ


tháng nấy, nhưng phải cắt, không họ sẽ trừ vào phần tôi, thì cũng như không.


Thứ Tư 28.05.1980


Sáng nay, tôi đi làm giấy cắt tiêu chuẩn lương thực của vợ tôi.


Cô gái ngồi đối diện trước mặt tôi cầm bút ghi vào tờ khai lương thực ở phần vợ tôi –


11 (trừ 11). Mang sang: Hay; giảm –11, bắt đầu từ 6.1980. Tôi lạnh hết cả thân thể,


lạnh lắm. Tôi hơi ngẩng đầu lên 1 chút rồi cúi xuống. Tôi đến đóng dấu rồi cứ cầm


cuốn sổ đọc cho đến khi đi ra ngoài đường.


Tháng 8.1980, tôi về công tác ở UBND xã Hương Lưu.


120


Người ta giao cho tôi một công việc hết sức tức cười, thư ký văn phòng. Tôi ngồi


chình ình trước một cái bàn sắt to nặng đặt choán gần hết cửa ra vào của văn phòng


Ủy ban. Công việc của tôi là đối chiếu các bản sao giấy khai sinh, bằng cấp v.v… với


bản chính, nhận công văn, bỏ vào các cặp bìa cứng có hai chữ “Trình ký” để ở ngoài,


rồi đúng giờ đem vào cho ông chủ tịch, phó chủ tịch ký. Thằng Thái Ngọc San cười:


“Thằng Đính làm thư ký mà không được ký”. Trong anh em bạn bè có đứa nói: “về


quách cha cho rồi Đính ơi”. Ông Tường bảo: “chỉ có thiền sư mới đi làm việc như


mi”.


Tôi làm việc ở Ủy ban Hương Lưu đâu được 5 tháng, 1 hôm, ông Chủ tịch bảo tôi:


Chi ủy và thường trực Ủy ban đang họp cần gặp tôi để bàn 1 số công tác. Vào phòng,


tôi thấy đầy đủ bộ sậu của cấp ủy và ủy ban. Tay bí thư chi bộ bảo tôi: “Anh Đính ạ,


anh về đây cũng không phải do chúng tôi yêu cầu. Và công việc của anh đang làm


hiện nay xét ra thì… trong tổ chức của văn phòng Ủy ban không có và vã lại… không


hợp với khả năng của anh…


Tôi ngắt lời hắn:


- Tôi cũng như anh, tôi thi hành quyết định của trên. Tôi có xin về đây đâu và công


việc của tôi đang làm là do các anh sắp xếp.


Tay bí thư chi bộ là cháu của bí thư thành ủy lúc này, lúc ở trên rừng làm việc ở bộ


phận nhà in, sau giải phóng, công tác ở Phòng tổ chức Ủy ban thành phố, và bây giờ


là bí thư chi bộ xã Hương Lưu.


Nói qua nói lại 1 lúc, tay bí thư chi bộ đề nghị tôi phụ trách công tác thương binh xã


hội. Tôi không nhận, lý do là tôi không phải là đảng viên nên không thể dự hợp với


cấp ủy xét duyệt hồ sơ thương binh, liệt sĩ. Ông phó bí thư làm chủ tịch Mặt trận tổ


quốc xã nói tôi làm công tác lao động. Tôi từ chối vì không thích. Có 1 người nào đó


gợi ý tôi làm thông tin văn hóa, những chỉ nói chiếu lệ, nên không ai để ý. Tay bí thư


chi bộ nói:


- Thôi thế này, các đồng chí ạ, anh Nhơn làm liên lạc mới bỏ việc. Công tác liên lạc


của Ủy ban thiếu người. Mà xét ra cũng chẳng còn công việc nào phù hợp với anh


nữa, chỉ có việc này. Anh nhận cho. Chúng tôi cũng không biết phải giải quyết thế


nào nữa.


Tôi nhận làm liên lạc xã. Tay bí thư vừa cười vừa nói:


- Anh nhớ là anh làm liên lạc luôn cho chi bộ nữa đó, anh Đính nghe.


- Trong giờ hành chính.


Tôi vào ngồi ở cái bàn sắt to nặng đặt chình ình giữa cửa ra vào của văn phòng Ủy


ban xã. Hàng ngày tôi đến Ủy ban, không có việc thì ngồi hút thuốc đọc sách, có công


văn, giấy mời thì tôi đi đưa, khi lên Ủy ban thành phố, khi về các tổ trong xã. Ngay ở


Ủy ban, có nhiều người không tin tôi làm liên lạc. “Anh làm liên lạc thiệt hả, anh


Đính?”. “Thiệt chứ chơi à?”. Mấy ông tổ trưởng dân phố thấy tôi đi đưa giấy mời


cũng nói: “bữa trước tưởng nhân tiên anh đưa giùm, té anh làm liên lạc à? Anh nói


chơi?”. Tôi cười: ngoài công tác liên lạc ra tôi còn nhiệm vụ giữ chìa khóa văn phòng


Ủy ban, sáng chiều phải đến sớm mở cửa, hết giờ làm việc khóa cửa lại. Nhận 1 xấp


giấy mời, tôi nhờ 1 đứa nào đó khóa cửa, rồi đi tuốt. Thường tôi nhờ người đưa giúp


giấy tờ, gặp ông ở tổ 3, tôi nhờ đưa cho tổ 4, tổ 5, hoặc gặp ai đó giữa đường tôi cũng


nhờ. Vui nhất là ở thôn Phao Võng, 1 thôn vạn đò trên sông Hương. Có giấy mời đi


họp, tôi ra bờ sông gọi đò. “Chi rứa anh Đính?”. “Có giấy Ủy ban mời họp, nhờ bác


121


đưa giúp”. “Anh Đính nì, tổ trưởng tổ.. ra làm ngoài biển rồi”. “à, tổ trưởng tổ… con


đau, nhờ anh báo lại Ủy ban như rứa”. Thành ra tôi quen nhiều bà con ở đây.


Nói thiệt bà con ai cũng cám cảnh cho tôi. Tôi cứ cười. “Tưởng anh đi bao nhiêu năm


về bà con nhờ, té ai từng đời…”, “Ai ngờ thằng Đính con mệ Đính bây giờ như rứa”.


Làm liên lạc, đám lãnh đạo ở ủy ban chẳng ai hạch sách tôi. Hồi còn làm cái chức thư


ký văn phòng, mấy cái tay chủ tịch, phó chủ tịch cứ tiếng to tiếng nặng với tôi. “Tôi


đã bảo, thứ hai, thứ tư, thứ sáu là ngày ký giấy tờ, sao hôm nay thứ 5 anh lại đem vào


đây”. “Tôi đã bảo sáng thứ 7 hội ý cán bộ văn phòng là không giải quyết giấy tờ, sao


anh lại…”. Tôi chỉ nói: “nhưng mà dân họ cần… thì này… thế này…”.


Một buổi sáng đầu tháng 4.1981 tôi lên Ủy ban thành phố lãnh lương, lúc đi ra thì gặp


ông Nguyễn Văn Kháng, cán bộ phòng tổ chức tại phòng trực. Ông Kháng cười:


- Chuyến ni được truy lãnh, sướng hí!


- Truy lãnh chi rứa anh Kháng?


- Anh được lên lương tháng trước rồi mà.


- Có mô, vẫn 56 đồng.


- Thì chính tôi ghi quyết định và gửi về Hương Lưu cho anh mà. Anh lên hỏi ông Lớn


đi. Nhưng đừng nói tôi nói nghe.


Tôi lên phòng tổ chức gặp ông Lớn, trưởng phòng. Ông Lớn nói:


- Có, có quyết định tăng lương cho anh. Nhưng sau đó xét công việc của anh làm ở


Hương Lưu hiện nay, nên Ủy ban đình lại.


Tôi trở xuống phòng trực, ông Kháng còn đứng đó. Ông Kháng nói:


- Rứa là thằng chi đó phó chủ tịch của Hương Lưu chơi ông đó.


Tôi nói:


- Lúc đi phép Sài Gòn về tôi có nghe nói là tôi có quyết định tăng lương và hiện tay


phó chủ tịch cất. Tôi hỏi hắn, hắn nói, tôi không biết, làm chi có.


- Đúng là hắn chơi ông. Chắc hắn cho rằng hắn là phó chủ tịch, đảng viên mà lương


chỉ 50 đồng, còn anh làm liên lạc đã hơn lương hắn rồi mà lại còn được lên lương


nữa. Chắc hắn gặp ông Lớn phản đối việc tăng lương cho anh. Thằng bần tiện.


Ngày 16.05.1981 tôi viết đơn gửi Ủy ban nhân dân thành phố Huế xin nghỉ việc lý do:


đau dạ dày và vết thương cũ tái phát, không làm việc được. 1 tháng sau, 16.6.1981, tôi


viết đơn báo cho Ủy ban xã Hương Lưu biết tôi đã xin nghỉ việc và bắt đầu từ ngày


18.6.1981 tôi sẽ không đến Ủy ban làm việc nữa. Ông chủ tịch nói tôi bàn giao công


việc. Tôi nói: “có gì mà bàn giao. Tôi chẳng giữ giấy tờ sổ sách gì cả”.


Và bắt đầu từ ngày 18.6.1981 tôi không đi làm việc nữa.


Tôi không đi làm việc cho Nhà nước, anh em bạn bè ai cũng mừng cho tôi. “Đáng lẽ


mi phải về từ lâu rồi. Về là phải, mà phải về”. “Đứa nào nghe mi thôi việc cũng đồng


ý”. “Đồng ý mi nghỉ việc là hết sức khó khăn cho mi, cả nhà mi đang đói. Nhưng mi


có tư cách của mi. Không thể để cho người ta làm chi thì làm”. Có đứa còn nói: “anh


không đi làm việc, tôi sợ gia đình sau này có chuyện không ổn, vì anh phải sống nhờ


vợ. Mà nói thật ra anh đừng giận, nếu người đàn bà mà làm ra tiền… “. Mấy người


hàng xóm nói: “Anh nghỉ việc là phải. Làm cái việc chi mô cho cực”. “Anh thôi làm


122


việc rồi phải không? Làm chi cho nhục”. Mẹ tôi 1 hôm đi chợ về, kêu tôi bảo: “mạ thì


không biết, mạ ra ngoài chợ nghe họ nói bữa ni con không đi làm trên xã nữa. Họ nói:


chị nói thằng Đính đừng đi làm nữa, làm chi ba cái việc không ra chi mà cũng làm


cho xấu”.


1 tháng sau khi tôi nghỉ ở nhà, Phòng tổ chức thành phố gởi giấy gọi tôi lên. 1 anh cán


bộ của phòng hỏi tôi: “Anh xin nghỉ dưỡng sức 1 thời gian hay xin nghỉ luôn? Anh


muốn chúng tôi giải quyết thế nào?”. Tôi nói:


- Anh cứ xem trong đơn của tôi. Tôi xin nghỉ việc không đi làm nữa. Còn giải quyết


thế nào là việc của các anh. Đúng chế độ và thủ tục thì tôi nhận.


Anh cán bộ này tôi có quen sơ hồi ở trong rừng.


- Anh chỉ nên xin nghỉ vài tháng đi chữa bệnh. Dại chi mà nghỉ luôn, anh Nhân. Lúc


tôi đi về ngang qua phòng tài vụ, cô kế toán gọi lại:


- Anh Đính vào lãnh lương


Tôi nói:


- Tôi có đi làm đâu mà lãnh lương


- Anh cứ lãnh. Anh xin nghỉ việc mà Ủy ban chưa có quyết định, chúng tôi cứ phát


lương và anh cứ lãnh.


Môt lần sau cô phát lương còn phát cho tôi cả tiền hao mòn xe đạp. Tôi nói:


- Ngó tức cười chưa, lúc còn đi làm thì lại không có tiền hao mòn xe đạp.


Trước kia có lần đến lãnh lương tôi nói với người phát lương: “Sao ai cũng có tiền


hao mòn xe đạp mà tôi lại không có”. “Vì anh khai không có xe đạp”. “Thì đi bộ cũng


phải hao mòn chân cẳng chớ chị?”.


Tôi ở nhà làm việc nhà chơi với con, đọc sách, viết. 2, 3 tháng rồi 5, 7 tháng.


Tháng 9.1981


buổi trưa


tôi ngủ 1 giấc dậy


năng nề chân tay


rồi nhắm mắt lại


tôi bỏ việc ở nhà chơi với con


tuổi thơ không biết có cuộc đời này


con khóc nhưng không biết được cha mẹ con muốn cười


cho hai bàn tay hai bàn chân nhẹ nhàng


tôi ngó con tôi cười


rồi chơi rồng rắn


để xin khẩu súng bắn cái đùng


cho tới khi đứt đuôi


hết


(trong sổ tay ghi hàng ngày)


123


Ngày 27.10.1981, tôi viết xong bài thơ dài về khúc đầu của quảng đời này của tôi với


đề từ: “ Tôi được thả ra và sống như tù”.


Những ngày của tháng 12.1981 tôi viết trong nhật ký:


Vợ tôi nói: anh ở nhà để được yên tĩnh mà chữa bệnh dạ dày


Tôi mệt và đau


Tôi muốn được yên tĩnh


Bây giờ thì đang lạnh. Tôi đang bị dạ dày hành.


Những cơn đau dữ dội, toát mồ hôi, muốn mửa.


Trong những giấc ngủ tôi cứ thấy mình được ăn.


Những cục thịt đầy mỡ nổi lều bều trong 1 cái bát để trước mặt.


… Có khi tôi cảm thấy mình kiệt lực, bụng thắt lại, thân thể hễ đụng vào là đau như bị


đánh.


Tôi không muốn suy nghĩ gì thêm.


Trời khô có trăng, lạnh. Đêm yên tĩnh. Mệt qúa.


Đôi khi tôi sống lơ đãng, không chịu suy nghĩ gì hết. Tôi nghĩ về 1 bữa ăn ngon trong


gia đình, nghĩ tới những đĩa thịt, nghĩ tới nổi vất vả của mẹ tôi và vợ tôi.


Tôi thích thằng điên, thằng hề và đứa con nít.


Tôi viết về thằng điên, thằng hề và đứa con nít.


Ngày 25.10.1981, tôi làm bài “Bản thánh ca của một tên hề mất trí là thi sĩ – hay là Sự


tích tôi làm hề” với mấy câu mở bài:


tôi tên hề mất trí


nói lời công an theo dõi


và làm thơ bị bắt


tôi ký tên tôi


Nguyễn Đính


Ngày 25.12.1981, tôi ghi trong sổ tay:


1981 năm trước Chúa ra đời ở Bết-lê-hem


1981 năm sau ở Huế gạo 10 đồng 4 lon


Tôi chảy 2 hàng nước mắt


Con ơi


Con cứ làm con gà gáy o o


buổi trưa buổi chiều buổi sáng


làm chi


Dần dà về sau có nhiều đứa anh em quen biết khuyên tôi nên đi làm lại, đi làm cho vui


với anh em. Tôi nói: “Tao ở nhà tao mới vui”. Ông Tường cũng nói: “Thôi, đi làm


đi”. “Sao trước kia anh nói tôi đừng đi làm nữa? Chỉ có nhà thiền sư mới chịu đựng


124


như mi?”. “Trước khác, bây giờ mi qua hội văn nghệ, có anh em…”. Tôi không chịu.


Nhiều khi tôi đổ bực khi thấy mấy thằng thường xúi tôi đi làm bước vào nhà: “Ê, về


chơi nói chuyện trên trời dưới đất chơi, chú đừng nói chuyện tao đi làm lại nữa nghe”.


Có đứa còn gặp vợ tôi xúi: “Hay, nói với thằng Đính đi làm với bọn anh cho vui đi.


Nghỉ ở nhà lấy chi mà ăn?”. Vợ tôi nói: “làm chi cũng được, nhưng với Nhà nước thì


không. Anh biết không từ ngày anh Đính nghỉ ở nhà, cái dạ dày có đỡ đau đó”.


Ngày 7.3.1982


Tôi ở nhà gần 9 tháng rồi


… Lúc này tôi viết nhiều hơn đọc.


Thức khuya không nổi. Dạ dày hay trở chứng. Thèm thịt và đường quá sức, cả nhà


đều thèm. Tôi mệt mỏi, chẳng để ý gì đến thời sự.


Em sắp đẻ, tháng 3 âm thì đẻ. Lấy chi mà ăn. Không lý lại nói liều, trời sinh trâu thì


trời sinh cỏ.


Trăng sáng, trời bắt đầu nóng. Khí trời khó chịu. Đêm không có gió. Cây cối im


không.


Ghi hàng ngày trong tháng 3, 4.1982.


Ngày…


tôi ăn 1 củ sắn sượng


và mửa ra máu


Ngày…


trời mưa to hết 2, 3 ngày không tạnh


tôi ở nhà hút thuốc ngó ra đường


nước nổi bọt đầu miệng cống


người mua chai bao rao lên mấy tiếng


Ngày…


tôi đọc 1 bài thơ cổ


có câu


chỉ tay lên trời viết


Chữ không


tôi cười tôi dại dột


Ngày…


Có 1 thằng điên bị bắt đang lúc lượm cơm đổ trong đống rác


người ta nói nó làm giặc


125


Ngày…


một người ngó trước ngó sau


nói to cực quá


Ngày…


Cờ treo ngoài đường


mít tinh trong hội trường


phố xá đông ồn ào


tiếng vỗ tay hoan hô trong máy


Chủ nhật…


1 người mù chết trôi


không có ai nhận xác


Thứ bảy…


trời mưa dông


phố không đèn


hơi đất bốc lên mặt


Ngày 19.04.1982, vợ tôi sinh đứa con thứ 2, vợ chồng tôi đặt tên là Bờm


buổi sáng tháng 4 anh đưa em đi đẻ


đang mùa gặt gạo có hơn vài hột


anh mừng em đẻ dễ


và con trai


Cây cối 2 bên đường còn ướt


Mẹ thắp 1 nạm hương tạ ơn trời đất và ông bà


……….


Ngày 15.5.1982


Cả nhà không có 1 giác


Bồ Câu ăn cơm với muối


may có gạo


Nam mô A Di Đà Phật


Một hôm tôi đi chơi ngang qua Ủy ban thành phố, 1 đứa quen gọi vào. Tôi đang nói


chuyện với nó, ông Lớn, trưởng phòng tổ chức đang đứng đó thấy tôi, nói:


126


“À, anh Đính, may gặp anh ở đây. Tôi định nhắn anh lên. Mời anh lên phòng cho tôi


gặp”. Ông đưa cho tôi 1 bức thư không có phong bì của ông Nguyễn Đức Hân, Phó


chủ tịch, gửi cho tôi. Ông Hân viết:


“Anh Đính,


Cho anh thôi việc thì dễ, nhưng nghĩ hoàn cảnh khó khăn của anh hiện nay, lại có mẹ


già đau yếu, nên tôi để anh chuyển công tác… Bên Hội Văn nghệ có gợi ý xin anh


về…”


Hèn chi mấy đứa bên Hội Văn nghệ cứ rà rà về nhà tôi cù rũ tôi đi làm. Tôi nói với


ông Trưởng phòng tổ chức:


- Tôi xin nghỉ việc, chứ không phải xin chuyển công tác.


Ông Lớn bảo tôi là anh Hân có nhắn là tôi đến nhà anh Hân cho anh gặp. Tôi nói:


- Vì anh Hân nhắn anh, tôi nhờ anh nói lại với anh Hân: Tôi không có việc gì để gặp


anh Hân tại nhà riêng hết. Nếu anh Hân cần gặp tôi, anh cứ đến nhà tôi.


Ngày 8.3.1982, tôi ra Hội đồng giám định y khoa làm thủ tục để về.


Cuối tháng 4.1982, tôi nhận giấy báo sau ngày 1.5 lên Ủy ban thành phố nhận quyết


định thôi việc. Cô Huê, cán bộ phòng tổ chức, bảo tôi đáng lẽ hôm nay tôi nhận quyết


định, nhưng các anh nói là để Ủy ban xem xét lại đã. Cô nói, cuối tháng 5 anh lên


nhận. Cô Huê có đưa cho tôi xem tờ quyết định đánh máy, nhưng chưa ký. Cuối tháng


5.1982, tôi nhận quyết định thôi việc. Quyết định ghi tôi có 22 năm 4 tháng công tác


liên tục, về hưu, thôi việc vì mất sức lao động, được trợ cấp hàng tháng bằng 65%


lương chính cộng khu vực là 44đ 09 (bốn mươi bốn đồng chín xu). Quyết định do Phó


chủ tịch Nguyễn Đức Hân ký ngày 20.5.1982.


Tôi hỏi cô Huê, cán bộ phòng tổ chức:


- Sao quyết định trước ghi lương tôi là 56 đ, quyết định này lại ghi 64 đ?


Cô Huê trả lời:


- Ủy ban mới quyết định cho anh lên 1 bậc lương.


Tôi nói cô Huê cho tôi xem quyết định tăng lương. Cô Huê bảo, không có tờ quyết


định chỉ căn cứ vào Quyết định nghỉ việc thôi.


Nhưng tôi chỉ được hưởng lương mới 64 đ này 1 tháng mà thôi.


Ngày 1.7.1986, Sở thương binh xã hội Bình Trị Thiên xét lại trường hợp của tôi và


cho tôi hưởng trợ cấp hưu trí.


Thời gian công tác: 30 năm 2 tháng


Trợ cấp hàng tháng: 75% lương = 217đ 50


Vào lúc này đây, tôi đi vô đi ra, cuốc đất, bửa củi, quét nhà, đi chợ, nấu ăn, đọc sách,


làm thơ, viết nhật ký, ghi chép, chơi với 2 đứa con, vẽ cho chúng học, lui tới với anh


em bạn bè lúc cốc rượu, lúc chén trà điếu thuốc, cực quá, nhiều khi là 5, 3 cái tàn vấn


lại. Người ta có thể hành hạ tôi, nhưng tôi không thể tự hành hạ mình được. Tôi muốn


yên ổn. Nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn cứ bị nhòm ngó.


127


Vỹ Dạ, ngày 1.9.1993


Nguyễn Đính


Nguồn: talawas 2005


***


Phản ứng của Trần Nguyên Vấn


(bị Trần Vàng Sao tố cáo là chỉ điểm).


 


12.5.2006


Trần Nguyên Vấn


Thư gửi Trần Vàng Sao


 


Hà Nội, ngày 12 tháng 2 năm 2006


Kính gửi anh Trần Vàng Sao (Nguyễn Đính),


Vừa đọc hồi ký Tôi bị bắt của anh do Lữ Phương sưu tầm (2.11.2005) và đưa lên


mạng talawas (2005), tôi hết sức sửng sốt, bất ngờ, rất phẫn nộ.


Tôi đã sống với anh mấy tháng ở chiến khu Thừa Thiên tại cơ quan Ban tuyên huấn


Thành uỷ Huế vào những năm 1967 - 1968 với bao kỷ niệm tốt đẹp.


Tháng 6 năm 1967, từ Hà Nội vào, tôi được anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đi trực ra


trạm giao liên đón về Ban tuyên huấn Thành uỷ Huế. Tôi ở đây khoảng ba tháng, sau


đó được điều động lên Ban tuyên huấn Khu uỷ Trị Thiên Huế cùng anh Thanh Hải.


Cuối tháng 12 năm 1967, tôi cùng nhiều anh chị ở Khu về phối hợp với anh em ở Ban


tuyên huấn Thành uỷ Huế làm báo Cờ giải phóng số Tết Mậu Thân (1968) và lo tài


liệu cho chiến dịch Mậu Thân.


Ngày 11.4.1968 tôi bị thương vì pháo 122mm ở đường 12 phải vào bệnh viện. Ra


viện, tôi lại về Ban tuyên huấn Khu. Năm 1969, tại Đại hội của Chi hội Văn nghệ giải


phóng Khu Trị Thiên Huế, anh và tôi đều được bầu vào Ban chấp hành. Sau đó vì vết


thương cũ tái phát và bệnh tật, anh được Thành uỷ Huế giới thiệu ra Bắc chữa


bệnh. Từ đó tôi không biết trong thời gian ở miền Bắc, anh chữa bệnh và làm gì


ở đâu. Khoảng năm 1983, tôi vào Huế dự đại hội văn nghệ tỉnh Bình Trị Thiên mới


gặp lại anh và nhớ có lần tôi đến nhà anh ở Vĩ Dạ để thăm gia đình anh.


Theo hồi ký Tôi bị bắt của anh, ngày 25.1.1972 tại Viện điều dưỡng K65 ở thị xã Sơn


Tây, lãnh đạo K.65 đã truy bức tư tưởng và hành động của anh, coi anh là kẻ phản


động, nói xấu lãnh tụ, đả kích chế độ, anh bị nguyền rủa, phỉ nhổ, cô lập, v.v.


Theo anh, tất cả những việc anh bị hành hạ, trừng trị ở K65 ngày 25.1.1972 là do


128


có người tố cáo với tổ chức K65 trong đó có một tờ giấy lộn mà anh cho là có chữ


của tôi viết tố cáo anh…


Sau đây là những đoạn trong hồi ký của anh có nói đến tôi, theo bản in lấy từ mạng


talawas (2005):


… Sáng Chủ nhật tôi qua K10 ở Gia Lâm thăm ông Sự. Ông Sự là Phó ban tuyên


huấn Thành uỷ Huế ra Bắc chữa bệnh và học tập. Lúc đó, ông ta đang ở K10 bồi


dưỡng sức khoẻ chuẩn bị vào Nam. Tôi ngỏ ý với ông Sự là tôi muốn trở lại chiến


trường và nhờ ông tạo điều kiện cho tôi vào càng sớm càng tốt. Khác với những lần


gặp trước, bao giờ ông Sự cũng hỏi tôi đã khoẻ chưa, vết thương ở đầu gối và cái


bụng thế nào, có đủ sức leo dốc không. Lần này ông Sự chỉ ậm à ậm ừ với tôi. Tôi


không để ý đến thái độ lạnh nhạt của ông đối với tôi. Tôi hỏi ông:


"Bao giờ anh vào lại?".


Ông Sự loay hoay xếp dọn, lục lọi, tìm kiếm những thứ vặt vãnh giấy má gì đó giữa


giường, trong ba lô với những cử chỉ, động tác của chân tay quờ quạng lúng túng,


thừa một cách vô ích, thỉnh thoảng lại khịt mũi vài cái. Ông nói không nhìn tôi:


"Cũng chưa biết nữa".


Rồi xoay qua xoay lại ông nói lảng một mình:


"Chà không biết để mô hè?"


Tôi đi gặp một vài người quen ở các phòng gần đó. Lúc tôi quay lại thì ông Sự đã đi


đâu rồi. Tôi tìm một miếng giấy loại để đi cầu. Tôi thấy ở dưới đất phía trên đầu


giường của ông Sự một tờ giấy vo tròn lại. Tôi nhặt lên. Vào ngồi trong cầu, tôi trăn


tờ giấy ra, hoàn toàn tình cờ. Chữ của thằng Trần Nguyên Vấn, bằng bút bi bấm


màu xanh viết trên giấy kẻ ngang, tờ ét, xếp đôi. Hèn gì ông Sự đối xử với mình


lạnh nhạt và đờ đẫn. Lâu nay tôi có hơi nghi thằng Nguyễn Viết Trác (chứ không nghĩ


nó có thể phản tôi), tôi nghi ngờ về lòng thành thật và thẳng thắn của hắn. Khi nói


chuyện với tôi, nhất là về chuyện chính trị, về tình trạng xã hội ở miền Bắc, về chiến


tranh, về Đảng… hắn bao giờ cũng chỉ ậm ờ và làm ra vẻ lắng nghe, và không bao giờ


tỏ vẻ phản đối hay đồng ý. Còn thằng Trần Nguyên Vấn, hắn ở với tôi cùng một cơ


quan trong rừng. Lúc ra Hà Nội cho đến lúc này, hình như tôi có gặp một hai lần gì


đó. Nó không biết gì về tôi lúc ở miền Bắc hết. Chỉ có thằng Trác. Tôi giật mình và


đắng cuống cổ. Tôi hoàn toàn không ngờ và cho đến hôm nay, ngày 25 tháng 1 năm


1972, người ta đem xử tôi, tôi cũng không nghĩ là người ta đã xử sự với tôi như thế.


Không phải là công việc của họ đã được tổ chức và âm mưu một cách bí mật, rất tài


nên tôi không biết được. Thực sự lúc này đây, lúc tôi đang ngồi trong cầu tiêu của


K10 này, tôi đã dự đoán được một đôi điều sẽ xảy đến cho tôi và tôi đã biết người


muốn "lật tẩy phản động, chống Đảng" của tôi là ai. Tôi cho rằng tôi không có gì phải


sợ về những điều tôi viết trong nhật ký và trong những bài thơ của tôi lúc tôi ở miền


Bắc. Trong thư gửi cho ông Sự mà tình cờ tôi tưởng là giấy loại đó và lúc này tôi ngồi


trong nhà cầu đang đọc đây, thằng Vấn báo cho ông Sự biết công việc của hắn và


thằng Trác, đại ý thế này: Cả hai đứa đã làm việc với Ban bảo vệ Đảng và Cục đón


tiếp cán bộ B về tôi và hỏi ý kiến ông Sự với tư cách là thủ trưởng của tôi về cách xử


lý trường hợp của tôi như thế nào. Cứ như lời lẽ trong thư thì thằng Vấn không nói


129


trắng ra nhưng cố giành phần lớn công cho hắn về việc "phát hiện tôi là một tên phản


động chống Đảng". Khoảng năm 1978, 1979 gì đó; Võ Quê có nói với tôi "ông Trác


luôn vỗ ngực cho mình đã lập được một công lớn là phát hiện Trần Vàng Sao là một


tên phản động". Võ Đại Ngẫu kể hồi 1976 hắn gặp thằng Vấn ở Hà Nội, thằng Vấn


cũng vỗ ngực giành công kịp thời tố cáo tôi là một tên phản động chống Đảng.


Tôi vò lá thư của thằng Vấn lại như cũ và xé bao thuốc thay vào cho việc riêng của tôi


trong nhà cầu. Tôi bỏ lại lá thư vào chỗ cũ dưới thềm nhà trên đầu giường của ông Sự.


Tôi nghĩ một cách dại rằng như thế làm như tôi không biết gì về âm mưu của thằng


Trác, thằng Vấn với ông Sự. Tiếc là tôi đã không giữ được lá thư đó. Nhưng nếu tôi


có giữ thì sau này cũng bị tịch thu.


Tôi chào ông Sự rồi về Hà Nội. Gặp Nguyễn Hữu Ngô, Hồ Tính Tình[1] tôi chỉ nói:


Sáng thứ hai tao lên Sơn Tây. Loanh quanh luẩn quẩn trong Hà Nội với anh em bè


bạn, mượn một vài cuốn sách, mua một vài tờ báo rồi về bệnh viện E2. Tôi hoàn toàn


không biết kể từ lúc này tôi đang bị theo dõi sát nút. Tôi đi đâu, đến nhà ai, gặp ai ở


Hà Nội người ta đều biết.


Sáng thứ hai có xe, tôi lên Sơn Tây. Tôi sống trong một tâm trạng bồn chồn, lo lắng,


không yên. Trước sau tôi cũng bị. Thằng Trác cố tránh tôi. Tôi hoàn toàn không biết


là thời gian tôi ở bệnh viện E2, va ly của tôi đã bị lục soát. Và thằng Trác chủ mưu


trong việc này. (Lúc tôi về E2 tôi gửi chìa khoá va ly cho hắn). Vài ngày sau đó tôi


tìm cách đốt mấy tập nhật ký của tôi rất dày, khoảng 4, 5 tập vở một trăm trang viết


hai mặt. Việc đốt tập nhật ký rất khó. Tôi đã đốt và làm như việc đốt giấy loại. Có khi


tôi đốt trước mặt mọi người, nhưng không ai để ý. Có khi nhân chuyện làm vệ sinh


đốt rác, tôi xé nhỏ các tập vở lấp rác lên rồi đốt. Tôi làm như một kẻ không có việc


chi làm lấy chuyện đốt rác nhìn lửa cháy khói bay cho vui.


Và bây giờ đây tôi đang bị tra tấn trong cái phòng của căn nhà C này.


(Hồi ký Tôi bị bắt của Trần Vàng Sao trang 3, 4, 5).


… Ông Lai tiếp, giọng khi không có dịu bớt và chậm lại:


"Anh Đính, anh có thương mẹ anh không?"


Mới nghe nói như thế là tôi đã lộn ruột lên rồi. Đồ mất dạy.


"Nếu anh thương mẹ anh, chắc anh nghĩ rằng sẽ có ngày anh về gặp lại mẹ anh. Anh


hãy khai thật đi, khai hết đi, chỉ có như thế anh mới hy vọng có cơ hội gặp lại mẹ


anh".


Thằng Trác, cả thằng Vấn nữa, là những thằng bẩn thỉu, vô lương, mất dạy. Tôi


thường nói chuyện với chúng về mẹ tôi, và chính trong nhật ký tôi viết rất nhiều về


mẹ tôi. Đối với tôi, trên đời này tôi chỉ còn có mẹ tôi. Cả hai thằng này đã mách nước


cho bọn này cách tra khảo tôi. Tôi chợt nghĩ, nếu lúc này mẹ tôi ở miền Bắc, chắc bọn


người này sẽ bảo tôi: "Hãy khai thật đi, không thôi tao bắn mẹ mày". Những người


đang ngồi bao vây tôi ở đây không thể hiểu câu hỏi: "Anh có thương mẹ anh không?"


đã làm cho tôi khinh bỉ và ghê tởm họ, và đã làm cho tôi bình tĩnh hơn, mặc dù lúc đó


cái dạ dày của tôi đang lên cơn. Hạ sách tàn tệ đó của họ đã đặt tôi vào thế đối thủ, kẻ


130


thù với họ.


"Thế các anh có thương cha mẹ của các anh không mà các anh lại hỏi tôi câu đó?


(Hồi ký Tôi bị bắt trang 13)


... Thằng Trác quen tôi là tình cờ. Hắn đến chơi với thằng Lê Ngọc Từ nằm cùng


phòng với tôi ở khoa ngoại B1 bệnh viện E2 khoảng giữa năm 1970. Lúc đó hắn cũng


đang chữa bệnh và nằm ở khoa khác. Hắn mượn tôi sách báo. Sau đó hắn cho tôi


mượn quyển Larousse. Tôi nói chuyện với hắn nhiều lần về chủ nghĩa Marx-Lénine,


về Đảng, về nền kinh tế ở miền Bắc, về tình trạng xã hội… Tôi có đọc cho hắn nghe


nhiều đoạn trong nhật ký của tôi và đưa thơ tôi cho hắn đọc. Lúc gặp hắn ở bệnh viện


E1 (Thạch Thất - Hà Tây) tôi đã đọc bản đề cương của tôi về nền chuyên chính vô sản


và sự lãnh đạo của Đảng. Khi nói chuyện, hắn cứ ngó quanh quất làm như có ai lảng


vảng đâu đó. Hắn nói: "Nói nhỏ nhỏ a". Suốt thời gian nói chuyện, tôi nói nhiều hơn


hắn nói, hắn không tỏ vẻ phản đối hoặc đồng ý những suy nghĩ của tôi. Hẳn chỉ ầm ừ,


miệng ngậm khít, mắt mở trừng. Hắn biết tư tưởng và suy nghĩ của tôi. Hắn báo cáo


Ban bảo vệ Đảng biết. Hắn cùng Ban bảo vệ Đảng để mưu sắp lớp lục va ly tôi và


chụp ảnh nhật ký của tôi. Hắn gặp thằng Trần Nguyên Vấn lúc đó mới ra Bắc ở khu


tập thể số 2 Lê Phụng Hiểu, Hà Nội, toa rập với nhau bàn với ông Sự cách trị tôi.


Và bây giờ thì hắn giả bộ đau khổ, vì chơi với tôi mà phải liên luỵ. Hắn giả vờ sợ sệt


một cách tội nghiệp, thảm não.


Đã quá giờ ăn trưa, người ta cho tôi về.


(Hồi ký Tôi bị bắt của Trần Vàng Sao trang 15)


Như thế mọi việc xảy ra cho anh là trước ngày 25.1.1972 tại Sơn Tây. Những năm


này tôi còn ở chiến trường Trị Thiên-Huế.


Năm 1971, tôi cùng anh Nguyễn Kim Cúc đi công tác ở vùng đường 9 Quảng Trị


(Hiện nay anh Cúc ở 2H, Phan Bội Châu, Huế. ĐT 054845181). Ngày 31.10.1971,


khai mạc trại sáng tác văn nghệ của Chi hội Văn nghệ giải phóng Trị Thiên-Huế có


các anh sau đây tham dự: Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Khoa Điềm,


Quế Lâm, Hà Nguyên, Trần Lâm, Nguyễn Kim Cúc và tôi (Trần Phương Trà). Trại ở


ngay tại Ban tuyên huấn Khu uỷ. Ngày 20-11-1971, máy bay B52 của Mỹ ném bom


khu nhà ở của Ban tuyên huấn và Ban y tế Khu uỷ Trị Thiên Huế. Tôi bị thương ở


trán phải đi bệnh viện. Ngày 31.12.1971, trại sáng tác bế mạc.


Mùa hè năm 1972 tôi cùng các anh Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Văn Đồng, Trọng


Thanh, Văn Thái ở vùng Núi Rẩm thuộc xã Lộc Tụ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên


khoảng hơn 2 tháng.


Sau Hiệp định Paris 1.1973, tôi về huyện Hương Trà phụ trách tuyên huấn của Ban


cán sự II Thành uỷ Huế mà tôi là uỷ viên, ông Nguyễn Hữu Hường tức Hường Thọ,


tỉnh uỷ viên, bí thư Huyện uỷ Hương Trà, bí thư Ban cán sự II Thành uỷ Huế. Hiện


nay ông Hường Thọ ở 178 đường Thái Phiên, Thành nội Huế ĐT: 524562.


Cuối tháng 7 năm 1973, tôi được Thành uỷ Huế cử ra Bắc công tác. Về đến Hà


131


Nội, tôi lại bị sốt rét, viêm gan phải đi nằm bệnh viện. Khi tôi ra Bắc, anh Nguyễn


Khoa Điềm có gửi nhiều thư cho tôi mang ra cho tiểu ban Văn nghệ miền Nam và


nhiều bà con, bạn bè. Hiện có lá thư ngày 29-7- 1973 của anh Nguyễn Khoa Điềm


được đăng lại trong tập Văn nghệ một thời để nhớ do nhà thơ Bảo Định Giang sưu


tầm, biên soạn, nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2001. (Có bản phôtôcopy thư của


các anh Trần Hoàn, Nguyễn Khoa Điềm kèm theo thư này).


Việc tôi vào chiến trường Trị Thiên-Huế từ tháng 4. 1967 rồi ra đến Hà Nội công tác


và sau đó đi chữa bệnh tháng 8 năm 1973, chị Nguyễn Thị Ngọc Trai ở Tiểu ban Văn


nghệ miền Nam biết rất rõ (Địa chỉ của chị Ngọc Trai: số 6, Lý Thường Kiệt; ĐT:


04.7198568 số 68 Xuân Diệu, quận Tây Hồ, Hà Nội).


Ghi lại vài cái mốc thời gian ở trên để nói với anh Trần Vàng Sao là tôi không hề hay


biết và liên quan gì đến các sự kiện đã xảy ra với anh khi anh ở miền Bắc trong


thời gian 1969-1975. Chính anh cũng đã viết: "Còn thằng Trần Nguyên Vấn, hắn ở


với tôi cùng một cơ quan trong rừng. Lúc ra Hà Nội cho đến lúc này (1.9.1993 - Trần


Nguyên Vấn ghi lại ngày Trần Vàng Sao viết xong hồi ký Tôi bị bắt ở Vỹ Dạ), hình


như tôi có gặp một hai lần gì đó. Nó không biết gì về tôi lúc ở miền Bắc hết". Anh


đã nói "Nó không biết gì về tôi lúc ở miền Bắc hết" vậy mà anh đã có những lời nói


nặng nề, thô bỉ vu khống tôi trong hồi ký của anh. Tại sao anh lại làm như thế?


Anh còn viết "Võ Đại Ngẫu kể hồi 1976 hắn gặp thằng Vấn ở Hà Nội thằng Vấn cũng


vỗ ngực giành công kịp thời tố cáo tôi là một tên phản động chống Đảng". Thực tế


năm 1976 tôi ở Sài Gòn và tôi chưa hề quen Võ Đại Ngẫu để có thể tâm sự những


chuyện tầy trời như thế!


Những lời vu cáo của anh đã biến tôi thành một kẻ vô cùng hèn hạ, đê tiện, đểu cáng


trong con mắt của các độc giả trong nước và trên thế giới khi đọc hồi ký của Trần


Vàng Sao.


Hơn hai tháng nay, nhiều bạn bè của tôi ở trong và ngoài nước đã ngạc nhiên chất vấn


tôi về các sự việc anh đã vu cáo tôi trong hồi ký của anh.


Bây giờ anh phải giải thích việc làm của anh đối với tôi, viết thư xin lỗi tôi và viết bài


cải chính những chỗ viết về tôi trong hồi ký và đưa lên mạng talawas.


Tôi cũng chia sẻ với anh những nỗi đau đớn mà anh đã kể trong hồi ký. Chúc anh chị


và các cháu mạnh khoẻ, bình an.


Mong được anh trả lời sớm


Chào anh,


Trần Nguyên Vấn


Số nhà 17 Ngõ 192 Phố Thái Thịnh


Đống Đa - Hà Nội


ĐT: 04.5141884


Ghi thêm:


132


1. Kèm theo thư này là bản phôtôcopy thư của các anh Trần Hoàn, Nguyễn Khoa


Điềm trong đó có nhắc đến thời gian 1971 và 7.1973 tôi còn ở tại chiến trường


Trị Thiên - Huế.


2. Sao thư này gửi chị Nguyễn Thị Ngọc Trai, nguyên cán bộ Tiểu ban Văn nghệ


miền Nam… để biết.


*


Thư anh Trần Hoàn gửi anh Bảo Định Giang


Ngày 24 tháng 3 năm 1971


Kính gửi anh Giang.


Lần trước có người ra, đã gửi thư thăm anh, lần này lại có người ra, Hoàn lại viết thư


thăm anh.


Được ra Hà Nội lại không gặp anh, cũng rất tiếc vì biết anh lo toan đến phong trào


văn nghệ miền Nam, biết anh rất nhiệt tình và có trách nhiệm, khi vào nghe tin anh ra,


mà thấy thiếu thiếu một cái gì đó.


Tin thắng trận đường 9 mấy hôm nay làm hả lòng hả dạ mọi người. Bọn Hoàn, Cúc,


Vấn, Nguyễn Khoa Điềm, hằng ngày nhắc đến các anh và miền Bắc mà vui. Cũng do


địch hành quân xâm lược Lào nên đường hành lang cũng khó khăn. Bọn Hoàn độ này


ăn 2 lạng gạo mỗi ngày và rau trong 3 tháng nay rồi, song vẫn yêu đời, vẫn khoẻ. Và


năm nay phải có chương trình tự túc lương thực cả năm. Vì vậy trong mùa xuân này


trừ những người đi trước, còn tất cả phải đi ra rẫy sản xuất khẩn trương để giảm bớt


khó khăn cho nhà nước, dồn vật chất về phía trước cho bộ đội tấn công địch.


Trong tình hình đó nhiều anh em vẫn cố gắng sáng tác, ví như Điềm được đặc biệt


dành thời gian sáng tác, còn anh em búi lắm, đang tức đẻ nhưng chưa đẻ được cái gì.


Đó là điều băn khoăn rất lớn của anh em. Vừa rồi anh Tố Hữu có điện vào hỏi thường


vụ khu uỷ yêu cầu bao nhiêu văn công, sáng tác. Song do tình hình đường 9, nên


thường vụ còn ngần ngừ chưa trả lời - một số anh em quay phim vào thì kịp đi chiến


dịch đường 9 ngay. Song tiếc là phim quay thì rất ít vì số 5 nghìn thước phim tôi áp


tải về, bị mắc kẹt dọc đường chưa tới được. Phim chụp cũng không có gì, bí bách


hung.


Anh Giang ơi! Anh vào B ra có chuyện gì hay không?


Có gặp anh Phước không? Tình hình này cần phải chuẩn bị lâu dài lắm anh nhỉ?


Riêng tôi một chân tuyên huấn, một chân văn nghệ lòng vẫn bị chia đôi. Đôi lúc muốn


được giải phóng để tự do hơn và viết được cái gì thì viết. Song bận rộn nhiều quá, vả


lại cán bộ tuyên huấn quá ít. Mối mâu thuẫn này day dứt tôi quá đôi lúc muốn được


bồi dưỡng về lý luận, kiến thức song không biết cách nào? Anh từng hiểu về các anh


em miền Nam chắc anh biết điều đó nhiều rồi.


133


Song nhiệm vụ rất nặng. Kháng chiến còn dài, còn phải đảm đương công việc trước


mắt nhiều nên bọn Hoàn không áy náy gì, chỉ mong các anh ngoài đó hết sức giúp đỡ


ủng hộ cho là mừng. Thuận Yến, Phạm Ngọc Cảnh rất khoẻ sung sức, Thanh Hải


không biết đã về chưa anh nhỉ? Xin cho gửi lời thăm.


Rất mong được thư anh và nhờ anh chuyển hộ cho Doãn Triều, Ngọc Trai, anh Bối,


Khương Minh Ngọc, Phan Tứ và anh chị em ở nhà xuất bản Giải phóng mối tình gắn


bó của anh em văn nghệ miền Nam với những người thân thiết.


Có anh Mai Trọng Thường, Cục phó cục xuất bản Quân đội trước đây, Anh gặp anh


Thường sẽ hiểu thêm nhiều chuyện về Huế, về Hoàng Phủ Ngọc Tường và anh em


trong này.


Bắt tay rất chặt


Trần Hoàn


*


Kính gửi các anh chị trong Tiểu ban Văn nghệ miền Nam


Trị Thiên Huế 11-10-71


Hôm nay tôi xin gửi ra Tiểu ban một số bài. Sau đây tôi xin kể ít nét về công việc của


tôi để anh chị biết.


Cuối tháng 4-71 tôi trở lại công tác ở cơ quan Tuyên huấn của tỉnh uỷ Thừa Thiên


Huế. Tôi có dịp gần phong trào sát thành phố Huế hơn nên nhận thức và tình cảm


được nâng lên nhiều. Tuy tôi chưa viết được nhiều, được tốt (do hoàn cảnh ở đây chật


vật hơn) nhưng tôi tin rằng về lâu dài thì tôi sẽ trưởng thành hơn.


Hiện nay tôi đang trở lại Khu để dự hội trại sáng tác Văn nghệ do chi hội mở. Về công


chuyện của trại thì chắc các anh Hoàn, Vấn, Cúc đã có thư cho các anh chị. Riêng bản


thân tôi cũng rất muốn tận dụng thời gian quý báu này để viết thêm những bài mới và


suy nghĩ thêm về công việc của mình.


Không dám nói trước mình sẽ làm ra ngô ra khoai trong hai tháng này, nhưng điều


chắc chắn hơn là sau khi rời trại trở về địa bàn, chắc sẽ có nhiều hào hứng bắt tay vào


đợt sáng tác mới.


Sức khoẻ tôi không thể nói là tốt, nhưng rõ ràng nó không ngăn cản tôi thiết tha sống


và làm việc cho chiến trường.


Ít dòng báo tin và thăm các anh chị. Xin hẹn lần khác. Xin chúc các anh chị mạnh.


Nguyễn Khoa Điềm


134


*


Kính gửi các anh chị trong Tiểu ban


Ngày 29 tháng 7 năm 1973


Hôm nay tôi xin gửi các anh chị một số bài mới viết và sửa chữa trong hai tháng 6, 7.


Lần này Văn nghệ Thừa Thiên Huế có anh Trần Nguyên Vấn ra, chắc chắn anh Vấn


cũng có dịp gặp gỡ các anh chị để kể chuyện tình hình trong này. Tôi xin không nói


nhiều.


Hiện nay tôi công tác ở cơ quan thành phố làm báo Cứu lấy quê hương, cơ quan của


Liên minh.


Vừa qua anh em làm thơ Thừa Thiên Huế có góp và in một tập sáng tác lấy tên Những


ngày giữ đất in cũng sắp xong, khi nào có sách chúng tôi sẽ chuyển ra. Không biết số


bài tôi gửi ra đầu tháng 6 trong đó có những bài chẳng hạn "Năm con 30 tuổi", "Kính


chào Tổ quốc" các anh đã nhận được chưa? Vì sơ suất trong bài "Năm con 30 tuổi" tôi


có đưa ra một câu không chính xác các anh chị sửa cho không kỳ lắm.


Câu ấy tôi đã viết thế này:


Nửa thế kỷ đi qua con về trụ bám


Mỗi kíp mìn loé một khoảng đất sâu


nay xin sửa lại:


25 năm đi qua, con về trụ bám


Mỗi kíp mìn loé một khoảng đất sâu


Đã lâu anh em trong này ít được nghe tin Văn nghệ Trung ương và ý kiến của Tiểu


ban chúng tôi khao khát lắm. Rất mong những lá thư của các anh chị.


Điềm xin dừng đây xin chúc các anh chị mạnh khoẻ.


Thân mến


Nguyễn Khoa Điềm


*


Gửi anh Trần Vàng Sao (Nguyễn Đính) ở Vĩ Dạ, Huế


Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2006


Ngày 12.2.2006, tôi đã gửi cho anh lá thư của tôi gửi anh qua dịch vụ chuyển phát


135


nhanh. Thư này gồm 6 trang khổ A4 kèm 2 trang phôtôcopy thư của anh Trần Hoàn


và anh Nguyễn Khoa Điềm gửi tiểu ban Văn nghệ miền Nam thời kỳ chống Mỹ được


ông Bảo Định Giang cho in lại trong cuốn sách Văn nghệ một thời để nhớ, nhà xuất


bản Văn học xuất bản năm 2001, trang 78-79 và trang 50-51.


Ngày 27.2.2006 tôi lại gửi cho anh bản sao 6 trang A4 thư ấy và 2 trang phôtôcopy


kèm theo, qua dịch vụ chuyển phát nhanh.


Hôm nay ngày 15 tháng 3 năm 2006, sau hơn một tháng gửi thư cho anh, tôi chưa


nhận được thư trả lời của anh. Các anh Nguyễn Hữu Ngô, Nguyễn Quang Hà ở Huế


đã đến thăm anh ở Vĩ Dạ, có cho tôi biết, anh đã nhận được thư của tôi. Tại sao anh


lại im lặng? Các chứng cứ về thời gian tôi nêu trong thư đã hoàn toàn bác bỏ việc anh


đã vu cáo tôi, nói theo từ luật pháp là tôi hoàn toàn ngoại phạm.


Anh đã viết ra hồi ký Tôi bị bắt, anh phải chịu trách nhiệm về các trang viết của mình.


Tôi sẽ cho công bố những lá thư tôi gửi anh để mọi người biết sự thật và đánh giá việc


làm sai trái của anh đối với tôi.


Trần Nguyên Vấn


17 Ngõ 192 Thái Thịnh - Đống Đa - Hà Nội


Điện thoại: 04.5141884


Lá thư thứ 3 này gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh (15.3.2006). Anh Trần Vàng Sao


từ chối không nhận. Thư được trả lại cho người gửi (24.3.2006).


Nguồn: talawas 2005


 







[1] Có lẽ là Hồ Tịnh Tình.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang ... - Nam Thái Trần 15.07.2018
Chơi Cao bằng - Triệu Thiên Hương 15.07.2018
Sơ ngộ Thạch Lam - Đinh Hùng 26.06.2018
Ăn canh dấm cá tinh tế, cầu kỳ như thi sĩ Tản Đà - Đinh Hùng 26.06.2018
Hành trình thơ - Đánh thức tiềm lực - Nguyễn Duy 25.06.2018
Hãy nghe sông kể - Hoàng Lộc (Hà Nam) 18.06.2018
Chilê - một khuôn hình trực cảm - Tư liệu 26.05.2018
Nở trong bóng tối - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2018
Viết ngắn: Cuối tuần máu chảy về chân... - Triệu Thiên Hương 15.05.2018
Phượt Hữu Lũng - Lạng Sơn - Triệu Thiên Hương 14.05.2018
xem thêm »