tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22286157
Tiểu thuyết
10.04.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


Nghe tới đó, cụ quyết tâm bày tỏ lòng hiếu khách. Chinh nhanh nhẹn dìu cụ đến bộ salon gần đó. Chinh và cụ thân thiết nhau lắm, chắc do ba năm cùng ở tù Côn Đảo thời Diệm. Cụ ở trong nhóm Caravelle. Năm 1965, cụ làm Quốc trưởng, dùng anh Trương Khánh Tạo, một giáo sư, bạn của Chinh làm Bí thư văn phòng và bổ nhiệm Phan Trọng Thiện, em Chinh làm sĩ quan tùy viên. Thái độ ân cần của cụ Sửu khiến chàng nhận ra rằng, đang trong thời buổi vay mượn, bán chác danh nghĩa, thì chút địa vị nhỏ như chàng trong phe Ấn Quang cũng đã được trọng nể như vậy. Chả trách, ở các tỉnh, mấy nhà sư tranh giành nhau cái ghế chính đại diện tỉnh Hội Phật giáo đánh nhau chí chóe, cũng chỉ vì món lợi không nhỏ tới từ sự ủng hộ ông nọ bà kia ra ứng cử. Chính hỏi cụ về tình hình ứng cử Tổng thống, cụ vừa đưa chén trà lên mời khách, không giấu nỗi hoan hỉ:


Xong hết rồi. Công giáo, Phật giáo và một số tướng lãnh nhất trí ủng hộ bác. Còn uy tín của ứng viên Phó tổng thống, bác sĩ Phan Quang Đán[1] thì miền Trung và nhân sĩ trí thức nhiệt liệt hoan hô. Bác nói nhỏ cho hai cháu hay: Tòa Đại sứ mới cho người tới rỉ tai bác là hãy yên chí. Chuyến này bác đắc cử tổng thống. Nhất quyết bác sẽ thực hiện giấc mơ mà bác ấp ủ từ hồi còn đi học, ia rỉ ga xồng đơ la cổ sành sìn (Irrigation de la Cochinchine: làm thủy lợi cả Nam kỳ). Cái cách phát âm tiếng Pháp nhấn như thế nó giống y sì kiểu thầy đốc Cự ở lớp Moyen 2 của chàng hồi còn bé, khiến chàng không nhịn được cười. Tưởng chàng tán thưởng mình, cụ lại càng khoái, vẽ một bức tranh hoành tráng về chương trình đào sông Ông Đốc, cho nước thoát ra vịnh Thái Lan...


Nhìn kĩ ông cụ, chàng không thấy một chút nào liên quan tới một vị kỹ sư từng sáng lập ra đội bóng đá nữ đầu tiên của Đông dương mấy chục năm trước như báo chí nói cả. Tới giờ này, cụ vẫn còn ở trong mơ.


Mỹ đã bắt Thiệu – Kỳ phải gộp vào cùng một liên danh. Phe quân phiệt đã có súng, lại không phân tán, không cần gian lận cũng áp đảo dư sức những anh dân sự chính khứa salon rồi. Chinh thấy cụ khăng khăng quyết thắng, không nói gì thêm, bèn hỏi thăm bà cụ rồi cáo từ. Trời Sài Gòn hầm nóng, bắt đầu chuyển mưa. Chàng đổ sức cùng ông Nguyễn Thao, một nhà kinh doanh phim ảnh, ráo riết hoạt động để thành lập Hội Đồng hương Quảng Ngãi và vì lí do đó, chàng sang đường Dương Bá Trạc, quận 4, tìm Châu Thế Việt, em rể luật sư Bùi Chính Thời, cũng là bạn thân của chàng. Thời người tầm thước, da trắng như con gái, quê ở Phú Thọ, nổi tiếng bởi chùa Ông Rau, ngôi chùa đã ba đời quan hệ tín ngưỡng với gia đình nhà chàng. Nhà nghèo, nên hồi nhỏ, Thời phải đi ở mướn, chăn trâu cho nhà giàu trong làng. Ngày nọ, Thời cắt cỏ, lại nhằm vườn chùa của Tăng can Thích Trí Hưng, con thứ mười ba của Cần chính điện Đại học sĩ Nguyễn Thân. Nhà sư chạy ra la mắng đuổi đi. Thời ngẩng mặt lên, nhà sư thấy đứa bé khôi ngô, bèn hỏi nguyên do và tìm tới nhà cha mẹ, xin cho Thời làm đệ tử mình. Thời ra Huế với sư phụ, đi học và học giỏi. Sau đình chiến đã có vợ thuộc một thế gia tại chốn thần kinh.


Cùng quê, Thời hay lui tới nhà chàng chơi, nhờ đó Thời tìm được người anh em bà con với mình, kĩ sư Nguyễn Tấn Dương, cháu nội một nhà cách mạng, cụ Hường Nguyễn Duy Hiệu, Quảng Nam và lấy làm tâm đắc dưới trướng Thượng tọa Thích Trí Quang gồm cả Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, nhà học giả chuyên trách mục Nói Hay Đừng của báo Tự Do và báo Ngày Nay, Vũ Ngọc Các, nhà báo bấy giờ cùng kí giả Ký Ninh bị nghi là Việt cộng nằm vùng, người rất giống anh Vũ Ngọc Nhạ. Oái ăm thay, sau 1975, Các lại phải đi học tập và chết trong trại, Nguyễn Văn Cử, con cụ Nguyễn Văn Lực, người ném bom dinh Độc Lập mưu sát Diệm ngày 27-2-1962 nhưng bất thành. Nếu Thời ít nói bao nhiêu người em rể của anh ta, Châu Thế Việt, lại ồn ào bấy nhiêu. Người thấp lùn, da ngăm ngăm đen, tay chân thô kệch, dù không cận thị, Việt cũng cố luôn luôn trang sức trên cánh mũi mình một cặp kính trắng cho ra vẻ trí thức. Anh ta thường lớn tiếng khoe là đang làm việc cho CIA, lúc nào cũng mới rồi moa có gặp đô đốc Mac Cain, Tư lệnh Hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương.


Trong căn phòng khách nhỏ của mình, Việt treo một bức chân dung thật lớn, với áo tauge, mũ luật sư, tề chỉnh y quan, kèm theo một bản photo văn bằng Cử nhân Luật, lồng kính bóng loáng chiếm gần hết bức vách diêm dúa những màu sắc.


Niềm nở rót nước trà thơm mời khách, vợ Việt nhanh nhảu:


– Xin anh ngồi chờ một chút. Nhà em còn mải lo việc nước, có khi tới nửa đêm mới về. Anh ấy nói hôm nay có hẹn với anh. Mời anh đọc báo.


Chàng tẳn mẳn vớ một cuốn tập học trò, đích là nét chữ của Việt, nhưng buồn cười làm sao, chàng phát hiện ra Việt đang làm những bài tập trong cuốn sách Giáo khoa Anh văn lớp 6[2] với vô số lỗi. Có tiếng xe máy vào hẻm, rồi Việt hiện ra ở cổng:


– Hello, professor, how are you?


Việt bắt tay thật chặt, tiếp:


– Mình mới từ Đà Nẵng về hôm qua. Đang vận động cho ông Trương Đình Dzu. Mỹ ủng hộ, chuyến này chắc ăn lắm. Ông ở lại ăn cơm với mình đi, hưởng cái vụ đồng hương đồng khói đi. Mình nói chuyện này bí mật lắm.


 Anh ta quay sang vợ: – Em gấp lo cho mấy chai bia và kêu đứa nào chạy ra đầu hẻm mua nửa con gà rô ti, biểu chặt cho lẹ. Hôm nay có khách quí.


Thấy chàng có vẻ ngần ngừ, Việt trấn an: – Ở đây chơi đi. Bôn ba chẳng qua thời vận.  


Chàng đành hạ túi xách xuống bàn: – Ừ, thì có gì hay cho tớ biết với.


Trong khi chờ đợi Việt thay đồ, chàng ngẫm nghĩ: Thật cũng chẳng biết sao, gặp cái thằng nói dối như Cuội này, mà trăm lần như một, bao giờ mình cũng tin. Nhưng cứ nhìn cái túi căng phồng những tờ bạc một trăm dày cộm, chắc điều anh ta khoe rằng đang làm đại diện cho ứng cử viên Tổng thống Trương Đình Dzu có khi là thật chớ chẳng chơi. Nếu vậy, thì cũng kì lạ quá: Dzu chí thân với Trần Quốc Bửu, cũng quê Bình Định. Bửu là người ruột của CIA, nắm Công đoàn vàng ở miền Nam, vô cùng quyền thế và giàu có, được coi như nòng cốt trong đảng Công nông mà ông Thiệu tính thành lập.


Trong bữa cơm, Việt vồn vã gắp thức ăn cho chàng:


– Ấn Quang[3] tính làm gì, nếu ông Dzu trở thành chủ nhân của dinh Độc Lập? Con trai ổng, thằng David Trương Đình Hùng ở New York đang làm việc với ông Đinh Bá Thi, quan sát viên của Việt cộng ở Liên hiệp quốc đó. Tất cả do Mỹ sắp đặt hết.


Trong âm sắc của lời nói, chàng nhận thấy một cái gì đó có căn cứ, chứ không là sự khoác lác thường ngày nữa. Tuy nhiên, chàng chỉ ậm ừ cho qua chuyện:


– Ôi! Việc của quý thầy Trí Quang, Thiện Minh và mấy ông bác sĩ Nguyễn Duy Tài, tướng Tôn Thất Đính, tôi biết sao nổi.


Việt kích chàng một phát:


– Anh em nhà ông đọc gần hết sách trong thiên hạ, dư biết là anh hùng phải tạo thời thế, chứ đâu để thời thế nó xoay mình như chong chóng được?


Chàng phản pháo chọc Việt chơi:


– Ông nói làm tôi kinh sợ tới suýt rơi đũa như Lưu Bị trước Tào Tháo. Bây giờ chỉ đám Xịa[4] như mấy ông làm anh hùng thôi, ai dám tranh lại thì tính sổ.


Bất ngờ được đãi cho một đoạn lý thú trong Tam Quốc Chí, Việt cười khoái trá, hơi men làm anh ta bộc lộ thêm về con người mình:


Như tôi đây, nói dóc kiếm cơm, kiếm rượuanh ta lên giọng hát bộ rồi hạ xuống, bình bình một cách sầu não – hồi xuống chó lắm đứa khinh khi, lúc lên voi bao kẻ tới chầu, nghĩ cũng tức cười – Việt tâm sự với chàng – Cái gì cũng phải trả giá, tay Trần Quốc Bửu đã ngoại năm mươi còn chài được cả mẹ lẫn con bà Phương Khanh, vợ tướng Trần Công Khanh. Tết rồi, y về Qui Nhơn úm con nhỏ, được bên kia gửi tặng quả claymore, phước ba đời nhà ổng... ngòi không nổ! Nói vậy chớ tôi cũng nghĩ tới việc để đức cho mấy đứa con bằng cách hỗ trợ cho cái hội từ thiện đồng hương Quảng Ngãi của ông. Bây giờ ai đi đường nấy, tôi kiếm tiền góp vào, ông về chỉ cần vận động mấy tay đang gầy sòng trong nhà ông là có đủ chân hội hè rồi. Hề hề.


Cái thằng cười thật đểu, mà sao có lúc nó nói trông cũng thật đáng thương thế, những lời phát xuất từ quả tim?


Năm 1967, kết quả cuộc bầu cử tổng thống, chỉ trừ cụ Sửu, cái điều tới đứa con nít cũng biết đã xảy ra: Thiệu – Kỳ dọn văn phòng vô dinh Độc Lập để tiếp tục công cuộc đồng sàng dị mộng của họ. Thiệu đã chịu nhún nhường để luật sư Nguyễn Văn Lộc, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quân dân, thuộc cánh Kỳ, làm thủ tướng.


Tất nhiên, báo chí nhân cơ hội giao thừa, thả dàn tố cáo bọn họ gian lận, nhưng rốt cuộc, chó cứ sủa lạc đà cứ đi, chỉ sướng tai độc giả ít lâu, sau thì đâu lại vào đó. Bom vẫn gầm, đạn vẫn rú, dân vẫn chết, khăn trắng đi đầy đường, mặt người xanh sắc đói, quan lại tham nhũng như hổ báo, đầy đường từ thành thị tới thôn quê.


Chú ruột chàng, chú Mười, người đàn ông hoang đàng từng ăn cắp chiếc bình ngọc bích gia bảo của bà nội chàng bán đi, mua giường Hồng Kông cho bồ ngủ hồi đầu thế kỉ này, bấy giờ có đứa con trai út đi lính ở Quảng Trị. Chú, ngài cựu công tử nghèo mướp, trên chiếc xe đạp từ Thi Phổ ra thăm con trên dặm đường gần ba trăm cây số đã dừng chân trên đỉnh đèo Hải Vân. Nhìn cảnh sơn thanh thủy tú, chú rậm rãi giở pocbaga, lấy chiếc ấm Thế Đức gan gà mang theo trong túi, ngồi xuống tảng đá trên đỉnh mây cuốn mịt mù, gom ba hòn đá làm ông Táo, nhóm lá khô, đánh diêm gầy một bếp lửa nhỏ, nấu nước sôi mà pha trà ung dung uống chơi.


Rất tiếc, dù nhớ kĩ, ông đã không ngâm hai câu thơ của Trần Bích San[5]:


Thu thảo bán không đệ nhật nguyệt


Kiền khôn trích nhãn tiểu trần ai để cất một tiếng cười.


Thằng Viết, con trai chú, bị bắt lính binh nhì, nghe chuyện đã kể lại cho viên thiếu úy trung đội trưởng của mình. Viên sĩ quan rất tán thưởng và phát hiện ra Viết chính là anh em thúc bá của chàng, thầy học cũ. Nhờ đó, Viết được nâng đỡ và thăng lên hạ sĩ.


Chú chàng ở quê, nhân có hai cán bộ Việt minh về hoạt động bị lộ và hi sinh gần cầu Đập. Thấy không có thân nhân nhận xác, ông bèn kêu gọi láng giềng góp tiền lo tống táng. Quận trưởng được tin cho người đến tra hỏi. Chú nổi đóa, chửi bới lung tung và bị bắt. Thả về, chú bị bệnh chết. Đấy, từng người thân trong họ hàng nhà chàng đã ra đi. Cho nên, với chàng, dù ai có làm tổng thống, làm nghị sĩ, dân biểu thì cũng vậy thôi.


Kết quả cuộc bầu cử Tổng thống 1967 ở miền Nam, chàng đặc biệt lưu ý đến Trương Đình Dzu, một luật sư tới bây giờ chưa mấy tiếng tăm, đã về nhì trong cuộc chạy đua vào dinh Độc Lập, mà phần lớn số phiếu bầu cho ông lại từ các vùng xôi đậu.


Trong khi đó, Trần Văn Hương, một nhà giáo từng làm đô trưởng Sài Gòn, nổi tiếng thanh liêm vì việc đi xe đạp tới Sở, người có câu nói thời danh lúc làm thủ tướng năm 1964 giết hết tham nhũng thì lấy ai làm việc, người đòi nướng chả các nhà sư và đánh đòn những sinh viên biểu tình, người đứng phó cho ông đốc phủ sứ Mai Thọ Truyền, khuynh hướng Nam–kỳ–quốc trứ danh, đã về ba[6].


Nhìn cái tương quan lực lượng qua số thăm của mỗi bên, chàng đã ngửi thấy rằng có một tình hình mới đang âm ỉ manh nha bên trong cái bề ngoài im lìm của cuộc sống giăng bủa bằng dây thép gai và được canh giữ bằng những họng súng đen ngòm, ló ra từ những lô cốt loang lổ vết đạn. Trong nghị trường, nhiều khi cùng một phe, người ta vẫn đấu đá nhau.


Nói chi cho xa, ngay tại nhà chàng, cánh văn nghệ vẫn đàn đúm, các chính khách vẫn cao đàm hùng biện. Khóa cửa phòng thật kĩ, chửi Thiệu – Kỳ cho đã miệng chơi. Đám đánh bạc vẫn thức suốt đêm từ tối thứ Bảy đến sáng thứ Hai, có anh tất bật xỏ nhầm giày dép của bạn, mắt nhắm mắt mở tới trường trông thật thảm hại.


Về phía Thượng và Hạ viện, thì liên danh Hoa Sen của ông Vũ Văn Mẫu được các thầy chăm sóc kĩ và cũng được Mỹ cùng đám quân phiệt nể lòng thừa nhận đắc cử, chiếm một phần sáu nghị trường Bạch Đằng: giáo sư Mẫu là thạc sĩ, cựu ngoại trưởng đã từng cạo đầu từ chức năm 1963, để phản đối Diệm, Nhu đàn áp Phật giáo. Trước bốn lăm, ông từng làm tri huyện. Ông kết với Bùi Tường Huân, Tiến sĩ Luật, Đại Việt, từng làm Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ Khánh. Đó là hai Phật tử người Bắc.


Phía cái nôi Phật giáo miền Trung thì Huế chiếm trọn, với hai người, một con và một rể của ông Tôn Thất Hối, nguyên Đại biểu chính phủ ở trung phần: bác sĩ Tôn Thất Niệm và giáo sư từ Mỹ về, cựu nhà sư Thích Trí Không, giáo sư Trần Quang Thuận.


Cao đài và Hòa hảo cũng hiện diện trong đó với hai sĩ quan: Hồng Sơn Đông và Trần Duy Đôn. Ba ghế còn lại, theo ông Mẫu, thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc: Sơn Thái Nguyên người Khmer, Tôn Ái Liêng người Chàm và K’sorot người Tây nguyên.


Bên Hạ viện, từ Bình Định trở ra, gồm Bình Trị Thiên, Nam Ngãi Bình Phú là địa bàn của Quốc dân đảng, Đại Việt và Phật giáo. Tất nhiên, ở địa phương nào, phe chính quyền của Thiệu – Kỳ cũng cố giành vài ghế cho người của mình.


Hồi đó Ấn Quang có một nhà sư đẹp trai, ăn nói rất duyên. Trong các buổi thuyết pháp, ông chọc cười giới bình dân bằng những câu chuyện khôi hài vừa với tầm mức họ, nên được hoan nghênh nhiệt liệt. Ông đi tới đâu, giới phụ nữ bu như kiến. Một thiếu phụ xinh đẹp nọ, gốc Thừa Thiên nhưng đã vào sinh sống ở Long Xuyên vài đời, có mối quan hệ đặc biệt với ông, được ông quyết liệt ủng hộ. Vị nữ lưu này đã đắc cử tại Huế, đại diện cho giới Phật tử cố đô tại Hạ viện, mặc dù trên nguyên tắc, Ấn Quang tẩy chay việc bầu bán. Thế là miền Nam đường hoàng có Hiến pháp, có Lưỡng viện Quốc hội, có tổng thống, đúng trò chơi dân chủ kiểu Tây phương.


Dạo đó, sư thầy Hồng Ân vào Sài Gòn đến thăm chàng, cùng đi với một người bận nâu sòng đã thì phát Đại đức Thích Tâm Quang. Ông này nhỏ hơn chàng non một giáp, người thấp, lưỡng mục bất đồng nhưng thật sáng, rất xứng với cái miệng tròn, bờ môi mỏng. Sư thầy lấy làm vui được biết Tâm Quang đã tới đây chơi vài lần và kết chàng làm anh em. Sư thầy nói:


Hôm nay tôi tới thăm ông giáo, chính thức nhờ ông giáo giúp Tâm Quang làm cái trường. Thôi, bây giờ thiên hạ mưu bá đồ vương hết, thầy trò mình mở cái trường ra dạy không công cho con em nhà nghèo làm phước vậy.


Rất mến vị chơn tu, chàng thưa:


– Bạch thầy, – chàng nhìn Tâm Quang – Tụi con đã chuẩn bị cho việc đó lâu nay. Đại đức Tâm Quang đây thực đáng quý. Một mình một bóng, ở khu đất trống vừa mua được tại vùng Cây Da Sà(1) còn hoang vu, trời nắng chang chang, lội xuống ao dùng tay hốt từng nắm đất với quyết tâm đắp cho được cái nền mà trên đó sẽ xây một ngôi trường cho những con em bất hạnh. So với cái gắng sức của một con người đơn lẻ thì công trình, dù chỉ là ngôi trường ba gian, to lớn biết bao.


Đến đây, thầy Hồng Ân, như được gãi đúng chỗ ngứa, không ngăn nổi sự bộc lộ ra tất cả cá tính của mình, thầy cười, vẫn nụ cười thật hiền:


– Như ông giáo từng biết đấy. Tôi dạy cho đệ tử tôi người nào cũng phải trì chí ư hạng lậu, nhân bất tham kỳ ưu nhi, hồi giả bất cải kỳ lạc. Chơ vơ trên đỉnh Thiên Ấn, Hồng Ân này đã phải cạp đất mà sống thì học trò của Hồng Ân cũng phải vậy.


Chợt có anh Hóa đang đánh bài từ trên gác xuống, chàng giới thiệu với sư thầy: – Thưa thầy, đây, anh Hóa, giáo sư Sử Địa nổi tiếng, người đồng hương.


Chàng nói với Hóa: – Quảng Ngãi ta có đại danh thắng mà cho tới đứa trẻ con cũng biết, đó là chùa Thiên Ấn mà sư thầy Thích Hồng Ân đây chủ trì.


Thầy có truyền cho tôi và ông Tâm Quang cũng cố gắng lập cái trường miễn phí cho con em. Anh cũng rõ là lâu nay tôi để quý anh tha hồ gầy sòng làm vui trong nhà tôi, chẳng những không lấy xâu, mà còn bỏ tiền túi ra phục dịch các vị cơm, phở tận tình. Có khi các anh lười không xuống đi tiểu mà xổ đại vào chai bia, tôi phải đích thân làm vệ sinh. Con cái tôi thì tôi cấm ngặt, không đứa nào được mon men tới chỗ cờ bạc. Các anh suốt tuần bán cháo phổi, buổi nào nghỉ phải giải trí một chút, đúng thôi. Nhưng anh là niên trưởng trong đám đổ bát làm vui này, xin anh trình với anh em: nhờ phước đức ông bà mà anh em được học hành, có cái chữ. Trong khi những con em nghèo ở thành phố này không có tiền đóng học phí đành chịu dốt.


Sau ba tháng hầu hạ mấy anh, giờ tôi xin mấy anh nhín trong số ba, bốn buổi hàng tuần tiêu khiển nơi đây, xin cho bớt tôi mỗi người mấy giờ, anh Chưởng thì dạy Toán, anh Thận: Pháp văn, anh Tích: Lý Hóa, Sử Địa; anh, chú Châu: Việt văn. Anh văn thì đã có mấy đại đức bạn của ông Tâm Quang, kiêm giám đốc. Tôi lãnh phần hiệu trưởng gánh dạy mấy môn phụ, Công dân, Vạn vật gì cũng được.


Thầy Hồng Ân và anh Hóa rất sung sướng, người bỗng chốc thành thầy của giám đốc và hiệu trưởng, người thành thủ lãnh một nhóm giáo sư phần lớn ai cũng có bằng cử nhân trở lên. Câu chuyện lí giải vì sao có sòng bạc không xâu tại nhà chàng năm 1967 và có cả một trường tư thục dạy không học phí cho con em nghèo ở miền Nam do một nhóm cá nhân làm phước: trường Anoma!


Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó. Bên sòng bạc giải khuây nhà chàng là Tao đàn của mấy vị lớn tuổi: anh Bảy, giáo sư Nguyễn Văn Xung, nhà thơ Đông Hồ, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Vũ Khắc Khoan, cụ Đào Chi Tiên, con gái cụ nghè Đào Tấn... nhất là những khi có anh Quách Tấn từ Nha Trang vào chơi. Bà thường nhờ một người cháu kêu bằng cô chở đến. Anh ta tên Nhượng, người cục mịch, nói đặc giọng Bình Định.


Và trong khi các bậc trưởng thượng của anh bàn chuyện thơ Đường, thơ Tống thì anh phải ngáp lên ngáp xuống đợi chờ. Phước đức làm sao: trên gác có cả một sòng bạc và sẵn chút không gian dành cho anh ghé cái đít không mấy nở nang của mình vào.


Nhượng không bằng cấp văn chương chữ nghĩa mấy, anh làm thợ mộc Sở Mỹ RMK. Việc anh quen biết với chàng hoàn toàn bất ngờ. Nhưng trên cõi đời này, chính cái bất ngờ đã làm nên những gì siêu lịch sử, như khi quả đất tự dưng có đường nứt ở Dawmbia vào kỷ đệ Tứ, một lượng lớn radium đã trào ra, phóng xạ tự nhiên, oanh tạc mất một cặp nhiễm sắc thể để cho loài vượn người chỉ còn 23. Và cũng ngẫu nhiên, thời đó tại vùng này nhiều rừng cây sồi là nơi sinh sôi nảy nở của vô số chồn cheo mà con người săn bắt dễ dàng để bổ sung nguồn đạm cho bộ óc của mình phát triển, nhờ đó tổ tiên chúng ta từ Ejected tiến lên Homo[7] Fabula. Vậy thì cái ngẫu–nhiên–nhượng này có ý nghĩa gì?


Nguyên chàng có người anh họ từ quê vô kiếm việc. Anh này tên ba Thuyết, cùng ông nội với anh xã Thọ và máu mê đổ bát thì cũng xêm xêm nhau. Cái sòng bạc của mấy ông giáo tình cờ trở thành phương thế tạm thời độ nhật của anh, điều chàng rất không thích[8].


Chàng đem tâm sự nói với Nhượng. Anh nói:


– Dễ ợt. Ông giúp làm bảo lãnh cho ổng đi. Mai tôi đem hồ sơ ra gặp thằng Bill kiếm việc cho. Tôi vẫn dắt gái cho nó đấy mà, nói gì nó không nghe. Anh Thuyết chỉ cần làm cái công việc đơn giản là cầm búa đóng đinh thôi thì cũng hơn lương cử nhân của ông nghè, ông cống.


Chàng đâm ra chịu ơn Nhượng nên hay cùng anh chuyện trò. Thỉnh thoảng Nhượng, con người vô danh đời thường đó, lâu lâu lại bật mí những chuyện động trời mà chính khách hàng đầu bây giờ cũng mù tịt thì mới lạ chớ. Ví dụ như câu chuyện sau đây:


Trước Tết, sau một canh bạc tẩy trần cuối năm thắng lợi, Nhượng hớn hở ra về thì gặp chàng vừa dự tất niên với học trò, tung tăng trong tay một bó hoa tươi về nhà. Nhượng kéo xe chàng lại rỉ tai:


– Nói cái này nghe, nhưng phải giữ tuyệt đối bí mật nhé, lộ ra ngoài tụi an ninh bắt thẩm vấn tìm cho ra nguồn tin, đánh tới chết nghen. Hôm qua thằng Bill gửi con vợ nó cho tôi, nói Tết này Việt cộng sẽ vô đô thành, đánh nhau to. Hãng RMK không biết chừng sẽ thu nhỏ hoạt động lại. Phần nó, phải về Mỹ lo cho con nhỏ này sang. Nhớ chuẩn bị sẵn gạo, thịt muối, trứng vịt, dưa cải, than củi... dùng cho dài ngày. Thấy cái bầy con năm đứa và đám cháu đông đảo của ông tôi lo lắm.


Chàng nghiệm thấy anh chàng Nhượng này so với Việt là hai thái cực. Một tay đại khoác lác, mười voi chưa được bát nước xáo, còn người kia củ mỉ cù mì, lịt lịt không hé răng, đánh bạc lúc nào cũng ăn, chưa thấy nói cái gì sai. Cho nên, nhân lúc thầy Thông Bửu đến nhà thăm Tết, mang cho ít tiền nhuận bút, chàng ghé chợ Bà Chiểu mua tuốt tuột một lúc mấy cân thịt heo và mấy chục trứng vịt liền.


Vợ chàng rất ngạc nhiên, vì từ thuở nào giờ, chàng không bao giờ lưu ý tới việc bếp núc, cả việc đút cơm cho con, thay tã cho chúng, không bao giờ chàng mó tay tới. Chàng hay đùa đọc câu cổ văn mà cha từng dạy: Ngô văn quân tử viễn bào trù. Ta nghe, đức Thánh dạy: người quân tử phải xa lánh việc bếp núc. Chàng giải thích cho nàng: Tiền bán văn trên báo An Lạc cả năm nay, giờ đổi hết ra thịt kho tàu cho tụi nhỏ. Có một đấng phu quân tận hiếu với vợ con như thế, bất duyệt lạc hồ? - Nàng cười đỏ mặt, nói với Bùi Minh và Lương Bá Phưởng, hai người bạn còn độc thân, hay tá túc ở đây, Phưởng thì nhập sòng, Minh thì luôn luận bàn kinh sách:


– Trời đất ơi, mấy anh coi, nay ông nhà tôi mà biết đi chợ mua thịt, chắc đổi đời rồi. Tết này không mưa to gió lớn thì cũng đạn bom tơi bời cho coi.


Thần khẩu buộc xác phàm. Qua ngày mồng một bình thường, nửa đêm mồng hai súng nổ khắp nơi. Ai cũng tái mét, nín thít trong nhà. Chàng và lũ con biết chậm hơn mọi người vì qua ngày mồng một cúng kiếng, tiếp khách, thăm viếng mệt lử cò bợ, chàng lại có thói quen cưng vợ đúng vào đêm đầu năm mà chàng thường bỡn cợt là minh niên khai bút theo đúng truyền thống nho gia, nên ngủ mê đi, ban đầu cũng ngỡ rằng pháo Tết của đám nhà giàu luôn ganh nhau cho rộ lên, xem ai chơi nổi hơn mà thôi. Phưởng, bạn thân chàng và anh Bảy ngủ trên gác. Hai nhà chí sĩ này (như chàng hay chọc, vì đều đã nhiều tuổi mà chưa có vợ) thường thức như sáo, một ông đọc sách đông tây kim cổ, một ông mê đổ bát, nhận ra những tiếng nổ chát chúa trước tiên. Nhưng anh Bảy, nhà thông thái có tầm nhìn chính trị xa xôi, thì chắc nịch bảo Phưởng:


– Mày thấy không, tao đã tiên tri là thằng Thiệu và thằng Kỳ thế nào cũng choảng nhau to. Bây giờ lửa cháy. Quả là tiếp đó có tiếng rền vang thật lớn rồi một góc trời mây bỗng đỏ rực – tất nhiên là có người chết. Nhưng tao cá với mày mười ăn một: Kỳ sẽ thắng nếu phải đọ súng. Rồi họ đánh thức chàng dậy, tính chuyện tản cư. Riêng chàng giật mình thấy lời Nhượng không sai một chút nào. Cả buổi sáng, sẵn có thịt mỡ dưa hành, bánh chưng xanh, tất cả cố thủ trong nhà. Không đủ tay tứ sắc thì anh Bảy với Bùi Minh bày cờ tướng cùng nhau giết thì giờ vậy. Hai tiên ông quần thảo cho qua buổi sáng.


Mãi khi chàng và Phưởng men ra đầu đường Chi Lăng[9] tính tìm trầu cho bà nhạc thì gặp ngay một ông lính Mỹ to đùng đang nằm đầu hẻm Hàng Keo, mình đẫm máu, trong tay vẫn còn cây súng. Ông Hai chủ nhà mới từ sân bay tất tả chạy về cho vợ con biết đêm qua Việt cộng tổng tấn công vào Thủ đô.


Gần mười giờ thì nhà chàng đón rất đông những người khách không mời mà đến. Cả chục vị, đàn bà trẻ con, mền chiếu, xoong nồi thuộc hai gia đình anh Bùi Đức Chu ở cổng xe lửa 11 và anh Năm Vị ở Bảy Hiền, nơi đang có chiến sự ác liệt tản cư tới.


Thầy Huỳnh Hòa thì xuống ở nhà Tấn kề bên, nhưng tất cả tụ lại xung quanh xa lông nhà chàng. Tổng hợp tin tức, mỗi người nghe một nơi, kẻ thì từ đài BBC, người bạo dạn ra tới đầu hẻm, giữa những tiếng súng trường và liên thanh thật gần đan xen với tiếng máy bay gầm rú và tiếng rocket xa hơn vọng lại. Người ta cho nhau biết: Đêm qua Việt cộng đã đột nhập dinh Độc Lập, Đài Phát thanh Sài Gòn và Tòa Đại sứ Mỹ ở đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn). Thầy Hòa xanh mét, mọi khi ông rất hùng hồn trong lập trường chống Cộng của mình.


 Anh Chu cũng gật gật gù. Thầy đâu biết rằng anh chỉ là một công chức gương mẫu của mọi chế độ, thời kháng chiến dạy tới phút chót, nhưng khi được gọi đi tập kết thì lỉnh rất nhanh ra Huế; thời Diệm đang là giáo sư, vẫn ngoan ngoãn theo cái gọi là Phong trào Cách mạng Quốc gia của Diệm để trở thành dân biểu. Bốn năm hết hạn dân biểu, người ta thay anh bằng một ông thông nhà thương, anh yên phận, cho thế cũng đủ miếng đỉnh chung rồi, hiền lành trở về godautre (gõ đầu trẻ).


Theo anh, cứ sống thủ thường, tốt với anh em bầu bạn, đầm ấm với vợ con, không mất lòng láng giềng, cái mẫu người chính nhân (l’honnêtehomme) trong văn chương Pháp mà anh học đỗ tới tú tài Tây và Quân Tử trong đạo Khổng mà cha anh, một vị cử nhân Nho học, truyền lại phải tùy thời chi nghĩa mà hạ xuống tới mức đó là đủ.


Nếu những tiêu chuẩn đạo đức khắt khe nó đánh lừa, làm rộn rã và vất vả cuộc sống của hầu hết chúng ta, thì cái mẫu mực của anh Chu không thể không đáng suy nghĩ vì chí ít nó cũng dễ mang đến hạnh phúc, dù nhỏ bé, tầm thường.


Cho nên tự do không thể chia ra từng mảnh thì hạnh phúc cũng không thể có lớn nhỏ. Sau giải phóng, những người chống Diệm, hầu hết đi ở tù, anh Biên chết trong trại giam, anh Diễn bại liệt, anh Hoàng mù mắt, phần anh vẫn an lành tiếp tục đi dạy tới ngoài sáu mươi, trước khi về hưu còn được lãnh bằng khen Nhà giáo gương mẫu.


Anh Năm Vị, cùng tuổi với người anh kề chàng, chỉ hết tiểu học, đã từng là Đảng viên, đang làm ruộng ở quê phải bỏ làng chạy vô đây mấy năm làm nghề thợ dệt thức khuya dậy sớm gom được chút vốn nhỏ, mua được nhà, tự sắm máy, toan làm tiểu chủ thì nay tất cả cháy sạch. Anh oán thù chiến tranh, không phân biệt ai. Riêng chàng và Tấn, hai người đang say sưa hoạt động trong phong trào đòi hòa bình thì đổ hết tội lỗi cho Mỹ. Họ nói nếu không có Mỹ ủng hộ ông Thiệu quân phiệt, tham nhũng thì hai bên có thể thỏa thuận để chấm dứt chiến tranh, là phương pháp duy nhất, hết cảnh nhà cháy, người chết.


Riêng chàng, thủ khẩu như bình. Làm Tổng thư ký các hội đoàn Phật tử, kiêm trợ lý Thượng tọa chánh đại diện Gia Định[10], nhiệm vụ của chàng là làm sao vận dụng phương pháp tổ chức quần chúng hồi xưa học ở Liên khu Năm mà đoàn ngũ hóa các tầng lớp lao động ở Sài Gòn -Gia Định, trung tâm đầu não của cả miền Nam này, cho sẵn sàng khi hữu sự.


Bạn có thể kêu gào về thảm cảnh đầu rơi máu đổ, nhưng ở những đâu xa xôi hẻo lánh không ai biết tới, chớ bây giờ thì ra ngõ đã thấy chiến tranh, bất luận ta, thù đều có người chết, bị thương thì hay hơn hết là tổ chức cứu trợ, ngọn cờ nhân đạo không một ai chỉ trích được.


Chàng lấy xe dò đường thử, mặc vợ hết lời can ngăn. Nàng nói:


Thời buổi tên bay đạn lạc, biết sao mà tránh, lỡ có chuyện gì…. Chàng đùa: Thì tôi về chín suối để tìm vàng, còn bà… rồi rồ máy dông ra hẻm. Ở trường Vẽ[11], cửa mọi nhà nửa đóng nửa mở. Một người quen, thấy bóng chàng bèn hú rủ chàng xuống Hàng Xanh coi đánh nhau.


Khu vực này hồi đó còn trống trơn, dân chúng đứng lố nhố bên này cầu Bạch Đằng chỉ trỏ những làn khói khạc đạn của súng trung liên từ vạt dừa nước ven xa lộ, trong khi lính Quốc gia trên mấy thiết vận xa án ngữ ở cầu Phan Thanh Giản chầm chậm di chuyển, chờ máy bay phóng rocket xuống mục tiêu.


Mỗi lần có tiếng nổ to và liên tục, đám dân chúng ô hợp, hiếu kì lại chạy dạt về dốc cầu gần nhà, lãng đãng tụ thành nhóm nhỏ, rôm rả nói cười và bình luận linh tinh, như những kẻ hoàn toàn đứng ngoài cuộc chơi, không liên quan gì đến biến cố trọng đại đang xảy ra.


Cứ thế mãi đến khi tối mịt, chàng tự hỏi, với một chút lo lắng, liệu những người lính Giải phóng có kịp rút lui, chừng như về phía Long Thành không? Lại một đêm mất ngủ. Sáng hôm sau, chàng nhất quyết lên bệnh viện Bình Dân, phòng 15 nội trú gặp chị bác sĩ Đỗ Thị Văn. Chị người thật nhỏ nhắn, nom như bé gái chừng mười lăm, nhưng học rất giỏi, giáo sư Trần Ngọc Ninh rất quý chị, coi như con và tận tình dìu dắt. Chị cũng say mê công tác xã hội và thuần thành là một Phật tử theo truyền thống gia đình người Bắc. Chị và chị Trần Thị Lan là hai người mà chàng quen rất lâu. Trái với Văn, Lan người cao lớn, da trắng, có bộ ngực đồ sộ. Bấy giờ báo chí hay khai thác chuyện kinh dị, có nói rằng ở khám Chí Hòa có một con ma nữ với đôi vú thật dài, thỉnh thoảng lại hiện ra trêu chọc kẻ yếu bóng vía. Đám sinh viên đàn em hoạt động phong trào thường lém lỉnh gọi đùa chị Lan là… con ma vú dài, bị chị nổi đóa kí vào đầu mấy cái liền mới thôi.


Chàng quen Lan hồi hè 1963, Lan vừa thi xong tú tài 2, gặp lúc miền Trung bão lụt, bèn cùng đoàn Phật tử chùa Vĩnh Nghiêm vừa hành hương ra Huế, vừa cứu trợ nạn nhân. Đoàn có ghé chùa Tỉnh hội Quảng Ngãi và Lan đã đến thăm gia đình chàng, bấy giờ còn ở Cống Kiểu. Hồi Mậu thân, Lan đã tốt nghiệp Cử nhân Sử Địa và đang đi dạy. Nhà Lan ở hẻm 399 Phan Đình Phùng, mẹ chị là một bà má Bàn Cờ. Hai người em gái của Lan là Huệ và Bích đều rất xinh đẹp và nhân hậu, ai cũng mến.


Còn chị Văn bấy giờ vừa thực tập xong bác sĩ ở bệnh viện, rất thân với chị Dương Hà Lệ Quyên, vợ Đỗ Quý Toàn, dạy cùng trường với chàng và cùng có chân trong Trung tâm Pen Club. Quyên là một dược sĩ có nhà thuốc tây ở gần nhà ông Trương Đình Dzu. Toàn làm thơ khá hay và cùng với Lê Đình Điểu, Phạm Phú Minh, Hà Tường Cát, Trần Đại Lộc, Trần Viết Ngạc, nòng cốt cho nhóm Thanh niên học đường trước đây. Cánh này phần lớn người Bắc và Trung, theo đạo Phật. Song thai và cùng mục đích với họ, là nhóm công tác xã hội miền Nam, gồm những người Công giáo trẻ, phần lớn dân Nam kỳ trước học Taberd, do Đỗ Ngọc Yến làm thủ lĩnh, với rất đông đảo thanh niên thiện chí: Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Ngô Công Đức, Mai Như Mạnh, Trần Ngọc Báu... Yến xứng đáng là một thủ trưởng bình dị, người khắc khổ, luôn áo sơ mi trắng, dép săng đan, Yến có thể kí một traveller check mệnh giá đến ngàn đô, lĩnh ở bất cứ ngân hàng nào ở Đông Nam Á, Hồng Kông hay Singapore chẳng hạn.


Anh chu đáo đến độ, dù bản thân thờ Chúa, anh có thể nhớ kĩ là trong tháng tới, chùa Huệ Nghiêm của sư thầy Tuệ Hải ở Thủ Đức có giỗ vào ngày nào và anh không bao giờ quên một ngày trước chính kỵ, mượn sẵn của Bộ Giáo dục hai tấm bông sô lớn và cẩn thận cho người mang lên căng trước sân ngôi cổ tự để sư thầy có chỗ làm cơm đãi khách thập phương, dĩ nhiên trong số đó, anh không hề vắng mặt.


Vậy mà, cho cá nhân mình, bao giờ anh cũng là một mẫu mực của sự cần kiệm liêm chính chí công vô tư. Trên mũi anh luôn có đôi mục kỉnh mà một mặt kiếng đã nứt ngang, anh lấy băng keo trong dán lại và tiếp tục cưng quý nó, thay vì mua một cái kính mới, bấy giờ giá chỉ chừng mười ngàn.


Hồi Nguyễn Cao Kỳ ra lập Nội các Chiến tranh, tự xưng là chính phủ của giới trẻ, hô hào Bắc tiến, Kỳ đã thận trọng mời nhóm anh tham chính. Anh đã để Võ Long Triều đứng ra làm Bộ trưởng Thanh niên.


Giáo sư Trần Ngọc Ninh, nhà trí thức yêu mê khoa học và học thuật hơn chính bản thân và vợ con mình đã không một chút hay biết gì về những đồng sự của ông. Dưới mắt ông, tất cả đều là thiện chí. Nhiều đêm, trong ngôi nhà bên khuôn viên bệnh viện Nhi đồng chàng đã cùng ông tâm sự nhiều điều. Và, cuối cùng, ông đã rút lui khỏi cái gọi là chính phủ dân nghèo của Nguyễn Cao Kỳ. Cho hay, càng học rộng, càng mơ ước những cái cao đẹp, càng bị những cái và những kẻ tầm thường nhất đánh lừa. Hồi xưa, trong lớp học, Socrate giảng con người là một sinh vật có hai chân và không có lông vũ. Diogène đã bắt một con gà, vặt sạch lông, rồi ném qua cửa sổ của lớp học nói: Đấy, con người của Socrate. Chàng rất thương mến anh Ninh về thái độ hiền triết trí giả nhược nột đượm màu Lão Tử.


Ngược lại, thấy giáo sư Ninh trọng thị chàng nên nhóm Summer program thường mời chàng dự các sinh hoạt của họ. Chàng đang ngấm ngầm tổ chức Tổng liên đoàn Học sinh Phật tử Sài Gòn - Gia Định và tính nhờ chị Văn tiếp giúp một tay. Chàng đã hướng dẫn cho một người học trò của mình, một đại đức trẻ ở chùa Quan Thế Âm, pháp hiệu Thích Pháp Châu, thế danh Bạch Văn Đào đang học lớp 11 trường Đạt Đức, làm đoàn trưởng. Pháp Châu có bộ râu quai nón cực kì rậm rạp và đôi mắt xanh, rất giống Đạt Ma Tổ Sư, chàng thường gọi đùa là sư Bích Nhãn[12], anh ta có vẻ rất chịu.


Biến cố Mậu thân, bốn bề lửa khói, trường nghỉ học, tốt nhất là phải lăn vào việc cứu trợ thì với một mũi tên, ta có thể bắn được hai con chim chàng nghĩ. Dùng công việc để hình thành tổ chức và nhân danh lòng nhân đạo để mở rộng quan hệ, thì không gì hay bằng việc làm từ thiện. Với kẻ hăng tiết vịt, chống Cộng tới đâu, mà đem công tác cứu trợ nạn nhân ra rủ, dù họ không tham gia thì cũng không thể chống đối. Còn với các anh chị nhút nhát nhất, thì chỉ môi trường có vẻ phi chính trị này mới khiến họ bớt gan thỏ đế, mà từng bước dấn thân.


Tiếng trực thăng quần ầm ĩ, tiếng rocket còn chát chúa, từng cụm khói đen sì bay lên, miệt chợ Bàn Cờ, Nguyễn Thiện Thuật chắc đang trong biển lửa. Sáng mồng ba Tết Mậu thân, sau bữa cơm cúng tiễn đưa ông bà bằng ít thịt muối còn lại và con gà nhỏ mua ở đầu hẻm, chàng thắng sơ mi mới tinh, thắt cà vạt, đội mũ phớt thời thượng, bỏ ngoài tai những lời can ngăn của vợ, lấy cớ đi thăm người bạn xưa dạy Trần Quốc Tuấn, mới đổi vào trung học Pétrus Ký[13] chưa kịp đem theo gia đình, chẳng may trước Tết bị xe tông gãy giò, đang một mình nằm điều trị ở bệnh viện Chợ Rẫy.


Trên chiếc xe Honda đen 67, chàng nghĩ bụng: Mình đóng vai một kí giả săn tin, chắc không bên nào chọn làm mục tiêu lảy cò đâu. Cầu Bông, Hiền Vương[14], Trần Quốc Toản[15], Nguyễn Tri Phương, nhà hai bên đường nửa mở nửa khép, trẻ con vẫn chạy chơi, thỉnh thoảng cũng có người qua lại, sòng bầu cua cá cọp đầu vài con hẻm nhỏ vẫn có người máu mê lố nhố kẻ đứng người ngồi, la ó từng chặp.


Hóa ra dân thành phố là vậy đó: súng cứ nổ, người cứ chết, kẻ vui chơi được vẫn cứ vui chơi. Thời chiến tranh, họ cóc cần mọi thứ, mai kia tới phiên mình ngủm thì cũng vậy thôi. Every cloud has a sliver lightning.


Nhưng vô tới Bà Hạt thì ôi thôi, mấy xác người nằm bên mé đường đã sình lên, máu me vãi ra xung quanh, ruồi bậu bu đen nghịt. Ai đó đã rắc lên một mớ vôi bột. Chàng nhìn kĩ một người: anh ta trạc tuổi mình, đi dép, túi áo nâu nhạt, có giắt cây viết Bic. Một nỗi sợ hãi vô cớ làm chàng thấy ớn lạnh. Quày xe, chàng trở ra, quẹo trái lên Nguyễn Văn Thoại[16], tự chửi bới mình hèn nhát một hồi, rồi thu hết can đảm, nhìn quanh quất không thấy có tay súng hay tiếng nổ nào gần đó, chàng vô Trần Hoàng Quân[17].


Bệnh viện không một ai canh gác, nhưng trước cổng rất đông người, nạn nhân và thân nhân, tiếng rên la và than khóc, tiếng xe cứu thương liên tục hụ còi đến rồi đi. Chàng buồn bã nhìn một cành anh đào mà có lẽ một người nào đó đã trồng trong sân để kỉ niệm công đóng góp của con cháu Thái Dương thần nữ cho bệnh viện lớn nhất ở miền Nam này. Nhưng đây là một cành anh đào Bà Rịa. Dù sao nó vẫn gọi mùa. Ở đâu Thượng đế cũng có mặt. Chàng leo lên lầu ba, Trần An chân bó bột, phải đi từng bước một trên cây nạng gỗ và vẫn không chút gầy ốm như chàng nghĩ. Anh ta mừng rỡ, cho chàng biết mấy bữa nay lần đầu tiên trong đời ăn cái Tết Sài Gòn đơn độc. Tối hôm kia trằn trọc thao thức chờ sáng mãi khi nghe tiếng súng nổ cứ tưởng dân Chợ Lớn xài sang đốt pháo. Nào hay mấy cô y tá đưa người bị thương lên nói do đánh nhau mới hoảng. Sáng nay, đài BBC loan tin sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu Quân đội, Tòa Đại sứ Mỹ, Đài Phát thanh Sài Gòn và từ Quảng Trị, Huế vô Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu... đều bị đồng loạt tấn công.


Té ra anh chàng Trần An suốt đời chân chỉ hạt bột, chỉ lo kiếm tiền cho vợ con, ai nói cũng cười hề hề này còn thạo tin hơn chàng rất nhiều. An dẫn chàng đến bên cửa sổ, chỉ tay xuống đất: một thây người nằm sóng soài thoải mái như đang ngủ, đầu gối lên gốc cây mít cổ thụ cạnh hàng rào. Còn trẻ, cậu ta nom chỉ chừng mười sáu mười bảy, giấc ngủ vĩnh cửu thật hồn nhiên. Chàng thuật lại việc vừa đi qua mấy đoạn đường đầy xác chết, An nói:


– Ông thật là dại. Chỉ một viên đạn lạc là đi tong. Con người chỉ quan trọng cho chính mình và vợ con mình thôi. Mình ngã xuống, tất cả sở hữu, tính từ ngôi thứ nhất đều vô nghĩa.


Anh còn tâm sự: – Hồi còn nhỏ ở Huế, tôi làm Việt minh, ôm truyền đơn đi rải trong trường, bị Công an Quốc gia bắt đánh tưởng chết. May tôi nhờ ông cậu ruột đi lính Tây xin cho về, tôi vừa ở đợ, vừa kiếm chữ, câu cơm. Nay đã có vợ con, lỡ có bề gì thương người vợ trẻ, bé bỏng chiều quê. Tôi thấy ông hơi hăng đấy, coi chừng đó. Trận này bên kia đã không đạt yêu cầu và đang từ khu Vườn Chuối rút về phía cầu chữ Y, ông không nên đi về hướng đó, để đến gặp bất cứ ai như đã dự định. Vả lại, bác sĩ nội trú một bệnh viện chuyên ngoại thương như bệnh viện Bình Dân như chị Văn nào đó thì trong hoàn cảnh này, chưa chắc đã có thì giờ thở, còn đâu bàn tính chuyện gì khác.


Thật chàng không ngờ, cái anh nhà giáo dạy Toán này, cứ tưởng chơi thân với anh Tảng, chỉ sống thực dụng vậy mà cũng triết lý ra phết và cũng có thời kỳ anh hùng thật. Chàng rủ anh ta về nhà nhưng anh từ chối, nói đã báo cho gia đình biết, phải ở đây, thế nào vài ngày tới, vợ con cũng lết thết kéo nhau từ Quảng Ngãi vô, anh đã thuê sẵn nhà ở đường Trần Quang Diệu rồi.


Nghe lời bạn, chàng không tìm gặp chị Văn, ai ngờ sau đó chị chạy luôn ra chiến khu. Cùng đám học trò cũ, bấy giờ cũng đang nhàn cư vì trường còn đóng cửa, chàng lập hai trung tâm cứu trợ, một ở chùa Quan Thế Âm - Phú Nhuận của Thượng tọa Thông Bửu, một ở chùa Linh Sơn quận 1 của Hòa thượng Nhật Minh, nhờ uy tín của hai vị sư này mà xin gạo tiền, áo quần, thuốc men... mang tới các trung tâm phân phát cho những bà con bị cháy nhà hay phải tạm thời chạy loạn vì chiến cuộc.


Một hôm, chàng nhận được thư của chú Út báo tin mẹ không còn được khỏe, buổi tối thị xã Quảng Ngãi thường xuyên bị đạn 8I hay SKZ bắn vào. Ngay giữa nhà, chú đào một cái hầm lớn, và mỗi lần có pháo kích, chú vốn cũng đã quá ốm yếu, cũng phải bồng mẹ xuống. Mỗi bữa mẹ chỉ húp được mấy muỗng cháo và uống sâm cầm hơi, vậy mà cứ đau quặn trong ruột, mửa thốc ra nước bọt liên hồi. Chàng ứa nước mắt, biết mẹ sẽ không còn với con cháu bao lâu nữa.


Kế đến, lại một phong thư của Vàng, người bạn nối khố đang đi dạy ở Tam Kỳ, nói cuộc chiến mà anh cố lẩn tránh bằng cách thọ khổ nhịn ăn trốn lính bảy năm trước đã không tha anh: Vàng vừa nhận hai viên đạn, một vào mông, một vào cánh tay, chỗ nào cũng phải băng bó và đang rất nhức nhối với cái lạnh thấu xương của những đêm giá buốt tháng Giêng năm nay ở quê nhà.


Toàn tin buồn, chàng chong đèn ngồi cho tới gần sáng mới thiếp đi, đầu gục vào tập vở trăm trang học trò. Giở ra thấy dày đặc những con chữ nguệch ngoạc của một bài thơ:


BÀI THƠ THÁNG LOẠN


Sáng qua lột tờ lịch


Thấy hết tháng Giêng rồi


Mới đó mà mau quá


Ngày tháng chạy như thoi


Thoắt đà ba mấy tuổi


Đã hơn nửa cuộc đời


Từ hôm có biến loạn,


Tối tối chẳng đi chơi


Hàng phố lại cúp điện


Chong nến nằm nhà thôi


Đêm nào cũng giở sách


Mà lòng thì rối bời.


Chiều nay lại ngồi rũ


Đọc thư và nhớ người


Mịt mùng cơn lửa loạn


Người chạy về những đâu?


 


Ta vẫn ở Gia Định


Nhà thuê gần chùa Tàu


Tết rồi không về được


Lại nghe mẹ già đau


Không nói ngươi cũng biết


Lòng ta buồn đến đâu?


Chạy hỏi tin ngoài ấy


Đợi mãi, không có tàu


Hết mai rồi lại xế


Mây trắng rặt một màu.


Buổi tối lên gác xép


Thấy vàng rực hỏa châu


Tiếng súng xa vọng lại


Ngươi bảo ta làm sao?


 


Thuở mình lên mười sáu


Chiến tranh đã bắt đầu


Bây giờ gần bốn chục


Khói lửa thêm mịt mù


Chợ búa không người họp


Bữa cơm toàn canh rau


Buổi sáng gương soi mặt


Thâm quầng đôi mắt sâu


Ta thốt nhớ quê cũ


Vầng trăng dưới Vũng Cầu


Những đêm hè yên ả


Chuyện phiếm một hai câu


Ta ngươi cùng nối thuốc


Bàn tính những mai sau.


Rồi bốn lăm khởi nghĩa


Theo toàn dân đánh Tây


Ta ngươi cùng lưu lạc


Ba lô trên vai gầy.


Qua bao nhiêu bão loạn


Không xuống chó lên voi


Cũng thấy mình phá sản


Suốt thân phận lưu đày.


 


Bây giờ ta đứng đây


Làm bố dăm đứa trẻ


Làm chồng một nái xề


Bị cuộc đời bóc lột


Đến hết cả mê say.


Gõ đầu trẻ kiếm sống


Giảng sách Tàu, sách Tây


Văn chương lộn đạo lý


Lải nhải hết năm này


Lại sang đến năm khác


Đâu có gì thay đổi


 


Thơ ta viết tới đó


Súng nổ dồn bên ngoài


Ta tắt đèn nín thít


Lại mong chờ ngày mai


Ngày mai bao giờ đến?


Người ơi! Hề Người ơi!


Chàng mong mỏi đổi thay, chàng chờ một ngày mai. Và chàng biết rằng muốn có đổi thay và muốn ngày mai đến, phải tự chính mình dấn thân. Nhân lúc trường chưa mở dạy, chàng giao công việc từ thiện cho Đại đức Bửu Tuyền và sư Pháp Châu rồi cố chạy chọt mua hai vé máy bay cho mình và anh Bảy về quê.


Từ nhà chú Út, mẹ đã lên ở với anh Sáu, thân hình chỉ còn như xác một con ve sầu. Nằm trong buồng tối, mẹ chỉ còn đôi mắt tinh anh. Chàng đã vận dụng cái chút ánh nắng yếu ớt lọt qua khe cửa, bằng tất cả tình yêu và tâm hồn mơ mộng của mình, đưa máy hình lên ghi lại tấm hình cuối cùng của mẹ. Chàng nhớ lại, bốn năm trước, vào ngày hăm chín tháng Bảy, nhân thôi nôi thằng cu Tí bụ bẫm mà mẹ rất thích ẵm bồng, chàng đã đưa hai bà cháu ra hiệu Lệ Ảnh lấy được hai kiểu thật đặc biệt. Bà thì về sau được chọn làm hình thờ, cháu thì đưa dự thi hình trẻ em đẹp vào dịp lễ Hai Bà Trưng ở vườn Bách Thảo- Sài Gòn. Thấy con cái về đông đủ, mẹ vui hơn, nhưng sợi chỉ mành không sao tồn tại hơn thời khắc của cành phù du. Một sáng mẹ đang ngồi súc miệng thì nôn ọe một cái, máu trong bao tử mẹ túa ra, và từ đó mẹ hôn mê. Sérum và sâm nhung giúp mẹ tồn tại trong đau đớn tột cùng thêm mấy hôm nữa.


Và cái gì phải đến, đã đến. Anh Cả mượn tượng Địa Tạng về, đích thân tụng kinh A Di Đà trong nước mắt. Và linh thiêng làm sao, chỉ qua vài tuần hương, mẹ lạnh dần và ra đi. Hàng tháng không ăn, mẹ sạch sẽ như thánh thể, nằm chờ cho đặng giờ tốt gần một ngày, thi hài mẹ vẫn tinh khôi. Lần này anh Bảy khóc. Và cũng như hồi cha mất, nước mắt chàng chỉ chảy vào trong. Chàng viết cho các con:


... Rồi bà mất, ta trở thành côi cút


Các con học hành, gắng công từng chút


Để lớn lên không lạc giữa dòng đời


Mấy chục năm rồi, các con ơi, có nhớ?...


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Phan Quang Đán, ứng cử Phó Tổng thống với Phan Khắc Sửu năm 1967 ở miền Nam.


 




[2] Sách dạy tiếng Anh thông dụng những năm 1960 ở miền Nam.


 




[3] Phan Quang Đán, ứng cử Phó Tổng thống với Phan Khắc Sửu năm 1967 ở miền Nam.




[4] Xịa tức CIA, cơ quan tình báo Mỹ.


 




[5] Người làng Vị Xuyên (Nam Định) đỗ Tam nguyên.




[6] Trong cuộc bầu cử Tổng thống 1967: 1. Thiệu – Kỳ, 2. Trương Đình Dzu, 3. Trần Văn Hương




(1) Phường 13, quận 6, TPHCM.




[7] Lịch sử tiến hóa từ vượn đến người theo sinh học.




[8] Muốn kiếm cho anh một công việc ở RMK - một hãng xây dựng cầu đường lớn của Hoa Kỳ tại miền Nam lúc đó.


 




[9] Nay là đường Phan Đăng Lưu, Phú Nhuận, TPHCM.


 




[10] Như Chủ tịch Tỉnh Hội Phật giáo ngày nay.




[11] Tức Trường Mỹ Thuật TPHCM ngày nay.


 




[12] Một tên gọi khác của Đạt Ma.




[13] Tức trường chuyên Lê Hồng Phong ngày nay.




[14] Nay là đường Võ Thị Sáu.




[15] Nay là đường Ba Tháng Hai.




[16] Nay là  đường Lý Thường Kiệt, quận 11.




[17] Nay là  đường Nguyễn Chí Thanh.


 




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 10.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
xem thêm »