tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22645278
06.05.2018
Quốc Việt
Tư liệu tổng hợp: Về mỏ dầu Bạch Hổ


Làm gì khi mỏ Bạch Hổ cạn dầu?


Viễn cảnh mỏ Bạch Hổ cạn kiệt dầu không còn xa, trong khi giá dầu thế giới vẫn đang mức thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Việt Nam. Lời giải nào cho bài toán khó này?


Chúng tôi dự báo Bạch Hổ và một số mỏ khác chỉ còn khai thác khoảng 10-20 năm nữa... TS Hoàng Văn Quý


Hơn 30 năm đã trôi qua, kể từ khi dòng dầu thương mại đầu tiên được lấy lên từ mỏ Bạch Hổ. Nguồn "vàng đen" này đã góp phần rất quan trọng giúp Việt Nam xoay xở được tình thế nghèo đói, thu về ngoại tệ mạnh, khắc phục lạm phát phi mã, ổn định và tăng trưởng kinh tế.


Tuy nhiên, viễn cảnh mỏ Bạch Hổ cạn kiệt dầu không còn xa nữa. Trong khi đó, giá dầu thế giới vẫn đang mức thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Việt Nam.


Có lời giải nào cho bài toán khó này là vấn đề mà Tuổi Trẻ trao đổi với một chuyên gia dầu khí...


* Nhìn lại toàn bộ hành trình phát triển của ngành dầu khí Việt Nam, nếu tóm tắt một cách ngắn gọn thì ông nói gì?


- PGS.TS Hoàng Văn Quý, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học - thiết kế dầu khí biển: "Thành công lớn nhất, mang tính lịch sử đặc biệt nhất của ngành dầu khí Việt Nam chính là ở mỏ Bạch Hổ. Nó quyết định đến toàn cục thất bại hay phát triển của ngành dầu khí Việt Nam.


Chính mũi khoan tìm thấy dòng dầu thương mại lớn ở mỏ Bạch Hổ ngày 6-9-1988 đã xóa tan hết đám mây đen u ám của ngành dầu khí Việt Nam.


Đến thời điểm đó có quan điểm gần như thống nhất rằng cứ khoan đến tầng đá móng mà không thấy dầu thì nghĩa là không có dầu, phải ngừng lại để đi tìm chỗ khác...


Chính mũi khoan vào tầng đá móng ở giếng Bạch Hổ - 1 đã xóa tan quan điểm cũ này. Sau đó, tất cả các giếng khoan đều thực hiện như Vietsovpetro ở Bạch Hổ, tức khoan sâu vào móng ít nhất 300m để khai thác dầu.


Hơn 20 mỏ đã thành công như Đông Rồng, Đông Nam Rồng, Rạng Đông, Nam Rồng Đồi Mồi, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Nam Trung Tâm Rồng, Ruby... Và dầu thu được từ đá móng chiếm khoảng 70% tổng sản lượng thu được của toàn ngành dầu khí Việt Nam".


* Các công ty từng khoan thất bại trước đó đánh giá điều này thế nào, thưa ông?


- Họ vừa buồn vừa vui. Buồn vì hàng trăm triệu đôla đã đổ xuống cho các giếng khoan từ thời chính quyền Sài Gòn cũ đến năm 1988. Vui vì phát hiện mang tính đặc biệt đóng góp lớn cho ngành khai thác dầu khí thế giới.


Dầu tìm thấy được ở tầng đá móng Bạch Hổ đã thay đổi quan điểm dầu sinh ra trong lớp trầm tích hữu cơ ở bên trên.


Các chuyên gia Liên Xô vẫn quả quyết đó là dầu vô cơ sinh ra từ tầng đá móng dưới lòng thềm lục địa. Còn chúng tôi đến thời điểm này vẫn cho rằng đó là dầu hữu cơ sinh ra từ trầm tích. Nhưng tầng đá móng bên dưới cũng có các khu vực nhô lên cao.


Chính ở các "núi đồi" đá móng này, dầu hữu cơ từ trầm tích chảy vào cấu tạo nứt nẻ. Và chúng tôi khai thác từ đó...


* Ông có thể nói rõ hơn một chút về đá móng ở thềm lục địa Việt Nam?


- Đá móng nứt nẻ bao gồm các khối đá cổ như trầm tích biến chất, đá carbonat, đá macma xâm nhập, được hình thành trước khi tạo thành bể trầm tích ở thềm lục địa. Thân dầu, tức dầu trong khối đá móng nứt nẻ này có dạng khối, thường có kích thước lớn...


Lưu lượng dòng dầu từ các giếng khoan tầng đá móng thường khá cao, có khi đạt tới hàng ngàn thùng, hàng chục ngàn thùng một ngày đêm.


Riêng thân dầu trong khối đá móng mỏ Bạch Hổ có chiều dài khoảng 29km, rộng 6-8km, chiều cao khoảng 1.800m, ranh giới dưới 4.850m, tại khối Đông Bắc ranh giới này đạt tới 4.900m được phân chia thành các khối.


* Trở lại với vấn đề khai thác dầu khí, hiện mỏ Bạch Hổ đã bị sụt giảm và sẽ tiếp tục bị sụt giảm sản lượng?


- Đây là điều rất bình thường. Sau một thời gian khai thác, mỏ dầu sẽ sụt giảm và đi đến cạn kiệt. Chúng tôi dự báo Bạch Hổ và một số mỏ khác chỉ còn khai thác khoảng 10-20 năm nữa...


* Vậy thì ngành dầu khí Việt Nam có giải pháp gì để giải quyết tình trạng cạn kiệt dầu này?


- Giải pháp đầu tiên là đã và đang đi tìm kiếm, khai thác thêm những mỏ mới, nhưng đa phần là mỏ nhỏ, sản lượng dầu không lớn như Bạch Hổ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải nỗ lực đẩy mạnh giải pháp này.


Nó còn có ý nghĩa bảo vệ chủ quyền biển và thềm lục địa của chúng ta trong tình hình phức tạp hiện nay.


Giải pháp thứ hai là xuất khẩu nhân - vật lực dầu khí ra nước ngoài. Đội ngũ chuyên môn của Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm, được đánh giá khá cao. Chúng ta có thể hợp tác với các nước để khai thác dầu như nhiều công ty quốc tế Mobil, Esso, Shell, BP... đã làm rất hiệu quả.


Hiện nay, ngành dầu khí Việt Nam có hợp tác khai thác với Nga, Algeria và đã có thu nhưng chưa cao. Riêng hợp tác dầu khí với Venezuela thì chúng ta bị thất bại, mất rất nhiều tiền, khoảng 700 triệu USD...


* Tại sao chủ trương "xuất khẩu" ngành thăm dò, khai thác dầu khí Việt Nam ra nước ngoài chưa thể thành công, thưa ông?


- Theo tôi, đó là vấn đề tổ chức. Phải có người chịu trách nhiệm cụ thể trước Nhà nước và pháp luật. Không thể để tình trạng thành công thì nhận lấy về mình, thất bại thì ai cũng né trách nhiệm cả.


Tôi nghĩ Việt Nam cần phải tổ chức lại chương trình đưa nhân - vật lực dầu khí ra nước ngoài. Đây là thế mạnh của chúng ta, hướng tháo gỡ cho sự sụt giảm sản lượng trong nước.


Ngoài ra, cũng cần đẩy mạnh ngành công nghiệp hóa dầu với cơ sở hạ tầng đã được đầu tư khá tốt.


Nhưng làm cái gì cũng phải tính đến trách nhiệm và hiệu quả. Không thể để có tình trạng thua lỗ, sai phạm thì ai cũng chối, cũng đổ thừa...


* Cảm ơn ông!


1 tỉ thùng dầu trong tầng đá phiến


* Gần đây, ngành công nghiệp khai thác dầu khí trong đá phiến của Mỹ đã làm đảo lộn thứ hạng các siêu cường dầu khí thế giới. Cụ thể là giá dầu thế giới sụt giảm, Mỹ không còn cần các mỏ dầu Trung Đông, Nga bị ảnh hưởng nặng nề. Ông nghĩ Việt Nam phải thế nào khi đối diện với vấn đề này?


- Là nhà khoa học, tôi nghĩ chắc chắn Việt Nam phải quan tâm đến dầu khí trong đá phiến. Viễn cảnh các mỏ ở thềm lục địa bị giảm sút, cạn kiệt không còn xa nữa. Nếu không có tầm nhìn xa và chuẩn bị các giải pháp chiến lược, chúng ta sẽ rơi vào khó khăn là không thể tránh khỏi.


Theo khảo sát địa vật lý, ngay ở bể Cửu Long trên thềm lục địa miền Nam có hai trũng trung tâm và Đông Bạch Hổ nhiều khả năng có mỏ dầu khổng lồ lên đến con số tỉ thùng trong tầng đá phiến.


Hiện nay, điều kiện của chúng ta khai thác dầu dưới tầng sâu này là chưa hiệu quả về kinh tế trong bối cảnh giá dầu thế giới đang giảm. Nhưng chúng ta phải nghiên cứu, phải chuẩn bị.


Việc rất cần làm ngay trong chiến lược phát triển dầu khí Việt Nam.


Bạch Hổ và mỏ dầu khổng lồ dưới tầng đá móng


Dầu từ đâu? Nếu xác định dầu từ đá móng thì các kế hoạch, đầu tư triển khai thăm dò dầu khí trong trầm tích đến thời điểm đó đều trật. Tất cả phải làm lại...


04/05/2018 15:19 GMT+7


Phiên họp căng thẳng của Vietsovpetro khi chưa tìm thấy dòng dầu thương mại lớn ở mỏ Bạch Hổ - Ảnh tư liệu của Vietsovpetro


Lật lại hành trình tìm "vàng đen" gian nan của Việt Nam, hiếm người biết các tàu dầu xuất khẩu đầu tiên thu về đôla Mỹ đã được sử dụng ngay lập tức để trả nợ và mua những thứ khẩn thiết cho đất nước thời cực kỳ khó khăn.


Căng thẳng nội bộ


Tàu chứa và xử lý dầu Krum thường trực ở mỏ Bạch Hổ khai thác được bao nhiêu, bán ngay bấy nhiêu.


Bên ngoài, báo chí hồ hởi đưa tin vui về "Petrodollars" - ngoại tệ mạnh từ dầu khí. Nhưng với những người của Vietsovpetro, kết quả này còn rất nhiều thử thách.


Tổng lượng dầu khai thác ở mỏ Bạch Hổ năm 1986-1987 chưa nổi 100 tấn mỗi ngày và còn đang tụt giảm dù mới bắt đầu khai thác. Nếu tình trạng không cải thiện, kế hoạch tự chủ dầu khí Việt Nam sẽ bế tắc...


"Tại sao mỏ dầu Bạch Hổ, niềm hi vọng lớn nhất của Việt Nam, lại có lượng dầu ít ỏi như vậy? Có cái gì không đúng ở đây? Tài liệu Mobil báo cáo chính quyền Sài Gòn về lưu lượng 2.400 thùng dầu/ngày ở mỏ Bạch Hổ - 1X là giả hay chúng ta đã làm sai điều gì?" - TS Trương Minh nhớ lại.


Điều đặc biệt ở đây là nếu như các công ty Mỹ trước tháng 4-1975 tiến hành thăm dò trước mỏ Bạch Hổ rồi mới quyết định đầu tư khai thác thì liên doanh Vietsovpetro đầu tư ngay từ đầu với quyết định bỏ ra rất nhiều tiền cho cơ sở dịch vụ dầu khí ở Vũng Tàu với giàn khoan MSP 1, MSP 2 trên thềm lục địa.


Có thể gọi cách làm này của Vietsovpetro là đi tắt, mạnh bạo, nhưng cũng rất nguy hiểm vì có thể... xôi hỏng bỏng không. Bởi thời điểm đó những đồng ngoại tệ vô cùng quý giá đối với Việt Nam trong bối cảnh toàn dân đang thiếu cả miếng ăn...


Tình hình nội bộ Vietsovpetro lúc đó hết sức căng thẳng. Sản lượng dầu nghèo nàn thu được từ mỏ Bạch Hổ giai đoạn này đã làm nhiều lãnh đạo từ chức, kể cả trưởng đoàn Liên Xô. Có những cuộc họp của ban giám đốc phải đóng kín cửa, bởi sợ những lời căng thẳng lọt ra ngoài.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chuyến thị sát liên doanh Việt - Xô, yêu cầu phó tổng giám đốc phụ trách địa chất Ngô Thường San báo cáo rõ hiện trạng.


Tiếp tục... khoan


Cuộc tìm kiếm giếng dầu thương mại ở Bạch Hổ lại tiếp tục. 20h ngày 16-8-1986, giếng Bạch Hổ - 6 được tàu khoan Mikhain Mirchin khởi công với kỹ sư trưởng địa chất Ghinmanov.


Phó tổng giám đốc Ngô Thường San ký biên bản đặt vị trí và nhiệm vụ của giếng khoan Bạch Hổ - 6. Chiều sâu thiết kế giếng khoan 3.700m bằng phương pháp khoan thẳng đứng.


Một số dấu hiệu ban đầu cho thấy giếng khoan này ít triển vọng. Không ai nói ra nhưng đã có những suy nghĩ về kết quả kém lặp lại của các giếng dầu trước.


Ngày 11-5-1987, tàu Mikhain Mirchin cho dừng mũi khoan để tiến hành thử vỉa. Một tuần trước đó, vào lúc 16h ngày 5-5-1987, mũi khoan từ Mirchin đã xuống độ sâu 3.533m vào tầng móng phong hóa.


Tài liệu của Vietsovpetro còn ghi lại chi tiết sự kiện có tính bước ngoặt lịch sử của ngành dầu khí Việt Nam: "Đối tượng 1 thử từ chiều sâu 3.508 -3.515m. Thử lần thứ nhất, lưu lượng dầu 505m3/ngày đêm, khí 23.000m3/ngày đêm qua côn đường kính 15,08mm...


Thử lần hai ngày 24-5-1987, lưu lượng dầu 477,1m3/ngày đêm, khí 31.700m3/ngày đêm. Trong biên bản thử lần cuối cùng, xác định lưu lượng dầu 477,1m3/ngày đêm...".


Ông Ngô Thường San, người trong cuộc của sự kiện đặc biệt này, kể lại khi nhận được tin này vừa vui mừng vừa ngỡ ngàng.


Dầu từ đâu? Kết quả thực tế gây không ít bối rối. Các quan điểm trước đó của thế giới và Liên Xô đều cho rằng dầu được sinh ra từ trầm tích bên trên chứ không thể có trong đá móng ở tầng dưới.


Điều đặc biệt là nếu xác định dầu từ đá móng thì các kế hoạch, đầu tư triển khai thăm dò dầu khí trong trầm tích đến thời điểm đó đều trật. Tất cả phải làm lại, kể cả "Sơ đồ khai thác thử công nghiệp mỏ Bạch Hổ", chắc chắn sẽ tốn kém thêm và kéo dài thời gian.


Cuối cùng Vietsovpetro chọn lựa dung hòa hai quan điểm khác biệt trên. Cả lớp đáy trầm tích và lớp vỏ phong hóa móng là một đối tượng khai thác dầu khí.


Bất ngờ 2.000 tấn dầu/ngày


Theo ông San, trong năm 1988 các công tác khoan thăm dò kết hợp khai thác từ các giàn cố định được đẩy mạnh với chủ trương mỗi giàn một giếng khoan. Và lần này sẽ khoan vào đá móng như đã khoan ở Bạch Hổ - 6 đã thu được kết quả tốt đẹp.


Ý kiến được đưa ra thảo luận phải khoan trở lại giếng khoan Bạch Hổ - 1 đã được hiện trước đó nhưng cho lưu lượng dầu rất thấp và đang bị tụt giảm dần.


Nhiều người ủng hộ ý kiến này, nhưng cũng có sự cảnh báo nguy hiểm vì với một giếng dầu khai thác, khi ống khai thác đã bị bắn thủng thì việc trở lại khoan tiếp là hết sức rủi ro.


Cục trưởng Cục Khoan Liên Xô Phuntov được mời nghiên cứu, cho ý kiến. Bàn bạc kỹ với ban giám đốc Vietsovpetro, ông Phuntov khẳng định có rủi ro nhưng vẫn làm được...


Năm 1988, giếng dầu Bạch Hổ được khoan trở lại, kế hoạch khoan sẽ được quyết định dựa theo tình trạng giếng.


TS San kể: "Khoảng 10h sáng 6-9-1988, tổng giám đốc Vovk của Vietsovpetro gọi điện cho tôi thông báo dòng dầu lên mạnh, áp suất rất cao. Hiện đang đóng giếng khoan để chờ ý kiến trong bờ.


Tin vui bất ngờ. Không thể đóng đầu giếng lâu vì lo thiết bị đầu giếng với áp suất thiết kế chịu không nổi nên ban lãnh đạo quyết định cho khai thác luôn bằng cần khoan, chờ đến khi áp suất giảm lúc đó mới sửa giếng và hoàn tất giếng theo đúng quy trình của một giếng khai thác...".


TS San nhớ lại niềm vui trên cả mong đợi. Giếng đã cho dòng dầu lớn, ước tính 2.000 tấn/ngày. Tin vui tràn ngập. Mặc dù đã tìm thấy và bán được dầu từ trước đó, nhưng đến lúc này Việt Nam mới thật sự tìm thấy mỏ dầu đạt trữ lượng thương mại trên thềm lục địa của mình.


Công cuộc tìm kiếm, khai thác dầu khí Việt Nam bước sang một trang mới, thành công...


Quyết tâm cao


Điều may mắn là ngay trong hoàn cảnh khó khăn ấy, quyết tâm tiếp tục của cả phía Việt Nam và Liên Xô đều rất cao.


Thứ trưởng Bộ Công nghiệp dầu Philimonov cùng các chuyên gia Liên Xô vừa tháo gỡ khó khăn vừa động viên tinh thần đội ngũ: cần tiếp tục tập trung tổ chức, đẩy nhanh tiến độ xây lắp và khai thác khu vực phía Bắc mỏ;


Tổ chức lại công tác kiểm tra khai thác; cử thêm chuyên gia công nghệ mỏ sang Vietsovpetro, xây dựng Viện nghiên cứu và thiết kế đủ mạnh để thực hiện thiết kế mỏ và công trình biển Việt Nam; phải bơm ép nước ngay để duy trì áp suất vỉa Bạch Hổ - 1 đang bị tụt...


30/04/2018 16:54 GMT+7


 Chỉ với 6 mũi khoan đầu tiên mà đã tìm thấy hai giếng dầu có khả năng thương mại, một giếng có dấu vết là sự thành công rất lớn. Tỉ lệ thành công này cao hơn cả tỉ lệ trung bình của ngành dầu khí thế giới.


Ngay sau khi trúng thầu, các trùm dầu hỏa thế giới Pecten, Mobil, Esso, Sunningdale, Marathon lập tức bắt tay khảo sát địa vật lý. Họ cho tàu khảo sát tổng cộng 46.960km tuyến trong các lô đã trúng thầu trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam.


Khi Sài Gòn đẩy mạnh nỗ lực khai thác dầu hỏa, Trung Quốc tấn công Hoàng Sa vào đầu tháng 1-1974. Lo ngại hải quân Trung Quốc tiếp tục tiến xuống Trường Sa, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã cử các tàu chiến mạnh nhất của mình về phòng thủ Trường Sa.


Và ngay sau lớp chiến hạm phòng vệ này là các công ty dầu hỏa quốc tế đang tìm kiếm dầu khí.


Những mũi khoan đầu tiên


Nửa cuối năm 1974, Pecten tiến hành khoan 4 giếng Hồng-1X, Dừa-1X, Dừa-2X, Mía-1X bằng giàn khoan Ocean Prospecter nửa chìm (semi - submersible). Do dông bão trên Biển Đông, giữa tháng 8-1974, ống khoan mới bắt đầu được hạ xuống biển.


Báo chí Sài Gòn bám sát sự kiện này, viết nhầm giếng Hồng-1X, lô 08, thành Hồng 9 do suy diễn từ chữ số La Mã, trong khi chính xác thì 1 là số thứ tự giếng thứ nhất, còn X viết tắt từ Exploration có nghĩa thăm dò.


Cái tên Hồng 9 báo chí đặt vừa đẹp vừa may mắn, nhưng ở độ sâu 1.609m, mũi khoan của Pecten chỉ thu được ít dầu tàn dư, không đạt trữ lượng khai thác thương mại. Pecten sau đó cho biết đây là giếng khô, không có dầu công nghiệp, giàn khoan sẽ chuyển sang vị trí khác.


Riêng giếng Dừa-1X sang ngày 2-9-1974 mới được Pecten bắt đầu khoan với kế hoạch độ sâu cuối cùng khoảng 4.500m. Công việc ban đầu khá thuận lợi. Sau 3 ngày, tức ngày 5-9, mũi khoan xuống độ sâu 1.200m, ngày 19-9 xuống 3.000m. Đến ngày 10-10, mũi khoan xuống sâu tới 4.000m, chỉ còn cách đích 500m. Pecten thử vỉa thu được kết quả 2.200 thùng dầu thô/ngày và 480.000m3 khí.


Trong khi Pecten tạm trám giếng này lại, chờ tính toán khai thác, báo chí Sài Gòn giật tin nóng: Giếng Dừa 9 (thật ra là Dừa-1X) tìm thấy mỏ dầu có trữ lượng 1 tỉ thùng đủ để khai thác hơn 30 năm. Ngày 6-11-1974, giàn khoan của Pecten đến giếng Mía-1X ở lô 06. Mũi khoan đã đạt độ sâu 3.600m và tìm thấy dấu vết dầu, nhưng Pecten đã trám lại mà không thử vỉa...


Mũi khoan thứ 4 và cũng là mũi khoan cuối cùng của Pecten được thực hiện tại giếng Dừa-2X, vị trí chỉ cách giếng Dừa-1X gần 2 km - nơi đã tìm thấy 2.200 thùng dầu một ngày. Kế hoạch chi tiết của Pecten gửi về Ủy ban Quốc gia dầu hỏa VNCH khá lạc quan: sẽ khoan đến độ sâu 4.300m để thẩm lượng, chuẩn bị khai thác dầu thương mại.


Tuy nhiên, đến giữa tháng 4-1975, mũi khoan vẫn chưa hoàn thành thì Pecten phải nhổ neo di dời giàn khoan trước tình hình chiến sự ngày càng áp sát Sài Gòn. Chính phủ VNCH sụp đổ cũng có nghĩa là hợp đồng ký kết với Pecten không còn hiệu lực nữa.


Trong khi đó, ngày 20-1-1975, mũi khoan của Mobil xuống đến độ sâu 2.000m của giếng Bạch Hổ-1X trong lô 04, bể Mekong. Ngày 11-2-1975, Mobil thử vỉa ở độ sâu 3.000m, thu được 430 thùng dầu một ngày và 5.600m3 khí đồng hành. Bảy ngày sau, họ lại thử vỉa lần thứ hai và tiếp tục thu được 2.400 thùng dầu và 25.000m3 khí đồng hành.


Kết quả này được liên doanh Mobil - Kaiyo đánh giá rất triển vọng. Họ chuẩn bị các tiến trình để đi đến giai đoạn khai thác dầu khí thương mại, như khoan thêm mũi thử nghiệm kích thước mỏ, trữ lượng. Mobil dự kiến chỉ cần ba năm, tức khoảng năm 1977, họ sẽ khai thác được dầu thương mại tại mỏ này.


Niềm vui dở dang


Tin vui được gửi nhanh về Sài Gòn. Việt Tấn Xã tường thuật: "Hôm nay, 15 giờ, thứ hai, ngày 24-2-1975, tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã rời Sài Gòn đi quan sát giếng dầu Bạch Hổ-1X khoan cách Sài Gòn chừng 200 cây số về hướng đông nam trên thềm lục địa Việt Nam...


Cùng tham dự với tổng thống hôm nay có thủ tướng chính phủ Trần Thiện Khiêm, ông tổng trưởng kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng, ông tổng cuộc trưởng Dầu hỏa và khoáng sản Trần Văn Khởi và ông tổng giám đốc Mobil Vietnam Peter Gelpke".


Sau kết quả thăm dò tốt đẹp ở giếng Bạch Hổ-1X, Mobil cho dời tàu khoan Glomar IV đến khoan giếng Đại Hùng-1X ở lô số 03. Kế hoạch của Mobil thông báo với Sài Gòn là sẽ khoan đến độ sâu gần 4.000m, thời gian khoan dự kiến tối đa 2,5 tháng. Tuy nhiên, cũng như mũi khoan ở giếng Dừa-2X phải dừng giữa chừng vì hồi kết chiến cuộc, mũi khoan ở Đại Hùng-1X này chỉ xuống được độ sâu 1.819m thì dở dang.


Mobil phải đình chỉ tất cả công việc trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam giữa tình hình nóng bỏng một tuần trước ngày 30-4-1975. Glomar nhổ neo, thu ống khoan, di chuyển về cảng Singapore. Các công ty khác như Esso, Sunningdale chưa kịp khoan giếng nào và đỡ chịu thiệt hại hơn Mobil và Pecten quá nhanh chân đi trước.


Bước ngoặt lịch sử đã làm sụp đổ chính phủ VNCH ở miền Nam Việt Nam, kết thúc "giấc mơ dầu hỏa sẽ thay đồng tiền viện trợ Mỹ, để bảo vệ và phát triển miền Nam". Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn ngủi, ngành dầu hỏa Sài Gòn cũng làm được rất nhiều việc. Đặc biệt là chỉ nửa năm trước ngày 30-4-1975, sáu giếng khoan đã được thực hiện để thăm dò dầu hỏa trên thềm lục địa miền Nam.


Trong đó, giếng Bạch Hổ-1X đã tìm thấy dòng dầu thương mại và được chuẩn bị kế hoạch khai thác quy mô công nghiệp vào năm 1977. Giếng Dừa-1X cũng phát hiện dòng dầu có khả năng thương mại. Giếng Hồng-1X thì có dấu vết dầu.


"Nỗ lực rất lớn"


Theo TS Ngô Thường San - chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, Chính phủ VNCH trước năm 1975 đã có nỗ lực rất lớn trong việc tìm kiếm và khai thác tài nguyên dầu khí. Họ thực hiện đúng những tiến trình bài bản từ việc ban hành đạo luật dầu hỏa để có nền tảng pháp lý, thành lập Ủy ban Quốc gia dầu hỏa điều hành công việc, và mời gọi các công ty quốc tế có năng lực mạnh tiến hành thăm dò, khai thác.


Chỉ với 6 mũi khoan đầu tiên mà đã tìm thấy hai giếng dầu có khả năng thương mại, một giếng có dấu vết là sự thành công rất lớn. Tỉ lệ thành công này cao hơn cả tỉ lệ trung bình của ngành dầu khí thế giới.


Mỏ dầu Bạch Hổ - chuyện giờ mới kể


27/04/2018 20:22 GMT+7


Được tìm thấy từ trước 30-4-1975, Bạch Hổ nằm yên dưới đáy biển suốt hơn một thập niên cho đến ngày được bùng lên với bao bí mật chưa kể...


Lần đầu tiên soạn thảo và chưa từng có trải nghiệm để chỉnh sửa, nhưng đạo luật dầu hỏa VNCH được giới chuyên môn đánh giá khá chặt chẽ, chú trọng quyền lợi quốc gia


Bạch Hổ, mỏ dầu chủ lực quyết định thành - bại của ngành dầu khí Việt Nam, được tìm thấy từ trước 30-4-1975.


Khi chiến tranh Việt Nam gần đến hồi kết, các công ty dầu quốc tế rút lui. Bạch Hổ nằm yên dưới đáy biển suốt hơn một thập niên cho đến ngày được bùng lên với bao bí mật chưa kể...


Kỳ 1: Đạo luật dầu hỏa tham khảo Iran


Thập niên 1960, nhiều quốc gia trong khu vực đã khai thác được dầu thương mại để làm giàu. Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu rất hiểu điều này.


Kinh tế VNCH thời chiến chưa có gì ngoài một nền nông nghiệp lỗ chỗ lỗ bom, pháo và nông dân luôn nhấp nhỏm chạy nạn chiến sự.


Nhưng nhìn ra Biển Đông, Việt Nam có thềm lục địa rộng lớn, nhiều người biết chắc chắn nơi ấy có tài nguyên dầu khí...


Đạo luật 011


Tuy nhiên, để khởi động được nền công nghiệp dầu khí dù chỉ là bước đầu thăm dò, phải có cơ sở pháp lý. Một đạo luật dầu hỏa là không thể thiếu. Có nó mới có thể đàm phán được với các công ty dầu quốc tế, nhất là các công ty Mỹ.


Đặc biệt, đạo luật này vô cùng cần thiết để VNCH bảo vệ được quyền lợi của mình và xây dựng nền hạ tầng nhân - vật lực phục vụ cho ngành dầu khí.


Một số đạo luật dầu hỏa của các nước được nghiên cứu, nhưng cuối cùng chính quyền Sài Gòn chọn đạo luật của Iran để tham khảo xây dựng đạo luật cho riêng mình. Bởi Iran có nền công nghiệp dầu hỏa rất lớn, nhưng lại khởi đầu phụ thuộc vào phương Tây với nhiều kinh nghiệm mà miền Nam Việt Nam có thể học hỏi.


Các chuyên gia Hồ Mạnh Trung, Võ Anh Tuấn thuộc Nha Tài nguyên thiên nhiên, Bộ Kinh tế VNCH, được giao chủ trì soạn thảo bộ luật mới mẻ này. Nền tảng đạo luật là hợp đồng đặc nhượng.


Một nguyên tắc cơ bản mà những nước có tiềm năng dầu hỏa phải áp dụng khi phụ thuộc vào các công ty quốc tế có tiềm năng tài chính, khoa học và kỹ thuật để khai thác được.


Nguyên tắc hợp đồng đặc nhượng đó là các công ty dầu khí quốc tế phải trả cho VNCH hai khoản thuế chính: nhượng tô 12,5% (tiền thuê đất) và thuế lợi tức 45-55% số lượng dầu sản xuất.


Đạo luật cho phép thời gian các công ty tìm kiếm dầu khí là 5 năm, có thể gia hạn thêm 5 năm; riêng thời gian sản xuất là 30 năm, có thể gia hạn thêm 10 năm...


Lần đầu tiên soạn thảo và chưa từng có trải nghiệm để chỉnh sửa nhưng đạo luật dầu hỏa VNCH được giới chuyên môn đánh giá khá chặt chẽ, chú trọng quyền lợi quốc gia. Toàn bộ đạo luật gồm 6 chương với 66 điều.


Nội dung là những quy định cụ thể, chi tiết về việc thăm dò, khai thác dầu hỏa trên thềm lục địa và trên lãnh thổ VNCH từ vĩ tuyến 17 trở vào. Quyền đặc nhượng cho các công ty dầu hỏa do thủ tướng Chính phủ VNCH quyết định.


Theo đó, các công ty quốc tế xin được cấp quyền đặc nhượng bắt buộc phải đóng trước 500 USD (hoặc 137.000 đồng tiền Sài Gòn). Số tiền nhỏ ban đầu này được gọi là tiền đăng ký chữ ký.


Sau khi hợp đồng đặc nhượng được ký kết và tiến hành thăm dò, khai thác, họ còn phải đóng thêm các khoản tiền lớn bất khả hoàn cho Chính phủ VNCH.


Đạo luật quy định cụ thể diện tích đặc nhượng tìm kiếm dầu hỏa được chia thành từng nhượng địa, mà sau này thường gọi là lô. Mỗi nhượng địa không quá 20.000km2. Mỗi công ty không được cấp quá 5 nhượng địa, tức không quá 100.000km2.


Quy định này để có nhiều công ty tham gia, cạnh tranh với nhau cũng như tránh dẫn đến tình trạng chính phủ và ngành dầu hỏa quốc gia phải phụ thuộc quá nhiều vào sự độc quyền của một công ty quốc tế.


Thời hạn quyền đặc nhượng tìm kiếm có thể biến động tùy theo từng trường hợp đàm phán hợp đồng, nhưng kéo dài trong khoảng 5-15 năm.


Đặc biệt, riêng quyền đặc nhượng khai thác dầu hỏa Chính phủ VNCH xét cấp cho mỗi nhượng địa không quá 5.000km2 trong thời hạn không dài hơn 40 năm.


Các lô đặc nhượng đầu tiên được chính quyền phân chia trên thềm lục địa VN - Ảnh: Tập đoàn Dầu khí VN


Thành lập Ủy ban quốc gia dầu hỏa


Sau một thời gian dài nghiên cứu, soạn thảo và lấy ý kiến, ngày 1-12-1970, ông Thiệu ký ban hành đạo luật dầu hỏa VNCH số 011/70.


Tháng 6-1971, tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc công bố sẽ cấp quyền đặc nhượng tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu mỏ tại thềm lục địa với thể thức đấu thầu.


Toàn bộ vùng này nằm trong thềm lục địa miền Nam Việt Nam, được chia thành 61 nhượng địa, tức 61 lô. Trong đó 60 nhượng địa có diện tích tương đối bằng nhau, riêng nhượng địa thứ 61 rộng hơn với tổng diện tích khoảng 300.000km2.


Chính phủ VNCH sử dụng kết quả đo đạc địa vật lý lần thứ hai, năm 1970, của Công ty Ray Geophycical Madrel trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam để làm cơ sở cho các công ty đấu thầu...


Tính từ thời điểm soạn thảo đạo luật dầu hỏa, chiến tranh ngày càng leo thang khốc liệt, nhưng các bước tiến nỗ lực thăm dò, khai thác dầu hỏa của VNCH được đánh giá là rất nhanh chóng. Ngay khi đạo luật dầu hỏa có hiệu lực, Ủy ban quốc gia dầu hỏa VNCH cũng được thành lập.


Ngày 7-1-1971, chỉ một tháng sau khi đạo luật được phê chuẩn, thủ tướng Trần Thiện Khiêm ký sắc lệnh số 003-SL/KT thành lập Ủy ban quốc gia dầu hỏa. Chủ tịch ủy ban này cũng chính là tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc.


Đến tháng 6-1974, Chính phủ VNCH tiếp tục thành lập Tổng cuộc Dầu hỏa và khoáng sản để đẩy nhanh tiến độ khai thác, thăm dò dầu hỏa. Trụ trở tổng cuộc đặt tại số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, nơi là văn phòng cũ của Nha Tài nguyên thiên nhiên.


Tổng cuộc có năm phòng trực thuộc để làm việc, gồm Cuộc dầu hỏa, Nha kế hoạch huấn luyện, Cuộc khoáng sản, Trung tâm nghiên cứu địa chất, Nha hành chánh và kế toán. Trong đó, kỹ sư địa chất Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách Cuộc dầu hỏa, kỹ sư phụ dầu khí Phí Lê Sơn đảm nhiệm Nha kế hoạch huấn luyện.


Vừa làm vừa học nghề


Quan điểm của Chính phủ VNCH là vừa làm vừa "học nghề" các công ty quốc tế. Nhưng ngay trong tình thế hạn chế đó, họ vẫn làm được rất nhiều việc hiệu quả, nhanh chóng, đặc biệt là tổ chức hai cuộc đấu thầu triệu đô thành công trên cả mong đợi.


Song song với nỗ lực tìm kiếm dầu, các dự án nhà máy lọc dầu cũng được kêu gọi đầu tư ở Cam Ranh, Vũng Tàu, Nha Trang nhưng chưa kịp thực hiện vì chiến sự leo thang.


Nhiều ý kiến chuyên môn khẳng định một năm nỗ lực của ngành dầu hỏa miền Nam Việt Nam bằng hành trình 10 năm của các quốc gia khác...


Mỏ dầu Bạch Hổ: Cuộc tiếp quản tháng 5-1975


01/05/2018 16:29 GMT+7


Những ngày cuối tháng 4-1975, không khí tại Sài Gòn căng thẳng hơn bao giờ hết. Đại sứ Mỹ Graham Martin vẫn còn ở lại đến tận sáng 30.


Nhưng trước đó, nhiều người Mỹ và ngoại quốc khác ở Sài Gòn đã di tản bằng đường hàng không khi phi trường Tân Sơn Nhất còn chưa tê liệt vì pháo kích.


Trong đám đông hỗn loạn đó có lãnh đạo và nhân viên của các công ty dầu hỏa Pecten, Mobil, Esso, Sunningdale... làm việc ở Sài Gòn. Trong khi đó, từ Hà Nội, các chuyên gia đã sẵn sàng cho nhiệm vụ mới.


Chuyến bay sớm vào Sài Gòn


"Đầu thập niên 1970, ngoài nỗ lực thăm dò dầu khí sớm hơn cả miền Nam, ở vùng đồng bằng sông Hồng, Hà Nội cũng theo dõi sát sao từng bước đi của ngành dầu khí Sài Gòn" - TS địa vật lý Trương Minh, một trong những trụ cột khoa học của ngành dầu khí miền Bắc và Việt Nam sau này, nhớ lại.


Bạn của ông, TS Trần Ngọc Toản, nguyên viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam, chính là người theo dõi sát sao hành trình tìm dầu của chính quyền VNCH.


Ông Toản cho biết ngay từ trước tháng 4-1975, ông đã ghi chép chi tiết hành trình thăm dò dầu khí của miền Nam cùng với những sự kiện đặc biệt. Ngoài các thông tin báo chí Sài Gòn và quốc tế đăng tải, Hà Nội còn có những nguồn tin riêng của mình.


Những hợp đồng của Sài Gòn ký với công ty dầu hỏa quốc tế, những mũi khoan xuống thềm lục địa và kết quả ra sao đều được ông theo dõi, ghi chép lại đầy đủ.


Chính vì vậy, ngay từ đầu tháng 5-1975, TS Toản đã cùng một số cán bộ công an lên chuyến bay sớm vào Sài Gòn. Nhiệm vụ của họ là nhanh chóng tiếp quản Ủy ban Quốc gia dầu hỏa và Tổng cuộc Dầu hỏa - khoáng sản Sài Gòn.


Vừa xuống phi trường, ông tìm đến ngay văn phòng Tổng cuộc Dầu hỏa - khoáng sản trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Có người đã di tản, nhưng vẫn còn người ở lại, vẫn đến văn phòng dù lúc này họ không còn nhận được chỉ thị làm việc nào từ cấp trên.


Trong số đó có kỹ sư địa chất Nguyễn Văn Vĩnh, tốt nghiệp chuyên ngành ở Đại học Dầu mỏ Texas, Hoa Kỳ. Đặc biệt, kỹ sư Vĩnh không chỉ là cuộc trưởng dầu hỏa, am hiểu tất cả vấn đề, mà còn là chứng nhân của các mũi khoan đầu tiên ở thềm lục địa.


Điều khoản bắt buộc của chính quyền Sài Gòn cũ là các công ty dầu hỏa quốc tế phải cho người Việt Nam ra làm việc, học hỏi kinh nghiệm trực tiếp trên giàn khoan. Và kỹ sư Vĩnh cùng đồng nghiệp từ Sài Gòn đã bay trực thăng ra làm việc trên cả các giàn Glomar IV lẫn Ocean Prospector của hãng Pecten, Mobil.


Đặc biệt, ngoài các tài liệu tiếp cận được chính thức từ văn phòng Tổng cuộc Dầu hỏa - khoáng sản Sài Gòn, TS Toản còn thu được một tài liệu vô cùng quý giá ngay tại phi trường Tân Sơn Nhất.


Tiêu đề tập tài liệu này là "Đánh giá khả năng dầu mỏ ở thềm lục địa Việt Nam" (Evaluation of oil possibilities in offshore Vietnam). Người viết không thấy ghi tên trên tài liệu, nhưng có chuyên môn rất cao khi đánh giá chi tiết cả hai mặt thuận lợi và không thuận lợi của khả năng tìm thấy dầu ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam.


Về thuận lợi, khảo sát địa vật lý đã cho thấy thềm lục địa này có các bồn trầm tích giống như các nước khu vực đã khai thác được dầu. Các cấu tạo địa chất đã được xác định bằng đo đạc khoa học. Thực tế dấu hiệu dầu cũng tìm thấy được ngay từ giếng khoan đầu tiên Hồng-1X. Các giếng khoan tiếp theo như Dừa-1X, Bạch Hổ-1X đều thu được dòng dầu ở mức độ có thể khai thác công nghiệp.


Riêng những vấn đề không thuận lợi thì với hiểu biết đến thời điểm đó, người viết tài liệu này cho rằng phần lớn tích tụ dầu trong các bồn trũng ngoài khơi Đông Nam Á có thể không đạt giá trị thương mại cao. Các mỏ dầu, khí ngoài biển ở Đông Nam Á có kích thước nhỏ... Phần lớn đều chứa khí. Giá trị thương mại khi khai thác dòng khí này có thể không được như mong muốn khi chúng đều nằm xa ở ngoài khơi...


Lúc đó, tình hình thiếu xăng dầu nghiêm trọng, cần phải đi vay dầu ở một số nước bạn. - Bà Nguyễn Thị Bình (nguyên Phó chủ tịch nước)


"Cơn khát" xăng dầu bắt đầu


Đến gần cuối tháng 5-1975, nhóm cán bộ dầu khí từ miền Bắc vào đã tiếp cận được toàn bộ hồ sơ dầu của Sài Gòn. Đặc biệt là đội ngũ nhân lực chuyên dụng trong đây tuy còn hạn chế về số lượng nhưng đều được đào tạo bài bản theo hệ khoa học tiên tiến của phương Tây. Một số kỹ sư như Nguyễn Văn Vĩnh, Phí Lê Sơn đều rất cần thiết cho việc tái khôi phục và phát triển ngành dầu khí miền Nam.


Vừa chấm dứt bom đạn, Việt Nam hậu chiến đối diện ngay hàng loạt vấn đề khó khăn nghiêm trọng. Toàn bộ nguồn xăng dầu khổng lồ của Mỹ viện trợ trước đây đã bị cắt hẳn. Nguồn viện trợ từ Trung Quốc cũng giảm dần rồi chấm dứt. Tình hình khó khăn đến mức như TS Ngô Thường San - chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam - kể, ngay cả các cán bộ cấp cao cũng phải đi làm bằng xe đạp. Nguồn dự trữ xăng dầu của nhiều địa phương hoàn toàn không còn nữa.


Nhiều lãnh đạo được giao nhiệm vụ "chạy" xăng dầu bằng cách duy nhất là đi vay mượn từ nước ngoài. Bà Nguyễn Thị Bình - nguyên phó chủ tịch nước - kể lại: "Gần một năm sau khi đất nước thống nhất, tôi từ bộ trưởng ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trở thành bộ trưởng Bộ Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Lúc đó, tình hình thiếu xăng dầu nghiêm trọng, cần phải đi vay dầu ở một số nước bạn. Vì trước đó tôi có một số quan hệ với nhiều nước Bắc Phi, những nước có dầu như Algeria, Libya, Iraq nên các đồng chí lãnh đạo yêu cầu tôi đi vay dầu. Khoảng tháng 6-1976, tôi bắt đầu cuộc vận động".


Bà Bình kể đã được tổng thống Iraq tặng 400.000 tấn dầu và cho vay 1 triệu tấn với lãi suất ưu đãi. Các nước khác như Algeria, Libya cũng hứa hẹn nhưng chưa trả lời ngay.


Trước tình hình này, nhiệm vụ tự lực đè nặng lên vai ngành dầu khí trong nước.


Dầu hỏa và chính trị


Sau khi tiếp quản Tổng cuộc Dầu hỏa - khoáng sản, ngày 5-5-1975, TS Trần Ngọc Toản tìm gặp giáo sư địa chất Trần Kim Thạch. Ông hỏi tại sao giáo sư Thạch lại phát biểu trên báo chí Sài Gòn là ở miền Nam Việt Nam không có khả năng có dầu. Giáo sư Thạch trả lời: "Tôi phát biểu như vậy vì lý do chính trị".


Ý ông Thạch muốn nói rằng giai đoạn cuối 1974 đầu 1975, Mỹ đã có dấu hiệu rõ ràng rời khỏi Việt Nam. Chính quyền VNCH sẽ mất viện trợ từ Mỹ. Dầu hỏa trở thành niềm hi vọng để VNCH có nguồn lực kinh tế để xốc dậy tinh thần tướng lĩnh và binh sĩ. Khẳng định "không có dầu", ông Thạch muốn xóa đi niềm hi vọng kéo dài cuộc chiến.


Mỏ dầu Bạch Hổ: Sự trở lại của phương Tây


02/05/2018 14:57 GMT+7


 


Từ tháng 4 đến đầu tháng 6-1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng nhiều cán bộ lãnh đạo ngành dầu khí đi thăm "con thoi" các nước Tây Âu như Na Uy, Pháp, Đan Mạch... Một số hiệp định, cam kết đã được thực hiện.


6 triệu tấn xăng dầu mỗi năm - "nguồn máu" của Mỹ viện trợ cho miền Nam đứt hẳn sau tháng 4-1975. Nguồn viện trợ 2 triệu tấn mỗi năm từ Liên Xô cũng giảm hẳn.


Tình thế ngặt nghèo buộc Việt Nam phải đi vay mượn, mua nợ xăng dầu. Tuy nhiên, giải pháp "con nhà nghèo" này cũng không thể kéo dài mãi...


Nên hợp tác với ai để thăm dò, khai thác dầu khí? Một số ngả về hướng các nước bạn bè như Liên Xô, Đông Âu. Một số thì cho rằng không thể không hợp tác với phương Tây. - TS NGÔ THƯỜNG SAN


Mệnh lệnh phải có dầu


Ngày 6-7-1975, Sài Gòn và miền Nam vẫn còn ngổn ngang hậu chiến, các lãnh đạo Hà Nội đã vào tổ chức một cuộc họp đặc biệt giải quyết tình trạng thiếu hụt xăng dầu.


Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị yêu cầu phải cố gắng tự chủ xăng dầu, không còn cách nào khác.


Một tháng sau, ngày 6-8-1975, Bộ Chính trị ra nghị quyết 244 nhấn mạnh: Nhanh chóng hình thành một nền công nghiệp dầu - khí hoàn chỉnh, bao gồm cả thăm dò, khai thác, vận chuyển, lọc dầu, hóa dầu, cơ khí phục vụ ngành dầu...


Đến cuối tháng 2-1976, Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt trình bày kế hoạch thăm dò và khai thác dầu khí: Đến năm 1980 sẽ thu được sản lượng dầu 3-5 triệu tấn (nhu cầu sử dụng 5 triệu tấn).


Năm 1985, sản lượng dầu thu được 17-22 triệu tấn, nhu cầu sử dụng 12-15 triệu tấn. Đến năm 1990, sản lượng dầu thu được 47-52 triệu tấn, nhu cầu sử dụng 25-30 triệu tấn.


Như vậy, theo kịch bản nào thì đến năm 1985, ngành khai thác dầu Việt Nam cũng phải có dôi dư để xuất khẩu.


Đặc biệt, năm 1976 các đánh giá trữ lượng dầu khí quốc gia khá lạc quan: "Trữ lượng dầu khí có thể thu hồi ít nhất 1 tỉ tấn, nhiều nhất có thể tới 4-5 tỉ tấn".


Mục tiêu đề ra thì rất ấn tượng, nhưng làm thế nào để đạt được? Câu hỏi cực kỳ khó. Đến thời điểm này, chương trình khai thác dầu khí của miền Bắc vẫn đang trong giai đoạn thăm dò tìm kiếm.


Miền Nam thì sau các mũi khoan của Mobil, Pecten tìm thấy dầu trên thềm lục địa đã dừng hẳn và rút lui sau tháng 4-1975. Mọi việc lại gần như ở giai đoạn bắt đầu tìm kiếm. Nhiều cuộc họp cấp cao đã được tổ chức để chọn lựa giải pháp.


TS Ngô Thường San - chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, người trong cuộc của giai đoạn khó khăn này - kể: "Nhiều ý kiến hoàn toàn khác nhau về chuyện nên hợp tác với ai để thăm dò, khai thác dầu khí.


Một số ngả về hướng các nước bạn bè như Liên Xô, Đông Âu. Một số thì cho rằng không thể không hợp tác với phương Tây, với các công ty quốc tế có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm và kỹ thuật công nghệ cao".


Cuối cùng, Bộ Chính trị quyết định đồng thời làm cả hai hướng. Trên thềm lục địa miền Nam chủ yếu hợp tác với các công ty phương Tây như Anh, Pháp, Ý, Canada, Na Uy và Nhật Bản để đẩy nhanh tiến độ thăm dò, khai thác.


Trên đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, hợp tác với các nước như Liên Xô, Romania... Chủ trương này bắt nguồn từ quan điểm chính trị - kinh tế, an ninh.


Đất nước vừa chấm dứt chiến tranh, không thể để các công ty phương Tây, thậm chí có liên doanh với Mỹ, "sục sạo" trên đất liền.


Sau nhiều cân nhắc thận trọng, Bộ Chính trị quyết định cho phép tìm công ty quốc tế hợp tác khai thác dầu trên tám lô ở thềm lục địa, gồm số 01, 02, 03, 05, 06, 07, 08, 09 và giữ lại bốn lô 04, 12B, 11, 15 làm dự trữ quốc gia.


Tàu châu Âu trên biển Việt


Theo ông Ngô Thường San, chỉ trong năm 1976, các cán bộ ngoại giao và ngành dầu khí đã tiếp xúc với 17 chính phủ và công ty dầu khí quốc tế Anh, Pháp, Úc, Ý, Na Uy, Canada, Nhật, Mexico...


Riêng các công ty Mỹ từng thăm dò cho chính quyền VNCH trước 1975 cũng được tham khảo nhưng chưa thể tiếp xúc vì Việt Nam đang bị Mỹ cấm vận.


Đây là điều đáng tiếc, vì nếu các công ty Mỹ như Mobil, Pecten từng thăm dò thành công trên thềm lục địa Việt Nam trở lại sớm thì tốc độ tiến triển của ngành dầu khí trong nước có thể đã nhanh hơn.


Đặc biệt, sau nhiều cân nhắc chọn "bạn", các nhà lãnh đạo Hà Nội cũng xem xét cẩn thận phương thức hợp tác quốc tế. Các hợp đồng đặc nhượng của chính quyền Sài Gòn được nghiên cứu kỹ nhưng không chọn lựa.


Hai phương thức hợp tác khác được đặt lên bàn thảo luận: hợp đồng phân chia sản phẩm (Production sharing contract), hoặc hợp đồng dịch vụ (Service contract). Mấu chốt khó khăn nhất là phân chia lợi ích tài nguyên thế nào giữa nước chủ sở hữu và công ty đầu tư.


Để tham khảo thêm, Bộ Ngoại giao đã mời giáo sư kinh tế dầu khí gốc người Mỹ Michael Tanzer trình bày về vấn đề này. Lần đầu tiên các cán bộ miền Bắc nghe từ "Petrodollars" (đôla dầu hỏa)...


Từ tháng 4 đến đầu tháng 6-1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng nhiều cán bộ lãnh đạo ngành dầu khí đi thăm "con thoi" các nước Tây Âu như Na Uy, Pháp, Đan Mạch... Một số hiệp định, cam kết đã được thực hiện.


Họ dùng tiền vay của Pháp để mua thiết bị thí nghiệm cho Viện Dầu khí Việt Nam. Ngày 9-9-1977, Công ty Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam, Petrovietnam ra đời để có cơ sở pháp nhân hợp tác với các công ty nước ngoài.


CGG, tức Companie Général de Géophysique, công ty của Pháp được mời khảo sát lại cấu tạo thềm lục địa phía Nam và vùng đồng bằng sông Cửu Long.


TS địa vật lý Trương Minh nhớ lại: Tàu khảo sát địa vật lý của Pháp khá nhỏ, phải kéo theo đốc nổi hậu cần, gặp trận bão biển tưởng bị đánh chìm.


Kỹ sư Việt theo tàu, từng học Đức về, chẳng hiểu khả năng đọc pháo hiệu bằng tiếng Đức thế nào mà bắn pháo hiệu màu xanh giữa cơn bão khủng khiếp, sau đó lại bắn tiếp pháo hiệu màu trắng vô sự giữa lúc tàu như sắp chìm.


Chịu không nổi bão tố, tàu quay về Vũng Tàu lại bị biên phòng bắt giam vì có người ngoại quốc thiếu giấy tờ.


Ngoài CGG, Công ty địa vật lý Geco của Na Uy cũng được mời khảo sát lại 21.000km tuyến trên thềm lục địa biển. Đặc biệt, các công ty dầu khí Deminex (Tây Đức), Agip (Ý), Bow Valey (Canada) đã được Việt Nam mời thăm dò, khai thác với hợp đồng chia sản phẩm.


Giai đoạn 1978-1980, họ đã khoan 12 giếng thăm dò trên các lô 06, 07, 08, 28, 29. Các mũi khoan này đã đạt đến độ sâu khoảng hơn 2.000m đến gần 4.000m, chi phí gần 90 triệu USD, nhưng không tìm thấy dầu.


Rút khỏi Việt Nam


Giữa năm 1980, các công ty phương Tây rút dần khỏi Việt Nam. Ngoài lý do bất đồng trong hợp tác với Việt Nam, còn có lý do quan trọng hơn là do sự cấm vận của Mỹ.


Đặc biệt, các hồ sơ giải mật sau này cũng cho thấy họ chịu sức ép rất lớn từ Trung Quốc, và họ buộc phải chọn lựa: Trung Quốc hay Việt Nam?


Mỏ dầu Bạch Hổ: Bắt tay với Liên Xô


04/05/2018 06:07 GMT+7


Ngày 17-12-1979, Tổng bí thư Lê Duẩn gửi thư cho Tổng bí thư Leonid Brezhnev đề nghị giúp khai thác thềm lục địa Việt Nam. Ngày 4-3-1980, ông Brezhnev trả lời và cử chuyên gia qua giúp đỡ.


Các tàu, giàn khoan khai thác dầu khí thời kỳ này thường bị tàu Trung Quốc nhòm ngó, vây quanh. Nhưng họ không dám làm gì khi thấy cờ Việt Nam treo cùng cờ Liên Xô trên tàu. - Ông NGÔ THƯỜNG SAN


Tháng 4-1980, Thứ trưởng Zaisev, Bộ Công nghiệp dầu khí Liên Xô, dẫn đoàn sang Hà Nội.


Hiệp định đặc biệt


Nghiên cứu tài liệu khảo sát trước đó, họ nhận định lạc quan: trữ lượng mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng 435 triệu tấn dầu trong tổng trữ lượng toàn bộ thềm lục địa và khu vực phía Nam là 3,6 tỉ tấn dầu, 2.700 tỉ mét khối khí.


Riêng bể trũng Cửu Long, tức Mekong, trên thềm lục địa chính quyền Sài Gòn đã khảo sát trước năm 1975 đạt khoảng 1 tỉ 178 triệu tấn dầu và 3 tỉ mét khối khí...


Đánh giá này mang lại triển vọng rất tốt cho chương trình tự chủ năng lượng quốc gia thời hậu chiến. Nhưng khai thác như thế nào lại là vấn đề vô cùng phức tạp. Chính ngành dầu khí Liên Xô thời điểm đó cũng mới tiến ra biển sâu và kinh nghiệm, kỹ thuật còn kém hơn phương Tây.


Ngày 19-6-1981 tại Matxcơva, Phó thủ tướng Việt Nam Trần Quỳnh cùng Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ký hiệp định thành lập Xí nghiệp liên doanh Việt - Xô.


Hiệp định gồm 27 điều, ghi: "Thành lập trên lãnh thổ Việt Nam một xí nghiệp liên doanh trên nguyên tắc ngang nhau để tiến hành thăm dò, khai thác dầu, khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam tại vùng do Việt Nam xác định với sự tham gia của các tổ chức Liên Xô".


Nguyên tắc chia lợi nhuận: "Lợi nhuận xí nghiệp liên doanh sau khi trừ các khoản theo quyết định của hội đồng để lập và bổ sung các quỹ của liên doanh và dùng vào các mục đích khác, được chia đều cho các phía tham gia liên doanh, tức 50% mỗi phía.


Lợi nhuận chia cho phía tham gia liên doanh của Liên Xô không phải chịu thuế. Dầu do liên doanh sản xuất được chia đều cho các phía tham gia, phần dầu phía Liên Xô được nhận sẽ cung cấp cho Liên Xô...".


Tài liệu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ghi lại ngay thời điểm đó đã có một số ý kiến thắc mắc về Hiệp định Việt - Xô: đem toàn bộ thềm lục địa Việt Nam để hợp tác khiến nước chủ nhà mất quyền chủ động trong việc phát triển dầu khí tương lai; không quy định thời hạn của hiệp định;


Phía Liên Xô được ghi sổ góp vốn ngay khi vật tư, thiết bị xuống tàu ở cảng Liên Xô và theo giá quốc tế, còn Việt Nam phải xây dựng xong công trình, nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng mới được ghi nhận góp vốn...


Theo ông Ngô Thường San - nguyên phó tổng giám đốc thời kỳ đầu liên doanh, các nhà lãnh đạo Việt Nam không phải không thấy các "vấn đề" này của hợp đồng. Tuy nhiên, bối cảnh các công ty phương Tây rút đi, Việt Nam quá thiếu xăng dầu nên cần phải hợp tác với Liên Xô.


Đặc biệt, thời điểm đó Mỹ cấm vận gay gắt, Trung Quốc cũng tăng cường áp lực với các công ty quốc tế, Việt Nam không hợp tác với Liên Xô thì chọn ai?


Ông San kể: "Các tàu, giàn khoan khai thác dầu khí thời kỳ này thường bị tàu Trung Quốc nhòm ngó, vây quanh. Nhưng họ không dám làm gì khi thấy cờ Việt Nam treo cùng cờ Liên Xô trên tàu".


Hi vọng và lo âu


Vietsovpetro bắt tay vào việc khảo sát thềm lục địa ngay từ năm 1980. Các tàu nghiên cứu hải dương Liên Xô như Poisk, Iskatel ngược xuôi đo địa vật lý khắp Biển Đông.


TS địa vật lý Trương Minh, chứng nhân công việc này, kể: "Khi các tàu Liên Xô vào thềm lục địa thì nhiều tàu của các nước đã khảo sát rồi. Từ công ty nghiên cứu hải dương của Mỹ, Anh trước năm 1975 đến người Pháp, Na Uy giai đoạn sau.


Tuy nhiên, Liên Xô vẫn tiếp tục khảo sát. Và đội ngũ Việt Nam cũng được lợi vì được trực tiếp tham gia nhiều hơn, học hỏi được nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật mới".


Để rút ngắn tiến độ, công việc khảo sát, khoan thăm dò được tập trung vào các lô 04, 05, 09,10, 11, 15, 16 bể trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn; khu vực có các mỏ Bạch Hổ, Đại Hùng mà Mobil đã khoan đầu năm 1975.


Tên Bạch Hổ được đặt từ năm 1974 theo đề nghị của Ủy ban Quốc gia dầu hỏa Việt Nam cộng hòa. Khi chuẩn bị khoan thăm dò, Mobil định tên giếng Big Bear nhưng phía Sài Gòn chọn Bạch Hổ.


Ngày 25-12-1983, Vietsovpetro khoan mũi đầu tiên từ tàu khoan Mikhain Mirchin xuống giếng Bạch Hổ - 5, bể trũng Cửu Long, liền kề vị trí giếng Bạch Hổ - 1X mà Mobil khoan thấy dầu tháng 2-1975.


Kế hoạch khoan sâu 3.500m như Công ty Mobil (Mỹ) từng làm. Nhưng Vietsovpetro chỉ khoan đến được 3.001m thì dừng vì sự cố địa chất.


Giữa tháng 5, công tác thử vỉa tìm dầu giếng khoan được chuẩn bị. Tất cả những ai tham gia cuộc tìm kiếm dầu đều hồi hộp, nhưng vẫn có niềm tin vì các nhân chứng và tài liệu thu được của Ủy ban Quốc gia dầu hỏa Sài Gòn đều khẳng định mỏ Bạch Hổ có dầu.


Các lãnh đạo Hà Nội yêu cầu báo cáo liên tục tình hình thử vỉa Bạch Hổ.


Ngày 24-5-1984, dòng dầu được tìm thấy, đuốc dầu trên tàu Mikhain bùng lên. Ban giám đốc Vietsovpetro nhận tin vui, báo liền trung ương. Các lãnh đạo reo lên vui mừng. Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bay ngay ra giàn khoan.


Lễ đốt đuốc dầu lịch sử đầu tiên được tổ chức tại Vũng Tàu...


Nhưng thật ra, những người trực tiếp trong cuộc lại vô cùng lo lắng. Ông Ngô Thường San kể lưu lượng thử giếng Bạch Hổ - 5 có 20 tấn/ngày, chỉ bằng 1/15 lưu lượng Mobil tìm thấy đầu năm 1975.


Những người trực tiếp làm nhiệm vụ thăm dò không dám nói ngược lại niềm vui chung của cả nước đang khát khao dầu, nhưng họ hiểu nếu tình trạng không cải thiện thì các mục tiêu tự chủ dầu khí quốc gia sẽ khó đạt được.


Đây cũng là năm mà sơ đồ công nghệ khai thác thử mỏ Bạch Hổ được phê duyệt, nhưng với kết quả 20 tấn dầu một ngày tìm thấy thì phê duyệt cái gì?


Từ năm 1984-1985, các nỗ lực tìm kiếm dầu ở Bạch Hổ được tiếp tục. Kỹ sư Đặng Của, vụ trưởng Vụ Khoan và khai thác dầu khí thời điểm ấy, kể lại sau giếng Bạch Hổ - 5, các giếng Bạch Hổ -1, Bạch Hổ - 4 cũng được khoan.


Cả hai giếng này đều tìm thấy dầu có khả năng thương mại, nhưng vẫn không giếng nào thu được lưu lượng như Mobil từng công bố hơn 2.000 tấn một ngày đầu năm 1975.


Giếng Bạch Hổ - 5 sau thời gian khai thác bị tụt áp suất đầu giếng. Toàn giàn khai thác MSP - 1 thu chưa được 100 tấn/ngày. Nguồn lực khổng lồ đổ vào mỏ Bạch Hổ chẳng biết bao giờ mới thu hồi được...



Mỏ dầu Bạch Hổ: Những gói thầu triệu đô


29/04/2018 13:23 GMT+7


Mùa hè năm 1971 rất nóng. Nhiệt độ ở Sài Gòn hơn 35 độ C. Tiến độ gọi thầu thăm dò, khai thác dầu hỏa được yêu cầu phải đẩy nhanh.


Các kỹ sư của Tổng cuộc Dầu hỏa Sài gòn đi tham quan nhà máy khai thác dầu của Mỹ - Ảnh tư liệu của NVV


Tháng 2-1974, VNCH công bố đợt gọi thầu khai thác dầu khí thứ hai trên thềm lục địa. Lần này có 33 lô với diện tích mỗi lô khoảng 4.000km2


Ông Nguyễn Văn Vĩnh, giám đốc Cuộc Dầu hỏa thuộc Tổng cuộc Dầu hỏa và khoáng sản Sài Gòn, kể: "Cả sáu người của văn phòng cùng nhau chia sẻ mọi công việc cần phải làm, dịch bản hợp đồng đặc nhượng gốc tiếng Anh sang tiếng Việt.


Để kịp trình Ủy ban Quốc gia dầu hỏa cứu xét cho việc chuẩn bị đấu thầu, cả nhóm cùng nhau thức hôm thức khuya, nhất là trong giai đoạn thực hiện in roneo hai bản hợp đồng đặc nhượng mẫu bằng tiếng Anh và tiếng Việt...".


Cuộc gọi thầu đầu tiên


Chứng nhân tìm dầu hỏa thời ấy kể tiếp: "Chúng tôi đánh máy, chữa lỗi từng trang stencil đến mờ mắt, quay roneo trên giấy trắng cỡ 21x33cm, in bìa, đục lỗ, đóng thành tập.


Các hợp đồng đặc nhượng mẫu này cùng các văn kiện khác sẽ được trao cho các công ty tham khảo trước khi dự thầu. Toàn bộ các văn bản này đã được văn phòng hoàn tất trong sáu tháng và được Ủy ban Quốc gia dầu hỏa chấp nhận".


Ngày 15-8-1971, 18 công ty dầu hỏa nộp bản trả lời, với ba công ty trong nước và 15 công ty quốc tế.


Ủy ban Quốc gia dầu hỏa trực tiếp xét duyệt tất cả hồ sơ. Cả ba công ty quốc nội đều không đạt yêu cầu. Các công ty nước ngoài được cẩn thận xem xét từng yếu tố như kinh nghiệm, chuyên môn, tình hình tài chính...


Ngày 24-3-1973, Bộ Kinh tế một lần nữa thông báo cấp quyền đặc nhượng tìm kiếm và khai thác dầu. Tổng cộng 19 hồ sơ công ty quốc tế lại gửi tới, như vậy tính chung cả hai đợt đã có 37 hồ sơ.


Tuy nhiên, 10 hồ sơ đã bị Ủy ban Quốc gia dầu hỏa loại vì không đạt yêu cầu. Các công ty dầu hỏa của 27 hồ sơ còn lại được Bộ Kinh tế VNCH mời tham dự một phiên họp giải đáp thắc mắc ở Sài Gòn vào tháng 5-1973.


Ủy ban Quốc gia dầu hỏa cũng thông báo hạn chót nhận hồ sơ dự thầu chính thức là ngày 2-7-1973.


Ngày lịch sử khó quên được ông Nguyễn Văn Vĩnh nhớ lại: "Chờ mãi rồi ngày 2-7-1973 cũng đến. Mọi người vui vẻ chờ đón các công ty dầu quốc tế nhưng suốt buổi sáng không một ai đến nộp hồ sơ.


Buổi chiều cũng vậy. Không biết họ có thay đổi ý định không? Có sự kiện chính trị, quân sự gì quan trọng đang xảy ra không?".


Thế rồi vào lúc 4h chiều, một chiếc ôtô lạ chạy vào cổng. Vị luật sư đại diện của Esso bước ra.


Sau vài lời chào hỏi xã giao, ông ta trao cho ông Khởi, giám đốc tổng cuộc, một phong bì dán kín, dày cộm. Ông Khởi ký ngay trên lằn dán phía sau bao thư rồi mời ông ấy cùng ký.


Ngay sau đó tôi niêm phong, đảm bảo rằng hồ sơ của họ được tuyệt đối giữ kín cho đến khi mở ra cùng một lúc trước sự hiện diện của tất cả công ty và đại diện của họ vào sáng ngày mai...".


Esso, công ty dầu hỏa lớn hàng đầu thế giới, tham gia ngay đợt đấu thầu khai thác dầu khí ở miền Nam Việt Nam - Ảnh tư liệu


Sự tham gia của các ông trùm dầu hỏa


Sáng 3-7-1973 tại phòng khánh tiết Bộ Kinh tế, Ủy ban Quốc gia dầu hỏa mở niêm phong 18 bao thư...


Theo tiêu chí thắng thầu đã đề ra từ đầu, Esso thắng một lô với hoa hồng chữ ký 5 triệu USD. Mobil Oil với 2,5 triệu USD trúng hai lô gần Vũng Tàu và Phan Thiết. Shell Oil với 9 triệu USD trúng ba lô.


Sunningdale (Canada) gặp may chọn hai lô phía nam Mũi Cà Mau không ai cạnh tranh và thắng thầu dù số hoa hồng chữ ký thấp hơn rất nhiều so với các công ty kia. Tổng cộng tám lô này đã mang lại số hoa hồng chữ ký 16,6 triệu USD.


Số tiền này sẽ được các công ty chuyển cho VNCH trong vòng 30 ngày sau khi chính thức hợp đồng và nhận được sắc lệnh cấp quyền đặc nhượng.


Hơn một tháng sau đó, ngày 21-8-1973, buổi lễ ký hợp đồng đầu tiên được Chính phủ VNCH tổ chức ký kết với ba công ty dầu hỏa Esso, Mobil Oil và Sunningdale.


Ông Phạm Kim Ngọc, tổng trưởng Bộ Kinh tế kiêm chủ tịch Ủy ban Quốc gia dầu hỏa, đại diện cho chính phủ, ký kết với ba công ty. Khoảng một tuần sau, Shell cũng chính thức ký hợp đồng.


Lý do hoãn lại của Shell vì cần thời gian đàm phán liên doanh Công ty Cities Cervice để tăng tiềm lực tài chính. Liên doanh này có tên mới là Pecten Vietnam. Hợp đồng ký kết khá chặt chẽ và VNCH bảo đảm được các quyền lợi của mình.


Theo đó, công ty ký hợp đồng phải nộp cho Chính phủ VNCH một tín dụng thư bất khả hoàn của một ngân hàng quốc tế lớn với số tiền cam kết sử dụng thăm dò, khoan dầu. Tín dụng thư của Pecten là 20 triệu USD, Mobil 15 triệu USD, Esso 12 triệu USD.


Tháng 2-1974, VNCH công bố đợt gọi thầu khai thác dầu khí thứ hai trên thềm lục địa. Lần này có 33 lô với diện tích mỗi lô khoảng 4.000km2.


Chính phủ Sài Gòn gửi 50 hồ sơ mời thầu đến các công ty dầu hỏa. Điều kiện hợp đồng khắt khe hơn lần trước.


Nước chủ nhà giữ quyền chủ động hoàn toàn như có quyền điều chỉnh các mức thuế suất, quyền thay đổi các điều khoản hợp đồng, quyền thay đổi mức tham gia hợp tác đầu tư của Việt Nam.


Sau đó, 34 công ty được xác nhận đủ điều kiện đấu thầu. Nhiều nhất là Mỹ với 22 công ty, kế đến Canada năm công ty...


Các công ty lớn đã liên kết lại với nhau thành 10 liên doanh và chín liên doanh đã trúng thầu đợt thứ hai. Trong đó, liên doanh Pecten và Broken Hill trúng một lô, Mobil và Kaiyo Oil (Nhật) trúng hai lô...


Liên doanh trúng nhiều số lô nhất là Canadian Oil and Gas và Conzinc Rio Tinto (Úc) với bốn lô gồm 16.000km2 nhưng sau đã bỏ cuộc.


Tổng số tiền hoa hồng chữ ký mà Chính phủ VNCH nhận được trong đợt này là 29,1 triệu USD.


Hợp đồng đặc nhượng


Hợp đồng đặc nhượng ràng buộc các công ty khoan tìm dầu trong vòng hai năm, nhưng có năm năm và được gia hạn thêm năm năm.


Trong thời gian tìm kiếm dầu, các công ty được giao trả lại cho Việt Nam từng phần của lô để giảm thuế nhượng tô, nhưng mỗi lần trả không được quá 500km2.


Điều khoản quan trọng là nếu tìm thấy dầu, các công ty có thời hạn khai thác 30 năm và được gia hạn 10 năm.


Nhằm "Việt Nam hóa ngành dầu hỏa", hợp đồng đặc nhượng cũng yêu cầu các công ty phải thông báo cụ thể kế hoạch khoan giếng tìm dầu; đồng thời phải dành ngân khoản 300.000 USD mỗi năm, tính từ khi bắt đầu khoan giếng cho đến thời điểm sản xuất thương mại.


Mục đích nhằm đi đến sử dụng 90% lao động Việt Nam và 60% quản lý chỉ huy trong ngành dầu hỏa.



Quốc Việt/ tuoitre.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyên gia Singapore dẫn thành công đặc khu Trung Quốc làm hình mẫu cho Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 23.05.2018
Hãy để Nga được là Nga - Shlomo Ben-Ami 21.05.2018
Đảng cộng sản có thể tồn tại bao lâu nữa ở Trung Quốc? - Tư liệu sưu tầm 18.05.2018
Vần đề Đảng cộng sản trong Hiến pháp Trung Quốc - Hồ Anh Hải 18.05.2018
17/05/1970: Hải trình chứng minh người châu Phi cổ đại từng tới châu Mỹ - Tư liệu sưu tầm 17.05.2018
Krill oil: Nguồn dinh dưỡng quý giá nhất Nam Cực - Tư liệu sưu tầm 15.05.2018
Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn - Tư liệu sưu tầm 14.05.2018
Sông Đồng Nai - Tư liệu 09.05.2018
07/05/1960: Brezhnev trở thành Chủ tịch Liên Xô - Tư liệu sưu tầm 07.05.2018
Vài nét về tôm sú và tôm thẻ chân trắng, cách nhận biết tôm biển và tôm nuôi - Tư liệu sưu tầm 07.05.2018
xem thêm »