tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22307402
Tiểu thuyết
10.04.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


Hôm đó không hiểu sao trời âm u, nhằm ngày hăm hai tháng Hai âm lịch. Từ đường Trần Hưng Đạo, đối diện nhà thờ, đám ma đông đảo kéo dài tới tận núi Bút và mẹ nằm ngủ dưới chân hòn Đá Chẻ- Bầu Giang, bên một bụi tre còi, giữa những mả mồ xa lạ. Quay đầu về núi, mẹ nhìn xuống một hồ sen nhỏ. Lần này thì năm người con trai, đứa cháu đích tôn và mấy người con dâu, khăn tang áo sô đi trắng đường. Người ta nói mẹ có phúc, ai biết đâu rằng, cũng như mọi kẻ trên thế gian, đời mẹ vẫn đầy bi kịch khi từ một tiểu thư con quan, mẹ đã phải chấp nhận cuộc sống dân dã với những khắt khe của một gia đình cổ hủ thôn quê gồm đông đảo chị em chồng.


Lũ con mẹ toàn là trai có cố gắng học hành cũng chỉ mang lại cho mẹ một chút an ủi nhỏ nhoi không đủ bù lại những đau khổ ngấm ngầm mà mẹ đã gần ba phần tư thế kỉ chịu đựng. Anh Cả mắt sưng húp, già khọm đi dù mới năm mươi tư. Cuộc đời của anh bao bất hạnh, gia tài duy nhất của anh là mái tóc bạc của mẹ già. Có những sáng tinh sương, anh ngồi hầu mẹ một chung trà, nay thì mẹ ơi, tất cả trở thành quá khứ. Tiếc nuối đến đâu thì mẹ cũng đã ra nằm ở bãi tha ma.


Nán lại quê sau khi cúng bái thất đầu, chàng và anh Bảy phải vào Sài Gòn: các trường đã mở dạy lại. Một bàn thờ vọng được thiết lập sơ sài ở nhà chàng, đường Hàng Keo, anh em bầu bạn đã tới phúng điếu và đăng phân ưu trên báo. Nhân dịp đó, chàng cho các con phục khăn.


Thằng bé, mới ba tuổi khóc từ chối việc người ta quấn lên đầu nó chiếc vải mấn chẳng có gì đẹp đẽ lại gây lúng túng khó chịu nhưng khi thấy bông hoa sặc sỡ trên bàn thờ đèn nến sáng choang và cỗ trái cây cam, lê, táo, nho đầy màu sắc thì nhảy cẫng lên vui mừng sắp được ăn ngon. Chị Thanh Quế, người bà con bạn dì bên phía mẹ nó đã mời một vị sư người Huế từ chùa Già Lam đến tụng kinh. Vài người láng giềng, như chị Truyền, chị ruột Tấn, cụ bà Phạm Văn Mùi, phu nhân một nhiếp ảnh gia nổi tiếng và bà Hai bán thịt đại diện cho cái nhìn của Phật tử ba miền Bắc, Trung, Nam khen ngợi mãi là giọng của thầy nghe hay, thánh thót làm sao giữa đêm khuya, chắc sẽ bay lên tận Niết bàn, cùng lúc với linh hồn khả kính của bà nội lũ trẻ.


Sau Mậu thân, Thiệu đôn quân bắt lính, số thầy giáo trong hạn tuổi phải bỏ trường đi Thủ Đức rất nhiều. Ngoài số giờ bắt buộc, chàng phải gồng mình dạy thêm, đến nỗi ngày nào cũng đầy ắp hai buổi và cả tối nữa. Phổi bán gấp đôi thì cũng có số tiền gấp đôi mà giúp thêm cho một số học sinh nghèo nữa, lại mở thêm được những mối quan hệ mới. Chàng sang tận Chân Phước Liêm để có cơ hội quen biết cha Đinh Châu Trân, Hiệu trưởng, Tiến sĩ toán từ Pháp về, tuy không xông xáo như cha Từ, cha Bích nhưng vẫn rất cấp tiến. Rồi qua việc cứu trợ, chàng gặp cả những người Mỹ, Nhật đang làm công tác xã hội ở Đông dương: linh mục John Mc Weight, mục sư Perry Smith, Yamashita nhất là đám Tin lành phản chiến Menonite, Quaker. Hồi đó Thiệu cho lệnh tòa án mang ra xử cha Huỳnh Công Minh và Thượng tọa Thiện Minh, kết tội họ là chống chính phủ, làm lợi cho Việt cộng để dĩ giới hai tôn giáo lớn ở miền Nam bấy giờ. Cha đạo năm năm, thầy chùa bảy năm tù.


Linh mục Minh mang án khiếm diện, chàng và mục sư Châu, sau một hồi bàn tính đã giúp ông đào tẩu bằng cách đang đêm dắt cha Minh xuống ẩn náu ở chùa Linh Sơn của Hòa thượng Nhật Minh, người may mắn có một đệ tử sùng đạo là Hải quân Đề đốc Trần Văn Chơn, đủ sức bao che cho những vụ ẩn nặc kiểu đó.


Cái công dầm mưa dãi nắng hốt từng bụm bùn đắp nền và chạy rông khắp nơi xin từng đồng bạc mua vật tư của chàng và Đại đức Tâm Quang đã mang lại kết quả là tại xóm du đãng Cây Da Sà, phường 13 quận 6, đã mọc lên một ngôi trường nhỏ ba lớp. Vì đang đi dạy trường công, chàng phải mời anh Nguyễn Văn Châu, một nhà giáo già đồng hương gốc Trốtkýt đứng làm hiệu trưởng. Số con em nhà nghèo cùng cực ở đây thay vì đánh lộn, chửi thề, nay đã có cơ hội bước vào Trung học miễn phí mang tên Anoma, dòng sông mà cách đây hơn hai ngàn năm Đức Phật đã dừng chân thuyết pháp. Nhưng không phải chỉ có thế. Chàng dư hiểu rằng rồi ra sẽ đến lúc nào đó mình được yêu cầu dựng lên một ngọn cờ đấu tranh cho hòa bình và cơm áo thì phải được sự tiếp tay của bao người, trước tiên và tin cẩn hơn, phải là những người theo đạo Phật và có ơn nghĩa thầy trò.


Đành rằng đã có Tổng đoàn Thanh niên tăng ni của thầy Thông Bửu với đám anh em Xuân Sơn, Bảy Việt đang mai phục tại đó và mới đây, lưu học xá Huyền Trang ở đường Lạc Long Quân đã hoàn thành như một nơi ăn ở đi về cho một số tăng sinh trẻ, có trình độ đại học, đầy nhiệt huyết, chàng vẫn chưa hình dung ra cái gì nó chờ đợi mình vài ba năm nữa. Lúc nào chàng cũng có cảm giác là việc mình làm chưa cố hết sức, chưa đủ đô, chàng luôn có cảm giác phải gầy dựng, nhân nhiều ra mãi cái vốn con người mà sách vở luôn nhắc nhở: con người là yếu tố quyết định.


Chàng lặn lội sang xóm Chùa- Tân Định, Hòa thượng Thiện Tường, nhân vật hiếm hoi đang đứng về phía thầy Tâm Châu có thể là một vỏ bọc tốt và chùa Vạn Thọ (quận I) của ông có thể là nơi dung trú khá an toàn cho một bộ phận chống đối mà chính quyền sẽ không để ý tới. Tại đây đã có hơn mươi nhà sư trẻ đang chọn thi tú tài. Chàng nói với họ: – Mấy ông ráng kêu thêm cho được vài ba chục để khỏi quá tiếc công giảng dạy. Tôi sẽ nhờ một người bạn giúp cho môn Anh văn, còn tôi Văn và Triết học. Chữ Nho thì hàng ngày các thầy tụng kinh chữ Hán đã dư sức giỏi. Sử Địa, Công dân thì đương nhiên... tự túc! Có chí thì nên, vượt được cửa ải này, các ông lo gì không cắp sách lên Đại học Vạn Hạnh[1]?


Thế là, hai lần mỗi tuần, trên dọc đường gió bụi dài thọc, như chàng tự đùa cợt, từ trường Chu Văn An ra, sáu rưỡi chiều chàng đã có mặt ở Vạn Thọ, nhiều khi gần mười giờ đêm còn lội lõm bõm trong con hẻm gần bờ sông, trời tối om, nước lên tới háng, xe Honda tắt máy phải dắt dò từng bước một giữa cơn mưa cuối mùa như thác đổ để về nhà, cơm canh lạnh ngắt, lắm khi chàng tự trách mình ham hố, tự dưng việc ngoài đàng mà quàng vô cổ, tự chuốc lấy cái khổ. Nhưng rồi lại tự trấn tĩnh ngay: biết đâu cái nghiệp mình sinh ra để làm việc ấy, mà không thì cũng phải vương lấy cái khác có khi còn nặng nề hơn.


Quả nhiên, sáu năm sau, khi chàng tổ chức Mặt trận Cứu đói, mấy nhà sư Bắc kỳ ở đây đã giúp chàng nhiệt tình thay vì tố cáo chàng là Cộng sản và gắt gao lên án.


Vài năm cuối thập kỉ sáu mươi, Sài Gòn mới nhập khẩu kiểu làm siêu thị. Một hôm chàng ghé chơi nhà anh bạn bác sĩ, Tổng trưởng Bộ Xã hội Trần Ngươn Phiêu. Trên đường, chàng gặp người bạn học cũ là Đoàn Thế Hanh. Anh ta cho biết mình đang quản lý siêu thị Chu Mạnh Trinh. – Super market, đó là cái gì? - Chàng hỏi.


Đốp chát như hồi còn bé, Hanh đáp: – Mày dốt quá. Chợ. Ai có hàng gì, đề giá rõ ràng, đem tới gởi, tao bán cho, được bao nhiêu trích hoa hồng đến đó. Ngu ngơ như anh Mán ra phố, chàng lại tò mò: – Đã có những mặt hàng gì? – Đủ hết rồi, à quên, thiếu bánh đậu xanh kiểu ngoài mình. Hanh khuyến khích: – Nếu bả không chê là vất vả và ít lời, thì mày cứ bảo bả mai xuống đây. Nhớ viết cho tao vài chữ vô các vi dít. Hồi giờ tao chưa gặp bả. Chàng bắt tay cảm ơn bạn.


Mấy tuần sau, nhà chàng trở thành một trong những nơi sản xuất bánh đậu xanh bỏ mối cho siêu thị Chu Mạnh Trinh và những chợ khác. Mua đậu, đãi vỏ, nấu chín, dùng đũa bếp đánh cho nhuyễn, thắng đường cho vào, ráo khô vừa phải, viên thành hòn bi, phong giấy đủ màu đẹp đẽ có tua ngũ sắc, vào bao và cân ký cung cấp cho nơi bán. Hai đứa cháu con người chị vợ mất sớm và ba đứa con chàng từ bảy đến mười hai tuổi, cộng với vợ chàng, và thằng Bân, cháu, đang ở vừa kèm trẻ vừa học đại học, kiêm võ sư của mấy nhóc. Tất cả vừa chuyên trách, vừa nghiệp dư, nhà sản xuất này có sáu công nhân. Buổi chiều, đi học về, mỗi người phải tham gia gói bánh một tiếng trước khi luyện Thái Cực Đạo, tắm rửa, ăn cơm rồi học bài.


Xí nghiệp phải có tên. Lúc đầu chàng toan sính tài văn chương, đi in nhãn đề một thương hiệu rất kêu: Quê Hương. Nhưng tất cả các thành viên tí hon trong gia đình đã nhao nhao phản đối: Cái tên sao không ngửi được mùi gì hấp dẫn hết? Bánh đậu xanh đại bổ đi,con gái chàng, Hoàng Lan lém lỉnh phát biểu. – Không được, nhà ta gần chùa Huê Nghiêm, phải để tên bánh đậu xanh Huê NghiêmKem nói.


Chàng phì cười: Nếu căn cứ vào nét đặc biệt của nhà này mà đặt tên thì phải là: Cầu cá. Cả xóm ta không có cầu cá là... bí.


Mấy đứa con bịt mũi chạy tán loạn, như đang ở giữa cơn dịch. Vợ chàng bèn can thiệp:


– Chuyện làm ăn đàng hoàng mà ông cứ đem ra đùa chơi. Tôi chỉ làm cho cơm ăn áo mặc của con tôi. Vậy nó mang tên của Kem, tức Hoa và Lan: Bánh đậu xanh Hoa Lan. Đơn giản vậy thôi.


Quả là lệnh ông không bằng cồng bà.


Có người ngoài quê vô chơi, thấy nhà chàng thức dậy hồi năm giờ sáng và chiếc xe Honda ngoài việc chàng dùng đi dạy, có lương lẫn làm phước, chàng gọi đùa là giáo thí, còn dùng hội này họp nọ, nhất là đi mua đậu, đường và chở bánh đi bỏ mối, rộn ràng ra phết. Em chàng nghe nói, viết thư vào mừng cho gia đình anh ăn nên làm ra!


Bấy giờ Thiệu – Kỳ mâu thuẫn tới mức phải bí mật ra những ngón đòn độc nhất hạ thủ nhau, dù trên danh nghĩa họ vẫn là Tổng thống và Phó tổng thống. Tống thống Mỹ Johnson đã tuyên bố không ra ứng cử và tính tới việc hội đàm với Cộng sản nên rất lo lắng cho sự hục hặc giữa hai người này. Trong cuộc oanh kích đền Minh Phụng quận 6, mấy tướng tá chân tay thân tín nhất của Kỳ bị máy bay bắn chết[2].


Phan Trọng Chinh rất may không có ở đó. Anh được thăng Trung tướng và đưa lên làm Tổng cục trưởng Quân huấn, trở thành tướng bàn giấy Không quân nhẹ hều, chỉ trông coi mấy cái quân trường và trung tâm huấn luyện vớ vẩn.


Thầy Lê Tá ở Phan Rang có người con trai là Thạch cũng bị bắt lính. Biết chàng chơi thân với Chinh, thầy nhờ nói cho Thạch về trung tâm huấn luyện Quang Trung thay vì phải ra trận. Chinh vui lòng giúp. Để trả ơn, thầy mua tặng chàng một chiếc đồng hồ Omega chính danh hàng hiệu bấy giờ, chàng từ chối mãi không được. Thế là cái đồng hồ Viller lâu đời, có từ hồi ra Huế mười ba năm xưa đã trở thành đồ cũ, chàng mang cất vào tủ sách.


Thằng Văn đã lên trung học, thấy bạn bè mình đứa nào cũng lấp lánh trong cườm tay một cái đồng hồ bèn phân bì nói với mẹ nó. Nhân bữa chàng có giờ dạy, nàng ở nhà ra công lục tủ kiếm chiếc đồng hồ cũ cho nó.


Thiên bất dung gian, từ đống vở cũ không xuất hiện cái vật đang tìm mà lại lòi ra một bức thư nét chữ thanh thanh. Tò mò, nàng ngồi đọc. Tuôn trào theo những dòng lệ được Thanh Quan kể ra trên trang giấy hơn một năm trước là những dòng nước mắt ghen tuông của vợ.


Nhưng trong cái rủi có cái may: đó chỉ là bức thư mà Thanh Quan viết cho chàng hồi mới gặp nhau. Nàng kí tên Tikiou và nói rằng sau những lần đi chơi trở về trong sự cô đơn, nàng xốn xang nhớ chàng, có khi vùi đầu vào gối khóc ròng. Thanh Quan cho biết đã mua vải tặng chàng chiếc chemise mới và kêu gọi chàng hãy đến với mình một sáng Chủ nhật đẹp trời nào đó để cùng đến Diễm’s[3].


Vợ chàng đọc đi đọc lại đến thuộc lòng từng cái dấu phẩy. Nàng dùng viết chì gạch nát nhiều chỗ, rồi cẩn thận gấp làm tư, cho vào chiếc ví tiền, vật bất ly thân của mình. Rồi nàng lên giường trùm mền, rung lên trong nức nở, bỏ cả cơm chiều.


Cặp sách trên vai, tóc tết bím, đứa con nhà giáo nghèo, bé Lan mới bảy tuổi đang tưng tưng vui vẻ đi học về. Trông thấy mẹ vậy, nó hết hồn, tưởng mẹ bệnh, đưa tay sờ vào trán thấy nóng hổi, vội vã lấy dầu thoa. Hỏi, mẹ nó không thưa. Kinh sợ, con bé lẳng lặng nằm xuống bên cạnh. Một chặp, nó ngủ luôn bỏ ăn tối. Rồi mọi sự cuối cùng cũng phải nói toạc ra. Chàng thanh minh việc xảy ra đã lâu và thề bán mạng là chẳng có chi:


– Cô này, Tikiou tức Thị Kim, tôi gặp trong một kì chấm thi và cổ đơn phương yêu tôi, nay thì nàng đã có chồng con, đổi lên Đà Lạt ở một năm rồi, chẳng rõ địa chỉ.


Áp dụng chiến lược của Bình, vừa nói dối, vừa xài cái khả năng tình dục mạnh mẽ trời cho của mình. Lúc đầu nàng cũng ngoe nguẩy từ chối nhưng chàng cố kiên nhẫn vuốt ve, dần dần nuôi sự hứng thú làm nàng từ thái độ quyết liệt phản đối, tẩy chay, bất hợp tác ban đầu tới xụi lơ không động đậy rồi ham muốn tột độ và đáp ứng cuồng nhiệt, run rẩy đến rên xiết ghì lấy chàng đòi hỏi cực điểm khoái lạc. Trong no nê của thể xác, nàng mê mẩn không còn nhớ gì về bức thư nữa. Chàng lại làm tình và rúc đầu vào tóc nàng hứa hươu hứa vượn những lời chung thủy trên trời dưới bể. Yêu nhau lắm cắn nhau đau. Nàng đã mang thai thằng Phú Nhuận vào đêm đó. Chàng thừa lúc vợ ngủ say, mò lấy bức thư, rón rén mang xuống bếp nhóm lửa đốt, phi tang bằng chứng vụng trộm của mình.


Trời đánh thánh vật mình đithỉnh thoảng chàng tự nguyền rủa như vậy. Trước khi có một lời thề độc đáo nào đó để nàng yên tâm làm ăn nuôi con cho mình rảnh rang theo đuổi bao công việc, chính đáng lý tưởng có, bê bối, dâm ô có. Như: Nếu anh có tằng tịu với cô đó thì hộc máu ra mà chết hay ra đường bị xe cán nát đầu. Bao giờ chàng cũng vái thầm: Thần linh ơi, tôi ham mê gái đẹp và rong chơi lắm. Nhưng tôi cũng cố làm điều hữu ích cho đời. Xin ngài bù qua xớt lại mà châm chước cho tôi. Ngài đừng bắt tôi hộc máu hay bị xe cán tội nghiệp, tất cả những gì tôi hứa với nàng sau đây toàn là xạo đó thôi. Và chàng đột nhiên cười một mình. Nàng trấn áp ngay: Đã thề mà còn mỉm cười, chắc không thật quá. Chàng nói: Tấm lòng thành của anh thấu trời, không vậy thì tại sao ngài lại đem em ban cho anh? Và nàng khoái chí cười tít, huề cả làng.


Nhưng nói vậy chớ nàng chưa chịu yên đâu. Sáng ra, ngồi rửa ráy, thấm ngấm cảm giác sung sướng như còn bò rần rần trên da thịt, nàng càng thấy được chồng, ôi cái ông chồng bẻm mép, dạy học một số nữ sinh mê, có tài làm thơ, thu hút mọi người trong các cuộc đàn đúm lẫn hội họp nghiêm chỉnh được cái ông chồng đó ân ái, chết lịm đi trong vòng tay và đôi môi tham lam của chàng với cái sức sống hoang dã của giống đực, mà khả năng truyền giống còn nguyên vẹn mạnh mẽ thời tiền sử, thì là hạnh phúc lớn lao đến đâu! Và quyết là không thể nào san sẻ cho ai được. À, phải rồi, hồi mới đám cưới, mẹ có cho hai chiếc khâu nhẹ tênh. Năm thất nghiệp ở Huế, anh ấy đã bán đi độ nhật, chỉ còn chiếc này mình vẫn đeo trên ngón tay, trong khi ở anh ấy không có dấu vết gì chứng tỏ là đã có gia đình. Không được. Nàng đang nghĩ ra một cao kế.


Một sáng, biết chàng nghỉ dạy hai giờ đầu, nàng nhờ chồng thồ đi công chuyện. Nhưng không nói đi đâu, cứ chỉ về hướng Phan Đình Phùng. Ai dè tới gần Nha Thông tin nơi có người bạn thân là Phưởng đang làm việc, nàng bảo dừng lại. Biết mình đang là một tội đồ, chàng nhất nhất tuân lệnh không dám hé răng. Nàng hỏi thăm phòng và đi vào. Một lát sau nàng cùng Phưởng ra chiếc băng đá dưới gốc cây sao, vẫy chàng đến: Em đã nói chuyện hết với anh Phưởng. Ảnh là người bạn thân nhất của gia đình. Trước mặt ảnh, anh hứa đi, là không bao giờ còn mèo chuột gì nữa, gây khổ cho vợ con. Chàng mắc cỡ, chỉ biết gật đầu. Nàng mở bóp, lấy ra hai chiếc khâu vàng 24 kara: Đây, có sự chứng kiến của anh Phưởng, chúng ta đeo nhẫn cho nhau, mong thần linh thổ địa chứng giám. Chàng chực nhìn, quả có chiếc am gần đấy, mà một kẻ mê tín nào đó đã dựng lên thờ vong hồn người chẳng may bị tai nạn xe cộ chết ngay tại chỗ này. Chàng ngoan ngoãn tra ngón tay đeo nhẫn trái vào chiếc khâu. Nàng mời Phưởng đến phở Trương Minh Ký gần nhà Chinh ăn hấp hôn mỗi người một tô. Dùng đũa khuấy hai quả trứng gà vàng đặc được kêu thêm, chàng tươi tỉnh lấy lại phong độ, lại đùa:Món này là cho tuần trăng mật phải không? Nàng quay mặt đi, che một nụ cười e thẹn. Thế là mọi việc yên ổn hết. Sóng gió đã qua. Nhưng chàng đã giấu giếm vợ và bạn một điều: Khi nãy, lúc chở vợ lên gặp Phưởng, chàng thấy Thụy Vũ[4] đi vào. Chàng hỏi Thụy Vũ đi đâu? Vũ nói nàng vô xin kiểm duyệt cho cuốn truyện mới. Rồi Vũ chìa cho chàng một tập bản thảo: Lao vào lửa. Hỏi: Viết về chuyện gì? Đáp: Mình ở trong xóm me Mỹ. Đứa làm gái, đứa làm vợ đàng hoàng. Chúng không biết chữ, nhưng nói thì rất giỏi. Vừa rồi, tụi nó về nước. Tuần nào các mary sến cũng nhận được thư từ các đấng lang quân mũi lõ. Chúng mướn mình đọc, dịch hộ, nhân đó biết được rất nhiều chuyện tình éo le, li kì, rùng rợn mà cũng có khi thật dễ thương, gom lại thành tập này. Miên (bút danh của chàng bấy giờ) có quen ai ở đây, lấy giúp mình cái giấy phép lè lẹ chút. Nhà xuất bản quen với Hồ Trường An nó bỏ tiền. An là em ruột Thụy Vũ, cũng chơi khá thân với chàng trong cánh Hoàng Hương Trang. Chàng sợ vợ ra gấp bắt gặp, vội nói láo: Mình có giờ dạy gấp. Mà ông Giám đốc Nha Kiểm duyệt Nguyễn Thùy ở đây thì mình vừa thấy dắt Vespa ra cổng. Vũ mang về, bữa nào mình tới nhà lấy và làm cho. Chàng làm bộ nổ máy xe. Vũ thấy yên lòng, ngoắc taxi bước lên vừa vẫy tay tạm biệt. Chàng mỉm cười một mình, nhớ lại tháng trước, chàng gặp Vũ. Vũ hỏi: Lâu nay có viết gì không, Miên? Chàng đáp: Có, cuốn Bão, không biết bao giờ mới xong, làm biếng quá. Vũ reo: A! Đa tài quá, làm thơ rồi nay lại viết nữa. Để bút hiệu là gì, lại Ngũ Liên Miên? – Ô, tên đó lâu rồi, giờ đã gặp Thụy Vũ, thì phải mang tên mới chứ. – Gì vậy? Chàng cười rất lẳng lơ: Thược Dược. Vũ dạy Việt văn trường trung học tư, trong chương trình có Cung oán ngâm khúc, thuộc lòng: Chòm thược dược mơ mòng thụy vũ, khóm hải đường thức ngủ xuân tiêu. Nếu chàng là Thược Dược thì chỉ mê mòng Thụy Vũ thôi, chớ còn ai nữa? Vũ nguýt nhìn chàng, không khỏi thấy một cái gì đó rất đáng yêu: Miên lúc nào cũng... phải gió. Chàng nghĩ: Làm cho người ta vui, có tốn gì đâu, mà nói láo như thế vô hại. Các Đấng cứu thế chủ trương những điều to lớn. Mình là con tôm cái tép, bất dĩ tiểu thiện nhi bất vi chi, chẳng vì điều thiện nhỏ mà không làm. Phải không thưa đức Khổng Tử?


Cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Biết bao cô gái con nhà nghèo, nước da trắng muốt, mắt đen lay láy, êm ả như dòng sông Cầu Đập, cánh tay tròn lẳn ngon lành như khúc khoai mì Bồ Đề[5] đã phải bỏ quê theo gia đình bị dồn vào các trại định cư. Chiều đến, các cô son phấn chào mời đám thanh niên vừa bị bắt đi cầm súng. Anh nào cũng khao khát đàn bà, luôn nghĩ rằng, nhỡ ra mình chết đi mà chưa biết cái mùi da thịt con gái nó ra sao thì nhất định nhắm mắt không yên. Xót xa thay, để có cái ăn, nhiều cô đã đem cả trinh tiết của mình chỉ đổi lấy vài ba kí gạo, thậm chí, theo nhật kí của Thái Lãng, đổi lấy mấy cân khoai.


Tháng Năm, lại có chiến sự quanh khu vực Chợ Lớn. Lần này đã quá quen bom đạn, dân Sài Gòn không còn quýnh quáng lên như trước. Một đêm, chàng đang ngủ, khoảng hai giờ sáng thì nghe có tiếng gõ cửa. Hóa ra mười Viết, con út chú ruột chàng. Bàn chân bị một miểng đạn phải băng bó trắng toát, lê bước khập khiễng, Viết oằn vai vác một cái bao. Té ra nó đã đăng lính Thủy quân lục chiến và đơn vị đang được điều về đánh nhau ở quận 6. Bị thương ở chân, nhưng thằng em con ông chú ruột chàng cũng vừa gỡ gạc bằng cách hôi của đồng bào được bộ lư đồng thật to. Nó khấp khởi mang tới nhà chàng khoe, nói xin gửi đó ít lâu và sẽ đem về quê cúng cho nhà thờ ông bà họ Nguyễn Văn.


Chàng thấy tim mình như đau nhói: Chú đi chôn Việt cộng bị bắt rồi đau chết, con chú phải vào lính đánh thuê kiếm sống và cướp của của bà con. Ôi! Sao cái số mệnh của con người Việt Nam chúng ta thời buổi này nhiều oan nghiệt đến thế? Chàng cũng tự cảm thấy chính mình là một nghịch lí: Dạy học, từ năm 50 đến nay, mỗi niên khóa bốn lớp Việt văn thì trải qua mười tám năm trời, học trò cũng đã vượt con số ba ngàn môn đệ của cụ Khổng. Vợ một, bồ bịch vài ba, con cái bốn đứa, hăng say đấu đá, lên đường xuống phố ì xèo, biểu tình chống Mỹ đòi hòa bình, chẳng đặng đừng mà phải làm chính trị cũng vì cảnh đất nước đang cơn hoạn nạn, không làm không được, như cái tâm sự của cụ Phan Đình Phùng:


Cửu trùng xa giá quan sơn ngoại


Tứ hải nhân dân thủy hoa trung.


Học sử kí, thương cảm cho người xưa mà bắt chước cụ bất đắc dĩ nhi vi chi. Lại tập tễnh học đòi làm thơ, viết văn theo như lời cha dạy: Thi giả, ngô gia chi mô hề: Làm thơ, ấy là cái mô thức của bao thế hệ nhà ta. Theo tuổi âm lịch, bước vào cái năm Kỉ dậu này, chàng đã vừa bốn chục. Cổ nhân nói: Tứ thập nhi bất hoặc nghĩa là đến bốn mươi, người ta đã chín chắn, hết nghi hoặc về một số vấn đề cơ bản của con người cuộc sống mà Thánh hiền mỏi công truyền dạy.


Giờ học tất niên, chàng sẵn phấn viết lên bảng đen bài thơ Xuân tứ thập tuế ngẫu cảm tặng học trò:


Gà báo tin xuân tỉnh giấc hồ (Kỉ Dậu 1969 là năm Gà)


Người xưa tuổi tớ hết nghi ngờ (Tứ thập nhi bất hoặc)


Ba ngàn đệ tử, ơn đèn sách (Dám so với cụ Khổng!)


Một gánh thê nhi, nghĩa tóc tơ


Chính trị: chỉ vì cơn quốc nạn


Văn chương là bởi nếp gia mô (thi dã, ngô gia chi mô)


Tin xuân nhắn gửi người tri kỉ


Lời chúc đầu năm một tiếng thơ


Trong số học trò có đứa người Nam bộ, tính bộc trực. Nó hỏi: Nghe nói thầy làm thơ, được vô Trung tâm Văn Bút, vậy thơ thầy có hay không? – Cũng tàm tạm thôi chẳng hay gì. Nó đáp: Nói vậy chớ không phải vậy. Tự cho là không hay, nhưng có ai chê dở là không chịu đâu nhé.


Ban đầu chàng cũng thấy tức thằng bé. Nhưng sau nghiệm ra, nó nói đúng. Chàng tâm phục cái cốt cách ruột gan thẳng thừng của người Nam từ ấy.


Hồi đó, Thiền sư Thích Mãn Giác vừa dạy Trường Vạn Hạnh, vừa làm Vụ trưởng Văn hóa Phật giáo. Thầy giúp chàng tổ chức triển lãm một số tranh tượng của các họa sĩ, điêu khắc gia Phật giáo, nói lên niềm khát khao của dân tộc muốn độc lập, tự chủ, không bị ngoại bang áp đặt. Hình thức đấu tranh này tuy còn thấp nhưng, biện chứng mà nói, vừa tầm với trình độ giác ngộ của lớp trí thức bấy giờ, nên có tác dụng tốt.


Mãn Giác cùng tuổi với chàng, bấy giờ sắp đi Nhật làm luận án Tiến sĩ, cảm cái ơn nhỏ đó, chàng viết tặng thầy bài thơ sau đây, Tăng Giư chớp được, mang đăng vào số báo Xuân Cộng hòa của anh:


Bốn mươi năm giấc mơ dài


Tỉnh ra mới thấy hình hài rỗng không


Đường về tiền kiếp ngóng trông


Bụi mù, gót quẩn mãi trong luân hồi


Con tim ơi, đã rõ rồi


Làm sao mà lá hoa đời mãi tươi?


Vui gì mở tiệc đưa mời


Gió thời gian đuổi con người về đâu?


Đi tìm bóng núi đêm sâu


Núi mờ dáng núi, đêm sầu bóng đêm[6]


Soi gương xa lạ tia nhìn


Nhận ra khuôn mặt một niềm bơ vơ


Ai đi cho gửi lời thơ


Kỉ nguyên này đã qua giờ hăm lăm.


Trong bài có hai câu, chàng mượn ý của Tô Đông Pha: Đêm, mở cửa nhìn núi, chẳng thấy núi đâu, chỉ có bóng đêm tịch mịch. Ai dám nói là ở cuối thế kỉ hai mươi chúng ta, chân thân con người không còn lẩn vào trong cái đại ngã của vũ trụ dù đã biết rằng thế giới được tạo thành từ các hạt cơ bản, các mezon k cộng, mezon k trừ…? Chàng nghĩ, nhà thơ đời Tống này cực kì tinh thông đạo Phật, chả trách cha chàng rất thích và gần như thuộc lòng hầu hết danh tác của ông. Sáng tinh mơ nào cha cũng ngâm vang nhà, tiếng ngâm đẫm mùi sương sớm và hoa cỏ đồng quê Thi Phổ khiến anh em nhà chàng không ai là không thuộc theo.


Bán dạ khai môn khán sơn


Nhị sơn bất kiến dã


Chỉ thính dạ thanh tịch mịch


(Tô Đông Pha)


Một tối lên gác, lén mở nghe đài Hà Nội, chàng được tin Cụ Hồ qua đời. Một nỗi buồn mênh mông khó tả dâng lên trong tâm hồn chàng. Sau mười lăm năm ở lại miền Nam, từ một anh giáo hò lơ nghèo xơ nghèo xác, bữa đói bữa no, chàng đã trở thành một giáo sư, một nhà thơ được học trò trong mấy tỉnh và cả Sài Gòn cảm mến. Duyên nghiệp và sự hên xui đã cho chàng văn bằng Cử nhân để kiếm cơm, tạo điều kiện cho chàng vun vén một mái ấm gia đình đàng hoàng một vợ năm con với tài sản là một căn nhà đàng hoàng ở thị xã Quảng Ngãi. Tiền bán cháo phổi cộng với cái công của nhà giáo thức khuya dậy sớm, thu nhập hàng tháng tuy chưa giàu có nhưng cũng tạm gọi trung lưu. Tuy vậy, chàng vẫn băn khoăn và mặc cảm mình phạm tội, sống ung dung trong khi đồng bào quá khổ. Cái chết của Cụ khiến chàng nhớ đến những đồng chí thời kháng chiến chống Pháp. Cuộc đời Cụ dép râu, áo vải, trong ba lô chỉ có vài bộ áo quần kaki, từng đi khắp năm châu bốn bể, nổi trôi theo vận nước, một mẫu người tài hoa, kiến văn rộng. Con người đó, đến khi nhắm mắt vẫn chưa được thấy cảnh Tổ quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất, hòa bình. Tâm sự đó đáng cho ta thương cảm xiết bao!


Thế là chàng chạy đến thầy Pháp Lan. May mắn làm sao, chàng gặp được người đồng điệu. Và họ bí mật tổ chức ở chùa Khánh Hưng, trước chợ Hòa Hưng lễ truy điệu Cụ Hồ với sự tham dự của một số văn nghệ sĩ như Nguyễn Hữu Ba, Sơn Nam, Thái Bạch, Lưu Nghi, Phương Đài, Xuân Sơn. Câu chuyện được giữ kín mãi đến sau 1975 mà nhiều người dù không hiện diện hôm đó đã mang ra kể lại với cán bộ rằng mình đã nồng nhiệt tiên phong tham gia. Chàng còn ở thuê gần chùa Huê Nghiêm thì chủ nhà, nhân con cái đã quá đông đảo và đã lớn, yêu cầu chàng phải đi tìm chỗ khác. Chàng xin ra Huế chấm thi lần nữa để tạt về quê tìm cách bán căn nhà cũ, lấy tiền vào xoay xở. Ôi căn nhà Cống Kiểu, căn nhà thương mến đầu tiên ta có từ khi lập gia đình, những ngày vui khổ theo nhau. Chờ làm văn khế bán nhà, chàng lên thăm Đại đức Nguyễn Minh đang ở chùa Tỉnh hội. Minh còn trẻ, người Huế, đã đỗ Tú tài, có cái giọng ngâm thơ rất lạ. Nó như mang cả cái khói mù của cuộc chiến tranh ác liệt, âm ỉ trên đất nước ta vào tiếng đàn than oán dưới ánh trăng võ vàng mông muội lẫn với tiếng thở dài hiu hắt của bao nhiêu vi lô trên bến Tầm Dương.


– Chào nhà thẩn, về hồi nào mà mặt mày bơ phờ thế kia?


– Hơn tuần nay. Bán nhà rồi, buồn quá thầy ơi.


– Hở, để làm gì vậy?


– Chủ thuê đòi lại, phải trả, kiếm tiền mua chỗ mới.


– Sao nghe nói nhà nước đã có luật buộc không được đòi lại nhà đã cho thuê?


– Nói vậy chứ không phải vậy. Người ta cũng nghèo, con đông, mình nỡ lòng nào. Với lại, Kỳ[7] chỉ là cái tay bốc phét, mị dân đấy thôi. Y lập pháp trường cát nói bắn Tạ Vinh, người Hoa gian thương buôn lậu, nhưng chỉ chết những con ma giả tế thần.


Nguyên Minh nhìn chàng, đôi mắt dịu dàng như dòng sông Hương, quê anh:


Đúng vậy. Luật pháp cũng không qua cái tâm con người. Nhân danh thứ công lý nào để thủ lợi cũng là bất lương.


Bấy giờ chàng mới thở dài: Nhưng bán đi cái nơi đã chôn nhau cắt rốn của mấy đứa con mình thì cũng buồn. Cây liễu mình trồng trước nhà nay đã quá đầu người. Hôm qua mình nhìn nó sắp về tay người khác, nhớ bài thơ xưa, tuy mình không triệt cốt bần như tác giả, lòng mình cũng bịn rịn ngậm ngùi.


– Mong đọc lại cho nghe bài cổ thi đóMinh yêu cầu.


Chàng cất cái giọng không mấy hay của mình:


Tự thán niên lai triệt cốt bần


Cố viên kim dĩ thuộc tha nhân


Biên đình kí ngữ tường biên liễu


Tha nhật tương phùng thị lộ nhân.


Minh vỗ tay: Tuyệt quá. Mà tội nghiệp làm sao. Đây có lẽ là ẩn dụ. Nhà thơ nghèo chắc phải bán đi người thiếp yêu dấu của mình nên đã nói với nàng: dù trong tận cõi lòng, ta mãi mãi còn nhau, nhưng nay em đã thuộc về người khác rồi. Mai này, như có gặp nhau thì cũng phải làm mặt lạ thôi, như bất kể kẻ qua đường nào khác chưa hề quen biết nhau, thật đứt ruột.


Chàng và Minh mất cả buổi chiều nối đuôi nhau chuyển bài thơ ấy ra lời Việt:


Nghèo thấu xương mấy năm nay


Vườn xưa giờ đã về tay người rồi


Bên đường nhắn liễu đôi lời


Bao giờ gặp lại, là người không quen.


Chàng nghĩ: Nguyên Minh dù trong bộ nâu sồng, vẫn chất chứa một tâm hồn nghệ sĩ nhiều hơn là một nhà sư. Chả trách Đại đức được anh em quý mến bởi cái cốt cách không phải thầy chùa của mình: uống rượu rất tài tử, và càng uống, càng ngâm thơ hay. Chàng không thấy Minh làm thơ bao giờ. Trên bức vách bên bàn viết của Nguyên Minh, chàng thấy Nguyên Minh có bức tranh một đạo sĩ cỡi một con lừa đi qua một chiếc cầu nhỏ, bên dưới là một khóm mai gầy với hai câu thơ ngụ ngôn trong Tam Quốc Chí, mà La Quán Trung đặt vào miệng Huỳnh Thừa Ngạn, ông bố vợ tiên phong đạo cốt của nhà thao lược trọn đời tận tụy lao lực Gia Cát Võ Hầu:


Kỵ lư quá tiểu kiều


Độc thán mai hoa sấu


Chàng và Nguyên Minh giao du với nhau đạm nhược thủy theo cách người xưa. Chàng không uống được rượu, mà cho tới gần tám mươi cũng không mấy khi được rỗi rãi bưng lấy ly cà phê mà nhàn nhã đưa lên môi để thấy nó đắng thơm thế nào.


Dù mẹ đã mất, quê hương trìu mến vẫn nhanh chóng ngốn hết thời gian. Cuối cùng chàng cũng mang cái bọc tiền bán nhà hơn một triệu, tương đương với thời giá hàng trăm cây vàng bấy giờ vào Sài Gòn. Sau năm năm kiên nhẫn căng lồng ngực lép xẹp của mình để dạy hàng mấy chục giờ mỗi tuần, cộng với cái công thức khuya dậy sớm của cả nhà, tằn tiện tới mức vẫn dưa muối như thời còn ở quê, vợ chồng chàng chỉ dám sắm cái ti vi đen trắng mười sáu inches cho lũ trẻ giải trí sau những giờ học hành và làm việc liên tục. Mọi sự nỗ lực của cả gia đình nhà giáo hò lơ phát xuất từ vùng quê nghèo Thi Phổ này là tìm được một nền nhà mặt tiền bé xíu, trên một khu phố nhỏ Sài Gòn.


Tháng Chạp năm ấy trời gây gấy lạnh. Đêm qua, lần đầu tiên trong đời, chàng phải đưa vợ đi sinh, đứa con đầu tiên mà cha mẹ nó ăn gạo Đồng Nai, uống nước sông Sài Gòn hoài thai nên, mang cái tên hiền hậu nơi nó đã chào đời: Phú Nhuận, kết quả của trận ân ái sau cuộc hờn ghen và lời thề láo sẽ trung thành với vợ. Thằng bé da trắng, láng giềng nói nhờ mẹ nó được bồi dưỡng bằng nước vo đậu xanh làm bánh Hoa Lan mà có. Cha nó lại đùa với vợ: Ghen cho nhiều vào, ghen nữa đi, để tiếp nhau tíu tít chun ra cho đủ một lố nhóc tì, giữa cái thời gạo châu củi quế này. Bởi thế, Đức Thánh dạy: Thiên địa chi đại đức, viết... Ghen! Mẹ nó mắc cỡ, chỉ biết quay mặt vào vách mỉm cười.


Cuộc sống vẫn ầm ầm quanh chàng: máy bay gầm rú, bom napal bom nổ hàng tấn trút xuống, lửa cháy, người chết, xe cứu thương hú, đám ma đi trong đêm. Bảy giờ sáng chàng dạy Trường Bình Đông, chín giờ về Chu Văn An, hai giờ nắng gắt sang trường Chân Phước Liêm, Gia Định, Gò Vấp; mười chín giờ, chùa Quan Thế Âm, hết canh một, lặn lội đến chùa Ấn Quang... Ngoài chiến trường, người Việt trên những sắc áo khác nhau vẫn lăn xả vào nhau, bê bết máu me, chết và bị thương. Ở xa lộ Biên Hòa, tại ngã ba xa lộ rẽ vào Nghĩa trang Quân đội, gần đồi bác sĩ Tín, có tượng một người lính. Như bất cứ người lính thời đại nào về phong cách, anh đang chống súng nhìn vào khoảng không vô tận trước mặt với tất cả lòng tiếc thương. Anh nhớ người đồng đội anh, hay nhớ người bên kia bị anh giết, hay nhớ chính bóng anh, như bóng ai trong bụi mù? Chàng bỗng nhớ cái bài hát mà sau khởi nghĩa bốn lăm chàng rất mê, thường nghêu ngao cất giọng như nói với chính mình, khi chỉ có một mình: Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều, bài hát chàng không hiểu sao chỉ ít lâu sau đó nó bị cấm. Có lẽ vì nó quá êm đềm so với sự hối hả cần thiết và bắt buộc của thực tại, quay mòng mòng, cuốn đi những gì nhàn nhã, trì hoãn, chậm chạp bị xem là lạc điệu và thậm chí phản động. Đấy, thời đại chàng đang sống. Ai cũng có lý do để biện minh cho sự bận bịu của mình, càng lăng xăng với công việc càng tự hào mình hữu dụng hơn kẻ khác, quan trọng hơn, có giá hơn, đáng sống hơn. Hồi đó, đã có phi thuyền ra không gian. Thưa ông Gagarine và Amstrong, hẳn là từ ngoài địa cầu, nhị vị cũng thấy quả đất quay quanh mặt trời một cách thật thong thả, tỉnh bơ như không hề hay biết gì về những tên lửa mang đầu đạn nguyên tử của Mỹ và Nga đang gầm gừ chĩa vào nhau mà chỉ cần một phần ngàn giây nóng vội của một trong hai lãnh tụ siêu cường thì tất cả công lao động, tiến hóa gần ba triệu năm của nhân loại chúng ta sẽ trở thành mây khói tất. Mây và khói phóng xạ sẽ xóa sổ hoàn toàn loài người trên Trái đất?


Nhưng cái sai nhỏ bằng sợi tóc[8] của Thạch Lam, một ly đi một dặm đó đã không xảy ra giữa ông Brevnev và ba đời Tổng thống Mỹ Kennedy, Johnson, Nixon. Vậy, chúng ta không thể phủ nhận tính bí nhiệm của hồn thiêng nhân loại từ Adam – Eva, từ ông Bành tổ (Tàu) và từ cha mẹ Lạc Long Quân – Âu Cơ của chúng ta.


Gagarine bay ngoài không gian. Lúc anh trở về thì có cuộc họp báo. Một kí giả hỏi: Đồng chí thấy có đấng Thượng đế nào đang bay lượn ngoài đó không? Đáp: Không. Người hỏi, phải hỏi vậy. Người đáp, phải đáp vậy. Riêng chàng, chàng nghĩ: Thượng đế không thể tìm ở ngoài ta. Họ không thâm thúy bằng quốc sư Viên Chứng ở Trúc Lâm Yên Tử nước ta chín thế kỉ trước là thế. Vua Trần Thái Tông sau khi bị Trần Thủ Độ ép phải bỏ người yêu Lý Chiêu Hoàng mà lấy người vợ của anh ruột mình đang có bầu. Vua buồn rầu, đang đêm trốn khỏi Thăng Long, đi ngựa đến Phả Lại rồi lội bộ tới chân núi Yên Tử, vịn từng tai đá trèo lên, mãi trưa hôm sau mới đến chùa, ra mắt quốc sư. Quốc sư hỏi: Nhà vua đi đâu? Đáp: Lên núi tìm Phật. Quốc sư dạy: Sơn bản vô Phật. Phật tại tâm.


Kí giả Nga thế kỉ 20 không phải là nhà vua thông tuệ đời Trần ở thế kỉ 13, lúc châu Âu còn sống trong mông muội. Gagarine cũng không phải là quốc sư. Nhà anh hùng vũ trụ của nhân loại này không tin có Thượng đế, một Thượng đế không phải của Tôn giáo, siêu hình và phi nhân cách. Sau đó anh đã được không táng trong một cuộc nổ phi thuyền.


Nếu Chúa là nguyên nhân sâu xa, và cũng là cùng đích bí nhiệm, là khởi điểm cũng như kết thúc của mọi hiện tượng xảy ra trên khắp thế gian thì cái chết của anh còn một ý nghĩa ẩn tàng. Anh đã cống hiến lớn lao cho loài người trong việc tìm hiểu vũ trụ, sáng tạo tuyệt tác nhất của ngài.


Một hôm chàng đến lớp buồn bã ra mặt. Có cậu học trò hỏi: Sao hôm nay thầy âu sầu thế? – Chiều nay, rượt xe nữa, đổi món cho vui. Tuần rồi thầy giảng thơ Tản Đà tới bài Khóc Chiêu Quân:


Cô ơi cô đẹp nhất đời


Mà cô mệnh bạc thợ Trời cũng thua


Một đi từ biệt cung vua


Có về đâu nữa đất Hồ ngàn năm


Mả xanh lối cũ còn dăm


Đất Hồ lạnh lẽo cô nằm với ai


... Trời Nam thằng kiết là tôi,


Chùa Tiên đất khách khóc người bên Ngô


Thầy ngâm toàn giọng Nam ai, tụi em nghe sao não quá.


Chàng đáp: Chẳng có gì. Qua[9] đang bị đuổi nhà. Cuối tháng này mà không có chỗ mới thì dắt díu nhau ra nằm đường như Chiêu Quân rồi đó.


Thằng bé nhảy cẫng lên, như ông Newston thấy trái táo rơi: Tưởng gì, dễ ợt. Sát vách nhà em, số 80 Nguyễn Thiện Thuật, quận 3 người ta mới treo bảng bán nhà hôm qua. Thôi, khỏi rượt xe nữa. Thầy đi theo em xuống hỏi ngay.


Té ra cái việc nhờ bao nhiêu người lớn, bao bạn bè, đạo hữu, chính khứa, ai cũng hứa hàng tháng mà không kết quả lại do một thằng bé mới học đệ ngũ (lớp tám bây giờ), nói theo kiểu Khổng Minh dễ như thám nang thủ vật[10]. Buồn cười lạ. Và việc đời, tất cả cũng chỉ là buồn cười như thế thôi.


Cò kè bớt một thêm hai. Người bán: phụ huynh. Người mua: thầy giáo. Bao nhiêu tình nghĩa được nêu ra trong cuộc ngã giá. Đạo đức và trí tuệ đụng tới tiền nong, cái này lắng xuống thành âm mưu, cái kia khôn ngoan lên thành thủ đoạn, miễn sao có lợi. Nhà, thực ra chỉ là cái nền 24 mét vuông và tấm cửa sắt. Giá những hơn 1 triệu, phải bỏ ra khoảng hơn ngần ấy chút nữa để đúc ba tấm cho đủ chỗ ở của một gia đình được hứa hẹn là sẽ rất đông đúc.


Lúc xây dựng, vợ chàng đứng tên xin phép, bị đám cảnh sát làm khó, bắt giam. Lần đầu tiên chịu cảnh cò bót, nàng mới chừng nào hiểu được thái độ của chồng đối với chế độ: chế độ tàn ác và không chừa một ai.


Cuối cùng, phải nhờ anh Cảnh, một người bạn luật sư của anh Sáu, đứng ra can thiệp, người ta mới chịu cho đóng phạt để hợp thức hóa. Làm xong, cái nhà trông như ba chiếc hộp diêm chồng lên nhau, bề ngang chỉ ba thước mà cao ngồng thật dị hợm. Cửa lầu hai mở ra vừa gặp tầm của đầu một trụ điện tua tủa hàng trăm dây chĩa xuống bao nhiêu đồng hồ của cả xóm.


Anh Tùng một hôm vào thăm chơi, ngủ đêm lại đây, tảng sáng mở cửa ra hết hồn, được dịp trổ tài chế giễu: Nhà mày như cái chuồng cu. Nhưng như vậy mới hợp mày, thằng ham gái: Trống mái vào ra, gật gật gù gù. Nhé.


Tháng Bảy năm Tuất, vợ chàng lại sinh đứa con trai nữa, nhằm ngày Quốc khánh Pháp. Đáng lẽ thằng bé phải có cái tên An Nam của Các tó ruy dê (14 Jullet) là Nguyễn Chính Trung. Nhưng nhân vụ khánh thành nhà mới, nó được ghi vào khai sinh: Nguyễn Hoàng Tân Trang. Từ những năm đầu thập niên bảy mươi, căn nhà này trở thành một địa chỉ khá quen biết với người hoạt động cách mạng nội thành ở miền Nam, cho tới ngày Giải phóng: nơi tụ tập của sinh viên chống đối chiến tranh, nơi gặp gỡ của giới văn nghệ sĩ lông bông mới tập tễnh vào làng, chốn lui tới họp bàn chương trình hành động của nhiều tăng ni và cha đạo, hộp thư của ban An ninh thành ủy Sài Gòn- Gia Định.


Và cuối cùng, một quán bún bò Huế do chính vợ chàng nấu tuy không mấy ngon nhưng được quảng cáo không tốn tiền trên hai tờ báo mà anh em chàng cùng làm chủ bút và biên tập, tờ Ngày Nay và tờ Gió Nam: Ngon nhất nước, bún bò Chiêu Anh, 80 Nguyễn Thiện Thuật, Sài Gòn, điện thoại 97.808. Ngon nhất nước với ai thì được nhưng với chồng bà chủ quán thì không. Chàng nói với vợ: Khi thưởng thức bún bò Chiêu Anh, có lẽ cả nước này người ta nghẹt mũi hết, như ông Nguyễn Chánh Thi khai bịnh trả lời báo chí khi bị Thiệu đày khỏi Việt Nam. Anh thì chịu không nổi cái mùi thum thủm trong tác phẩm trứ danh này của em. Tất nhiên, chàng luôn phải chịu một cơn lườm nguýt nữa.


Thế là, đổi từ nghề làm bánh đậu xanh sang nghề mở quán lúc nào không hay. Có những tối, thấy vợ con cực nhọc, dù đã soạn chấm bài xong nhưng thấy bất nhẫn bỏ đi ngủ sớm trước lũ trẻ con cũng không nỡ, chàng bèn tham gia chùi bàn, lau đũa giúp. Không cần phải đọc Tiếu Ngạo Giang Hồ[11], nghề chủ quán có khi cũng cho chàng cơ hội gặp gỡ và quan sát được những khuôn mặt lạ. Ví như, một ông nọ, vào bàn ngồi thừ người rất lâu. Kêu một tô bún và mấy cái chả rồi ông lại trầm ngâm như một triết gia, sau cùng mới uể oải rút từ trong túi một chai Wisky thượng hạng cỡ nửa thế kỉ, chính hiệu Scotland với chiếc ly con tự rót, tự nhấm nháp, không hề động đũa tới chút đồ ăn nào. Mãi gần khuya, đáy chai đã cạn, ông mới kêu thằng Văn[12] đến, bảo nó ăn giùm tô bún và mấy cái chả rồi trả tiền, còn buốc boa nó ít tiền. Xong, mới tự lái xe ra về. Hỏi ra mới biết đó là ông chủ một hãng bột giặt rất giàu, độc thân. Tuần lễ nào ông cũng đều đặn tới Chiêu Anh vài lần để cho thằng bé nhà chàng tiền theo cách đó, không một ai hiểu vì sao, cũng không ai dám hỏi. Sau, tình cờ có người nói ông rất thích trẻ con nhưng không bao giờ chịu đụng tới đàn bà, một tính cách hoàn toàn trái ngược với chàng, kẻ mê gái. Nhưng chỉ có thế thôi. Hạnh phúc của ông là vào khoảng mười giờ được thấy thằng bé học xong, xuống giúp dọn dẹp, thoăn thoắt qua lại trong nhà, đôi mắt sáng, khuôn mặt bầu bĩnh. Cũng không có biểu hiện gì về bệnh đồng tính luyến ái cả.


Lại có một người khác, người con thứ mười một của Cần – Chính điện Đại học sĩ Nguyễn Thân, anh ruột Tăng cang[13] Thích Trí Hưng. Ông đã gần tám mươi tuổi, thường đến quán rất sớm. Dường như bao giờ ông cũng đứng chực sẵn đâu ngoài hè, chỉ chờ cái cửa sắt kéo ra là chun tọt vào, trên đầu vẫn chiếc mũ dạ sang trọng của hơn nửa thế kỉ trước được giữ gìn thật khéo, nom như còn rất mới. Từ lần thứ nhì, người bưng dọn đã quen tính ông, bao giờ cũng phải để thật nhiều ớt tương Huế với hai cọng hành nguyên củ và lá.


Nhìn ông ăn, ta tự thấy mình trẻ lại, cái miệng với đôi môi siêu thọ vẫn còn nguyên sự tham lam đáng yêu của tuổi trẻ. Ông húp nước lèo xì xụp cho tới tận giọt cuối cùng. Vợ chàng có lúc lân la xem nhận xét của ông về tác phẩm của mình thì ông nói:


Ngon lắm, đúng là bún bò Huế. Nó làm tôi nhớ hồi còn theo cha tôi, một trong tứ đại thần ở chốn thần kinh và nhất là tôi nhớ vợ tôi, một cô gái Huế dịu hiền.


Ông chỉ thổ lộ tới đó rồi bỏ lửng. Hóa ra, xương bò, giò heo, mắm ruốc… những thứ rất ư trần tục và có khi rất khắm mùi đó lại có khi chở đầy đủ cho ta một đời kỉ niệm.


Một chiều, đi dạy về, chàng mang túi xách xăm xăm lên lầu thì thấy có ông sĩ quan mang lon chuẩn úy, quân phục đàng hoàng nhưng dường như đã quá hơi men, gục xuống bàn. Thốt nhiên chàng nghe tiếng hét:


– Đem vò nữa, tớ chưa say, chủ quán!


Chàng hoảng hốt quay nhìn, thì ra Phạm Huệ, cháu cụ Thủ khoa Phan và cử hụt Trần Tuân, bạn vong niên của chàng. Huệ đang dạy trường Trần Quốc Tuấn, cũng mới bị bắt đi sĩ quan, người gầy nhom, trong bộ quân phục rộng tuênh, hố mắt sâu hóm. Chàng ngắm nghía Huệ: Ông cũng đẹp trai ra phết. Trời cho, trở thành tướng thì cậu được vô sách Guiness, không biết chừng vì kỉ lục nhỏ con.


Huệ trả đũa ngay: Thì ông, bữa nay cũng đã quá đủ tư cách để: Quán rằng: ghét việc tầm phào, ghét cay ghét đắng, ghét vào tới tâm. Ghét đời Kỳ – Thiệu hoang dâm, để dân tới nỗi sa hầm sảy hang... Huệ đậu cử nhân văn chương Hán Việt, thuộc làu Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu.


Chàng nói:Cái ông Quán trong Lục Vân Tiên chưa đã bằng ông Quán trong Ngũ Hổ Bình Tây của cụ Đào Tấn qua cái giọng của Lưu Khánh.


Rồi thấy trong quán không có ai, chàng dùng miệng đánh trống chầu bùm bùm, bắt chước cha ngày xưa, bắt chước giọng nhân vật Lưu Khánh, hát bội:


Này quán, ngươi có món gì ngon thì khá dọn cho ta không thì ta chém đầu.


Rồi bịt mũi đổi sang giọng chủ quán, chàng tiếp: Dạ, thưa ngài có. Cha chả ngon ôi là ngon! Nào là dái dê dầm mắm, lại bầu c… ngựa nấu canh, ốc l… xào với hẹ.


Lưu Khánh nổi giận: Bớ quán, tao là Tiên phong của Triều đình mà ngươi dám đem dái với c. ra dọn cho ta ư?


Cả hai cười ngặt nghẽo. Họ sống trở lại hồn nhiên như tuổi thơ và nhớ những ngày cùng đi Huế chấm thi, xuống Vĩ Dạ ăn cơm Âm phủ, tự ví mình như những bóng ma hiện hữu trên thế gian, những bóng ma ban đêm hò hẹn ở cổng chùa để tổ chức những cuộc lên đường xuống phố những năm xáo trộn 1963 –1965 ở Quảng Ngãi. Huệ đã hăm bảy, mới lấy vợ, một học trò cũ của chàng trong Gia đình Phật tử[14].


Ông Trời đến lạ, Huệ có tài ăn nói và lắm khi nhanh trí nảy ra những ý tưởng cực kì độc đáo. Lúc học Văn khoa, Huệ rất hoạt bát và xuất sắc. Huệ yêu một bạn gái cùng lớp tên Tâm ở đường Bà Lê Chân, Tân Định, con một công chức người Bắc di cư, cũng như Huệ, là học trò cưng của thầy Nguyễn Đăng Thục. Mãi đến vài năm gần đây, trong những chuyến ra vào Sài Gòn – Quảng Ngãi chàng còn làm chim xanh đưa thư tình cho Huệ, những lá thư có khi dày cộm đến nỗi chàng phải nói đùa:


Cậu coi chừng khối tình nặng quá, máy bay chở không nổi mà rơi, tớ toi mạng như ông Ứng[15] thì vợ con tớ rủa cậu tới suốt đời đó.


Nhưng tình yêu của Huệ với Tâm không được ông Tơ bà Nguyệt đoái hoài tới, cũng đường một chiều. Đừng hỏi vì sao. Chàng coi việc làm sứ giả bất thành này như thất bại duy nhất trong tài ngoại giao của mình mà chàng luôn tự phụ dỏm. Họ thân nhau như chàng với Phát thời chống Pháp, điếu thuốc bẻ làm đôi, đồng bạc sẻ nửa. Chàng vẫn thường nghĩ: Đời mình giá ngày nào cũng được cùng Lê Vàng, Phạm Huệ và Vũ Quang Bình tương phùng cu tác khách, tiếu đàm thắng độc thập niên thư – như câu đối mà chàng thấy treo ở phòng khách nhà sử gia Phan Khoang – thì vui thú biết bao. Nhưng ông Trời không cho vậy, cũng như đã không cho Tâm với Huệ. Nỗi thương nhớ của chàng lan man đến tất cả những người quen biết.


Thương các bạn biết bao. Giờ này các bạn ở đâu ngủ hay thức, thương nhớ ai trên cái hành tinh rộng lớn này và đang làm gì, vui chăng? Buồn chăng? Người trong căn nhà tận quê nghèo ở Thi Phổ luôn năm bão loạn, kẻ ở Sài Gòn khu phố nhỏ, ơi ai vạn hồ tuyết trắng Minisota, kẻ nào cơn nắng gắt tháng Chạp nam bán cầu?


Chàng hỏi Huệ: Nghe nói giáo chức bây giờ sau chín tuần ở Thủ Đức thì được cho về đi dạy, gọi là động viên tại chỗ, phải không?


Huệ vẫn cái lối nói mỉa khó chịu một cách quen thuộc:


– Ừ thì, Thiệu tử viết: đức Thánh Nguyễn Văn Thiệu nói rằng... Vậy đó, còn có thiệt hay không thì còn phải… ỉa ra chút trái núi hay Kim Thành gì đó mới được đeo bông tai mà trở lại trường[16].


Giục vợ con dọn cơm, chàng nhớ lại năm sáu lăm, chàng cùng Huệ hết mai rồi lại tối, đi hà rầm trong đêm vận động đồng bào chống Thiệu – Kỳ, cả hai đều bị tố là Cộng sản. Chàng đổi vùng vào Sài Gòn, Huệ một mình còn lại buồn chán, trùm mền nằm. Ít lâu Huệ nảy ra một sáng kiến: Không làm gì được, thì làm giàu. Nuôi mấy đứa con trai của người anh ruột đi tập kết, chẳng hay sao.


Huệ mượn tiền, mua lô đất của gia đình chị Sáu Diễn ở sát chân Cống Kiểu, sâu hóm như ao địa phủ, mướn xe tải đổ cát sông Trà san lấp, cắt thành miếng nhỏ bán. Nhờ là đất mặt tiền, gặp thời buổi chiến tranh xua dân từ quê dồn ra tỉnh, đắt như tôm tươi. Tất nhiên, có món lời khá hời. Nhờ vốn đó, chắc cũng Trời cho, ai cũng xưng tụng tài kinh bang tế thế (nói gọn là kinh tế) của Huệ. Anh chàng càng nở mũi, bạo mồm phát ra những ranh (danh) ngôn khác, ví dụ như: Cách mạng văn hóa không bằng nước đá cà rem. Số là sau sáu ba, từ cách mạng bị lạm phát dữ dội. Ông lính tẩy nào vô luận gốc Tây hay Mỹ, khi cướp được cái ghế cai trị, nắm quyền sinh sát trong tay thì, thay vì cải niên hiệu Hoàng đế, đều tự xưng là cách mạng hết. Huệ thì anh ta thấy khác: Dân chúng không cần món cách mạng đó. Họ đang bị dồn vào các trại định cư nóng bức, cái họ cần cho bớt chảy mồ hôi là mấy cây cà rem, vài cục nước đá. Và ông cử nhân văn chương vứt bỏ chữ nghĩa Thánh hiền sang một bên. Ông tìm mua cái máy xe REO cũ, cải biến thành máy làm nước đá, chạy than củi. Mỗi ngày 100 cây, mỗi cây 50 kí, chở tận Chu Lai bán cho lính Mỹ. Huệ trở thành một Chương Guerre périphérique thứ hai, nhưng một Chương thực tế, tiền nong rủng rỉnh chứ không chỉ nói suông. Lần nào vào Sài Gòn gặp chàng, Huệ cũng rủ đi ăn phở tái 79 Nguyễn Trãi và uống bia. Tối thứ Bảy nhàn hạ một chút sau bữa cơm, họ lại tán gẫu. Đầu tiên, chàng phát pháo chọc Huệ: Việt nhị quốc chí[17] giữa thế kỉ hai mươi, có Phạm Huệ, đàn anh của Phạm Tăng, quân sư của Hạng Vũ, còn hơn Khổng Minh thời Tam Quốc. Ta hỏi ngươi: Năm 1966, trong hàng ngũ của binh đoàn nhân dân Trần Hưng Đạo từ Quảng Ngãi kéo ra mà chưa tới Đà Nẵng đã bị Thiệu – Kỳ dĩ chạy có cờ là cớ làm sao, lục thao tam lược của nhà ngươi ở đâu?


Huệ nói: Ông giả vờ hỏi tôi đấy thôi. Lí do thì ai cũng dư biết. Chỉ có điều tới giờ này tôi cũng mù tịt không hiểu sao tình hình miền Trung, đặc biệt là Huế – Nam – Ngãi lại có chuyện lạ vậy: Một bác sĩ thị trưởng người Công giáo lại cùng ông Đại tá Quốc dân đảng nổi lên cướp chính quyền và người đẹp, nữ giáo sư Vương Thúy Hoa thì như Guestapo, bắt công chức ra thẩm vấn. Vậy nên ai cũng bảo cô ta là Việt cộng...


Đã bốn năm trôi qua, chàng nghĩ, hồi đó thằng Bé mới đẻ, nay nó đã đi mẫu giáo, quê ta trong khói sương mờ. Sương khói tháng Giêng bất hủ của đất nước và thời tiết, sương khói cả trong kí ức chúng ta, cái nào cũng mang tính vĩnh cửu huyền hoặc, làm ta luôn nhung nhớ, như tình yêu tuổi dại thuở ban đầu.


Bác sĩ Mẫn thì chàng có gặp vài lần ở chùa Già Lam của ông Trí Thủ, còn Đại tá Đàm Quang Yêu đang có nhà trong cư xá sĩ quan Chí Hòa. Mới rồi trong lễ ra mắt của Tổng đoàn giáo sư Phật tử, Đại tá đã từ hàng ghế quan khách chạy lên bắt tay hoan nghênh bài diễn văn của chàng. Riêng cô Thúy Hoa, chàng chưa bao giờ gặp mặt, không biết qua đợt Mậu thân hai năm trước, cô có ra chiến khu như một số bạn thân của chàng, như chị Đỗ Thị Văn và anh Lữ Phương không? Trả lời cho câu hỏi của chàng, Huệ lắc đầu. Anh không hiểu thật. Cũng như chúng ta, số đông không khỏi thắc mắc vì sao Mao Trạch Đông từ đầu là Quốc dân đảng mà về sau lại trở thành lãnh tụ Cộng sản trong khi những người Mác xít như Albert Camus và Constantin Georghiu lại viết Retour de l’ URSS (Trở về từ Liên Xô) và La vingt cinquième heurre (Giờ thứ hăm lăm).


Hãy san sẻ lòng rộng lượng của Thượng đế mà cho mỗi người chúng ta một điểm hình học, không choán một chút bề dày không gian nào, để được quyền đứng lên cái chân lý mà mình chọn lựa. Mỗi chúng ta nào có sống bao lâu đâu trong cái trường cửu vô cực của thời gian? Bởi vậy, dù là một trí thức có bằng cử nhân Triết, chàng tin vào một đức Phật Thượng đế của mình, như hằng hà sa số đồng đạo đói cơm mù chữ của chàng. Chủ nhật qua đi. Huệ vào quân trường, các con lớn đi học hết, Bân[18] ôn bài để thi vào Sư phạm, Đóa chàng sinh viên Văn khoa con chú ruột chàng, làm gia sư, một thúc phụ nghiêm khắc của lũ trẻ con chàng, chắc Đóa không tránh được kì bắt lính sắp tới. Ôi! Niềm hi vọng cuối cùng của chú Hai. Ta làm sao đây. Băn khoăn, đau khổ là tâm trạng của một số người trí thức bấy giờ. Hồi đó, Tạ Ký[19], một nhà thơ gốc Quảng Nam có mấy câu:


Phật tại tâm nhưng tâm đã bềnh bồng


Tiếng chuông Chùa không ru hồn kẻ khổ


Chàng rất thích, ngâm nga mãi. Nhưng trong thâm tâm, chàng vẫn tin có Chúa – Phật.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Trường Đại học Phật giáo.


 




[2] Người ta đồn: phe Kỳ bị thanh toán.


 




[3] Diễm’s: hiệu may nổi tiếng của Sài Gòn những năm 60.


 




[4] Thụy Vũ: một tác giả nữ khá nổi tiếng bấy giờ ở miền Nam.


 




[5] Một thôn ở Mộ Đức, Quảng Ngãi gần quê chàng.


 




[6] Mượn ý của Tô Đông Pha, văn hào đời Tống, Trung Quốc.




[7] Năm 65, Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng, tự xưng là Nội các của dân nghèo, ra luật ai ở nhà thuê có quyền không trả lại cho chủ.


 




[8] Tên một truyện ngắn của Thạch Lam.


 




[9] Tiếng Nam bộ nghĩa là tao, tôi.




[10] Dễ như thò tay vào túi lấy vật.




[11] Tác phẩm kiếm hiệp nổi tiếng của nhà văn Kim Dung.




[12] Con trai lớn của chàng, 14 tuổi.




[13] Nhà sư lớn, chức danh Phật giáo do triều đình phong tặng.




[14] Gia đình Phật tử: tổ chức Thanh niên của Phật giáo từ những năm 1940.




[15] Nguyễn Tất Ứng: Bộ trưởng Xây dựng Nông thôn của Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ.


 




[16] Bông mai búp, chưa nở, là huy hiệu Chuẩn úy của miền Nam trước 1975.


 




[17] Sánh với Tam Quốc Chí của Tàu hồi xưa. Nhị quốc là Nam và Bắc Việt ở thời điểm trước 1975.


 




[18] Một đứa cháu kêu chàng bằng cậu.




[19] Bạn chàng, cũng là nhà thơ.


 




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 20.04.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
xem thêm »