tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22645499
Tiểu thuyết
20.04.2018
Ngũ Hà Miên
Bão

Một trưa nắng chang chang, oi ả gay gắt, chàng đang nằm lơ mơ, toan nhắm mắt mấy phút trước khi nhổm dậy rửa mặt đi dạy thì có tiếng xe Dauphin cũ xè xè ầm ĩ rồi tắt máy ngay trước nhà. Hóa ra bạn chàng Phạm Viết Tích, vừa học xong Sư phạm đầu tiên về đường Trần Cao Vân – Tam Kỳ, nay đã đổi vào dạy ở quận Tám. Mặt mày Tích hốc hác, nóng tháng Năm Sài Gòn đang rặn mưa hâm hấp như đốt sém da dẻ anh. Anh mới bán được đất ở quê và tậu chiếc xe thổ tả này của Nguyễn Thành Vinh. – Ông H. đâu? Anh hỏi, vẻ rất nghiêm trọng, chiếc mũ cát kết tài xế còn cầm trên tay, khiến thằng Văn cũng hơi thấy sợ hãi: Thưa, ba còn nằm trên gác. Anh vụt đi lên. Bạn bè thân nhau từ thuở nối khố, họ tự tiện như ở chính nhà mình. Chàng lồm cồm bò dậy. Tích hỏi giọng rất gắt gao, như tra khảo một phạm nhân: Này, tui hỏi ông. Trả lời đi – rồi Tích gằn từng tiếng – Có Chúa không?

Chàng cũng hơi hoảng, không kịp nghĩ ngợi: Có! Tích phản ứng vô cùng tức tối: Ông nói láo. Là Phật tử, sao nói có Chúa? Giọng Tích như đang mắng học trò.


Chàng lấy lại bình tĩnh, mỉm cười dịu dàng: Chúa là cái khả kính giúp ông có câu hỏi đó. Về sự hiện diện hay không của ngài, chính Chúa khiến, lệnh cho ông phải đội nắng đến đây để hỏi. Không có Chúa, không có Phật, tôi làm sao có tâm hồn, có trí óc để trả lời ông được? Chàng nói nửa thật nửa đùa.


Tích có vợ Công giáo dòng lâu đời. Anh rất tốt nhưng là mẫu người của đam mê. Đi dạy, anh thương học trò. Anh mê vợ con, passionément như anh dùng thuật ngữ nay để tự miêu tả, ham sử sách, đánh bạc và gái điếm, món nào anh cũng thích tới tận tâm hồn, không bao giờ mặc cảm phạm tội. Nghe chàng nói, Tích ngẫm nghĩ một lát rồi như xả được cơn điên khủng hoảng tư duy trong người mình, mỉm cười nhẹ nhàng, Tích lại chụp mũ lên đầu lẳng lặng ra xe. Tiếng máy ầm ĩ.


Chủ nhật đó, anh Vũ Ngọc Các[1], Hiếu Chân[2] và thầy Thích Nhật Thường bấy giờ là Phó Tổng thư kí Viện Hóa đạo đến rủ anh Bảy cùng hợp tác nhau làm một tờ nhật báo.


Chàng hỏi: Ai ủng hộ? Và bán báo cho ai?


Anh Các nói:


Thầy Trí Quang và độc giả Phật tử tranh đấu chịu ảnh hưởng của ông Râu Anh ngần ngừ một lúc rồi chậm rãi: Chúng ta không đứng về phía ông Lé đâu nhé.


Lé là tên lóng của đám đệ tử chỉ Thượng tọa Thích Thiện Minh. Ông vừa ở tù ra và từng bị báo Sóng Thần của Chu Tử chửi bới dữ dội. Anh Các dừng lại giây lát ra chiều ngẫm nghĩ, rồi tiếp:


Anh Xung, có bằng Cử nhân và mấy tác phẩm nghiên cứu được giới trí thức đánh giá cao, đang dạy Triết và Văn chương cho mấy đại học, xin anh đứng làm chủ nhiệm giúp. Tui lo tòa soạn. Thầy Nhật Thường cánh thầy Huyền Quang, Phó tổng Thư ký Viện Hóa Đạo Ấn Quang phụ trách trị sự, chắc ăn chưa?


Đến đây, anh đưa mắt nhìn thầy Nhật Thường. Người Bình Định, da trắng, cao lớn như hộ pháp, đẹp trai, người ta nói thầy đang tằng tịu với người vợ ông Hoàng Ngọc Tiếu, một giáo sư nổi tiếng vì những cua Toán luyện thi tú tài. Thầy chậm rãi:


Nhà in và tòa soạn công khai, ta mướn chỗ Đinh Khải, 91 Gia Long, còn chuyện gì nội bộ, ta bàn ở đây, gác hai, quán Chiêu Anh, được không?


Chàng vội thoáng qua óc một ý nghĩ: Lâu nay mình dùng diễn đàn hàng tuần trên tờ An Lạc của thầy Thông Bửu, nhưng báo kì có mặt hạn chế của nó. Nay nếu có một nhật báo, tốt biết bao. Phải nhanh như chớp, chớp lấy thời cơ.


Chàng bèn nói:


Tôi thì đang đi dạy, chắc không giúp gì mấy cho đại cuộc được. Cùng lắm, tôi coi giúp mục Thơ. Và, nếu cần lâu lâu làm cái feuilleton, trả tiền đàng hoàng nghen, các cụ. Còn anh Hiếu Chân, chắc phải bỉnh bút mực Nứng hay đòi [3] trứ danh theo kiểu nói lái của thằng Huệ chứ?


Hiếu Chân ta cả cười:


Quỷ bắt cái thằng lùn đó đi. Con Tâm không chịu nó cũng đáng.


Anh vuốt mấy sợi râu mép trên chiếc mồm nhô ra trên khuôn mặt tái mét chính cống dân nghiện:


– Tiền nong thì thầy Trí Quang có thể lệnh cho một đệ tử ruột có máu mặt nào đó giúp. Tất nhiên là thầy Nhật Thường đây cũng thừa khả năng rồi, nhưng anh em chúng ta, Nguyễn Văn Cử (phi công, người chống Diệm, oanh tạc dinh Độc Lập năm 1962) và Nguyễn Tấn Dương, kĩ sư cháu cụ Hường Hiệu, Quảng Nam, và ai có chút gì thì bỏ thêm vào. Càng gắn bó nhau vừa của, vừa công mới mong tờ báo đứng được. Bữa nào ra số đầu tiên, tui kiếm con dê và trổ tài làm tiết canh, chế dâm dương tửu và nấu món hầm dàng pín[4] hầu các bạn. Nhưng bây giờ hẳn đặt tên cho tờ báo đã.


Anh Bảy từ đầu tới cuối vẫn không ngừng ngậm ống vố rít khói liên hồi, theo dõi từng nét âu lo, từng ánh mắt mừng vui nhỏ trên mặt mỗi người. Tay phải anh vẫn không ngừng cái thói quen kì cọ nơi cổ, thỉnh thoảng lại vê thành một viên nhỏ, đen, bằng hạt đậu xanh, cũng một cách vô thức và nhẹ nhàng, giấu giếm bỏ xuống sau lưng, khiến mảng vách mà anh hay ngồi dựa đọc sách lâu ngày đã đậm màu lem luốc. Lúc không có khách, anh tha hồ ở trần và hạt cáu bẩn đó, nhiều khi anh công phu lăn thật tròn để chọi một cách trúng đích những chú ruồi thiếu cảnh giác đậu trong tầm. Bạn bè đùa, xưng anh là Càn dục Đạo nhân, nghĩa là ông Đạo tắm khô. Bây giờ, anh mới thong thả đáp có ý kiến:


Trước đây tôi có cái măng sết nhật báo, từ thời ông Trần Văn Ân[5], làm Tổng trưởng Thông tin, mang tên Gió Nam nhưng chưa tìm được người cộng tác, bây giờ nó vẫn còn có giá trị. Chỉ cần chúng ta tới chỗ Nha Phối hợp Nghệ thuật, thằng Phưởng làm ở đó, xin lại là được ngay.


Nhà văn Hiếu Chân vốn được anh em gọi đùa là bậc đại háng, vì anh giỏi chữ Hán (Nho) góp ý:


Gió Nam, chữ Hán là Nam phong chi huân hề… ông Phạm Quỳnh đã xài tên này. Nay với giới Phật giáo, thì có lẽ không hợp lắm.


Anh Các, người nôn nóng có tờ báo để có đất dụng võ, cắt lời ngay:


Tôi thấy cái tên Gió Nam cũng không sao. Ấn Quang có ủng hộ ta thì cũng chỉ là ngầm thôi. Để cái tên lộ quá cũng không được. Thôi, tôi với cụ Hoạt (tức Hiếu Chân, hai anh cũng xêm xêm tuổi nhau) phải gặp ông Râu, thỉnh ý ổng thế nào. Nếu ổng không phản đối, ta dùng tên đó vậy.


Không biết Hiếu Chân và Vũ Ngọc Các có gặp thầy Trí Quang để xin ý kiến về việc này không, nhưng ít lâu sau, nhật báo Gió Nam ra đời và thấy có mục Vườn Thơ do chàng phụ trách, cả trang Văn hóa Nghệ thuật nữa, như ở tờ An Lạc trước kia.


Lại thêm một phương tiện để tập họp giới trí thức, nghệ sĩ lớn về lĩnh vực Văn hóa Nghệ thuật tại miền Nam thuở ấy. Tất nhiên đều phải có khuynh hướng dân tộc, chống ngoại lai và hòa bình. Chàng đã tranh thủ được cảm tình của từ những đại trí thức cỡ giáo sư Trần Ngọc Ninh, Ngô Gia Hy, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hiến Lê, Lê Văn Siêu… cho tới các nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Hồ Trường An… những nghệ sĩ Kim Cương, Thanh Nga… viết giúp bài và tham gia dìu dắt giới trẻ.


Tội nghiệp cụ Thục mà chàng thờ kính như một vị thầy. Năm thầy 85 tuổi, chàng đến thăm, thầy hồi nhớ hồi quên. Tội nghiệp anh Nguyễn Hiến Lê, nhân dịp lên thượng thọ ở Long Xuyên anh còn viết thư lên cho chàng, chép nguyên văn câu nói của Cụ Hồ với một nhà báo Pháp, nét chữ đã quá yếu. Trước đó, có lần chàng xuống tận miền Tây quê vợ anh, nơi anh đang chữa bệnh đau bao tử, mang cho anh thuốc Caved’s. Chàng vẫn luôn ân hận không đi dự đám ma anh và sau này nữa, khi anh Lê Văn Siêu mất, hai dịp đó chàng đều có công việc ở nước ngoài. Năm 1995, đang ở Úc, nghe đài BBC loan tin Lê Văn Siêu chết, chàng buồn tới bỏ cơm.


Giữ mục Vườn thơ Gió Nam, chàng vẫn theo lối cũ như hồi làm cho báo An Lạc. Đọc thật kĩ bài thơ của độc giả. Lắng đọng để sống cái không khí bài thơ đó trong chính mình. Tìm cách dẫn khởi người đọc vào một nơi có gió trăng, hoa cỏ, trời mây, có đau khổ và hạnh phúc tương hợp. Kẻ thưởng thức nhờ đó sẽ cảm thông với tác giả, chia sẻ niềm vui nỗi buồn của nhau. Chàng quan niệm, người đọc cũng là đồng tác giả, cùng rung cảm với tác giả, cùng lúc nhận diện ra nghệ thuật. Ví dụ như trên trang báo sau đây:


“VƯỜN THƠ GIÓ NAM


Lời giới thiệu: Đỗ Phủ trong những ngày trôi dạt giữa cơn binh đao khói lửa đã phải than thở:


Thời căn tán tác cửu thu bồng


Đến thế kỉ hai mươi, ở cái mảnh đất Việt Nam nhỏ bé này, anh em ta cũng bị  bão táp thổi phiêu bạt mỗi người một nơi: Nhà thơ Liên Chi(1) nơi Đồng Nai, còn Phú Quốc (2) phải lữ thực trên bến Long Hồ, đêm đêm nhớ về cố hương.


  NHỚ VỀ XỨ HUẾ


Ta về xa rồi xứ Huế ơi


Nhớ về ngoài ấy nhớ khôn nguôi


Sông Hương núi Ngự còn xanh mãi?


Hồn ta nắng úa ngái phương trời


Vĩ Dạ, Bao Vinh thuyền gác mái


Kim Long, Bạch Hổ ánh chiều phai?


Hương khói Từ Đàm, chuông Diệu Đế


Sao lòng quay quắt nhớ thương ai?


Trời trong này nắng mà nghe lạnh


Vì chim lìa tổ, lá buồn rơi


Đêm đêm ta mộng về thăm Huế


Làm cây non Ngự đứng bên đồi.


Từ mong nhớ quê hương biến thành lòng yêu nước và từ lòng yêu nước nhận diện ra thân phận dân tộc”.


Chàng vốn thường ca ngợi Tri hành hợp nhất của Vương Dương Minh: Tri dã, tiện thị hành liễu, như hiếu hảo sắc, như ố ác xú: Biết là đã hành rồi, như yêu cái đẹp, ghét mùi hôi.


Lúc giảng dạy cho học trò, chàng cũng thường nhắc câu nói của người Pháp: Fais ce que je dis, mais ne fais pas ce que je fais để lưu ý các sinh viên về những người nói một đường làm một nẻo. Trong Lời đầu tập thơ Mười năm của mình chàng mượn lời một văn hào Đức, Thomas Mann: Thi sĩ là người dự phần vào sự đặt tên riêng cho mỗi vật có trên mặt đất này. Và, thi sĩ cùng thầy tu thì không được nói dối.


Làm chính trị, thậm chí làm vua, bạn có thể nói dối để đạt được mục tiêu chiếm lấy chính quyền. Ví như Lưu Bang, khi Hàn Tín lấy xong đất Tề, bèn cho người về xin Lưu phong Tín làm Tề vương. Lưu Bang cả giận, đuổi sứ giả. Trương Lương thấy thế bèn mách:


Tín là tướng tài, cầm quân mấy vạn, đang ở cõi ngoài. Nay Chúa công không làm vừa lòng y, y sinh tâm oán hờn, trở mũi giáo về ta thì sao?


Lưu Bang lặng thinh. Lương nói:Chưa muộn. Chúa công hãy cho người ra dịch quán vời sứ giả vào nói lại.


Bang nghe lời, truyền đem gấm vóc ban cho Tín và cả sứ giả, nói:


Công của Hoài Âm[6] tuyệt đỉnh lớn lao. Sao chỉ xin phong mỗi là Giả tề vương? Hôm qua ta giận là vì vậy. Nay hãy nghe lời ta phán: Phong cho Hoài Âm hầu chẳng những không giả mà thật, chẳng những thật mà còn gấp ba lần lớn hơn: Tam tề vương!


Nói dối như thế, để Tín yên tâm cúc cung tận tụy, chờ cho sự nghiệp hoàn thành rồi, Lưu Bang giả bộ ra chơi ở Vân Mộng, mời Tín đến, sai võ sĩ đâm chết. Cho nên vua chúa, quốc trưởng, thủ tướng mà nói dối, hãy coi như sự rất thường. Nhưng, đã đi dạy học hay làm thầy tu, giảng giải đạo lý làm người mà manh tâm gian dối, miệng rao những điều tốt đẹp, mà lòng chứa bao thứ đê hèn, lừa phỉnh môn sinh và thiện tín, mượn danh Phật, Chúa để kiếm ăn thì không thể tha thứ được.


Chàng chủ trương chiến sĩ, đạo sĩ và nghệ sĩ chỉ là một vì cả ba đều đi tìm Chân, Thiện, Mỹ. Cái chân lý (Chân) mà chúng ta phải bền gan chiến đấu để thực hiện ngay trên thế gian này nó phải hàm chứa cả điều lành (Thiện) và cái đẹp (Mỹ). Chân, Thiện, Mỹ chỉ là một.


Hai chuyên mục nhỏ Vườn Thơ và Diễn đàn Văn hóa Nghệ thuật trên báo Gió Nam ở Sài Gòn những năm 1970 – 1971 đã là một hiện tượng lạ, tập hợp, hình thành một khuynh hướng thi ca theo trình tự dân tộc rất gần với chủ trương ở miền Bắc, một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, theo lời Maxim Gorki.


Thời đại chúng ta có nhiều vấn đề còn quan trọng hơn cái chết của một con người. Điều này sẽ làm đau lòng đa số tín đồ của chủ nghĩa cá nhân. Nhưng, chủ nghĩa cá nhân giờ đây cũng đã bị lịch sử lên án: Chết!


Bằng một phong cách thật dịu dàng, chàng tranh thủ một số trí thức lớn, từ chỗ không đội trời chung với Cộng sản thành những người trung lập và dần dà có cảm tình với phe kháng chiến như thầy Nguyễn Đăng Thục, hai thạc sĩ Ngô Gia Hy, Trần Ngọc Ninh, nhà văn Lê Văn Siêu.


Tờ báo mang tên bằng hai tiếng khởi đầu bài ca của vua Thuấn về một thời đại thái bình thiên hạ vi quân, người già có thịt, trẻ em có sữa, của rơi ngoài đường không ai lượm, đêm nằm không cần đóng cửa.


Quả là giấc mơ của những anh trí thức salon trong khi B52 hằng ngày dội hàng tấn bom xuống từng mét vuông thịt da của Tổ quốc. Cây rừng không còn xanh lá, dòng sông Cầu Đập tuổi thơ đã đùn một lớp sỏi dày nóng bỏng chân những trưa hè nắng thiêu.


Nhưng, nếu không trong âm thầm kiên nhẫn ngày một ngày hai, nhóm lên từ những mảnh thiện tâm rời rạc để góp nên, vào một sáng đẹp trời nào kia, thành một cơn bão nổi, quét tan đi bóng đêm tội ác của đám ma vương thời đại, không theo gương người xưa kiến nghĩa bất vi phi dõng dã, thì cũng chẳng đành. Cho nên chàng thức liền nhiều đêm trắng, đọc, xúc cảm trước từng băn khoăn, tâm tư của độc giả, rồi kiên trì liên lạc, vận động nhau kết bạn, giúp nhau học hỏi, nuôi dưỡng những tình cảm tốt đẹp hướng về dân tộc, hòa bình, độc lập, tự do.


Đối tượng đầu tiên của chàng là Phật tử, lấy tòa soạn báo làm nơi gặp gỡ. Những người thợ máy, những anh tài xế taxi, xe thồ, cyclo, công nhân cảng, chị em tiểu thương ba mươi sáu chợ đô thành, những kẻ tay làm hàm nhai, trong nhà không chứa gạo quá ba ngày. Gặp ai chàng cũng tay bắt mặt mừng như anh em ruột thịt. Trong bối cảnh đó, chàng gặp Năm Long, sau này là một cuồng sĩ ở Mặt trận thành phố.


Chàng giúp Đại đức Huyền Diệu tìm những nhà hảo tâm bỏ tiền mua cyclo và taxi cho anh em lãnh chạy và gom tiền trả góp. Sau thời gian ngắn họ đều thực sự trở thành chủ nhân phương tiện sinh sống của mình. Và thời gian đã trả lời một cách chính xác rằng khi đất nước cần, họ đã luôn có mặt, luôn quyết tâm và chưa hề phản bội.


Mãi ngoài Trung, anh Tùng đã đọc những gì chàng viết trên báo. Trong một chuyến vào Sài Gòn chơi, anh ghé thăm chàng, nói:


Ở Quảng Ngãi, người ta nói mày làm CIA. Không vậy thì làm sao mày dám công khai đòi các bên đang nhóm họp ở Paris phải chấm dứt tức khắc cuộc chiến trong bài Công cuộc hóa giải? còn trong bài Bình sản cho thị dân của mày, rõ ràng mày đòi sung công hết mà chia đều, luận điệu Cộng sản không giấu cái đuôi hết mà chia đều, như Tôn Ngộ Không đã trá hình làm ngôi chùa mà vẫn còn ngọn cờ ngoe nguẩy phía sau. Mày có làm CIA hai mang, có cả Cộng sản đứng sau lưng mới được hai bên để yên như vậy. Nghe đâu, sau vụ Trương Đình Dzu, bọn Mẽo đang dùng những típ như thế.


Chàng thản nhiên trả lời:


Tui có là Cộng sản, có là CIA không, thì anh, cũng như anh Diễn, anh ruột tôi, là Quốc dân đảng trong thời Mỹ, chỉ có thể là thứ Quốc dân đảng dân tộc, chỉ tồn tại trong mấy năm chống Diệm, hiện đã giải nghệ, các anh hiểu tôi. Nước mình khổ quá rồi. Gọi tôi là CIA hay Cộng sản gì cũng được, miễn là phải có hòa bình, cho dân bớt chết chóc cái đã. Cứ coi cái cánh đồng Thi Phổ tôi, nếu được yên mà về đó gỡ hết kẽm gai đi để cắm ngọn rau lang, sau ba tháng cũng có khoai ăn, hơn là con gái phải bán cả trinh tiết vì mấy kí lô củ mì. Anh bảo sao? Mẹ tôi chết rồi, anh Cả tôi, cùng tuổi với anh mà cũng già khọm. Tôi đấu tranh, tự biết mình thiên Cộng. Và cũng biết rằng rồi đây Cộng sản sẽ thắng. Khi đó, anh Diễn tôi cũng như anh, phải đi ở tù. Keo này lâu đấy, mút mùa lệ thủy. Anh bảo, tôi có xót xa không?Và chàng khóc.


Anh Tùng lắc đầu, thở dài. Chàng thấy anh cũng rơm rớm nước mắt ra chiều đồng cảm. Chàng tiếp:


Giữa những con người chân chính, không có gì khác nhau.


Cụ Hồ có chỉ trích gì ông Nguyễn Thái Học không? Ông Tam[7] cũng vậy. Sau khi qua Hồng Kông, ổng thấy dã tâm của thực dân Pháp, và thấy ông Bảo Đại cũng không vượt lên khỏi số phận của một ông vua bù nhìn. Ổng về Sài Gòn trở thành một cái gai trước mắt đám Xuân, Tâm, Hinh… cho đến khi phải uống thuốc độc chết vì tay ông Diệm. Tôi có theo dõi Đài Hà Nội, người ta chê ông không thức thời chớ chưa thấy ai lên án ổng. Quốc, Cộng chân chính là Thể mà lá cờ Đảng là Tướng[8]. Trong con người Mao Trạch Đông và Trần Huy Liệu có cả Quốc lẫn Cộng. Ngay như nước ta, cụ Lê Xuân Giáo là đồng chí Quốc dân đảng của anh, cùng người em là cụ Lê Thành Vị thấy đi họp hành hoài với các anh Trương Khánh Tạo, Nguyễn Thành Vinh[9]… vậy mà Mậu thân rồi, cụ cùng anh Lữ Phương đã chạy ra chiến khu, kẻ cố vấn, người thành viên của Chính phủ Cách mạng lâm thời, đã sao đâu. Và, nơi chính con người anh, anh làm Quốc dân đảng, chị Cúc thì hoạt động Cộng sản đều bị Diệm bắt giam, anh yêu chị ấy, làm thơ tặng, và đã cưới làm vợ.


Anh Tùng hốt hoảng:Sao mày biết? Chàng cười: Có gì lạ. Tụi nó vu tui làm CIA nên cũng phải biết mọi thứ chứ? Tui là I’homme qui savait trop. Người mà biết quá nhiều thì chỉ chuốc lấy khổ lụy cho mình mà thôi. Hồi Mậu thân xong đám ma mẹ tôi, tôi ra nhà anh chơi. Anh đi khỏi, tôi ngồi chờ lật quyển tập trăm trang của anh, thấy có bài thơ anh tặng chị Cúc, khá hay, tôi có nhớ mấy câu.


Anh cười khoái chí: Mày đọc tao nghe lại thử.


Chàng ngâm: Này nhé:


Ai về Đức Thạch sông Thoa


Hỏi thăm Đỗ Thị Cúc Hoa thế nào


Tình riêng một mối thương sao


Ai thề áo gối vắt rua cho người


Trách ai tất tả đi xuôi


Để ai lòng những khôn nguôi nhớ người…


Sau đó là chị Tùng mất và chị Cúc đã trở thành đầu gối tay ấp của anh. Quốc gia Tùng và Cúc Cộng sản không chống nhau nữa mà yêu nhau ra rít, ngày có hơn chục bận, khiến anh ốm như que củi.


Chàng nhìn anh, một cái nhìn vừa thách thức, vừa chế giễu. Anh nói:


Tao chịu là mày láu lỉnh hết chỗ nói. Nhưng mày có cái tâm tốt, không hại ai. Tao lớn hơn mày những mười lăm tuổi, tao là bạn của thằng Diễn, thằng Xung nhưng tao lại rất tâm đắc với mày. Phần tao, lỡ lí sự gàn với ông Lê Học thời đó rồi ngoan cố không chịu theo người ta, ở lại miền Nam. Thằng Mỹ tới, theo cái sách đã quá lỗi thời của thằng Tây, là nắm lấy cái đám tù trưởng về mặt tinh thần như Ngô Đình Diệm, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Dương Văn Minh… Thằng Mỹ nào biết rằng bên kia giỏi quá, đã tạo một mạng nhện quần chúng dưới cơ sở rồi, đám tù trưởng đó chỉ lõng bõng nổi ở trên như bèo.


Nhà chính trị tỉnh lẻ Quảng Ngãi bất hủ này tiếp:


Westmoreland thì cũng như tướng De Lattre, sẽ thất bại thôi. Thực dân là vậy đó. Tao cũng chịu điều mày nói: chính và tà không phân biệt ở cái tên. Có thằng quân tử như Nhạc Bất Quần[10] nhưng lại ngụy. Còn Hướng Vân Thiên thì thuộc ma giáo lại có cái tâm chân chính của bậc hảo hán, mới được Lệnh Hồ Xung kết bạn. Và bản nhạc thánh Tiếu ngạo giang hồ, do Khúc Dương Lão Tổ gốc tà phái, đã cùng Lưu Chính Phong Sư Thúc, người chánh phái cùng sáng tác nên, đó là một bản hòa điệu cả chính lẫn tà. Kim Dung thâm thúy làm sao.


Cuộc nói chuyện với anh Tùng làm chàng vô cùng thích thú. Cảm ơn anh đã hiểu mình, điều mà chính anh em ruột chàng cũng không sao có thể nói với nhau bằng lời lẽ được. Cũng là cái ơn Trời Phật run rủi nên. Nay, anh đã ra người thiên cổ. Việc văn chương vốn là tấc lòng của muôn đời, phải không anh? Ta hồ Văn chương chi sự, thốn tâm thiên cổ.


Nắng tháng Năm đã nhuộm đỏ những cành phượng rộn ràng tiếng ve kêu. Mùa này, ba năm trước, có một nhà báo Thụy Sĩ, anh Harménienne sang chơi Việt Nam, cùng đi với một phái viên của Robert Kennedy. Họ rủ chàng lên Tây Ninh thăm thánh địa Cao đài. Harménienne nổi hứng muốn đi Bà Đen, nơi trận chiến ác liệt vừa xong, chỉ một tiểu đội Việt cộng đã cầm chân và làm hao hụt gần hết một tiểu đoàn quân Thiệu. Chính người phái viên của Bob, ứng viên Tổng thống sáng giá của Đảng Dân chủ năm 1968 sắp tới, đã kinh phục khi nghe chuyện những người lính cách mạng tự buộc chân vào giá súng và chiến đấu tới viên đạn cuối cùng. Ông nói: Tốt hơn là chúng ta nên ở phía những người này.


Trên đường về, cả ba đang mải ngắm một cây phượng cổ thụ, không còn chiếc lá, rực lửa trong nắng chiều thì một quả đạn pháo rơi cách xe họ độ vài trăm mét. Chả hiểu sao không một ai hề hấn gì. Ngoái đầu lại, cách nửa cây số bên đường, trên một ngọn đồi thấp thoáng và lố nhố những người lính bên kia đang đi. Chiếc xe xả hết tốc lực về Sài Gòn.


Sau đó, trên tờ Le Monde, một bài báo dài ký tên Patrice de Beer ra mặt ủng hộ cuộc chiến đấu của quân Giải phóng miền Nam. Patrice cũng hay sang Việt Nam viết bài và trở thành bạn bè của nhóm chàng.


Kể ra, cảnh chàng cũng thật là đáng trăn trở. Ăn cơm Quốc gia từ khi chưa có thằng Văn mà nay nó đã học đệ tứ. Theo như hồi xưa, nó thi đỗ thành chung xong là có thể ra làm trợ giáo trường tiểu học rồi. Và hiện có đã có một đàn em bảy đứa. Bản thân nó, vừa học chữ, vừa theo Trung tâm Văn hóa Pháp ở Đồn Đất, vừa học tiếng Anh văn ở Hội Việt Mỹ- Phùng Khắc Khoan, sắp thi Proficiency Michigan.


Nó lại vẽ được tranh treo trong phòng khách. Bức Xuân Tàn của nó thể hiện một bình hoa mai sau Tết nhìn qua song cửa sổ, với tí nắng hoàng hôn chiếu vào với những cánh vàng lả tả rơi dưới đất. Bức này, chàng rất thích. Nhiều đêm khuya, trên gác xép, trăng sáng lung linh, nó cầm cây guitare nắn nên những tiếng đồng não nuột, bài nhạc nó phổ từ thơ Hoài Thu của ba nó trong tập Mười năm. Tiếng đàn nỉ non khiến chàng thờ thẫn hàng giờ nghĩ tới anh Sáu, anh Tùng, những nhà sư, nào thầy Thiện Hoa, thầy Trí Quang, Thiện Minh, Huyền Quang, Quảng Long, Đức Nhuận, đặc biệt là sư thầy Hồng Ân… các anh, các thầy sẽ ra sao? Ôi, mỗi một chúng ta trên đời có bao nhiêu níu kéo?


Nói sao cho mọi người hiểu rằng chàng không bao giờ phản bội họ, rằng nếu kháng chiến thắng lợi, đạo Phật vẫn còn, anh em bà con, cháu chắt vẫn không sao.


Hồi đổi căn cước, nhìn hình chàng trong đó, hốc hác, đen thủi, như một ông Việt cộng vừa từ hầm bí mật chun lên, đám con chàng gọi đùa:  A! Ông vixi - Ngũ Viên chỉ qua một đêm tóc đã bạc trắng, chàng có lỳ gì thì cũng phải hoa râm và đeo kính lão.


Đang lo lắng như thế thì một chiều chàng nhận được tín hiệu chú Út đánh vào cho hay anh Cả mất. Chàng cực kì đau đớn sửng sốt.


Anh ơi, anh ơi, từ lên bảy tuổi, em bắt đầu biết có cuộc đời, đã thấy sáu anh em nhà ta. Trước khi chết, cha đã ngâm để tự an ủi mình: Lục tử danh thành xưng phụ đức. Nay chỉ còn năm. Bên kia dòng sông đen ngòm của Địa Phủ theo truyền thuyết, anh sẽ gặp hai đấng sinh thành. Cha sẽ hỏi: Sao con mệnh yểu vậy? Còn mấy đứa, thằng Quặm, thằng Xùng, Xòn, Hạm, Chót (1) thế nào?


Anh sẽ trả lời sao, khi cha một mình nằm nghe gió hắt hiu ở bãi tha ma Đồng Găng, Thi Phổ quê mình mà mẹ thì còn trơ trọi xứ người, trên gò núi đá Bầu Giang, Tư Nghĩa?


Chàng xót xa cho anh Cả, mảnh khăn trắng trên đầu anh chưa kịp xả tang mẹ chưa mãn, thì đã phải đổi ra vải liệm cho chính mình.


Gia tài duy nhất để lại cho bầy con côi của anh là niềm ngơ ngác trước cuộc đời mênh mông gió bão, đầy bất trắc.


Thư từ ngàn dặm quê nhà chú Út viết:


“Tối ngày mười một tháng Năm âm lịch, trăng sáng lắm. Anh Cả còn xình xịch cái Mobillette xanh ra ngủ đêm với em. Hai anh em pha trà uống, nói chuyện tới khuya. Sáng dậy anh về nhà dưới chân hòn Đá Chẻ, gần mộ mẹ.


Qua một đêm không thấy bóng anh thì trưa hôm sau, chị Cả chở anh ra ghé nhà em, trên đường lên nhà thương. Anh quặn đau trong bụng, rên rỉ và hôn mê dần. Các cô y tá còn chờ luộc séringue, chưa kịp chích mũi thuốc nào, anh đã ra đi, vĩnh viễn, người nổi lên từng cục bầm tím. Bác sĩ Khải khám, cho rằng anh bị ngộ độc. Một cái chết bất thường”.


Nhưng ở thời buổi đó, có nhiều vấn đề quan trọng hơn cái chết của một con người!


Anh Cả từng tham gia Việt minh hồi còn bí mật và trở thành Đảng viên Cộng sản rất sớm. Đoạn đời toại chí ngắn ngủi của anh bắt đầu năm bốn lăm tuổi, khi anh làm được ngôi từ đường, thực hiện giấc mơ tráng xi măng cái nền và xây tường, lợp ngói của cha xưa kia. Sau đó, anh đã phải chạy ra tỉnh, mưu sinh bằng nghề tụng kinh cho các gia đình thân sơ, làm đủ thứ lăng nhăng khác như coi bói, bốc thuốc Nam.


Nhưng cho chính anh, thì bệnh nghèo trở thành nan y. Đến nỗi anh phải nhận một chân nhân viên quèn trong cơ quan Dân ý vụ. Nếu cái chết đột tử của anh có nghi vấn thì cũng chỉ vì tính đa diện của đại gia đình chàng với sáu anh em hơi nổi trong cái tỉnh nhỏ bé cơ cực Quảng Ngãi: anh Sáu Quốc dân đảng, anh Bảy nghệ sĩ tự do, anh Mười Đảng viên, bộ đội Cụ Hồ đang chiến đấu đâu đó trong cái chiến trường mù mịt không giới tuyến ở miền Nam. Chàng, đứa em trai áp út bị cho là thân Cộng và em chàng, chú Út, giáo viên trung lập. Tất nhiên, dù có đọc chút sách vở, anh Cả chỉ là một nông dân.


Nhưng cũng như bao người Việt Nam khác, muốn chụp cho anh cái mũ nào cũng được: Ba Thành (tức anh Cả) dám làm Cộng sản lắm chớ, ổng là Đảng viên cũ mà. Nay ổng ra Bầu Giang ở, liên lạc với cái hầm bí mật nào đó, đâu khó nhọc gì.


Ổng cũng có thể là CIA, không vậy sao cách nay một năm được ông Ba Tế Dân ý vụ phát lương tháng mấy ngàn? Mặc dù ông Ba Tế đã có bụng nghi và đã cách chức ổng? Nếu là CIA thì Việt cộng giết, nếu là Việt cộng thì CIA giết. Nghèo, các em của anh chỉ làm nghề giáo trắng tay. Anh lại ở vùng xôi đậu, lưỡng đầu thọ tử. Khôn chết, dại chết, ông Lão Tử dạy vậy. Nhưng biết thì chết, không biết cũng chết. Ông Socrate là người, ông Socrate phải chết huống là anh Cả.


Cũng như bấy giờ ở Sài Gòn, có người hỏi chàng: Anh đạo gì? Chàng cười đáp: Tôi bá đạo, một trăm thứ đạo. Này nhé, chính thức tôi là đệ tử của sư thầy Hồng Ân thì đạo Phật rồi. Nhưng cha tôi thờ Khổng Tử, vậy tôi đạo Nho. Bác Tám, người thu xếp cho bên vợ tôi chịu gả nàng cho tôi, tôi phải đến thánh thất Cao đài cùng ông, nên tôi cũng theo Đấng Chí tôn. Hồi học cử nhân Triết, tôi phải thuộc Véda và Upanisad của Bà La Môn cùng kinh Coran của đạo Hồi. Trước khi đến thăm chơi cha Từ và cha Bích, tôi tìm đọc và yêu mê Kinh Thánh, nhất là nhiều đoạn trong Thi Thiên và chương nói Nicodem, sự tân hóa khi nhận thức được Chúa.


Và cuối cùng, bà con tôi đói rách quá, tôi phải tới các nhóm Tin lành như Quaker và Ménonite xin ít gạo cháo, áo quần cũ gửi về cho họ.


Đấy, tôi đã theo ngần ấy, bảy thứ đạo. Muốn hoàn toàn bá đạo, tôi còn phải tìm theo những chín mươi ba đạo nữa trừ cái gọi là vương đạo của các bậc Thánh hiền đời trước như Tam Hoàng, Ngũ Đế, Chu Công, Văn Vương, Pierre I (Nga) vì tôi quá thấp hèn, không theo nổi. Một mình tôi tập trung đủ thứ mà phải cả một gia đình đông đảo như gia đình Phạm Viết Tích mới bao xuể: Mẹ Tích giữ gốc nhà đạo Phật, anh Chừ, chị Nhị của Tích theo Tin lành, anh Phước của Tích theo đạo Bà Hai, còn Tích theo đạo vợ, Thiên Chúa từ khi làm lễ hôn phối ở nhà thờ.


Mấy hôm sau chú Út vào. Chàng hỏi rõ mới biết thêm, anh Cả còn một nỗi đớn đau khác, phải ngậm sầu nơi chín suối. Đó là sự bất thuận giữa anh và anh Sáu rất tốt nhưng luôn vụng về, nhất là trong lời nói. Ngày nọ, hai anh em có việc cãi nhau, điều bình thường của mọi gia đình trên thế gian. Anh Sáu, trong đòn chống chế của mình, vuột miệng: Anh bất hiếu. Anh Cả không dằn được cơn giận, vác nguyên chiếc ghế đẩu quăng vào người anh Sáu. Tất nhiên sau đó có màn can gián của cả nhà. Nhưng từ đó, dù ở cách nhau không xa, anh Cả không lui tới anh Sáu nữa. Và anh Sáu cũng vì tự ái không chịu hạ mình vấn an vị trưởng huynh theo truyền thống gia đình. Ngày kia, anh Cả tới chơi nhà chú Út chỉ cách vườn anh Sáu có một khoen rựa, nói theo kiểu Quảng Ngãi, thì được tin đứa em kề mình ốm nặng. Trên chiếc võng đu đưa, anh chảy nước mắt khóc. Chú Út hỏi tại sao? Anh trả lời trong những tiếng nức nở:


Có thằng em, ngày còn bé cùng bào thai mẹ mà ra. Lên năm tuổi mình cầm tay bày cho nó cùng bắn bi, thả diều, bận áo mới mùa xuân, cùng về tết ông ngoại. Nay gần cuối đời, tóc đã hoa râm, nghe tin nó bệnh, chỉ cách có một khoảnh vườn nhỏ mà không sang thăm được.


Cái khoảng cách ngắn ngủi trong lòng thị xã bé nhỏ Quảng Ngãi cha sinh mẹ đẻ này kì khu, hiểm trở hơn đường vào xứ Thục. Y hu hy! Thục đạo chi nan hề, nan vu thượng thanh thiên(1) ! Ôi! Trời xanh độc địa, đau khổ biết bao!


Vì một lời thề đến chết mới nhìn mặt mẹ, vị công tử nước Tề phải đào hầm sâu xuống đất, giả cảnh xuống Địa Phủ để tái ngộ người mẹ đã mang nặng đẻ đau ra mình(2).


Còn anh Cả? Tội nghiệp người anh thất cơ lỡ vận của chàng đã phải chờ tới cái tang mẹ trên đầu, mới được gặp lại đứa em buổi ấu thơ mà mỗi lúc lần nhắc lại những kỉ niệm, lại xót xa từng khúc ruột. Trong đám ma mẹ, anh Cả và anh Sáu, nhìn nhau vải mấn trên đầu, và được dịp khóc, khóc cho vơi nỗi buồn, khóc mẹ không còn nữa, khóc nỗi anh em bất hòa, khóc cho thảy đều cơ nhỡ.


Sống, mẹ lấy máu huyết mình nuôi con. Chết, mẹ làm cho những đứa con được mẹ hàn gắn những tổn thương xích mích. Mẹ là Trời biển.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Nhà báo kì cựu.




[2] Tức nhà văn Nguyễn Hoạt.




[3] Tức mục Nói hay đừng rất ăn khách trên các báo, do Hiếu Chân thường phụ trách hồi đó, nội dung châm biếm về chính trị.




[4] Tiếng Quảng Đông, chỉ món dái dê.




[5] Tổng trưởng Thông tin Văn hóa một thời gian sau đảo chính 1-11-1963.


 




(1), (2) tên hai nhà thơ hay viết cho Gió Nam hồi đó (1970).




[6] Hoài Âm hầu là tước của Hàn Tín bấy giờ.


 




[7] Nguyễn Tường Tam (nhà văn Nhất Linh), lãnh tụ của anh Tùng và anh Diễn, đã vì chống Diệm mà chết.




[8] Thể và Tướng là hai phạm trù của triết học Phật giáo.




[9] Hai cán bộ Quốc dân đảng lúc ấy ở Sài Gòn.




[10] Tên nhân vật trong Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung.


 




(1) Tên quay nôi của 5 anh em còn lại của chàng.




(1) Câu đầu của bài Đạo Thục Nan của Lý Bạch. Nghĩa: Đường vào Thục khó ôi! Đường vào Thục khó hơn đường lên trời.




(2) Trích một mẩu chuyện trong Đông Chu Liệt Quốc.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 23.05.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 11.05.2018
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 07.05.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 07.05.2018
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 07.05.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
xem thêm »