tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23299739
18.03.2018
Nhiều tác giả
30 năm Gạc Ma, Trường Sa


30 năm Trường Sa - Gạc Ma: Nhìn từ hai chiều thời gian


Sau sự kiện thảm sát Gạc Ma, một đoàn công tác gồm các nhà báo, nhiếp ảnh gia, đạo diễn, quay phim được ra ngay Trường Sa.


Họ đã đặt chân lên con tàu HQ-505 ủi bãi đầy thương tích đạn pháo, nằm hiên ngang trên Cô Lin như một pháo đài thép.


Một chuyến đi không chỉ phải vất vả chịu đựng sóng gió mà cần có lòng quả cảm, có thể phải hy sinh, bởi không thể lường hết dã tâm của kẻ thù chỉ vài tuần trước đó đã nã đạn vào con tàu và những người lính công binh tay không vũ khí.


Ba mươi năm, nghe những câu chuyện, nhìn những tấm ảnh của vùng biển máu Gạc Ma, của những hòn đảo mong manh giữa đại dương thuộc quần đảo Trường Sa lòng chợt rưng rưng.


Họ đã tưởng niệm trên vùng biển có 64 liệt sĩ vừa ngã xuống, đã đặt chân lên nhiều đảo khác để chứng kiến sự can trường và tình yêu Tổ quốc của những người lính trẻ.


Nhân tưởng niệm 30 năm ngày đảo Gạc Ma của Việt Nam bị Trung Quốc cưỡng chiếm, chúng tôi may mắn gặp lại nhiều nhà báo đàn anh đã có mặt trong chuyến đi tròn 30 năm trước.Những tấm ảnh, những câu chuyện dưới đây nối hai chiều thời gian, cho chúng ta thêm tin yêu vào những người lính, làm bùng lên một tình yêu mãnh liệt với Trường Sa.


Vốn là tàu đổ bộ lớp LST-491 được đóng cho Hải quân Hoa Kỳ để tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hạ thủy cuối năm 1943. Hải quân Hoa Kỳ dùng tàu này ở mặt trận châu Âu và đổ bộ lên Normandie (tháng 6-1944).  


Ngày 8-4-1970, tàu được loại biên và đem cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa thuê. Trong lực lượng này, nó được gọi là “dương vận hạm” (tàu vận chuyển trên biển) và được đặt tên mới là Quy Nhơn với số hiệu HQ-504.


Từ 1973-1975, Quy Nhơn HQ-504 tham gia vận chuyển vật liệu, thiết bị và nhân lực để xây dựng các chốt trên đảo và giữ quần đảo Trường Sa.


Sau ngày 30-4-1975, nó trở thành tàu của Hải quân Nhân dân Việt Nam với số hiệu HQ-505 và tiếp tục được sử dụng phục vụ việc xây dựng và bảo vệ Trường Sa. Trong Chiến dịch CQ-88, HQ-505 được giao nhiệm vụ từ đảo Trường Sa ra đóng giữ đá Cô Lin.


Một trong những tấm ảnh quý giá nhất trong chuyến đi năm ấy là bức hình chụp con tàu HQ-505 sau khi bị trúng đạn pháo có nguy cơ chìm. Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã cho tàu lao lên đảo chìm Cô Lin, tàu mắc cạn ở đó, bốc cháy nhưng đã trở thành công sự thép trên đảo.


Một thời gian sau, hải quân đã cứu hộ và lai dắt tàu HQ-505 về bờ nhưng giữa đường gặp sự cố, tàu HQ-505 đã bị chìm.


Nhiều lần chúng tôi hy vọng con tàu này sẽ được trục vớt để đưa về khu vực quần thể Tượng đài Chiến sĩ Gạc Ma tại Khánh Hòa như một chứng tích của cuộc thảm sát tàn bạo. Nhưng đến nay, vẫn chưa tìm được một dấu tích nào của nó.


Trong quá trình đi tìm kiếm tư liệu, chúng tôi may mắn gặp một mảnh mặt bàn do một sĩ quan hải quân đóng ở đảo Sinh Tồn nhặt về.


Gần 30 năm nay, sau nhiều lần di chuyển từ đảo vào bờ, từ tỉnh này đi tỉnh khác sinh sống, chiếc mặt bàn ấy luôn được mang theo như một ám ảnh mà chính ông cũng không cắt nghĩa nổi.


Người đang có cái mặt bàn, di vật còn lại duy nhất của tàu HQ-505 là ông Thái Văn Khôi, thời điểm tháng 3-1988 là đảo trưởng đảo Sinh Tồn, hiện sống ở Tây Nguyên.


Trong những bức ảnh nhà báo Vinh Quang - phóng viên báo ảnh Việt Nam, nay đang sống ở Australia gửi về, có tấm ảnh chụp đảo Thuyền Chài trong chuyến đi của tròn 30 năm trước khiến tôi chợt run lên vì xúc động.


Ở tấm hình này, đảo Thuyền Chài hiện ra với ba “đơn nguyên”. Bên trái là “nhà cao chân”, ở giữa là lô cốt và bên trái là một cái “pông tông”.


Ba đơn nguyên ấy là khởi thủy của những truyền kỳ về đảo chìm. Và chính cái “pông tông” ở đảo Thuyền Chài ấy, sau ba mươi năm nó đã làm xong nhiệm vụ, đứng đó như một chứng nhân bền bỉ và thủy chung.


Tháng 5-2017, khi trở lại Trường Sa lần thứ tư, tôi đã đứng lặng rất lâu trên hành lang tòa nhà lâu bền và nhìn ra chiếc pông tông đã rỉ sét.


Trong mấy chục tấm hình tư liệu về chuyến ra Trường Sa - Gạc Ma của nhà báo Vinh Quang vào năm 1988, chúng tôi ấn tượng nhất với bức ảnh có tên “Lưng trần lính Trường Sa”.


Năm người lính đang gò lưng đẩy một chiếc xe chở vật liệu. Tấm lưng trần dưới nắng đảo như đổ lửa, đen bóng như đồng hun, bóng loáng.


Chúng tôi nhận ra trong tấm ảnh đó là câu chuyện về lòng quả cảm, nét can trường, nhưng bao trùm lên vẫn là sự hy sinh và dâng hiến của tuổi trẻ của họ cho Tổ quốc.


Nhìn tấm hình ấy, tôi lại nhớ tấm hình chụp Trường Sa mấy tháng trước.


Đảo Trường Sa Lớn giờ là phố thị giữa trùng dương. Có bệnh viện, đền thờ, chùa chiền, phố xá và ấn tượng nhất với tôi là hai chiếc máy bay chở khách từ đất liền ra thăm đảo.


Cũng như  đảo Trường Sa Lớn và nhiều hòn đảo khác từng hiện lên trong khuôn hình của các nhà báo tham gia chuyến đi ấy, sau 30 năm, tất cả đã thay đổi rất nhiều.


Từ nỗi đau Gạc Ma, đất nước đã dồn sức cho cả quần đảo Trường Sa lớn mạnh, đủ sức đương đầu với bất cứ thế lực đen tối nào âm mưu độc chiếm biển Đông làm ao nhà của họ.


Tấm ảnh đảo Phan Vinh do nhà báo Đình Trân, phóng viên ảnh của TTXVN chụp 30 năm trước. Trong tấm ảnh, Phan Vinh của 30 năm trước còn quá hoang sơ, trơ trụi và thiếu thốn. Còn giờ đây, hình ảnh một hòn đảo can trường mang tên người anh hùng của đoàn tàu không số đang bề thế công trình và ngát xanh màu lá.


Chuyến hành trình của báo Tuổi Trẻ “Mang đất thiêng ra Trường Sa” đã tổ chức cho các thành viên trồng thêm hành trăm cây xanh trên đảo. Những cây xanh ấy được đặt vào hố, đất trồng cây được lấy từ những điểm thiêng liêng của đất nước.


Đó là những nắm đất thiêng từ tỉnh Đền Hùng (cội nguồn), từ Lũng Cú (cực Bắc đất nước), từ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (trái tim Hà Nội), từ Đồi A1 Điện Biên Phủ (biểu tượng kháng chiến chống Pháp), từ Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn (biểu tượng kháng chiến chống Mỹ), từ Cố đô Huế (khúc ruột miền Trung, nơi nhà Nguyễn đã ra chiếu chỉ về những đội hùng binh đi trấn giữ Hoàng Sa và Trường Sa), từ “đất thép” Củ Chi (TP HCM) và cực Nam Tổ quốc -  đất lấy từ Mũi Cà Mau.


Ngay sau khi đất các vùng miền được chuyển về quân cảng Cát Lái bằng đường không (đất khu vực phía Bắc), đường sắt (đất khu vực miền Trung), đường bộ (đất khu vực cực Nam), một nhóm phóng viên của Tuổi Trẻ được tháp tùng đoàn hành trình và đưa đất lên các đảo. Phan Vinh là đảo được chọn khởi đầu cho chương trình “Xanh hóa Trường Sa”


Rất nhiều tấm ảnh chụp niềm vui của người lính Trường Sa những năm tháng ấy là nhận thư nhà và sách báo. Chuyến tàu chở đoàn nhà báo có mang theo những lá thư gửi cho anh em chiến sĩ trên các đảo.


Nhà báo Đình Trân, Vinh Quang đều chụp nhiều ảnh những người lính Trường Sa sung sướng đọc thư hậu phương.


Cô Lin khi đó vẫn chưa được xây dựng. Chiếc tàu bị cháy HQ-505 trở thành nơi anh em tá túc và là công sự khi chiến đấu.


Nhưng niềm vui nhận được thư và sách báo thì dù ở trên con tàu cháy hay ở “thủ đô Trường Sa Lớn” đều như nhau.


Cuốn họa báo “Báo ảnh Việt Nam” những năm tháng đó được coi là “món ăn báo chí sang trọng” vì tờ báo được in màu, giấy tốt còn hầu hết báo chí đều in hai màu đen trắng.


So với những lá thư đi hàng tháng trời mới ra tới, giờ đây chiếc điện thoại di động không chỉ là cách mạng trong công nghệ viễn thông mà thực sự là một cuộc cách mạng tình cảm nối hậu phương với người lính.


Những năm ấy, không chỉ là thư viện với sách vở tương đối đủ đầy, nhiều người lính còn mang sách vở ra để tranh thủ ôn thi đại học, đợi ngày ra quân có thể tìm lại ước mơ giảng đường của mình.


Lê Đức Dục/ tuoitre.vn


30 năm ngày 14-3: Bài báo đầu tiên về thảm sát Gạc Ma


Ngày 14-3, khi ở đất liền người dân Việt Nam đang cử quốc tang nguyên thủ quốc gia, thì tại Gạc Ma súng địch đã nổ và những người con đất Việt đã ngã xuống máu nhuộm đỏ một vùng Biển Đông.


Lật chồng báo Nhân Dân của 30 năm trước, trên trang nhất số báo ra ngày 15-3-1988 là hình ảnh và bài tường thuật lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (chức vụ như thủ tướng hiện nay) nước CHXHCNVN.


Trang báo chạy tít đậm màu đen: "Hôm qua, 14-3-1988, tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội, lễ viếng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng cử hành trọng thể".


Nước mắt trên bờ, máu loang ngoài biển


Nghĩa là buổi sáng hôm đó, 14-3, khi ở đất liền người dân Việt Nam đang cử quốc tang nguyên thủ quốc gia của mình, thì cùng thời điểm đó tại Gạc Ma súng địch đã nổ và những người con đất Việt đã ngã xuống máu nhuộm đỏ một vùng Biển Đông.


 


Trang 1 báo Nhân Dân in ngày 15-3-1988 tường thuật lễ tang của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng diễn ra trước đó một ngày - Ảnh: L.Đ.DỤC chụp lại


Nỗi đau đất liền, nỗi đau ngoài biển cùng chồng chất. 30 năm đã trôi qua nhưng trên trang báo đã ố vàng màu thời gian, tất cả bối cảnh lịch sử vẫn lặng im ngưng đọng ở đó.


Từng trang, từng trang, suốt 90 số báo Nhân Dân của quý 1-1988 không số báo nào không nhắc tới Trường Sa.


Bởi từ giữa năm 1987 đến đầu năm 1988, Trung Quốc đã có nhiều động thái gây hấn trên vùng biển này, cản trở hoạt động các tàu của hải quân Việt Nam, lần lượt tìm cách chiếm đóng trái phép các bãi đá ngầm thuộc chủ quyền Việt Nam.


Ngày 31-1, Trung Quốc cho quân đổ bộ chiếm đóng Đá Chữ Thập, ngày 18-2 chúng đổ bộ chiếm bãi Châu Viên và đỉnh điểm là cuộc thảm sát các chiến sĩ công binh hải quân Việt Nam để cướp đảo Gạc Ma vào ngày 14-3-1988.


Bài tường thuật đầu tiên về sự kiện Gạc Ma của nhà báo Ngọc Đản trên báo Nhân Dân ngày 24-3-1988 - Ảnh: L.Đ.DỤC chụp lại


Tuy nhiên bài báo đầu tiên tường thuật tương đối chi tiết và đầy đủ nhất về sự kiện Gạc Ma lại đăng sau đó chừng mười ngày, ngày 24-3-1988.


Bài báo có cái tựa khá dài "Cuộc tiến công bằng tàu khu trục mang tên lửa của Trung Quốc vào ba tàu vận tải không có vũ khí tiến công của ta ở vùng đảo Sinh Tồn" của nhà báo Ngọc Đản, bấy giờ là phóng viên mảng an ninh - quốc phòng của báo Nhân Dân.


Bài tường thuật...


Đã xấp xỉ tuổi 70, nghỉ hưu gần mười năm nay nhưng nhắc lại những ngày đưa tin về Trường Sa và Gạc Ma, lửa nghề vẫn hừng hực trong tim của nhà báo Ngọc Đản.


Hẳn nhiều người đã từng biết đến ông với tấm hình "cô Nhíp" - cô gái biệt động dẫn đường cho xe tăng quân giải phóng vào Sài Gòn hôm 30-4-1975.


Đưa tin kịp thời và ra được Trường Sa ngay sau sự kiện Gạc Ma với Ngọc Đản là một cơ hội nghề nghiệp hiếm có.


Ông kể: Từ đầu tháng 3, sau khi Trường Sa bắt đầu nóng lên với các hoạt động khiêu khích có hệ thống của hải quân Trung Quốc, ông được cơ quan phân công vào Cam Ranh, tìm cách theo tàu để ra quần đảo Trường Sa.


Vào "nằm vùng" ở khu vực lữ đoàn 146, Ngọc Đản được phân công ở cùng với lữ đoàn phó Trần Đức Thông, khi đó cũng vừa trả phép trước thời hạn nửa tháng từ Hà Nam vì đơn vị triệu tập khẩn cấp.


Ngọc Đản bảo ông đã được bố trí cho phép đi theo chuyến tàu gần nhất ra Trường Sa. Kế hoạch đã được duyệt thì chuyến tàu đưa anh em công binh ra xây dựng đảo ở lại lâu dài tới vài ba tháng, tình hình như thế thì phóng viên Ngọc Đản không thể đi cùng.


Ông không ngờ chỉ mấy hôm sau, tin về cuộc thảm sát ở Gạc Ma dội về. Tất cả thông tin vẫn chỉ từ những dòng tin điện từ Trường Sa. Anh em ai mất, ai còn... chưa thể biết.


Cứ ngày ngày Ngọc Đản chạy lên phòng tác chiến để ngóng tin tức và chờ đợi chuyến tàu anh em thương binh và những chiến sĩ còn sống trở về.


Trên báo Nhân Dân những ngày ấy có thể thấy dồn dập các bài báo ký tên Ngọc Đản viết về Trường Sa.


Phải sau khi gặp được những nhân chứng trở về từ trận chiến, bài báo tường thuật chi tiết về buổi sáng 14-3 ở Gạc Ma mới được viết ra.


Hai tuần sau, Ngọc Đản nằm trong danh sách đoàn phóng viên báo chí, phát thanh, truyền hình và điện ảnh do Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức đi ra Trường Sa, tiếp cận với khu vực cụm đảo Sinh Tồn, nơi con tàu HQ505 vẫn còn "ủi bãi" trên Cô Lin, con tàu HQ605 vẫn nằm dưới thềm biển của đảo Len Đao và rìa đảo Gạc Ma, dưới đáy biển là con tàu HQ604 đang còn thi thể của anh em cán bộ chiến sĩ công binh hải quân.


Đặt mình trong bối cảnh chiến sự và Biển Đông luôn sẵn sàng nóng lên, thậm chí địch sẵn sàng nổ súng mới biết để có mặt trong chuyến đi ấy cần có lòng dũng cảm và tình yêu Tổ quốc.


Chuyến tác nghiệp nhớ đời


Lê Đức Dục & Đức Bình/ tuoitre.vn


30 năm ngày 14-3: Tiểu đội cảm tử tìm cứu đồng đội ở Gạc Ma


Chiếc xuồng rách nát vá chằng vá đụp chở tiểu đội cảm tử xuất phát từ Cô Lin thẳng hướng Gạc Ma. Ở đó, giữa lởm chởm san hô là la liệt người kiệt sức vì bị thương và thi thể những người hi sinh. Máu nhuộm đỏ cả một vùng san hô và nước!


30 năm ngày 14-3: Lao tàu lên đảo Đá Lớn


30 năm ngày 14-3: Xả thân cứu tàu trước họng súng tàu Trung Quốc


30 năm ngày 14-3: Chìm xuống giữa Trường Sa


Bằng Tổ quốc ghi công và liệt sĩ Vũ Văn Thắng, thuyền phó chính trị tàu HQ 604. Khi thuyền trưởng hi sinh, anh đã đứng trên boong tàu chỉ huy anh em và chìm theo con tàu xuống biển. Những người lính sống sót ở đảo Gạc Ma đã coi anh như một anh hùng - Ảnh Gia đình cung cấp


Có hai người bị thương rất nặng, khi chúng tôi đưa về đến đảo Sinh Tồn thì hi sinh, trong đó có anh Doan - thuyền phó tàu 605. Người còn lại là công binh xây đảo của tàu 604, bị cụt hai chân do mất nhiều máu quá không cầm được. Anh Doan bỏng nặng khi tàu 605 bị bắn cháy. Anh Doan còn trẻ, rất giỏi, là trung úy, học ở Bulgaria bảy năm về, chưa có vợ


Cựu pháo thủ ĐOÀN HỮU THẤN (tàu HQ 605)


Từ đảo Cô Lin, quan sát qua ống nhòm thấy tại Gạc Ma đang đỏ lửa đạn từ tàu Trung Quốc bắn ra.


Dù con tàu HQ 505 đang bị cháy vì đạn của Trung Quốc và chưa nhận được lệnh từ Sở Chỉ huy trong đất liền về việc đi cứu đồng đội nhưng cấp ủy, chỉ huy tàu đã chỉ đạo quyết đoán: bằng mọi giá phải cứu vớt toàn bộ anh em còn sống và cả những người hi sinh trên đảo Gạc Ma đưa về tàu HQ 505.


Hạ xuồng cứu sinh


"Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ ra lệnh khẩn cấp hạ xuồng cứu sinh số 1, tổ chức một tiểu đội cảm tử đi sang Gạc Ma tìm kiếm và cứu đồng đội, những người đang trôi dạt trên biển và cả những người đã hi sinh" - cựu pháo thủ tàu HQ 505 Đoàn Tất Hồng nhớ lại.


Lúc đó không ai biết chắc quân Trung Quốc còn quay lại tấn công nữa hay không. Ngay thời điểm đó, việc đi cứu thương binh rất nguy hiểm. Sang Gạc Ma lúc này là chuyến đi giữa sống và chết.


Ai sẽ là người đi sang Gạc Ma? Câu hỏi vang lên và sáu sĩ quan, chiến sĩ đã dũng cảm xung phong.


Đó là trung úy Dương Hải Nam - chỉ huy xuồng, thượng úy Nguyễn Văn Đỉnh - lái xuồng, trung sĩ Nguyễn Văn Thành, tiểu đội phó Lê Tiến Dũng, pháo thủ Đoàn Tất Hồng và chiến sĩ cơ điện Ngô Sĩ Hữu.


Khi hạ xuồng cứu sinh mới hay chiếc xuồng đã bị nhiều mảnh đạn pháo Trung Quốc bắn thủng, thân xuồng vỡ, có những vết rách dài. Máy vẫn còn hoạt động được nhưng chạy giữa biển sẽ rất nguy hiểm.


"Lúc đầu chúng tôi định không đi nữa nhưng tính mạng của đồng đội là trên hết. Chúng tôi cứ nghĩ nhỡ có ai bị thương đang trôi dạt trên biển cần có sự hỗ trợ mà mình không đến kịp, sẽ hi sinh.


Nghĩ đến đó là quyết đi cho được, không nghĩ đến tính mạng của mình nữa. Mọi người xúm lại dùng các nút chống chìm bịt các lỗ thủng trên xuồng" - cựu binh Đoàn Tất Hồng nhớ lại.


Chiếc xuồng rách nát vá chằng vá đụp chở tiểu đội cảm tử xuất phát từ Cô Lin thẳng về hướng Gạc Ma. Trong khi đó trên tàu 505, một tổ cứu thương đã chuẩn bị mọi thuốc men, sẵn sàng cứu chữa khi đồng đội được đưa về.


"Tôi vẫn còn nhớ câu nói của thuyền trưởng khi giao nhiệm vụ: Anh em phải sẵn sàng hi sinh để thực hiện nhiệm vụ. Bằng mọi giá phải cấp cứu đồng đội đưa về tàu HQ 505. Cả xuồng chỉ có ba khẩu AK 47 mang theo phòng thân.


Mang theo phòng vậy thôi chứ nếu gặp tàu chiến Trung Quốc câu đạn pháo vào thì cũng hi sinh hết!", cựu pháo thủ Đoàn Tất Hồng kể.


"Từ Cô Lin sang Gạc Ma gần 6km. Những lỗ thủng dù được bịt lại nhưng nước biển vẫn tràn vào. Chúng tôi vừa đi vừa múc nước ra chống chìm" - cựu binh Lê Tiến Dũng cho biết.


"Các nút bịt bị bung ra. Chúng tôi cởi áo bịt lỗ hổng. Anh em vẫn quyết tâm tiếp cận Gạc Ma. Có một tình huống nghẹt thở nữa là đang chạy giữa biển thì xuồng bị chết máy. Cọc bình bị lỏng, đề máy không nổ".


"Lúc đó nguy cơ bị tàu Trung Quốc bắt rất cao. Ba tàu chiến Trung Quốc cách chúng tôi chỉ 5 - 6 hải lý. Xuồng bị trôi một đoạn khá xa. Chúng tôi vẫn bình tĩnh động viên nhau cố gắng khắc phục sự cố", anh Dũng kể.


Trung sĩ Đoàn Tất Hồng, cựu pháo thủ tàu HQ 505, kể lại chuyện 30 năm trước - Ảnh: MY LĂNG


Tình đồng đội


Ở Gạc Ma lúc này thủy triều đã rút xuống thấp. Mặt đảo lô nhô nền san hô. Một chiếc xuồng nhôm của tàu HQ 604 bị đứt dây trôi ra xa đảo. Một chiếc xuồng khác vướng vào san hô, mắc cạn nằm đó.


Đó là hai chiếc xuồng nhôm lúc sáng đã chở công binh hải quân vào đảo.


Giữa lởm chởm san hô là la liệt những người còn sống đang kiệt sức vì bị thương và thi thể những người đã hi sinh. Máu nhuộm đỏ cả một vùng san hô và nước!


Anh Đoàn Tất Hồng xúc động nhớ lại: "Chưa chạm vào đảo, chúng tôi đã nhảy xuống lội vào cứu đồng đội, gom thi thể những anh em đã hi sinh. Có người máu vẫn chảy ra. Nhiều anh em khát nước, không còn sức nằm thoi thóp.


Cảm giác lúc đó không có từ ngữ nào tả nổi. Không ai cầm lòng được. Ai cũng khóc. Lúc đó tình đồng đội còn hơn cả tình ruột thịt. Suy nghĩ đầu tiên là phải cứu những người còn sống ngay, càng nhanh càng tốt, càng nhiều càng tốt trước khi quân Trung Quốc quay lại.


Sáu anh em thu gom, vớt những phần thi thể chân, tay bị rơi rụng ra, những phần thịt bị nát. Nhiều thân thể không nguyên vẹn. Chúng tôi cố gắng vớt bằng hết, còn cái gì vớt cái đó, cả người sống và người chết. Lúc đó mọi người không còn quan tâm đến quân Trung Quốc nữa".


Hơn 40 cán bộ chiến sĩ, trong đó có thương binh và cả thi thể đã được xếp lên chiếc xuồng nhôm và được cột dây để xuồng cứu sinh kéo về Cô Lin. Khi phát hiện chiếc xuồng đang chạy về hướng Cô Lin, các tàu chiến Trung Quốc tức tốc quay lại.


"Chúng tôi vừa chạy vừa tiếp tục chống chìm và kéo đồng đội về. Ngoảnh lại thấy bốn tàu khu trục của Trung Quốc đang đuổi theo. Hồi sáng sau khi bắn xong, chúng rút ra xa. Nó nhìn qua ống nhòm thấy chúng tôi nên đuổi theo. Nhưng khi chúng đuổi gần đến thì chúng tôi đã về đến tàu HQ 505", anh Đoàn Tất Hồng kể.


Tôi cứ hi vọng, nhưng…


Đã 30 năm trôi qua, thượng tá Võ Tá Du (khi đó là thuyền phó chính trị tàu HQ 505) vẫn không thể quên cảnh tượng khi chiếc xuồng chở 45 thương binh, liệt sĩ về đến Cô Lin:


"Chúng tôi ra tận mép đảo đón. Tất cả nằm trong xuồng. Nước biển và máu đỏ lòm, lênh láng trong xuồng. Anh Lanh bị thương rất nặng, nằm thở thoi thóp. Trong xuồng còn có thi thể anh Phương. Nhìn cảnh tượng lúc đó không ai kìm được nước mắt...


Tôi cứ hi vọng sẽ gặp lại những đồng chí, đồng đội thân thiết. Nhưng sau trận chiến đó, không ai về nữa...".


My Lăng/ tuoitre.vn


Đọc bài cùng chủ đề:



 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Từ Dụ - mẹ của Vua Tự Đức - Tư liệu 20.07.2018
Quân đội nhà Nguyễn - Tư liệu sưu tầm 18.07.2018
Croatia - Tư liệu 12.07.2018
Gà trống Gôloa - Tư liệu 10.07.2018
Giải mã chiêu trò mới của Trung Quốc ở Hoàng Sa - Tư liệu 10.07.2018
Lào: Nạn nhân tiếp theo của ‘ngoại giao bẫy nợ’ của Trung Quốc? - Tư liệu sưu tầm 10.07.2018
Trung Quốc đang thôn tính châu Âu ra sao (3 & 4) - Nhiều tác giả 10.07.2018
Ngày 09/07/1877: Giải Quần vợt Wimbledon ra đời - Tư liệu sưu tầm 09.07.2018
Cá bỗng - Loài 'cá vua' sống thọ vài chục năm, có tiền chưa chắc mua được - Tư liệu sưu tầm 08.07.2018
Bác Hồ cảnh giác người bạn láng giềng - Tư liệu 04.07.2018
xem thêm »