tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22324124
06.02.2018
Tư liệu sưu tầm
Bà Lê Thị Trang - vợ Lê Quý Đôn - con gái một Danh Nho, một quan thượng thư nổi tiếng


Lê Quý Đôn là một nhà bác học nổi tiếng, có kiến thức uyên bác và đa dạng. Quá tài giỏi, ông rất cao ngạo, cậy tài. Thế nhưng, có một người đã khiến cho ông phải thay đổi suy nghĩ, bái làm thầy để học chữ. Sau này, người thầy đó cảm mến tài năng của Lê Quý Đôn nên đã gả con gái cho.


Người ấy là Quận công Lê Hữu Kiều (xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Cụ Lê Hữu Kiều (1691 – 1760) sinh ra trong một gia đình khoa bảng, là con trai út của Hoàng giáp Lê Hữu Danh. Khi mới được 3 tháng tuổi thì mồ côi cha, lên 4 tuổi thì mồ côi mẹ, nên được bà ngoại là Hiến phó Phạm phu nhân và cậu ruột là Vệ Úy Lạc Sơn công đem ông về nuôi, dạy dỗ.



Cụ Lê Hữu Kiều là em ruột cụ Lê Hữu Miêu - thân sinh Danh Y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác! Như thế, các con cụ Lê Hữu Kiều, trong đó có cụ bà Lê Thị Trang, vợ Lê Quý Đôn, là em con chú bác ruột với Lê Hữu Trác!


 


Thuở nhỏ, người ông gầy yếu nhưng lại rất thông minh, trí nhớ rất tốt. Lên 8 tuổi ông đã biết đọc sách, lên 10 tuổi thì được anh ruột là Lê Hữu Hỷ - khi đó vừa đỗ tiến sỹ và được bổ nhiệm làm quan, đem về nuôi. Thế nhưng tính tình của cụ Lê Hữu Kiều lại mải chơi, không chịu để chí vào việc học hành nên nhiều lần bị đòn roi. Sau đó, ông hối hận, chuyên tâm ôn luyện kinh sách, hy vọng một mai bảng vàng đề tên.


Khoa thi Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1718), Lê Hữu Kiều đỗ tiến sỹ dưới triều vua Lê Dụ Tông, được bổ làm Sát đề hình trấn Thanh Hoa, sau thăng Hiến sát xứ. Cuộc đời quan trường của ông từng giữ rất nhiều chức vụ quan trọng, từng kinh qua chức thượng thư của cả lục bộ (là Lễ, Lại, Hộ, Công, Binh, Hình). Ông còn là thầy dạy học cho vua, khi mất, vua thương tiếc cho nghỉ 3 ngày chầu, phong làm Liêu quận công.


Toàn bộ kiến trúc nhà thờ cụ Lê Hữu Kiều tại làng Liêu Xá (huyện Yên Mỹ, Hưng Yên) đều được xây theo lối hiện đại.


Bên cạnh những sử liệu chính thức, cuộc đời khoa bảng của quận công Lê Hữu Kiều tồn tại một giai thoại rất thú vị. Chuyện này được Phạm Đình Hổ (nhân vật nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX) chép trong sách Tang thương ngẫu lục. Chuyện kể rằng, lúc còn nhỏ, Lê Hữu Kiều là người phóng đãng, không chịu sự ràng buộc của khuôn phép.


Ông là học trò của Thám hoa Vũ Thạnh (ông này người phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, nay thuộc phường Hàng Vải, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội, đỗ Thám hoa năm 1685, dưới triều vua Lê Hy Tông), được Thám hoa Vũ Thạnh rất yêu quý. Ông từng giao du với Phạm Viên Chân Nhân (đến nay không tra cứu được Phạm Viên Chân Nhân là ai). Nhưng tương truyền, Chân Nhân cũng là một người rất hay chữ, được chính Thám hoa Vũ Thạnh thử tài và công nhận rằng: “Người làm văn này phải là bậc thần tiên”.


Vì ngưỡng mộ tài danh của Phạm Viên Chân Nhân nên Thám hoa Vũ Thạnh nhiều lần sai người đón, mời tới đàm đạo, dạy học nhưng ông không chịu đến. Lê Hữu Kiều cũng vì ngưỡng mộ tài danh đó nên bỏ học để đi theo ông mấy tháng trời. Thế nhưng, do biết chí hướng của Lê Hữu Kiều là làm quan, trong khi mình lại muốn lánh xa thế tục nên Phạm Viên Chân Nhân đã khuyên ông trở về. Sau Lê Hữu Kiều nghe theo những lời khuyên này, về nhà tu chí học hành, làm nên công danh, sự nghiệp lẫy lừng và trở thành một tấm gương sáng ngời cho những người theo nghiệp bút nghiên. Lúc gần cuối đời, Lê Hữu Kiều rất đam mê đạo Phật. Ông thiết lập một cơ sở chuyên giảng đạo Phật, người đến nghe rất đông mà chủ yếu lại là những nhân vật tiếng tăm. Các chúa Trịnh Minh Vương (tức Trịnh Doanh), Trịnh Tĩnh Vương (tức Trịnh Sâm) ban chức hòa thượng cho nhiều vị sư, họ đều là học trò của ông.


Ông Lê Hữu Khoát (Trưởng tộc dòng họ Lê Hữu làng Liêu Xá) cho biết: “Bởi vì tiếng tăm lừng lẫy của cụ Lê Hữu Kiều nên một người kiêu ngạo, cậy tài như nhà bác học Lê Quý Đôn cũng phải đến xin làm học trò. Trong quá trình học như vậy, cụ Kiều cảm mến tài năng mà gả người con gái tên là Lê Thị Trang cho làm vợ. Vì vậy, nhà bác học Lê Quý Đôn trở thành con rể của dòng họ Lê Hữu chúng tôi”.


Lê Quý Đôn làm quan tới chức Bồi tụng (Phó Thủ tướng) bên Chúa Trịnh. Sau khi ông mất, con trai là Lê Quý Kiệt dâng sách quý lên Vua Gia Long, nhờ vậy mà được trọng dụng, được vời vào kinh thành Huế làm quan, dạy dỗ cho con vua. Lê Quý Kiệt được Minh Mạng kết bạn thân thiết, tâm giao.


Vợ Lê Quý Đôn là con một Danh Nho, quan lớn đầu triều, khi lấy Lê Quý Đôn càng trở nên giàu có. Sử sách truyền lại, chỉ thấy vợ chồng Lê Quý Đôn có độc người con trai là Lê Quý Kiệt, sử Nhà Nguyễn ghi là Lê Duy Thanh.


Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn) chép về vụ án gian lận thi cử có liên quan tới nhà bác học Lê Quý Đôn như sau: “Tháng 10, mùa đông. Mở khoa thi hội các cống sĩ. Cho bọn Ngô Thế Trị và Phan Huy Ích cùng 18 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân; xử tội Đinh (Thì) Trung đày đi viễn châu, giam Lê (Quý) Kiệt vào ngục.


Quý Kiệt là con Quý Đôn. Kỳ đệ tứ khoa thi này (tức khoa thi năm 1775), Quý Kiệt cùng Đinh (Thì) Trung đổi quyển cho nhau để làm bài. Việc bị lộ, Đinh (Thì) Trung phải tội lưu đi Yên Quảng (nay thuộc Quảng Ninh), Quý Kiệt phải trở về làm dân. Đinh (Thì) Trung nhân phát hiện bức thư riêng của Quý Kiệt và tố cáo là do Quý Đôn chủ sự.


Trịnh Sâm lấy cớ Quý Đôn là bậc đại thần, bỏ đi không xét, mà luận thêm tội Quý Kiệt, bắt giam cấm ở ngục ở Cửa Đông”. Sau khi chép những lời này, phần lời bình của cuốn sách chép tiếp: “Hai người cùng một tội mà xử phạt khác nhau, sao có thể gọi là công bằng được? Xét hành trạng của Quý Đôn, không có một điều gì đáng khen”. 


Đinh Thì Trung theo các tài liệu ghi chép, quê ở làng Cổ Bôn, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa. Ông từ nhỏ vốn rất thông minh, được coi là thần đồng. Năm 14 tuổi Đinh Thì Trung đỗ hương cống (tức Cử nhân) và được đưa vào học trường Quốc Tử Giám để thi Hội. Cùng vào học đợt này còn có Lê Quý Kiệt, là con của bảng nhãn Lê Quý Đôn.


Nếu xét về địa vị xã hội thì Quý Kiệt hơn Thì Trung rất nhiều nhưng về tài năng văn học lại có vẻ không bằng. Tương truyền Lê Quý Đôn thỉnh thoảng muốn kiểm tra tài năng bằng cách hỏi sách vở, thơ phú thì Thì Trung đều tỏ ra hiểu rộng, biết nhiều. Danh tiếng của ông trên đất kinh kỳ vang dội, đến tai cả chúa Trịnh Sâm.


Tháng 10 năm Ất Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36 (1775) triều đình tổ chức khoa thi Hội. Quý Kiệt và Thì Trung cùng đi thi với nhau. Theo giai thoại dân gian thì lúc bấy giờ trong triều tranh luận khá sôi nổi về việc trong hai người này ai sẽ đỗ đầu, trong đó có cả vua và nhà chúa. Vua Lê cho rằng Lê Quý Kiệt sẽ đỗ trạng nguyên. Còn chúa Trịnh Sâm lại đoán là Đinh Thì Trung.


Ngày thông báo kết quả thì Quý Kiệt đỗ đầu. Chúa Trịnh không chịu bèn truyền cho khảo quan đem bài thi xét lại và phát hiện thấy bài có chữ viết của Thì Trung thì đề tên Quý Kiệt và ngược lại. Thế là việc đánh tráo bài thi bị lộ, gây xôn xao trong triều, ngoài nội. Cả hai đều bị hủy bỏ kết quả thi, tước hết bằng cấp. Đinh Thì Trung bị xử đày ra tận vùng Đông Hải (có sách chép là Yên Quảng, nhưng đều thuộc vùng Quảng Ninh ngày nay), còn Lê Quý Kiệt thì bị tống giam, sau đuổi về quê ở Thái Bình làm dân thường và cấm không được đi thi nữa.


Tác giả Bùi Dương Lịch (1757 – 1828) trong sách Lê quý dật sử cũng chép câu chuyện gian lận chấn động này. Tác giả này cũng chép chuyện Đinh Thì Trung tố cáo Lê Quý Đôn chủ mưu trong việc đổi quyển thi nhưng Trịnh Sâm không xét tới. Vì thế giới nho sĩ bấy giờ đã sáng tác ra hai câu thơ mỉa mai chuyện gian lận trên như sau: “Quý Kiệt hoàn dân tăng Diên Hà chi dân số, Thì Trung phát phối, chấn Đông Hải chi văn phong”. Dịch nghĩa là: “ Quý Kiệt bị đuổi về, Diên Hà tăng thêm dân số. Thì Trung lưu đày xa, Đông Hải chấn chỉnh lại văn phong”.


Số phận bi thảm của thần đồng Việt


Tác giả Quốc Chấn trong sách Những chuyện lạ trong thi cử thời xưa ở Việt Nam viết rằng, các giai thoại địa phương chép Đinh Thì Trung từ nhỏ đã được coi là thần đồng. Khi mới lên bốn tuổi, một hôm thấy bố đọc sách, ông đòi bố dạy cho mình học đọc. Nghe vậy, người bố chưa tin nhưng cũng bày thử cho Thì Trung vài chữ xem sao.


Điều kỳ lạ là ông bố viết chữ nào ông nhớ ngay chữ đấy, nói nghĩa chữ nào là ông hiểu chữ đó. Người bố mừng lắm bèn gửi con đến một thầy đồ trong vùng vốn là thầy học cũ của mình để nhờ kèm cặp. Lúc đó thầy đang uống rượu, nhìn thấy Đinh Thì Trung bé choắt, nói đùa: “Tửu”, đối được ta sẽ dạy. Không ngờ Thì Trung  đối ngay bằng chữ “Đăng”.


Nếu xét theo phép ghép chữ ngày xưa thì chữ Tửu (rượu) gồm bộ thủy ghép với chữ dậu. Còn “Đăng” (đèn) thì gồm bộ hỏa ghép với chữ đinh. Hai chữ trên đối nhau cả về can chi (Đinh với Dậu) và ý nghĩa (thủy với hỏa). Năm 14 tuổi thì ông đỗ Hương Cống và được vào học trường Quốc Tử Giám với con cái của nhiều bậc công hầu, danh sĩ.


Sử sách chép rằng tính tình Thì Trung vốn rộng rãi với bạn bè và cũng có mối quan hệ thân thiết với gia đình Lê Quý Đôn. Không biết có phải vì mối quan hệ thân thiết đó mà ông chấp nhận đổi quyển thi với con trai của Lê Quý Đôn hay không? Và cũng từ đó mà gây nên bi kịch nổi tiếng cho một tài năng văn chương sớm nở tối tàn.


Hiện nay có nhiều thuyết nói về cái chết của Đinh Thì Trung. Giai thoại địa phương được sách Những chuyện lạ trong thi cử thời xưa ở Việt Nam dẫn lại rằng, sau khi bị đi đày mấy năm, vì ưu ái tài năng văn chương của ông nên chúa Trịnh đã tha cho Thì Trung. Tuy nhiên khi ông đang trên đường về thì chẳng may đã bị bọn cướp biển bắt giết. Khi đó Đinh Thì Trung mới 16 tuổi. Thuyết khác thì nói rằng ông bị cướp biển bắt nhưng không chịu khuất phục chúng nên đã nhảy xuống biển tự vẫn.


Trong khi đó số phận của Lê Quý Kiệt tươi sáng hơn nhiều. Sau khi nhà Nguyễn lập, Quý Kiệt vì có công dâng sách quý của cha lên vua Gia Long nên đã được bổ nhiệm làm quan, cho giữ chức Thị trung Trực học sĩ và giao cho việc dạy dỗ các Hoàng tử.


Sau này vua Gia Long cũng rất quý và tin tưởng ông. Sách Quốc sử di biên do Thám hoa Phan Thúc Trực (làm quan thời vua Tự Đức) có chép sự kiện như sau: “Trước đây sai Thị trung trực học sĩ Lê Quý Kiệt sửa sơn lăng; Quý Kiệt nói đào đến huyệt tất có đất ngũ sắc, rồi quả nhiên đúng, vua cho là lạ ngày càng khen thưởng”.


Vậy là hai người cùng phạm tội như nhau nhưng số phận mỗi người lại quá khác nhau. Việc này không khỏi gây ra những nỗi bi cảm cho hậu thế sau này.


Nhà khảo cứu sử học hải ngoại Nguyễn Thị Chân Quỳnh (nguyên giảng viên đại học Paris IV) từng nhận xét: “Gian lận thi cử thì thời nào cũng có, song khoa cử ba năm mới tổ chức một lần, tỉ lệ số người đỗ mỗi khoa lại rất ít, người đỗ danh vọng cao, quyền uy nhiều cho nên người học trò đi thi rất dễ bị cám dỗ, miễn sao chóng được thi đỗ để ra làm quan. Song vì một số người gian lận mà chê khoa cử tổ chức thiếu nghiêm mật e không đúng. Quả thật cha ông ta đã nghĩ hết cách để phòng ngừa, thiết tưởng đời nay chưa chắc đã bằng”.


Năm 1775, Lê Quý Kiệt dính phải vụ án đổi quyển thi với 1 thí sinh khác, bị buộc đánh rớt. Lê Quý Kiệt bị chúa Trịnh giam vào ngục.


1802, Gia Long lên ngôi, thống nhất đất nước, cử Nguyễn Văn Thành (1758 – 1817) ra cai quản Bắc Thành.


Nguyễn Văn Thành sinh ngày 13 tháng 11 âm lịch năm Mậu Dần (1758). Tiên tổ của ông người xứ Thuận Hóa, phủ Triệu Phong, huyện Quảng Điền, tổng Phú Ốc, xã Bác Vọng. Tằng tổ là Nguyễn Văn Toán dời vào Gia Định. Tổ là Nguyễn Văn Tính lại dời đến ở Bình Hòa. Cha ông là Nguyễn Văn Hiền lại dời vào Gia Định.


Sử cũ ghi: "Nguyễn Văn Thành trạng mạo đẹp đẽ, tính trầm nghị, thích đọc sách, tài võ nghệ".


Ông là người "biết chữ, hiểu nghĩa sách, biết đại thể, ở trong chư tướng, vua trọng Thành hơn cả, không cứ việc lớn việc nhỏ đều hỏi để quyết đoán. Mỗi khi ông đến chầu vua cho ngồi thong dong hỏi han, ông cũng đem hết sức hiểu biết tiềm tàng, tình hình ngoài biên, sự đau khổ của dân, kế hoạch nhà nước, mưu kế việc binh, biết điều gì là nói hết, cũng nhiều bổ ích".


Về tài cầm binh, Tiền quân Nguyễn Văn Thành là vị tướng "phân tích kỹ lưỡng, đâu là điểm mạnh, đâu là thế yếu, rồi mới quyết đoán, lúc tiến, khi lui nhằm giảm thiểu hao tổn tướng sĩ".


Trong một truyền dụ của triều đình còn ghi: "quân ta giao tranh, đánh ba trận thắng ba trận, ta lấy được tuy chưa bắt được hết nhưng cũng là toàn thắng. Đó thực là do đại tướng giỏi cầm quân và các quân vui theo mệnh lệnh. Năm Quý Dậu 1813, sau khi xác định được rõ vị trí chiến lược quan trọng của thành phố Đà Nẵng từ trước nên triều đình nhà Nguyễn đã cho đo đạc cửa biển của thành phố này, kết hợp với việc vẽ bản đồ và bố trí thủy quân. Ông được vua cử đi lập pháo đài Điện Hải và đài An Hải nằm hai bên tả hữu sông Hàn, ở miền giáp giới với biển, để kiểm soát thuyền bè ra vào và trấn giữ Đà Nẵng.


Về sau, triều đình cho rằng các pháo đài này có thành trì, trấn giữ hùng mạnh ở bờ biển khác hẳn những pháo đài khác nên đặc cách cho gọi là thành.


Năm Nhâm Tuất 1802, vua Gia Long nghĩ Bắc Hà mới bình định, dân vật đổi mới, cố đô Thăng Long lại là trung tâm của Bắc thành với nghìn năm văn hiến đồng thời cũng là nơi đã từng chứng kiến bao cuộc thăng trầm của lịch sử dân tộc, nên được trọng thần để trấn thủ bèn phong cho ông làm Tổng trấn Bắc thành, còn vua trở về kinh đô Phú Xuân (tức Huế ngày nay). Ban cho sắc ấn trong ngoài mười một trấn đều thuộc vào cả, các việc truất nhắc quan lại, xử quyết việc án, đều được tiện nghi làm việc, sau mấy năm mà đất Bắc Hà được yên trị.


Là một võ tướng, Nguyễn Văn Thành lại là người rất coi trọng việc học hành thi cử, Giáp Tý 1804, ông tâu: "Hiện nay thánh thượng lưu ý đào tạo nhân tài, chia đặt đốc học, rèn đúc học trò, để cống hiến cho đất nước. Đó thực là cơ hội lớn để sửa đổi phong tục tác thành nhân tài. Nhưng sự dạy dỗ mới bắt đầu thì văn khoa cử nên có kiểu mẫu để làm khuôn phép cho học trò. Vậy xin chuẩn định học quy, khiến cho người dạy lấy đó mà dạy học trò và học trò lấy đó làm chuyên nghiệp để cho giảng dạy khảo khóa lấy đó mà theo". Vua liền chuẩn lời tâu.


Cùng thời gian lãnh mệnh triều đình đứng ra coi việc xây dựng lại Bắc Thành, ông đã cho tu bổ Văn Miếu-Quốc Tử Giám, dựng thêm Khuê Văn Các. Đây là một kiến trúc có giá trị độc đáo về khía cạnh văn hóa và mỹ thuật. Công việc được hoàn thành vào mùa thu năm 1805. Kiến trúc được đặt ở cửa Nghi Môn và chính tại đây hằng năm vào mùa Xuân và mùa Thu, chọn hai ngày Đinh lệnh cho quan đến tế, lại lấy bốn tháng giữa Xuân, Hạ, Thu, Đông tổ chức khảo thí học trò.


Vào tháng 1 năm 1812, tiền quân Nguyễn Văn Thành được sung chức tổng tài trong việc biên soạn Quốc Triều Thực Lục. Như vậy trong cùng một khoảng thời gian, ông đã kiêm nhiệm hai chức Tổng tài.


Được triệu tập giữ chức Tổng tài biên soạn Quốc Triều Thực Lục, Tiền quân Nguyễn Văn Thành dâng phong thư kín viết ra bốn điều mà điều thứ ba: "xin kén thêm nho thần để sung Sử cục" vua chấp nhận và cho thực hiện (San định Quốc Sử).


Khi công việc đi dần vào ổn định thì sự kiện 1817 xảy ra và đến hơn 4 năm sau việc biên soạn công trình này mới được tiếp tục dưới thời vua Minh Mạng.


Năm Ất Hợi 1815, người con trưởng của ông là Nguyễn Văn Thuyên cũng chính là phò mã của vua Gia Long thi đỗ hương cống. Vốn là người hâm mộ văn chương, ông Thuyên thường làm thơ, ngâm vịnh văn thơ với những kẻ sĩ. Bấy giờ lại nghe nói có hai người ở Thanh Hóa là Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận có tiếng là hay chữ, ông Thuyên có làm một bài thơ tặng. Dịch nghĩa là: Ái-châu nghe nói lắm người hay/ Ao ước cầu hiền đã bấy nay/ Ngọc phác Kinh-Sơn tài sẵn đó/ Ngựa Kỳ Ký-bắc biết lâu thay/  Mùi hương hang tối xa nghìn dặm/ Tiếng phượng gò cao suốt chín mây/ Sơn tể phen này dù gặp gỡ/ Giúp nhau xoay-đổi hội cơ này.


Một số người vốn có tị hiềm với ông dựa vào hai câu cuối của bài thơ mà lập luận, suy đoán, thêu dệt thành ý phản loạn, truất ngôi vua.


Mọi việc kêu oan của Nguyễn Văn Thành đều không được Gia Long minh xét. Ông hiểu rằng: "Án đã xong rồi, vua bắt bề tôi chết, bề tôi không chết không phải là trung", di biểu để lại còn ghi: "sớm rèn tối luyện dệt thành cái tội rất độc ác cho cha con thần, không biết kêu oan vào đâu, chỉ chết mà thôi". Ông bị bức tử, buộc phải uống thuốc độc trong ngục vào năm Đinh Sửu (1817), hưởng thọ sáu mươi tuổi, con trai ông là Nguyễn Văn Thuyên thì bị xử án chém. Mãi tới năm Mậu Thìn 1868, thể theo lời đệ tấu xin gia ân của Đông các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn, Vua Tự Đức đã truy xét công trạng, lại chiếu giải oan án và phong chức tước cho con cháu Tiền Quân Nguyễn Văn Thành.


Trở lại chuyện Lê Quý Kiệt. Năm 1808, Nguyễn Văn Thành cai quản bắc Thành. Ngay kỳ thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn, Lê Quý Kiệt đậu ngay ở trường Sơn Tây. Năm 1810, Lê Quý Kiệt được triệu cùng các học sĩ khác như Phạm Quý Thích về Huế, phong chức Đông các học sĩ. Sau đó, trong công cuộc tìm đất xây lăng cho Gia Long, Lê Quý Kiệt lại đóng vai trò rất quan trọng khi "tìm ra" đất làng Định Môn núi Thọ Sơn. Năm 1814, Lê Quý Kiệt thăng tiếp Thị trung trực học sĩ kiêm Thái thường tự khanh góp việc Lễ bộ.


Một người như Lê Quý Kiệt chắc hẳn chả dốt đến độ phải có người làm bài thi hộ - hoặc quả thiệt thời trẻ chơi bời đổ đốn nhưng bị một lần sợ xanh mắt đã chịu tu tỉnh học hành. Nhưng cuộc đời Lê Quý Kiệt còn có một "vai trò" khác: Góp phần "thổi lửa" đẩy mâu thuẫn của Minh Mạng với 2 ông quan họ Lê lên cao.


Theo Minh Mạng kể thì ngày còn làm hoàng tử chả mấy khi tiếp xúc với quan lại bên ngoài, chỉ đi tìm đất xây lăng chung với Lê Quý Kiệt thì mới thân nhau. Minh Mạng lên ngôi đã bổ Lê Quý Kiệt đến làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng. Sơn Nam thượng là đất thuộc Hà Nội với Hưng Yên sau này.


Năm 1820 được phong chức, năm 1821 Lê Quý Kiệt bị tố cáo tham nhũng - Theo Di biên thì là do Lê Quý Kiệt cãi nhau với ông quan cùng làm, bị người ta bới ra việc người nhà dựa thế làm bậy, xúi dân cầm đơn tố vua đang ở Bắc thành chờ sứ phong. Lê Quý Kiệt khóc xin quan Kinh tra xét chứ đừng để Nguyễn Hựu Nghi tra...


Nguyễn Hựu Nghi là người đã tố án vụ... Nguyễn Văn Thành. Mà theo mấy ông quan thậm thụt nói với nhau thì thằng dụ con Nguyễn Văn Thành "làm thơ mưu phản" ấy vốn là môn khách của Nguyễn Hựu Nghi chứ không ai khác. Mà theo nguồn khác nữa thì Nguyễn Hựu Nghi là người của Lê Văn Duyệt!


Vậy là, Lê Quý Kiệt liều chết xin thay người xử, Lê Chất đứng một bên gào đồ vô lễ phải chém, chém, chém. Minh Mạng thấy thế thì trói Lê Quý Kiệt lại đưa về Huế xử. Ở trấn Sơn Nam, Lê Chất lấy được hết "lời nhận tội" của người nhà người xung quanh đưa về Huế, Lê Quý Kiệt bị cách chức đi làm việc không công ở Quảng Bình. Vậy vẫn chưa yên, năm 1824 cả Lê Chất với Lê Văn Duyệt vào tâu xin về hưu vì tội... vua không xử chém Lê Quý Kiệt, luật không vững dân không tin làm việc không được.


Khi Lê Quý Kiệt bị xử, Thực lục trích lại lời Minh Mạng nói lúc đưa Lê Quý Kiệt làm Hiệp trấn: chả phải ta yêu ghét riêng quan miền nào đâu, đâu cũng là dân ta mà. Minh Mạng "thanh minh" cho việc dùng quan người Bắc; Dàn đại quan thời ấy toàn quan người Nam.


Các Chúa Nguyễn vốn là kẻ tử thù của Chúa Trịnh. Bởi thế, Sử Triều Nguyễn không chép nhiều về những quân thần phục vụ Vua Lê Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài như Lê Quý Đôn. Sử sách Triều Nguyễn - từ Gia Long trở về sau này - rất ít khi chép về con cháu Lê Quý Đôn ngoài những tư liệu về Lê Duy Thanh dẫn ở trên.


Không lẽ cụ Lê Quý Đôn và vợ là cụ Lê Thị Trang chỉ có độc một con trai là Lê Quý Kiệt?


Không lẽ Lê Quý Kiệt không có vợ con gì?


Trong gia phả dòng họ Lê Quý ở Thái Bình, cụ Lê Quý Đôn là con trai trưởng, nhưng không hề có một chữ nào về dòng con, cháu Lê Quý Đôn! Đây là khoảng trắng vô cùng đáng tiếc và xót đau của lịch sử. Hy vọng trong tương lai, khoảng trắng này sẽ được minh bạch!




*Tuy vậy, tương truyền, vợ chồng cụ Lê Quý Đôn & Lê Thị Trang có 4 người con trai. Lê Quý Kiệt là con trai thứ hai. Rất tiếc, tư liệu này không có gì để kiểm chứng!


 


TX


Biên soạn từ tư liệu trên Internet


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tại sao AK-47 phổ biến như vậy? - Tư liệu sưu tầm 22.04.2018
Người Ê Đê - Tư liệu sưu tầm 20.04.2018
Nhà thơ Nguyễn Bính từng có hai người vợ miền Nam! - Lại Nguyên Ân 20.04.2018
Ai là "người vợ miền Nam" trong bài thơ cùng tên của Nguyễn Bính? - Tư liệu sưu tầm 19.04.2018
Người “nhưng tuồng” là ai? - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
Lượm từ facebook: Phản ứng sau vụ “Ngộ độc thơ” của Phan Hoàng - Nhiều tác giả 18.04.2018
Ông Huỳnh Việt Thắng, nguyên Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao - Tư liệu sưu tầm 11.04.2018
Những bài viết vụ án Nguyễn Hữu Giộc (10 Vân) nguyên Trưởng ty công an tỉnh Đồng Nai - Nhiều tác giả 11.04.2018
Cá voi xanh - Tư liệu sưu tầm 09.04.2018
Toàn văn Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam - Tư liệu 09.04.2018
xem thêm »