tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22625128
20.04.2018
Lại Nguyên Ân
Nhà thơ Nguyễn Bính từng có hai người vợ miền Nam!


Lại Nguyên Ân: Bài báo này – viết từ 2005- chỉ mang tính chất một bài đính chính.


Sở dĩ người viết những dòng này thấy cần đính chính là vì, gần đây, sau khi báo chí nói về việc ra mắt một cuốn hồi ký của một phụ nữ Nam Bộ mà một đoạn đời trong kháng chiến chín năm (1946-54) từng gắn với nhà thơ Nguyễn Bính (1916-1966), một vài nhà báo đã nhân đây có những bình tán dài dài, theo mạch đó người đọc đang bị dắt dẫn tới gần những điều xa sự thật.


Chẳng hạn bài của Việt Trần trên Văn nghệ công an ra ngày 6/12/2005. Bài viết ấy gây cho người đọc cái cảm tưởng rằng người phụ nữ vừa công bố cuốn hồi ký kia là “người vợ miền Nam” duy nhất của Nguyễn Bính. Mà sự thật không phải như thế. Sự thật là nhà thơ thành Nam (Nam Định) đã từng có tới hai người vợ miền Nam!


Tất nhiên các nhà báo trẻ sinh trong vòng vài ba chục năm trở lại đây không dễ mà biết được những việc như thế này; nhưng đã động bút vào thì phải tìm hiểu thêm chứ đừng chỉ nghe một nguồn duy nhất.


Cách gọi “người vợ miền Nam” là do chính Nguyễn Bính đưa ra từ 1955 khi cho in cuốn Gửi người vợ miền Nam, một bài ca dài, có thể coi là thuộc về những trang mở đầu cho bộ phận văn học ở miền Bắc sẽ được gọi là “văn thơ đấu tranh thống nhất”:


Thư một bức nghìn lời tâm huyết


Đêm canh trường thức viết cho em


Bồi hồi máu ứ trong tim


Chảy theo ngọn bút hiện lên thư này


Thư mọc cánh thư bay khắp ngả


Rộn muôn lòng hoa lá xôn xao


Thư đi núi thẳm đèo cao


Bay qua giới tuyến đậu vào tay em


Em bắt được hằng đêm em đọc


Cánh thư vàng em thuộc từng câu


Ru con nhà vắng canh thâu


Nghe trong tiếng hát tình nhau thơm lành…


Chính trong bài ca dưới dạng bức thư dài ấy, Nguyễn Bính kể lại sự gặp gỡ, tình yêu và cuộc hôn nhân trong kháng chiến ấy.


…Nhớ lại buổi chúng mình gặp gỡ


Xanh bóng dừa bỡ ngỡ nhìn nhau


Cắn môi nói chẳng nên câu


Ai hồng hai má nghiêng đầu làm thinh


… Buổi công tác thuyền anh ghé bến


Anh ngập ngừng em thẹn quay đi


Mẹ rằng mẹ chẳng đòi chi


Đã người kháng chiến mẹ thì cho không


Chẳng mai mối cũng không lễ lạt


Đám cưới mình tiếng hát vang sông


Trầu xanh têm với vôi nồng


Đêm trăng xuân ấy vợ chồng sánh đôi


Có lẽ không ít người trạc tuổi như tôi từng thuộc lòng bài ca này. Tôi cũng vậy. Có điều tôi không hề biết rằng, khi kể chuyện mình vào thơ, Nguyễn Bính đã ghép chung hai cuộc tình lần lượt với hai người phụ nữ Nam Bộ vào một nhân vật “người vợ miền Nam” trong bài ca ấy; điều này chỉ tới giữa những năm 1980 trở đi tôi mới được biết, thông qua những người như cụ Trúc Sơn Hoàng Chư, bạn thơ của Nguyễn Bính từ những năm trước 1945 (cụ Trúc Sơn tức kỹ sư Hoàng Chư nhiều năm phụ trách một đơn vị thủy văn, đóng tại phường Vĩnh Tuy, gần nhà tôi, nên tôi có dịp quen biết và được cụ kể cho nghe một số chuyện về Nguyễn Bính – LNA chú), một số bạn văn ở Nam Định, và nhất là ông Hoài Việt, người biên soạn cuốn sách Nguyễn Bính, thi sĩ của yêu thương (Nxb. Hội Nhà Văn, 1992) mà tôi là người biên tập đầu cuốn.


Trở lại bài ca "Gửi người vợ miền Nam", ta sẽ cảm thấy rằng khi tác giả kể về sự gặp gỡ nên duyên thì ông có vẻ như thiên về sử dụng “tài liệu” của cuộc hôn nhân thứ nhất, nhưng khi ông kể đến việc sinh con thì có vẻ lại sử dụng “tài liệu” cuộc hôn nhân thứ hai, rõ nhất là chuyện đặt tên con :


…Trải chín tháng mười ngày mong mỏi


Sớm đầu xuân ấy buổi khai hoa


Hương Mai tên xóm quê nhà


Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai


Anh nghỉ phép đôi ngày đốn củi


Em chong đèn đốt muỗi cho con


Chuyền tay chồng nựng vợ hôn…


Chính ông Hoài Việt cho biết: Hương Mai là cô con gái thứ hai của nhà thơ Nguyễn Bính; cô là kết quả cuộc hôn nhân thứ hai của nhà thơ sau thất bại của cuộc hôn nhân thứ nhất.


Hồi năm 1992, chị Hương Mai là cô giáo dạy học ở Bến Tre, sau đó làm thanh tra của Sở giáo dục. Có lẽ chị Hương Mai không thích xuất hiện trước công chúng để nói về người cha thi sĩ quá cố; bà mẹ đã sinh ra chị cũng vậy; đây là một nề nếp nên được tôn trọng, song cũng vì thế người con gái thứ hai này của nhà thơ Nguyễn Bính ít được công chúng biết tới.


Còn người phụ nữ miền Nam đã cùng Nguyễn Bính trải qua cuộc hôn nhân đầu tiên, cố nhiên bà đã từng là một “người vợ miền Nam” của nhà thơ Nguyễn Bính. Tuy vậy cũng phải nói thật rằng cuộc hôn nhân ấy đã có dấu chấm hết rõ rệt từ rất sớm.


Chẳng biết bằng cách nào, một số bạn văn ở Nam Định những năm 1960-70 đã bảo rằng họ từng được xem mấy bản đánh máy và viết tay tờ ly hôn giữa Nguyễn Bính với “người vợ miền Nam” đầu tiên ấy.


Rồi giữa những năm 1990, chính tôi cũng được thấy hai bản chụp (photocopy) tờ viết tay đồng ý ly dị nhau và trao trả nhà và đồ vật, có chữ ký của cả hai người ngày 28 tháng 2 năm 1952; cạnh đó là “Tờ Thuận Ly” đánh máy có chữ ký của hai người và xác nhận của Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh huyện Cà Mau tỉnh Bạc Liêu ngày 3 tháng 8 năm 1952.


Chính hai người em ruột nhà thơ Nguyễn Bính là bà Yến và ông Cơ đã đưa bản chụp mấy thứ giấy tờ này cho chúng tôi ở Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, kèm theo những đề đạt liên quan đến phần nhuận bút các tác phẩm của Nguyễn Bính được in lại.


Về việc đó, nhà xuất bản Hội Nhà Văn cố nhiên đã trả lời theo hướng phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành lúc ấy. Nhắc đến những giấy tờ trên chỉ là để cho bạn đọc biết rằng sau cuộc hôn nhân thất bại (vợ chồng chính thức ly hôn nhau trước khi sinh con) với người phụ nữ miền Nam thứ nhất, nhà thơ Nguyễn Bính đã có thêm một cuộc hôn nhân với một phụ nữ miền Nam khác nữa, cũng đã kịp sinh con trước khi ông ra Bắc tập kết. Và như vậy, chung quy Nguyễn Bính có tới hai chứ không chỉ một người vợ miền Nam. Bạn đồng nghiệp nhớ cho điều ấy.


Và đấy là ta còn chưa nói đến “người vợ miền Bắc” sau này của Nguyễn Bính.


Hà Nội, 14/12/2005


Lại Nguyên Ân/ facebook ngày 18-4-2018.



Năm 2005 khi tôi đăng bài báo này, cũng bị phản ứng tương tự. Lúc đó còn lý do bà Hồng Châu còn đó, nghe lại sự thật có thể ảnh hưởng sức khỏe người già. Nhưng nay thì không còn lý do đó. Xung quanh một tác gia nổi tiếng, các chi tiết sự thật về tiểu sử cần được thông tin chứ không nên bị ém nhẹm. Bọn tôi khi làm ở Nxb Tác phẩm mới (sau là NXB Hội Nhà văn) còn nghe nhiều lời phàn nàn của bà Yến ông Cơ xung quanh việc mua lại vườn đất và dựng nhà lưu niệm ở quê, nhưng khỏi viết lại ở đây.


NHẮC LẠI Ý KIẾN ĐÃ VIẾT TỐI QUA, 19/4/2018:


Tôi thấy người nước ta thường có kiểu phản xạ rất lạ, là khi thiên hạ hỏi nhau những sự thực của các quan hệ hôn nhân hay bạn bè người nào đó ra sao, nhất là những tên tuổi nổi tiếng, thì những người thân lập tức kêu khóc rầm rĩ, làm như thiên hạ đang bới lông tìm vết cha mẹ mình!


Xin thưa: nếu người là cha mẹ bạn không phải những nhân vật có ảnh hưởng xã hội, không phải nhà thơ nhà văn, ... thì thuê gì người ta cũng chả bàn bạc hỏi han làm gì!


Còn đối với nhân vật nổi tiếng, nhất là nhà văn nhà thơ có đóng góp đáng kể cho văn chương nước nhà, - thì cả người nghiên cứu lẫn công chúng văn nghệ nữa, mới quan tâm tìm hiểu! Mà đã tìm hiểu thì người ta tìm tới sự thực chứ không muốn chỉ nói những gì thân nhân tác gia mong muốn! Bởi nhà thơ kia là con người thực, có những sự sống thực, mắc mớ những éo le thực, thì mới đích thị là người mà những sáng tác thơ văn kia đã mê hoặc độc giả!


Làm sao cứ bịa ra điều này, che khuất sự kia, làm sao cứ giận dỗi lăn đùng ra khi thiên hạ nói với nhau về những liên hệ rắc rối đã xảy ra trong đời thực của cái ông nhà thơ mà người ta vẫn yêu mến?


Chả lẽ là con cái mà cũng sợ những sự thực của chính những người sinh hạ ra mình?


Tôi không tán thành tâm trạng hơi bệnh bệnh ấy.


Tôi cho là nhà nghiên cứu có quyền nói rõ những sự thực trong cuộc đời nhà thơ đã quá cố, không cần tô vẽ, che đậy những điều có thực!


Đối với một tên tuổi như Nguyễn Bính, theo tôi, cúng giỗ linh đình cũng chả hay bằng thảo luận cho sâu về những phạm vi ảnh hưởng của sự nghiệp thơ văn của ông.


Nên thấy, ông là tác giả người Bắc đã ảnh hưởng nhiều nhất, rõ nhất, sâu nhất đến các giới sáng tác và công chúng Nam Kỳ. Ở điểm này thì không nhà thơ mới nào so được với ông, - cả Hàn Mặc Tử, cả Xuân Diệu, chứ những người khác thì chả ăn nhằm gì!


Lẽ ra trong dịp này, các bạn nên tìm đến, tìm ra những người có thể chỉ ra cho ta những ảnh hưởng như thế, chứ không phải làm cỗ cho to rồi thay nhau lạy tạ, suýt soa ca tụng cụ một hồi, sau cùng ngả ra đánh chén cụng ly zô zô với nhau! Làm thế thì còn nông cạn lắm!


Cách nay trên mười năm, có bạn từ miền Tây Nam Bộ hỏi tôi: ông Nguyễn Bính làm kinh cho Hòa Hảo nữa đấy, nhà nghiên cứu LNA có biết không? Tôi bảo tôi chưa biết nhưng rất muốn biết. Xin các vị biết những việc tương tự hãy nói ra!


Còn tôi, nhớ lại hồi những năm 1960 ở miền Bắc đọc tập "Gò Me" của một nhà thơ Nam Bộ tập kết, tôi rất lạ vì các câu thơ lục bát chả khác giọng Bắc chút nào: "Ruộng vây quanh bốn mùa bát ngát/ Lúa Nàng Keo chói rực mặt trời/ Ao làng trăng tắm mây bơi/ Nước trong như nước mắt người tôi yêu...".


Nay tôi nhớ lại và chắc chắn thơ lục bát xen song thất trong tập ấy là dấu ấn ảnh hưởng Nguyễn Bính, mà "chịu" ngay trong hồi 9 năm ở Tây Nam Bộ, chứ thơ in ra ở Hà Nội đầu 1960s ấy chỉ là biểu hiện kết quả mà thôi. Chưa có, không có nhà thơ đất Bắc nào ảnh hưởng được đến giới làm thơ Nam Bộ được như Nguyễn Bính.


LNA/ facebook sáng 20-4-2018



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hãy để Nga được là Nga - Shlomo Ben-Ami 21.05.2018
Đảng cộng sản có thể tồn tại bao lâu nữa ở Trung Quốc? - Tư liệu sưu tầm 18.05.2018
Vần đề Đảng cộng sản trong Hiến pháp Trung Quốc - Hồ Anh Hải 18.05.2018
17/05/1970: Hải trình chứng minh người châu Phi cổ đại từng tới châu Mỹ - Tư liệu sưu tầm 17.05.2018
Krill oil: Nguồn dinh dưỡng quý giá nhất Nam Cực - Tư liệu sưu tầm 15.05.2018
Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn - Tư liệu sưu tầm 14.05.2018
Sông Đồng Nai - Tư liệu 09.05.2018
07/05/1960: Brezhnev trở thành Chủ tịch Liên Xô - Tư liệu sưu tầm 07.05.2018
Vài nét về tôm sú và tôm thẻ chân trắng, cách nhận biết tôm biển và tôm nuôi - Tư liệu sưu tầm 07.05.2018
Hawaii - Tiểu bang của Mỹ - Tư liệu 07.05.2018
xem thêm »