tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23214499
Tiểu thuyết
16.03.2018
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 29


Mấy ngày liền, Nel dành tất cả những giờ trời không mưa để ở bên cạnh King, con voi không còn cản trở cô bé ra về vì hiểu được rằng cô bé còn quay trở lại vài lần trong ngày. Kali, nói chung vốn sợ voi, nên nhìn chuyện đó với vẻ rất kinh ngạc, và cuối cùng cậu bé đi đến chỗ tin rằng cái ma tốt hùng mạnh nọ đã bùa chài được con vật khổng lồ, nên cũng bắt đầu đến thăm con voi. King đối xử với nó cũng như đối với Mêa rất tốt bụng, nhưng chỉ riêng mình Nel là có thể làm tất cả những điều gì cô bé muốn đối với con voi, đến nỗi một tuần sau cô bé đã dám dẫn cả Saba tới chơi với nó. Đối với Staś , đây là chuyện rất nhẹ người, vì em có thể hoàn toàn yên tâm để Nel ở lại dưới sự coi giữ của con voi − mà như em diễn đạt: Dưới vòi voi − và không hề lo lắng gì cả, cứ việc đi săn, thậm chí đôi khi còn dẫn cả Kali đi theo nữa. Giờ đây, em tin rằng, con vật tốt bụng sẽ không khi nào rời bỏ cả bọn và bắt đầu nghĩ cách làm thế nào để giải thoát cho nó ra khỏi chỗ giam cầm.


Nói cho đúng thì em đã tìm ra phương sách từ lâu, chỉ có điều cái phương sách ấy đòi hỏi phải hi sinh quá nhiều nên em cứ đấu tranh mãi, không hiểu có nên sử dụng cách đó hay không, và cứ lần lữa từ ngày này sang ngày khác. Vì không có ai để giãi bày, nên cuối cùng em quyết định sẽ thổ lộ những ý định của mình với Nel, dù vẫn coi Nel chỉ là một đứa trẻ.


− Có thể dùng thuốc súng để phá vỡ tảng đá, − Em nói, − Nhưng muốn thế phải tiêu tốn rất nhiều thuốc đạn, nghĩa là phải tháo chúng ra khỏi vỏ đạn và gói lại thành một khối lớn. Cái khối đó đẩy thật sâu vào khe hở đang có sẵn ở chính giữa, rồi lèn kín lại và đốt ngòi. Khi ấy, tảng đá sẽ vỡ ra thành hai hay vài chục mảnh nhỏ, và King có thể ra được.


− Nhưng nếu như có tiếng nổ thật to thì nó sợ lắm.


− Cứ mặc cho nó sợ chứ sao! − Staś  đáp lại ngay. − Anh chẳng phải lo đến chuyện đó. Thật chẳng đáng nói chuyện nghiêm túc với em làm gì.


Song em vẫn nói tiếp, hay đúng hơn là tiếp tục suy nghĩ thành tiếng:


− Nhưng nếu như dùng quá ít thuốc thì khối đá không vỡ và thế là lãng phí mà chẳng được gì, còn nếu như dùng thuốc cho đủ, thì chúng mình sẽ chẳng còn lại được bao nhiêu đạn. Và nếu như cuối chặng đường mà thiếu thuốc súng thì chúng mình bị chết mất. Anh sẽ dùng cái gì để đi săn hoặc tự vệ trong trường hợp chúng mình bị tấn công? Chính em cũng biết rõ là nếu như không có khẩu súng này, không có những viên đạn này thì chúng mình đã chết từ lâu, nếu không phải chết vì tay tên Gebhr thì cũng vì đói. Mà cũng thật may là chúng mình còn có ngựa chứ nếu không cũng chẳng mang nổi đồ đạc và thuốc súng.


Nghe thấy thế, Nel đưa một ngón tay lên trời và nói với vẻ tin tưởng:


− Nếu như em bảo King thì King sẽ mang cho chúng mình tất cả mọi thứ.


− Nó sẽ mang thứ gì nếu như thuốc súng chẳng còn lại bao nhiêu?


− Thế thì nó sẽ bảo vệ chúng mình...


− Nhưng nó đâu có thể dùng vòi để bắn vào lũ thú như anh bắn súng.


− Thế thì chúng mình sẽ ăn sung ăn vả và những quả dưa bở mọc trên cây, còn Kali thì thể nào chẳng kiếm ra cá.


− Chỉ khi nào chúng mình còn ở gần sông mà thôi. Cần phải chờ ở đây cho qua mùa mưa; vì những cơn mưa này sẽ mang tới cho em bệnh sốt rét dễ như chơi. Nhưng cần nhớ rằng sau đó chúng mình sẽ đi tiếp, và chúng mình rất có thể sẽ lại rơi vào sa mạc nữa.


− Sa mạc như Xahara à? − Nel hỏi, vẻ lo sợ.


− Không, nhưng có thể gặp sa mạc, trên đó không hề có cây cối hay sông suối gì hết, mà chỉ toàn một loài xiêm gai lùn tè và cây trinh nữ thôi. Trên sa mạc như thế, chúng mình chỉ có thể sống bằng những thứ mà anh săn bắn được. Còn King sẽ tìm được cỏ, còn anh thì săn linh dương, nhưng nếu như anh không còn gì để bắn hạ chúng thì con King cũng không tài nào tóm được chúng đâu.


Quả thực Staś  có nhiều chuyện phải lo lắng, vì hiện nay, khi con voi đã thuần và thân thiết với lũ trẻ, thật khó có thể bỏ mặc nó phải chết đói, còn giải thoát cho nó thì có nghĩa là phải tiêu phí phần lớn đạn dược và đưa bản thân mình vào chỗ chết không lối thoát.


Chính vì thế Staś  trì hoãn việc đó từ ngày này sang ngày khác, cứ tối tối em lại tự nhủ:


“Có thể ngày mai mình sẽ tìm ra được cách gì chăng?”


Trong khi đó, thêm vào nỗi lo này là những điều lo lắng khác.


Trước hết, Kali bị ong dại ở phía hạ lưu dòng sông đốt cho tệ hại. Nó được một con chim nhỏ màu xám xanh nổi tiếng ở Phi châu được gọi là chim ăn ong dẫn tới đàn ong.


Cậu bé da đen vốn lười không hun khói tổ ong thật kĩ, nên mặc dù mang được mật về nhưng bị ong đốt sưng vù mặt mũi đến nỗi bị ngất đi sau chừng một tiếng đồng hồ. Cô Mdimi Tốt, với sự giúp đỡ của Mêa phải rút từ người nó ra những chiếc vòi ong cho tới tận chiều, rồi sau đó dùng đất nhào nước do Staś  chuẩn bị sẵn đắp lên người nó. Tuy thế, đến gần sáng cậu bé da đen cứ ngỡ như chết đến nơi. May thay, sự chăm sóc tận tình và cơ thể cường tráng của nó đã chiến thắng nỗi nguy, song cũng phải sau mươi ngày nó mới lại sức.


Chuyện thứ hai là chuyện lũ ngựa. Trong thời gian Kali bị ốm, Staś  phải chăn và đưa ngựa đi uống nước, em để ý thấy chúng bị gầy sút đi nhanh chóng. Không thể nào giải thích là do thiếu thức ăn, vì có mưa nên cỏ mọc lên rất cao, chung quanh thừa mứa các loại cỏ ngon lành. Vậy mà lũ ngựa cứ héo hon đi. Vài ngày sau, lông chúng rụng, mắt mờ hẳn, từ mồm chúng dãi dớt chảy ra. Cuối cùng chúng bỏ ăn, chỉ uống rất nhiều nước, dường như bị sốt vậy. Khi Kali khỏe lại, chúng chỉ còn là hai bộ xương. Thằng bé chỉ nhìn chúng là đã hiểu ngay có chuyện gì xảy ra.


− Ruồi tsetse! − Nó bảo Staś . − Chúng sẽ chết thôi.


Staś  cũng hiểu, vì ngay từ hồi ở Port Said, em đã nhiều lần nghe nói tới giống ruồi Phi châu được gọi là tsetse, giống ruồi là thảm họa cho những vùng mà chúng sinh sôi nảy nở vĩnh viễn. Người da đen vốn không nuôi súc vật có sừng, nhưng ở những nơi nào bọn trâu bò phát triển tự nhiên do những điều kiện ngoại cảnh thuận lợi thì chúng lại bị chết. Bị ruồi tsetse đốt, ngựa, lừa hay bò gầy sụt đi và bị chết chỉ trong vòng vài ngày. Bọn súc vật trong vùng cũng hiểu được nỗi nguy hiểm đang đe dọa chúng, vì thường thường cả đàn trâu đang ở chỗ uống nước hoảng sợ lồng lên chạy tứ tán khi nghe thấy tiếng kêu vù vù của loài ruồi này.


Lũ ngựa của Staś  đã bị ruồi đốt. Giờ đây ngày ngày Kali xát vào mình chúng và vào mình con lừa một thứ cỏ có mùi đặc biệt giống như mùi hành mà nó tìm trong rừng. Nó nói rằng mùi cỏ này sẽ xua đuổi ruồi tsetse, song mặc dù có thứ thuốc đó, lũ ngựa vẫn cứ gầy sụt đi. Staś  lo sợ nghĩ đến những gì sẽ xảy ra khi bọn súc vật này gục ngã. Làm sao có thể mang theo đồ đạc, Nel, cái chăn, cái lều và nồi niêu xoong chảo? Bao nhiêu thứ như thế, họa chăng chỉ có King là đủ sức mang. Nhưng để giải thoát cho King cần phải dùng ít nhất hai phần ba số đạn.


Càng ngày càng có nhiều mối lo lớn hơn đè nặng lên đầu Staś , giống như những đám mây đen đang không ngừng trút mưa xuống rừng. Và cuối cùng tai họa lớn nhất là bệnh sốt rét đã đến, bên cạnh nó những thứ khác trở nên nhỏ bé.


 


Chương 30


Một hôm, trong bữa ăn tối, Nel cầm một miếng thịt đưa lên miệng, đột nhiên đẩy ra dường như kinh tởm rồi nói:


− Hôm nay em không thể nuốt nổi đâu.


Được Kali cho biết nơi có tổ ong và hiện ngày nào cũng đi hun khói để kiếm mật ong, Staś  cho rằng chắc cô bé ăn quá nhiều mật trong ngày, vì thế em không lưu ý lắm đến việc cô bé không muốn ăn. Song lát sau, cô bé đứng dậy và bắt đầu bước vội vã chung quanh đống lửa thành những vòng mỗi lúc một rộng hơn.


− Đừng đi xa quá, − Cậu bé gọi theo, − Nếu không nhỡ có con gì nó vồ em đấy.


Thực ra cậu bé không sợ gì cả, vì sự có mặt của con voi − điều mà các loài thú khác cảm thấy được, cũng như tiếng rống của nó, tiếng rống vang tới những cặp tai thính nhạy của chúng − sẽ khiến cho chúng giữ một khoảng cách thích đáng đối với chỗ này. Điều đó đảm bảo an toàn cho người cũng như ngựa, vì ngay cả những con thú ăn thịt hung tợn nhất trong rừng như sư tử, báo và beo cũng không muốn đụng độ với voi, và tốt nhất là không đến quá gần cặp ngà và cái vòi voi.


Tuy nhiên khi cô bé tiếp tục đi vòng vòng mỗi lúc một hấp tấp hơn, Staś  bèn đi theo sau và hỏi:


− Ê, con thiêu thân nhỏ này, sao em cứ bay vòng quanh ngọn lửa thế?


Em hỏi với giọng hãy còn vui vẻ, nhưng đã lo lo, và nỗi lo của em tăng lên khi Nel trả lời:


− Em không biết nữa. Hôm nay em không thể ngồi yên một chỗ được.


− Em làm sao thế?


− Em cứ thấy khó chịu lạ lạ thế nào ấy...


Tựa đầu vào ngực anh, gần như thú nhận một lỗi lầm, cô bé kêu lên với giọng cam chịu nghèn nghẹn nước mắt:


− Anh Staś , có thể em bị ốm mất rồi.


− Nel!


Cậu bé đặt tay lên trán Nel, cái trán vừa khô vừa lạnh toát. Cậu bồng Nel lên tay và mang lại phía đống lửa.


− Em có thấy lạnh không? − Dọc đường cậu hỏi.


− Cả lạnh, cả nóng, nhưng lạnh nhiều hơn...


Răng cô bé đánh vào nhau lập cập, thân mình rùng rùng những đợt run. Staś  không còn nghi ngờ gì nữa: Cô bé đã bị sốt rét.


Em bèn bảo Mêa ngay tức khắc đưa Nel vào trong hốc cây gỗ, cởi quần áo ngoài và đặt nằm, rồi đắp lên người cô bé tất cả những gì có thể đắp được, vì em đã trông thấy ở Chartum và Fasoda những người bị sốt rét đôi khi trùm cả những tấm da cừu lên người cho ra mồ hôi. Em quyết định sẽ thức ngồi bên Nel suốt đêm và cho cô bé uống nước ấm pha mật ong. Nhưng thoạt đầu cô bé không muốn uống nước. Trong ánh sáng cây đèn treo bên trong thân cây, Staś  nhìn thấy đôi đồng tử long lanh của cô bé. Một lát sau cô bé bắt đầu kêu nóng, nhưng lại run bần bật dưới tấm chăn và nệm. Tay và trán Nel vẫn lạnh ngắt, nhưng nếu như Staś  biết được những triệu chứng của bệnh sốt rét, thì qua những cử động rất không yên của cô bé, em có thể đoán ra rằng cô bé bị sốt rất cao. Em kinh hoảng khi nhận thấy rằng hễ Mêa mang nước nóng vào, cô bé nhìn Mêa dường như ngạc nhiên, thậm chí sợ hãi và hình như không nhận ra Mêa nữa. Tuy nhiên Nel vẫn nói chuyện hoàn toàn tỉnh táo với em. Cô bé bảo rằng không thể nằm được và xin em cho phép đứng dậy chạy, lúc thì cô bé lại hỏi xem em có giận cô hay không vì cô đã ốm, và khi em quả quyết rằng không giận, cô bé nhắm nghiền mắt, để tràn ra hai giọt lệ đang tràn ngập trong mắt và nói rằng sáng ngày mai sẽ lại khỏe mạnh thôi.


Tối hôm đó, nói đúng hơn là đêm hôm đó, con voi dường như cũng không yên một cách kì lạ, nó cứ rống liên tục, tiếng rống khiến cho con Saba bật lên sủa. Staś  để ý thấy rằng chuyện đó khiến người ốm khó chịu, nên em ra khỏi hốc cây để làm cho hai con vật im tiếng đi. Với Saba thì dễ, nhưng khó lòng bắt con voi phải im lặng, em bèn mang theo mấy quả mít để ném cho con voi, bịt miệng nó một thời gian. Khi quay về, trong ánh sáng ngọn lửa, em trông thấy Kali đang mang một súc thịt khô trên vai đi về phía bờ sông.


− Cậu làm gì thế, định đi đâu đấy? − Em hỏi thằng bé da đen.


Thằng bé da đen dừng lại và khi Staś  tiến đến gần, nó nói với vẻ bí mật:


− Kali tới một cây khác để hiến thịt cho Mdimu Ác.


− Sao thế?


− Để Mdimu Ác không giết chết Mdimu Tốt.


Nghe thấy thế, Staś  muốn đáp lại điều gì, song nỗi xúc cảm khiến em nghẹn lời, em nghiến chặt răng và im lặng bước đi.


Khi em trở vào trong thân cây, Nel đang nằm nhắm nghiền mắt, tay cô bé đặt trên tấm chăn run rẩy rất mạnh, nhưng hình như cô đã thiếp đi, Staś  ngồi xuống bên Nel, sợ Nel thức giấc, em ngồi yên không động đậy một hồi lâu. Mêa ngồi phía bên kia chốc chốc lại sửa miếng ngà voi cài lên tai, để bằng cách đó chống lại cơn buồn ngủ. Tất cả hoàn toàn im lặng, chỉ có từ phía hạ lưu sông vọng về tiếng kêu của ếch nhái và tiếng cóc buồn thảm.


Thốt nhiên Nel ngồi bật dậy trên tấm đệm:


− Anh Staś  ơi!


− Anh đây, Nel.


Còn cô bé run rẩy như một chiếc lá nhỏ trước gió, bắt đầu sờ soạng lần tìm bàn tay em và lắp bắp lặp đi lặp lại:


− Em sợ, em sợ lắm, anh đưa tay cho em!


− Đừng sợ, anh ở bên em đây mà!


Staś  nắm chặt lấy tay Nel, bàn tay lúc này nóng như lửa, em không biết phải làm gì, chỉ hôn mãi, hôn mãi lên bàn tay gầy guộc tội nghiệp ấy mà thôi.


− Đừng sợ, em, Nel, em đừng sợ!


Rồi em cho cô bé uống nước pha mật đã nguội. Lần này Nel uống ừng ực, tay ôm chặt lấy cái cốc khi Staś  muốn cất cốc đi. Chất nước mát hình như khiến cho Nel tỉnh lại.


Im lặng. Nhưng nửa giờ sau, Nel lại ngồi bật dậy, trong đôi mắt mở rộng của cô bé ánh lên một nỗi hãi hùng ghê gớm.


− Anh Staś !


− Sao thế, em?


− Sao Gebhr và Chamis lại cứ đi vòng quanh cây và nhòm vào chỗ em thế anh? − Cô bé hỏi gặng bằng giọng đứt quãng.


Trong một thoáng Staś  ngỡ như có hàng nghìn con kiến chạy rân rân khắp người.


− Em nói gì thế? − Cậu bé thốt lên. − ở đây đâu có ai khác. Đó là Kali đang đi vòng quanh cây đấy thôi.


Song cô bé cứ nhìn vào cái lỗ đen ngòm, răng vừa đánh lập cập vừa kêu lên:


− Cả bọn Bedouin nữa? Sao anh lại giết chúng nó? Staś  quàng tay ôm lấy Nel ấp vào ngực mình:


− Em biết rõ tại sao! Đừng nhìn về phía đó! Đừng nghĩ tới chuyện đó nữa! Chuyện đó lâu quá rồi mà!


− Vừa hôm nay, vừa hôm nay thôi!


− Không, Nel, lâu rồi mà!...


Chuyện đã lâu rồi, nhưng nay như sóng bị xô vào bờ, nó lại quay về làm kinh hoàng đầu óc đứa bé.


Mọi lời yên ủi dường như vô hiệu. Mắt Nel mở trừng trừng mỗi lúc một to hơn. Tim cô bé đập gấp gáp tưởng như chỉ một lát nữa sẽ vỡ tung ra mất. Rồi cô bé bắt đầu vùng vẫy quằn quại như cá bị vứt lên cạn và cứ thế cho tới gần sáng, sức cô bé mới hoàn toàn bị kiệt quệ, đầu cô ngả xuống gối.


− Em mệt quá, mệt quá! − Cô lắp bắp. − Anh Staś , em đang rơi xuống, rơi xuống sâu quá.


Rồi cô bé nhắm nghiền mặt lại.


Thoạt tiên Staś  kinh hoàng vì nghĩ rằng Nel đã chết. Nhưng đó chỉ là kết thúc cơn sốt đầu tiên của bệnh sốt rét Phi châu khủng khiếp thường được mệnh danh là “sốt chết người”.


Bình thường người lớn khỏe mạnh chỉ chịu được hai cơn, cho tới nay chưa ai chịu nổi cơn thứ ba. Khách bộ hành thường kể chuyện đó ở Port Said, ở nhà ông Rawlison, còn những nhà truyền giáo quay trở về châu Âu mà ông Tarơcốpxki tiếp ở nhà mình còn nói đến bệnh này nhiều hơn nữa. Cơn sốt thứ hai sẽ tới sau vài hay mươi ngày, còn nếu cơn sốt thứ ba không quay lại trong vòng hai tuần lễ thì nó sẽ không phải là cơn sốt chết người, vì khi đó nó sẽ được tính thành cơn sốt đầu tiên cho vòng hai của căn bệnh. Staś  biết rằng thứ thuốc duy nhất có thể làm dứt hay đẩy lùi cơn sốt là một liều kí ninh thật cao, nhưng em không còn lấy một chút kí ninh nào trong tay cả.


Trong lúc này, khi thấy Nel vẫn còn thở được, em tạm yên lòng phần nào và bắt đầu cầu nguyện cho cô bé. Trong khi đó, mặt trời lên từ sau những khối đá của khe núi và một ngày mới bắt đầu. Con voi đã bắt đầu đòi bữa sáng, từ phía đầm nước được con sông tạo nên vang lên tiếng kêu của các loài chim nước. Muốn săn lấy vài con chim pentácca để nấu xúp cho Nel, cậu bé cầm lấy khẩu súng bắn đạn chì đi dọc sông về phía những bụi cây cao mà lũ chim hay đỗ để ngủ đêm. Nhưng do thiếu ngủ, đầu óc lại đang vướng bận vì căn bệnh của Nel, nên cả một đàn chim pentácca nối nhau luồn ngang qua mặt em đi về phía máng nước uống mà em hoàn toàn không nhận ra. Thực ra, cũng vì em đang tiếp tục cầu nguyện. Em nghĩ tới việc đã giết Gebhr, Chamis và bọn Bedouin, và vừa ngước mặt lên nhìn trời vừa nói qua cổ họng đã nghẹn đi vì nước mắt: “Chính con đã làm điều đó vì Nel, lạy Chúa, vì Nel! Vì con không thể giải thoát cho em bằng cách nào khác, nhưng nếu đó là tội lỗi, thì xin Chúa hãy trừng phạt con, con xin Chúa hãy cho em được khỏe lại!...”.


Dọc đường em gặp Kali, thằng bé đi xem thử cái Mdimu Ác đã ăn số thịt mà hôm qua nó hiến chưa. Cậu bé da đen yêu cô bé, cũng cầu nguyện cho cô, nhưng theo một cách thức hoàn toàn khác hẳn. Cậu hứa với cái ma ác rằng nếu cô bé khỏe lại, thì hàng ngày cậu sẽ mang tới cho ma một súc thịt, còn nếu cô bé chết, thì mặc dù sợ cái ma vì biết chắc rằng sau đó sẽ phải chết, nhưng trước tiên cậu sẽ lột da cái ma để cho cái ma ác nhớ đời! Cậu bé được cổ vũ rất nhiều, vì miếng thịt hiến tế hôm qua đã biến mất tăm. Cũng có thể một chú lang núi nào đó cuỗm đi mất, nhưng cũng có thể là chính Mdimu Ác đã lấy đi trong khi đội lốt thành con lang núi cũng nên.


Kali thông báo cho Staś  biết chuyện tốt lành đó, song cậu bé cứ nhìn nó chòng chọc hình như không hiểu nó nói gì, rồi tiếp tục bước đi. Qua những lùm cây, không thấy lũ chim pentácca đâu, em bèn tiến ra bờ sông. Bờ sông mọc nhiều cây cao, trên cành rủ xuống lòng thòng những chiếc tổ chim dồng dộc − giống chim xinh xẻo màu vàng có cặp cánh đen − trông như những đóa hoa hồng to lớn, nhưng lại có màu giấy xám. Tại một chỗ, dòng sông hình thành một cái vũng rộng chừng vài mươi bước chân mọc đầy cây cói giấy. Trong đó dày đặc các loài chim nước. Có cò, giống cò hệt như cò ở châu Âu chúng ta, cùng những con cò có mỏ lớn uốn thành hình lưỡi câu, cả những con chim đen tuyền như nhung với cặp chân đỏ như máu, chim hồng hạc, giang giang, những con bồ các màu trắng có đôi cánh hồng và những cái mỏ giống như những chiếc muôi, loài sếu có lông ngai trên đầu, những con dẽ giun lanh lẹn và xám như chuột chạy đi chạy lại, trông như những bóng ma rừng, trên những đôi chân dài mảnh khảnh như cuộng rơm.


Staś  bắn được hai con vịt to lông màu nâu tía tuyệt đẹp, và giẫm lên những con bướm trắng chết xác phủ đầy bờ sông, em dòm kĩ xem ở những vùng cạn có cá sấu hay không rồi lội qua nhặt lấy những con chim săn được. Dĩ nhiên tiếng súng khiến lũ chim hoảng sợ bay đi, chỉ còn lại mỗi hai con cò già đang đứng trầm mặc trên mặt nước cách đấy chừng mươi bước chân, trông giống như hai cụ già với các đầu hói nằm thụt giữa hai vai. Hai con chim này hoàn toàn không thèm cử động tí nào. Cậu bé đứng nhìn một lúc những túi thịt xấu xí thõng thẹo trên ức chúng, rồi khi thấy lũ ong vò vẽ bắt đầu quần mỗi lúc một dày thêm trên đầu, em quay trở về trại.


Nel hãy còn đang ngủ, nên sau khi giao hai con vịt cho Mêa, Staś  thả người xuống nệm và ngủ một giấc say sưa.


Mãi đến trưa chúng mới tỉnh giấc − em trước, Nel sau. Cô bé cảm thấy khỏe hơn chút ít, và sau khi được nồi xúp chim đặc và khỏe người làm tăng thêm sức, Nel đứng dậy bước ra khỏi thân cây vì muốn được trông thấy King và mặt trời.


Mãi tới bây giờ, trong ánh nắng mặt trời mới có thể trông thấy rõ những dấu vết mà một đêm sốt cao đã để lại trên người cô bé. Da Nel vàng nghệ và trong suốt, môi tái xám, mắt thâm quầng, còn nét mặt thì tái đi. Thậm chí đến con người cô bé nom cũng nhợt nhạt hơn thường lệ. Và ngược với những lời đoán chắc của cô với Staś , Nel cảm thấy chưa thật khỏe − mặc dù sau khi thức giấc cô bé đã húp hết một cốc xúp thịt to tướng, nhưng khó nhọc lắm mới tự đi tới bên khe núi được. Staś  tuyệt vọng khi nghĩ tới đợt tấn công thứ hai của cơn sốt mà em không còn tí thuốc nào, cũng không có phương tiện nào ngăn chặn được.


Trong khi đó mưa cứ rơi ướt đất mỗi ngày hàng chục đợt khiến cho độ ẩm của không khí tăng lên.


Chương 31


Bắt đầu những ngày chờ đợi nặng nề và đầy lo âu. Mãi một tuần sau, cơn sốt thứ hai mới bắt đầu, không dữ dội như cơn trước, nhưng sau đó, Nel lại cảm thấy yếu đi nhiều hơn. Cô bé gầy và xanh xao đến nỗi dường như chỉ còn là một cái bóng mà thôi. Ngọn lửa sống leo lắt yếu ớt trong cô bé, tưởng chừng như chỉ cần khẽ thổi cũng khiến cho nó tắt đi hoàn toàn. Staś  hiểu rằng tử thần không phải chờ tới cơn sốt thứ ba mới có thể bắt Nel mang đi, mà đang chờ đợi từng ngày, từng giờ một.


Bản thân cậu bé cũng gầy sút và tái xanh, vì nỗi bất hạnh vượt quá sức lực và trí tuệ của cậu. Nhìn khuôn mặt như nặn bằng sáp của Nel, em nhủ thầm hàng ngày: “Mình đã trông nom cô bé như con ngươi trong mắt như thế đó, để giờ đây chôn nó trong rừng.”


Và em hoàn toàn không thể hiểu nổi, tại sao mọi sự lại phải như vậy. Chốc chốc em lại tự trách mình đã không chăm nom Nel thật cẩn thận, không đối xử thật hết lòng với cô bé, và trong những lúc như thế, một nỗi ân hận giày vò tim em, khiến em chỉ muốn cắn xé những ngón tay của mình. Nói cho cùng, có nhiều bất hạnh quá chừng.


Bây giờ, Nel gần như ngủ thiêm thiếp suốt ngày, và rất có thể chính điều đó đã giữ cho cô bé còn sống thoi thóp. Vài lần một ngày, Staś  phải đánh thức cô bé dậy để bón cho ăn. Vào những lúc đó, nếu trời không mưa, Nel yêu cầu em mang cô ra ngoài trời, vì cô bé không còn tự mình bước đi được nữa. Nhiều khi cô bé thiếp đi trên tay em. Cô bé cũng tự biết rằng mình ốm nặng lắm và rất có thể sẽ chết ngày một ngày hai. Trong những lúc tỉnh táo nhất, cô bé nói với Staś  về chuyện đó, bao giờ cũng khóc nức nở, vì cô sợ chết.


− Thế là em chẳng còn được về với ba em nữa rồi. − Một lần cô bé nói. − Nhưng anh phải nói với ba rằng em rất tiếc, và bảo ba đi tới đây thăm em nhé...


− Em sẽ về nhà. − Staś  đáp.


Nhưng cậu không thể nói gì thêm, bởi chỉ muốn gào lên thật to.


Còn Nel vẫn nói tiếp với giọng ngái ngủ, phải lắng tai mới nghe thấy:


− Và thể nào ba cũng đến, còn anh cũng có khi nào đó anh sẽ đến, phải không anh?...


Ý nghĩ ấy khiến cô bé mỉm một nụ cười, làm rạng ngời khuôn mặt gầy gò, nhưng rồi sau đó cô lại cất tiếng nói còn khẽ hơn nữa:


− Nhưng em tiếc quá...


Nói thế xong, cô bé ngả đầu vào vai anh khóc, còn cậu bé cố chế ngự nỗi đau của mình, ghì chặt cô vào ngực và tha thiết đáp:


− Nel, anh sẽ không trở về nếu thiếu em, và... anh cũng không biết sẽ làm gì trên đời nữa, nếu không có em!


Im lặng bao trùm, Nel lại ngủ thiếp đi. Staś  mang cô bé vào trong ruột cây, khi em vừa bước ra ngoài thì từ chóp mũi đất Kali chạy lại, vung vẩy hai tay và gọi to, vẻ mặt đầy tức giận và sợ hãi:


− Ông lớn! Ông lớn ơi!


− Gì thế? − Staś  hỏi.


Cậu bé da đen đưa tay chỉ về phía nam, nói:


− Khói!


Staś  đưa tay che mắt, cố căng mắt nhìn về phía ấy và trông thấy quả thực có một cột khói bay lên trong ánh mặt trời đỏ rực đã xuống thấp, ở giữa rừng, giữa hai rặng núi khá cao phía xa xa.


Kali run toàn thân vì nó hãy còn nhớ rất rõ kiếp sống nô lệ hãi hùng trong tay bọn phiến loạn, nó tin rằng, nơi đó chính là trại của bọn chúng. Staś  cũng cho rằng, đó không phải là ai khác ngoài gã Smain, và thoạt tiên em cũng rụng rời tay chân. Chỉ có thiếu có chuyện đó nữa thôi! Bên cạnh cơn ốm thập tử nhất sinh của Nel lại thêm bọn phiến loạn. Lại nô lệ, lại quay về Fasoda hay Chartum dưới bàn tay Mahdi, hay dưới ngọn roi của Apđulahi! Nếu như bọn chúng tóm được lũ trẻ, Nel sẽ chết ngay trong ngày đầu tiên, còn em thì phải làm nô lệ trong những ngày còn lại trên đời. Thảng hoặc có lúc nào đó em trốn thoát được đi chăng nữa, thì sống mà làm gì, tự do mà làm gì nếu thiếu Nel? Làm sao có thể nhìn vào mắt cha, hoặc ông Rawlison, khi mà bọn phiến loạn ném cô bé sau lúc nhắm mắt cho lũ linh cẩu xé xác, còn em thì không biết nói với mọi người nấm mồ cô bé nằm ở đâu?


Những ý nghĩ ấy vụt qua đầu em như những tia chớp. Bỗng nhiên em cảm thấy có ý muốn không cưỡng lại nổi là được nhìn Nel, và liền đi về phía cái cây. Trên đường đi, em bảo Kali dập tắt lửa và chớ có đốt lên về đêm, rồi bước vào trong ruột cây.


Nel đang thức và cảm thấy dễ chịu hơn. Cô bé lập tức chia sẻ với Staś  điều ấy. Saba nằm bên cạnh cô bé và sưởi ấm cô bằng tấm thân to lớn của mình, còn cô bé thì vuốt nhẹ đầu con chó và mỉm cười khi nó há mõm đớp những cái bụi vỏ cây mục bay lượn trong chùm ánh sáng của những tia nắng mặt trời cuối cùng ban chiều rọi vào trong cây. Hẳn là cô bé thanh thản hơn, vì lát sau cô quay sang hỏi Staś  với nét mặt khá tỉnh táo:


− Mà cũng có thể em sẽ không chết đâu, anh nhỉ?


− Chắc chắn là em sẽ không chết. − Staś  đáp. − Sau cơn sốt thứ hai mà em cảm thấy khỏe hơn thì cơn thứ ba sẽ không tới nữa đâu.


Cô bé hấp háy mi mắt dường như đang suy nghĩ điều gì rồi nói:


− Giá như em có cái thuốc đắng, thứ thuốc đã làm em dễ chịu đến thế sau cái đêm gặp bọn sư tử ấy, anh nhớ không? Thì chắc chắn em sẽ không nghĩ gì tới cái chết đâu, không nghĩ một tí ti nào bằng ngần này nữa anh này!


Và cô bé bấm trên đầu ngón tay nhỏ bé để chỉ rõ khi ấy mình sẽ sẵn sàng bao nhiêu để chết.


− Ôi! − Staś  bật lên. − Anh sẵn sàng đổi hết để lấy một chút kí ninh.


Em nghĩ rằng, giá như có nhiều thuốc thì em sẽ cho Nel uống ngay hai viên một lúc, rồi sau đó dùng tấm chăn bọc Nel vào, đặt lên lưng ngựa, trước mặt em, rồi lao thẳng về phía ngược hướng với trại của bọn phiến loạn.


Mặt trời lặn xuống, khu rừng bỗng chìm vào bóng tối. Cô bé trò chuyện chừng nửa giờ rồi ngủ thiếp đi, còn Staś  tiếp tục suy nghĩ về bọn phiến loạn và thuốc kí ninh.


Cái đầu đang lo lắng nhưng rất tháo vát của em bắt đầu làm việc và vạch ra những kế hoạch khác nhau, cái sau bạo dạn và liều lĩnh hơn cái trước. Đầu tiên em cân nhắc xem làn khói phía nam có nhất thiết phải bốc lên từ trại của gã Smain hay không. Rất có thể đó chính là bọn phiến loạn, nhưng cũng có thể đó là những người Ả Rập xứ duyên hải, những người đi sâu vào lục địa để lùng ngà voi hoặc săn nô lệ. Bọn họ không dính dáng tới bọn phiến loạn, vì chúng khiến cho việc buôn bán của họ bị cản trở. Cũng có thể đó là trại của những người Abixinia hoặc một làng dân da đen sơn cước nào đó mà bọn săn người chưa sục tới. Liệu có nên tự mình đi thám thính xem có chắc chắn hay chăng?


Người Ả Rập ở Dandiba, ở vùng lân cận Bagamôiô, từ Vit hay từ Mombasa và nói chung từ vùng duyên hải đến, là những người luôn tiếp xúc với người da trắng, nên biết đâu họ sẽ chẳng đưa cả hai đứa tới một cái cảng nào đó gần đó nhất để đổi lấy một phần thưởng lớn? Staś  biết rõ rằng em có thể hứa một phần thưởng thật to và người ta sẽ tin vào lời hứa của em. Cũng có một ý nghĩ khác làm em xúc động sâu sắc. ở Chartum, em đã trông thấy những tín đồ Hồi giáo, nhất là những người vùng Nubia cũng bị sốt rét gần như những người da trắng, và họ chữa bệnh bằng kí ninh mà họ tước đoạt được của dân châu Âu, hoặc đã mua với giá cắt cổ nếu thuốc này được giấu giếm trong tay những kẻ bội giáo người Hi Lạp hay Coptơ. Vì vậy, có thể hi vọng rằng, những người Ả Rập vùng duyên hải chắc chắn có kí ninh.


“Mình sẽ đi!” − Em tự nhủ. − “Mình sẽ đi vì Nel!”


Cân nhắc kĩ tình thế hiện tại, em lại càng tin tưởng rằng cho dù đó là toán quân của gã Smain đi chăng nữa, thì cũng nên tới đó. Em nhớ lại rằng, vì quan hệ giữa Ai Cập và Sudan cắt đứt hoàn toàn, nên có lẽ Smain không hay biết gì về chuyện bắt cóc bọn trẻ từ Phaium. Mụ Phátma không thể liên hệ được với gã, chuyện bắt cóc chỉ là ý đồ của mụ ta, được thực hiện với sự trợ sức của Chamis − con trai Khađigi, cùng với Gebhr và hai tên Bedouin. Những kẻ này không dính dáng gì tới Smain vì cái lí do đơn giản là gã chỉ biết có mỗi một mình Chamis mà thôi, những tên kia thì gã chưa từng gặp bao giờ. Gã chỉ quan tâm tới những đứa con của gã và mụ Phátma thôi. Mà cũng có thể gã đang nhớ chúng và sẽ vui sướng được quay trở lại với vợ con nếu như việc phục vụ dưới trướng Mahdi đã khiến gã chán ngán. Dưới trướng Mahdi, rõ ràng gã đã chẳng làm nên trò trống gì to tát, bởi lẽ thay vì được thống lĩnh những đội quân hùng hậu hoặc được giao cho trị vì một vùng đất rộng lớn nào đó thì gã lại phải đi săn bắt nô lệ ở mãi một chốn thâm sơn cùng cốc tận bên dưới Fasoda.


"Mình sẽ nói với gã,” − Staś  nghĩ thầm, − “Nếu như ông đưa chúng tôi tới được một cái cảng nào đó trên bờ ấn Độ Dương, hoặc nếu ông cùng chúng tôi quay trở về Ai Cập, chính phủ sẽ tha thứ cho ông mọi lỗi lầm, ông sẽ được sum họp với bà Phátma và bọn trẻ, ngoài ra, ngài Rawlison sẽ làm cho ông trở nên giàu có, còn nếu không, ông sẽ không bao giờ còn được trông thấy Phátma và bọn trẻ nữa đâu!”.


Và Staś  tin rằng, gã Smain sẽ phải suy nghĩ kĩ trước khi từ chối một hiệp ước như thế.


Tất nhiên, tất cả những chuyện đó không phải đều an toàn, thậm chí có thể mất mạng nữa, nhưng cũng có thể trở thành cái phao cứu mạng trong vực thẳm muôn trùng này của Phi châu. Rốt cuộc, Staś  đâm ra ngạc nhiên vì sao lúc đầu khả năng chạm trán với gã Smain lại có thể khiến cho em kinh hoàng đến thế. Và vì muốn cứu Nel cấp tốc, em quyết định ngay trong đêm nay sẽ lên đường.


Song nghĩ thì dễ hơn thực hiện. Ngồi bên đống lửa rừng rực, sau hàng rào gai giữa rừng đêm là một chuyện, còn lao mình vào trong đêm thẳm, trong đám cỏ cao, nơi đó giờ này lũ sư tử, báo, beo, không kể tới linh cẩu và lang núi đang săn mồi thì lại là một chuyện khác hẳn.


Tuy nhiên em chợt nhớ lại lời của thằng bé da đen trong cái đêm nó bỏ đi tìm Saba, lúc trở về đã nói với Staś : “Kali sợ, nhưng vẫn đi!”, và em cũng lặp lại y như thế: “Mình sợ, nhưng mình sẽ đi!”.


Tuy vậy em cũng chờ cho đến khi trăng mọc, vì đêm hôm ấy rất tối, và khi rừng bàng bạc ánh trăng, em mới gọi Kali và bảo:


− Kali, cậu hãy dắt con Saba vào trong ruột cây, lấy gai rào kín lỗ cửa, rồi cùng với Mêa, cậu hãy trông nom cô chủ thật cẩn thận, còn tôi sẽ đi xem thử những ai đang ở trong cái trại phía kia.


− Ông lớn hãy mang theo Kali và khẩu súng để giết bọn thú dữ. Kali không ở nhà đâu.


− Cậu phải ở nhà! − Staś  quả quyết. − Tôi cấm cậu không được đi theo tôi.


Rồi em im lặng một lát, lúc sau mới cất giọng hơi trầm hơn nói tiếp:


− Kali, cậu rất trung thành và chín chắn, nên tôi tin rằng cậu sẽ thực hiện được những gì tôi sẽ nói đây. Nếu như tôi không trở lại, mà cô chủ qua đời, thì cậu hãy để cô chủ lại trong lòng cây gỗ, nhưng dựng chung quanh cây một hàng rào cao, còn trên vỏ cây, cậu khắc một cái dấu lớn như thế này.


Cầm lấy hai thanh tre, em đặt vuông góc thành hình chữ thập. Rồi em nói tiếp:


− Còn nếu như cô bé không chết mà tôi không quay trở lại, thì cậu thành kính và trung thành phục vụ cô chủ. Cậu sẽ đưa cô chủ tới chỗ dân tộc của cậu và nói với các chiến sĩ Vahima để họ cùng cô chủ đi mãi về phía đông, đến tận Biển Lớn. ở đó, cậu sẽ gặp những người da trắng, họ sẽ cho các cậu nhiều súng, thuốc đạn, chuỗi hạt cườm, đạn súng săn và vải vóc. Cậu hiểu không?


Cậu bé da đen quỳ xuống trước mặt Staś , ôm ghì lấy chân em, lặp đi lặp lại thảm thương:


− Ô, bvana kubva! Trở lại, trở lại, trở lại!


Staś  rất cảm động trước tình gắn bó của cậu bé da đen, nên cúi xuống, đặt tay lên đầu nó và bảo:


− Đi vào trong cây đi, Kali... Cầu Chúa ban phước lành cho cậu!


Còn lại một mình, Staś  suy nghĩ một lúc nữa, xem có nên mang theo con lừa hay không. Nếu mang đi thì an toàn hơn, vì sư tử châu Phi cũng như hổ ấn Độ, khi gặp người cưỡi ngựa hoặc lừa, bao giờ cũng nhảy vào con vật trước chứ không phải vào người. Nhưng em lại tự hỏi, trong trường hợp như thế thì ai sẽ chở lều cho Nel, và chính cô bé sẽ cưỡi gì để đi? Sau khi cân nhắc, em từ bỏ ý định mang con lừa theo, và bắt đầu cất bước đi vào rừng thẳm.


Trăng đã lên cao nên bầu trời sáng hơn. Nhưng những gian khó cũng ập đến ngay lập tức khi cậu bé bắt đầu dấn thân vào trong đám cỏ mọc cao tới nỗi một người cưỡi ngựa cũng có thể dễ dàng ẩn kín trong đó. Thậm chí cả ban ngày cũng không thể trông thấy gì trong ấy cách một bước chân, huống hồ là giữa đêm khuya, khi ánh trăng chỉ soi sáng ngọn cỏ, còn mọi thứ phía dưới đều chìm ngập trong bóng tối dày đặc. Trong những điều kiện như thế rất dễ lạc đường, thay vì đi thẳng về phía trước rất có thể sẽ đi vòng. Staś  cảm thấy can đảm hơn khi nghĩ rằng, thứ nhất, khu trại mà em đang hướng tới chỉ ở cách mũi đất cùng lắm là ba hay bốn dặm Anh, hai nữa, khói bốc lên giữa hai ngọn đồi cao, nên nếu còn trông thấy những ngọn đồi đó thì không thể lạc đường được. Nhưng cỏ, cây trinh nữ và xiêm gai đã che mất tất cả. May thay, cứ chừng vài mươi bước chân lại có một tổ mối, nhiều cái cao tới hơn chục bộ. Staś  cẩn thận đặt súng dưới chân những tổ mối ấy rồi trèo lên đỉnh, và khi không thấy những ngọn đồi màu đen thẫm nổi bật trên nền trời, em lại tụt xuống đi tiếp. Em chỉ sợ khi nghĩ tới chuyện mây che mất vầng trăng và phủ kín bầu trời, khi ấy không biết ra sao, vì em sẽ như bị lạc xuống dưới âm phủ. Song đó cũng không phải là mối đe dọa duy nhất. Rừng thẳm trong đêm − trong sự tĩnh mịch nghe thấy rõ từng tiếng động, từng tiếng chân chạy, và ngay cả tiếng sột soạt, khi lũ sâu bọ trườn trong cỏ gây nên − quả thật là đáng sợ. Nỗi hãi hùng và sự đe dọa như rình rập trong rừng đêm.


Staś  phải để ý đến mọi thứ, phải lắng tai nghe cảnh giác, phải nhìn quanh tứ phía, đầu óc phải căng lên như dây đàn, còn súng thì lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn. Cứ chốc chốc lại cảm thấy như có con gì đó đang tiến lại gần, đang rình mò theo, đang nấp sẵn. Thỉnh thoảng em nghe thấy tiếng cỏ xao động và tiếng chân bất thần của những con thú đang chạy đi. Em đoán rằng hẳn em đã làm kinh động đến một con linh dương, bọn này mặc dù đã đặt “lính canh” nhưng vẫn ngủ rất cảnh giác, vì biết rằng trong bóng tối vào giờ này, không ít những con thú màu hoe hoe vàng đang đi săn mồi.


Nhưng cái gì kia to lớn đen thui dưới tán cây xiêm gai hình cái ô? Có thể đó là một tảng đá, mà cũng có thể là một con tê giác hay trâu rừng ngửi thấy hơi người đã tỉnh thức và sắp sửa lao vào húc. ở kia, sau lùm cây đen đen có điểm sáng long lanh. Nào! Súng lên vai! Sư tử đấy! Không! Báo động hão rồi! Đó chỉ là hai con đom đóm, vì một đốm sáng bay vụt lên còn một đốm bay xuống cỏ như một ngôi sao rơi xiên.


Staś  leo lên tổ mối không phải chỉ là để nhìn xem mình đi có đúng hướng không, mà còn để lau cái trán đổ mồ hôi lạnh, để thở một chút và đợi cho trái tim bớt nhịp đập dồn. Ngoài ra, em cảm thấy mệt rã cả người, khó khăn lắm mới đứng vững trên đôi chân. Nhưng em vẫn tiến lên phía trước với ý nghĩ cần phải đi để cứu lấy Nel.


Sau hai giờ đường, em tới một vùng mặt đất trải đầy những hòn đá nhỏ, nơi cỏ mọc thấp hơn trước và sáng hơn. Hai ngọn đồi vẫn in hình xa xa như trước, nhưng có một lèn đá chạy dài ngang trước mắt đã gần hơn, phía sau là một cái lèn đá nữa cao hơn, cả hai hình như bao quanh một thung lũng hay một khe núi, tương tự như cái khe đang giam giữ King.


Đột nhiên, ở phía bên phải, cách chừng ba hay bốn trăm mét, Staś  nhìn thấy ánh lửa hồng phản chiếu trên vách đá.


Em đứng sững lại. Tim đập tưởng chừng có thể nghe thấy được giữa cái tĩnh mịch của đêm thanh. Em sẽ trông thấy ai ở dưới kia? Những người Ả Rập từ vùng bờ biển phía đông chăng? Hay bọn phiến loạn của gã Smain? Hay những người da đen hoang dã rời bỏ làng xóm quê hương đi trốn tránh bọn phiến loạn trong chốn núi thẳm rừng hoang này? Em sẽ gặp cái chết, sự nô lệ hay cứu vãn cho Nel đây?


Cần phải xác định điều đó. Em không thể và cũng không muốn thoát lui. Một giây sau em bắt đầu lần mò về phía đống lửa, bước đi thật khẽ, cố nín thở. Bước được chừng trăm bước, em nghe từ phía rừng có tiếng ngựa thở mạnh. Em đứng dừng lại. Trong ánh trăng, em tính được năm con ngựa. Số lượng đó quá ít đối với bọn phiến loạn, nhưng cũng có thể là số ngựa còn lại ẩn ở đâu đó trong đám cỏ cao. Em chỉ ngạc nhiên một điều là bên cạnh ngựa không thấy có người canh, và rằng những người canh nọ không đốt trên cao những đống lửa để xua đuổi các loài dã thú. Nhưng ơn Chúa, vì nhờ đó em có thể tiến lên được mà không bị trông thấy.


Ánh lửa hồng trên vách đá mỗi lúc một rõ hơn. Chưa đầy mười lăm phút sau, Staś  đã tới được chỗ đối diện với vách đá được chiếu sáng mạnh nhất, điều đó chứng tỏ là dưới chân vách đá ấy có đống lửa đang cháy.


Em bèn bò và trườn thật chậm đến rìa vách đá và nhìn xuống phía dưới.


Vật đầu tiên đập vào mắt em là cái lều to, trước lều là một chiếc giường vải dã chiến, trên đó một người mặc quần áo màu trắng kiểu châu Âu đang nằm. Một thằng bé da đen chừng mười hai tuổi đang chất thêm cành khô vào đống lửa, ánh lửa đang chiếu sáng vách đá và một đoàn người da đen đang ngủ dọc theo vách đá về hai bên cửa lều.


Trong chớp mắt, Staś  đã tụt xuống theo sườn dốc xuống lòng khe núi.


 


Chương 32


Vì mệt và xúc động, cậu bé đứng lặng đi, thở hổn hển, không thốt ra được lời nào trước con người đang nằm trên giường, người đó cũng im lặng nhìn em với vẻ kinh ngạc của một người nửa tỉnh nửa mê.


Mãi sau ông ta mới gọi:


− Nasibu, mày có đấy không?


− Con đây, thưa ông chủ! − Cậu bé da đen đáp lại.


− Mày có trông thấy ai không, ai đang đứng trước mặt ta đây?


Trước khi cậu bé da đen kịp trả lời, Staś  đã nói ngay:


− Thưa ngài, − Em nói, − Tôi là Xtanixoáp Tarơcốpxki. Cùng với tiểu thư Rawlison, tôi chạy thoát khỏi cảnh nô lệ từ tay bọn phiến loạn và chúng tôi đang náu trong rừng. Nhưng Nel đang ốm nặng, tôi cầu xin ngài hãy giúp đỡ.


Người lạ hấp háy mắt ngó em một lúc nữa, rồi đưa tay gạt ngang vầng trán.


− Ta nghe thấy đây mà, không phải chỉ nhìn thấy, không, − Ông ta cất tiếng như tự nói với bản thân mình, − Đây không phải là ảo giác. Hả? Giúp đỡ hả? Chính ta cũng đang cần giúp đỡ đây. Ta bị thương rồi.


Bỗng nhiên ông giật mình, dường như vừa thoát khỏi giấc mơ hoặc cơn bải hoải, nhìn cậu bé với vẻ tỉnh táo hơn, với ánh sung sướng long lanh trong mắt, rồi bảo:


− Một đứa bé da trắng!... Ta còn được trông thấy một người da trắng đây mà!... Xin chào anh, dù anh là ai. Anh nói tới bệnh tật gì thì phải? Anh muốn gì ở ta?


Staś  nhắc lại, rằng người ốm là Nel, con gái của ngài Rawlison, một trong các vị giám đốc kênh đào, rằng cô bé đã bị hai cơn sốt rét và chắc sẽ chết nếu như không có kí ninh để phòng cơn thứ ba.


− Hai cơn, gay rồi đấy. − Người lạ đáp. − Nhưng kí ninh thì ta có thể cho anh, bao nhiêu tùy ý anh. Ta có mấy lọ to, và chúng cũng chẳng giúp ích gì cho ta nữa.


Nói thế, ông ra lệnh cho cậu bé Nasibu đưa cho mình một cái hộp sắt tây to tướng, hẳn là tủ thuốc khi đi đường, lấy từ trong đó ra hai lọ lớn đựng đầy một thứ thuốc trắng, đưa cho Staś .


− Đây là một nửa số mà ta có. Ngần này cũng đủ dùng ít ra là một năm...


Staś  suýt nữa thì reo lên vì mừng rỡ, em cảm ơn ông ta, xúc động như chính em được cứu sống vậy.


Người lạ mặt gật gật đầu rồi nói:


− Được rồi, được rồi! Ta là Linđe, người Thụy Sĩ, quê ở Duyrich... Hai ngày trước đây ta gặp tai nạn: Một con lợn rừng nơriđi húc ta bị thương.


Rồi quay sang phía thằng bé da đen, ông bảo:


− Nasibu, nhồi cho ta tẩu thuốc. Và quay sang Staś :


− Về đêm ta bị sốt nhiều hơn và hơi bị choáng váng trong đầu. Nhưng hút một điếu thuốc sẽ làm đầu óc minh mẫn hơn. Anh bảo là các anh trốn thoát khỏi tay bọn phiến loạn và hiện đang ẩn náu trong rừng, có phải thế không?


− Vâng, thưa ngài, cháu đã nói thế.


− Thế các anh định làm gì?


− Chạy đến Abixinia ạ.


− Thế thì các anh sẽ rơi vào tay quân lính của Mahdi mất thôi, hiện nhiều đơn vị quân của y đang tuần phòng suốt dọc biên giới.


− Nhưng chúng cháu không thể làm gì khác hơn được ạ.


− Ôi, giá như một tháng trước đây thì ta đã có thể giúp các cháu. Nhưng giờ đây ta chỉ còn lại có mỗi một mình, sống nhờ lượng Chúa và nhờ thằng bé da đen kia mà thôi.


Staś  nhìn ông với vẻ ngạc nhiên:


− Thế còn cái trại này ạ?


− Đó là cái trại của tử thần.


− Còn những người da đen này?


− Họ đang ngủ và sẽ không bao giờ tỉnh dậy nữa.


− Cháu không hiểu...


− Bọn họ bị bệnh ngủ[1]. Đó là những người thuộc vùng Hồ Lớn, nơi cái bệnh khủng khiếp này hoành hành liên tục, và tất cả bọn họ đều mắc phải thứ bệnh quái ác ấy, trừ những kẻ trước đó đã chết vì đậu mùa. Chỉ mỗi mình thằng bé này là còn sống sót với ta thôi...


Bây giờ Staś  mới chợt nhận ra rằng khi em tuột xuống khe núi, không một người da đen nào nhổm dậy hay động đậy, trong khi họ trò chuyện, tất cả bọn họ đều ngủ: Người thì tựa đầu vào vách đá, kẻ lại gục đầu xuống ngực.


− Họ ngủ và không bao giờ tỉnh dậy nữa ư? − Em hỏi lại, dường như vẫn chưa thật hiểu điều vừa nghe thấy.


Ông Linđe thốt ra:


− Ôi, cả Phi châu này là một cái nhà xác!...


Những lời tiếp theo của ông bị gián đoạn bởi tiếng vó ngựa, lũ ngựa sợ một cái gì đó trong rừng, nhảy chồm chồm lên hai chân bị buộc vào nhau, lần về phía mép thung lũng, muốn được xích lại gần lửa gần người.


− Không có gì đâu, lũ ngựa đấy thôi! − Người đàn ông Thụy Sĩ nói tiếp. − Ta đã lấy được ngựa của bọn quân lính Mahdi vài tuần trước, khi ta đánh cho chúng tan tác. Bọn chúng có chừng ba trăm tên, có lẽ hơn thế. Nhưng bọn chúng phần nhiều chỉ có giáo mác, còn người của ta thì lại có súng trường rêmingtơn, số súng đang đặt gần vách đá kia, chúng cũng chẳng còn dùng được vào việc gì nữa rồi. Nếu cháu thiếu súng, hoặc đạn thì cứ lấy, bao nhiêu cũng được. Lấy cả ngựa nữa, cháu sẽ quay về với cô bạn đang ốm của cháu nhanh hơn. Con bé bao nhiêu tuổi nhỉ?


− Tám tuổi ạ! − Staś  đáp.


− Vậy ra hãy còn là một đứa trẻ con... Nasibu sẽ đưa cho cháu chè, gạo, cà phê và rượu vang... Trong số lương thực cháu muốn thứ gì cứ lấy, và sáng mai hãy tới lấy thêm nữa.


− Cháu nhất định sẽ quay trở lại để cảm ơn ngài một lần nữa với tất cả tấm lòng, và để đỡ đần cho ngài những gì cháu có thể làm được.


Ông Linđe nói:


− Thật dễ chịu dù chỉ được trông thấy một khuôn mặt người Âu. Nếu như sáng mai cháu đến sớm thì ta sẽ tỉnh táo hơn. Bây giờ cơn sốt lại kéo tới hành hạ ta rồi, ta trông thấy cháu thành hai người. Có thật hai người đang đứng cạnh ta không? Không!... Ta biết chắc là chỉ có mỗi mình cháu, và đó chỉ là do cơn sốt thôi... Ôi, cái châu Phi này!


Và ông nhắm nghiền mắt lại.


Mười lăm phút sau, Staś  lên đường quay trở lại, rời cái trại kì lạ của bệnh ngủ và cái chết, lần này thì bằng ngựa. Đêm hãy còn sâu thẳm, nhưng em không còn phải để ý đến những mối nguy hiểm có thể sẽ gặp trong vùng cỏ cao nữa. Tuy vậy, em đi dọc theo gần sông, với dự tính rằng hai cái khe núi đều phải đổ ra sông. Nói cho cùng, quay trở về dễ dàng hơn nhiều, vì trong sự tịch mịch của đêm, tiếng thác nước vang đi rất xa, thêm vào đó, phía tây bầu trời quang mây hẳn, và bên cạnh vầng trăng còn có ánh sáng Hoàng đạo soi khá tỏ. Cậu bé dùng mũi bàn đạp kiểu Ả Rập rộng bản thúc vào hông ngựa lao đi vun vút, vừa nhủ thầm trong lòng: “Sư tử và báo gấm có hề chi! Ta đã có kí ninh cho cô em bé bỏng đây rồi!”. Chốc chốc, em lại đưa tay sờ nắn hai cái lọ, như muốn kiểm tra cho chắc xem quả thực có chúng trong tay không, và tất cả những điều này không phải chỉ là một giấc mơ. Biết bao ý nghĩ và hình ảnh diễn qua đầu óc em. Em như thấy người đàn ông Thụy Sĩ bị thương mà em vô cùng biết ơn, đồng thời chân thành hối hận rằng thoạt đầu trong khi nói chuyện, em đã ngỡ ông ta điên, em thấy như thằng bé Nasibu với cái sọ dừa tròn như một quả bóng, cùng những hàng người phu đang ngủ say và những họng súng rêmingtơn tựa vào vách đá, ánh lên trong ánh lửa. Giờ đây em tin chắc rằng cuộc chiến đấu mà ông Linđe nói tới chính là cuộc chiến đấu với toán quân của gã Smain, và đối với em có vẻ thật lạ lùng khi nghĩ rằng chính gã Smain cũng có thể đã chết.


Những hình ảnh ấy hòa trộn không ngừng với những suy nghĩ về Nel. Em tưởng tượng thấy cô bé sẽ ngạc nhiên đến thế nào khi trông thấy cả một lọ thuốc kí ninh đầy, có thể cô bé sẽ coi em là phù thủy cũng nên. “Ôi!” − Em tự nhủ, − “Giá như ta hèn nhát không dám tự mình đi xem thử làn khói bốc lên từ đâu, thì suốt đời ta không bao giờ có thể tha thứ nổi cho mình điều đó!”.


Không đầy một tiếng đồng hồ sau, tiếng thác nước đã vang lên rõ mồn một, và nghe cả tiếng ếch nhái, khiến Staś  đoán ra rằng đã về tới gần khoảng nước rộng nơi hôm trước em từng săn chim nước. Trong ánh trăng em còn nhận rõ những cái cây xa xa mọc trên bờ nước. Giờ thì cần phải thật cảnh giác, vì vùng nước đó đồng thời cũng là nơi uống nước mà mọi loài thú trong vùng đều phải tới, vì tại tất cả những nơi khác, bờ sông đều dốc đứng và khó xuống. Nhưng lúc này đêm đã quá muộn, lũ thú dữ hẳn là đã ẩn náu trong các hang đá sau những chuyến đi săn đêm. Con ngựa khẽ kêu lên rừ rừ khi ngửi thấy mùi sư tử hay hùm beo hãy còn vương vất quanh đấy, nhưng Staś  đã vượt qua nơi đó không gặp trở ngại gì và một lúc sau em đã trông thấy hình dáng đen sẫm của “Cracốp”, đứng sừng sững trên mũi đất cao. Lần đầu tiên trong thời gian ở châu Phi, em có cảm giác như về tới nhà.


Em ngỡ rằng sẽ gặp mọi người đang ngủ say, nhưng quên tính tới con Saba, con chó cất tiếng sủa đến nỗi cả người chết chắc cũng phải bật dậy. Trong chớp mắt, Kali hiện ra trước cái cây và kêu tướng lên:


Bvana kubva ngựa!


Trong giọng của cậu bé có nhiều niềm vui hơn là sự ngạc nhiên, bởi nó quá tin tưởng vào sự hùng mạnh của Staś , nên nếu như Staś  có hóa phép tạo ra voi đi nữa thì cậu bé da đen cũng chẳng ngạc nhiên lắm.


Những niềm vui bao giờ cũng khiến cho người da đen cười, nên thằng bé vừa vỗ đùi bành bạch vừa cười lên như hóa dại.


− Hãy buộc chân con ngựa này lại. − Staś  bảo. − Tháo đồ đạc xuống, đốt to lửa lên và nấu nước sôi đi.


Rồi em bước vào lòng cây gỗ. Nel cũng đã thức dậy và bắt đầu gọi tên em. Staś  khẽ hé bức rèm bằng vải nhìn khuôn mặt nhợt nhạt của Nel trong ánh sáng ngọn đèn, cùng đôi bàn tay gầy trắng bệch đặt trên lần chăn đắp trên người cô bé.


− Em thấy trong người ra sao, cô bé? − Staś  vui vẻ hỏi.


− Bình thường, em ngủ rất say, cho tới khi con Saba làm em thức giấc. Thế sao anh không ngủ?


− Vì anh còn phải đi.


− Đi đâu, anh?


− Tới hiệu thuốc.


− Tới hiệu thuốc à?


− Phải, để mua kí ninh mà.


Vị thuốc kí ninh đắng ngắt không làm cho cô bé thích thú chút nào, nhưng cô bé vốn xem đó là thứ thuốc trị được bách bệnh trên đời nên cô thở dài và bảo:


− Em biết là anh không còn kí ninh nữa.


Staś  bèn giơ một trong hai lọ lên gần đèn và hỏi vẻ vừa tự hào vừa sung sướng:


− Thế cái gì đây?


Nel không muốn tin vào mắt mình nữa, còn cậu bé nói vội vã, cả người như sáng bừng lên:


− Em sẽ khỏe ngay bây giờ! Lát nữa anh sẽ lấy cho em một liều thuốc thật nhiều bọc trong quả vả tươi và em phải nuốt chửng, rồi uống thứ gì thì em sẽ biết. Sao em nhìn anh như nhìn con mèo màu xanh thế? Phải, anh còn một lọ nữa. Anh được một người đàn ông da trắng cho, trại của ông ta cách đấy bốn dặm. Anh vừa từ đó quay về đây. Ông ta tên là Linđe và bị thương, nhưng ông ta cho anh vô số thứ ngon. Anh quay về bằng ngựa, nhưng phải đi bộ tới chỗ ông ta đấy. Em nghĩ là đi qua rừng trong đêm dễ chịu lắm à? Brr! Có các vàng anh cũng không đi lần nữa, trừ phi đi xin thuốc kí ninh!


Nói thế xong, em rời cô bé đang kinh ngạc, đi sang “buồng con trai”, lấy trong số lương thực dự trữ một quả vả nhỏ nhất, khoét ra và rắc thuốc kí ninh vào bên trong, chú ý sao cho liều thuốc không nhiều hơn so với những viên thuốc mà em nhận được ở Chartum. Rồi em bước ra khỏi thân cây, rót nước trà vào cốc nước mang vào cho Nel.


Trong thời gian ấy cô bé nghĩ tới mọi chuyện vừa xảy ra. Cô bé rất tò mò, không hiểu người da trắng nọ là ai? Làm sao Staś  lại biết ông ta? Liệu ông ta có đến thăm chúng không và liệu có đi cùng chúng? Bây giờ cô bé không hề nghi ngờ gì nữa, khi Staś  đã có được kí ninh thì cô sẽ khỏe lại. Nhưng anh Staś  này... dám đi một mình trong đêm vượt qua rừng, cứ như là không ấy thôi! Dù cho cậu bé có ngạc nhiên, nhưng Nel vẫn quen coi tất cả những gì Staś  làm cho cô là những chuyện tất nhiên, cô bé không hề suy nghĩ gì lâu la về điều đó, vì nói cho cùng thì một người anh lớn phải chăm sóc một đứa em gái chứ! Nhưng lần này thì cô bé hiểu được rằng nếu không có sự chăm sóc của Staś  thì chắc chắn cô bé đã chết từ lâu, rằng Staś  vô cùng chăm lo tới Nel, rằng cậu chiều chuộng và bảo vệ Nel đến mức không có một đứa con trai nào ở tuổi cậu có thể làm được. Và một lòng biết ơn to lớn tràn ngập trong trái tim nhỏ nhoi của cô bé.


Cho nên khi Staś  bước vào và cầm thuốc cúi xuống, thì Nel liền lập tức vươn hai cánh tay mảnh mai của mình lên ôm choàng lấy cổ Staś  và chân thành ghì chặt lấy:


− Anh Staś , anh đối với em thật tốt biết bao. Còn thằng bé đáp:


− Thì anh còn biết đối tốt với ai nữa? Tuyệt lắm! Nào, uống thuốc đi em!


Tuy nhiên, cậu vui sướng vô cùng, mắt cậu long lanh thỏa mãn, và quay lại phía lỗ cửa gọi to, với vẻ thật sự tự hào


và sung sướng:


− Mêa! Bây giờ đưa trà cho cô bé nào!


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz – Nobel văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info







[1]  Gần đây, người ta tin chắc rằng, bệnh ngủ này do giống ruồi tsetse gây ra khi đốt người (chính giống ruồi tsetse gây cái chết cho đại gia súc). tuy nhiên, bệnh ngủ chỉ lan tràn trong một số vùng mà thôi. vào thời khởi nghĩa Mahơđi, nguyên nhân của bệnh này chưa được biết (Chú thích của tác giả).


 




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 10.07.2018
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 09.07.2018
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 26.06.2018
Trại súc vật - George Orwell 13.06.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.06.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 11.05.2018
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 07.05.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 07.05.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
xem thêm »