tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22620684
Lý luận phê bình văn học
11.01.2018
Nguyễn Hùng Vỹ
Đêm giao thừa xưa của Ức Trai Nguyễn Trãi



Nguyễn Trãi để lại cho đời sau một đêm giao thừa đáng nhớ qua thơ Nôm của Cụ. Bài thơ có tên là Trừ tịch, với nghĩa là giao thừa.


     Mười hai tháng lọn mười hai


     Hết tấc đông trường sang mai


     Hắc Đế, Huyền Minh đà đổi ấn


     Sóc Phong, Bạch Tuyết hãy đeo đai


     Chong đèn chực tuổi cay con mắt


     Đốt trúc khua na đắng lỗ tai


     Chẳng thấy lịch quan tua sá hỏi


     Ướm xem dần nguyệt tiểu hay đài.


Bài thơ chắc chắn làm trong thời Cụ ẩn dật, có nghĩa là tuổi đã lớn. Giọng điệu từ tốn chuyển dần sang hoài niệm và lãng quên thế sự của một hưu quan.


Câu thơ đầu tiên vừa điềm tĩnh vừa dân dã: Mười hai tháng lọn mười hai. Sáu chữ thì đã có đến 4 chữ là số đếm: thời gian bước đi trên đôi chân chậm chắc và không thể khác của nó. Hai chữ đầu mở ra và hai chữ cuối lặp lại như một vòng luân phiên, mặc định. Ở giữa là chữ mà các cụ xưa thường đọc “lọn”, nay phiên “trọn” cũng được, nó nằm trong liên đới ngữ âm và ngữ nghĩa với chữ “tròn” dân dã. Cái dân dã nữa của Nguyễn Trãi là Cụ dùng đúng lối nói dân gian như “Rằm đã tỏ rằm”, “Mười mặt rõ mười”, “Trăm đủ cả trăm”… Đó chính là mục đích sáng tạo thơ Nôm của Cụ: xây dựng một nền thơ ca tiếng Việt ở thời đại đầu của sự phát triển.


Nếu câu thơ thứ nhất kể tháng thì câu tiếp theo kể thời khắc giao thừa, chủ điểm chính của bài:


      Hết tấc đông trường SANG mai.


Vì là ngôn ngữ cách nay đã hơn năm thế kỷ rưỡi nên chữ nghĩa nên hiểu một cách tinh tế. Chữ “tấc” vốn có gốc Hán Việt là “tức”: chỉ một khoảng thời gian rất ngắn, thoạt xẩy đến. Ta vẫn nói “tức khắc” để chỉ sự việc xẩy ra trong thời gian cực ngắn. Ngày xưa, đồng hồ nước hoặc đồng hồ cát có các vạch ngắn để tính khắc. Mỗi khắc bằng khoảng 15 giây (15 tích tắc) so với đồng hồ tây. Đó là thời gian vật lý, còn trong ăn nói đời thường, người ta diễn đạt một thời gian rất ngắn bất định.


 “Đông trường” là đêm mùa đông. Mùa hè thì ngày dài đêm ngắn, mùa đông thì ngày ngắn đêm dài, do góc quay của trái đất quanh mình và quanh mặt trời mà nó ra thế. Nhân dân, bằng kinh nghiệm của mình cũng nói thế: Đêm rằng đêm lạnh cái đêm đông trường/ Nửa chăn nửa chiếu nửa giường em đợi chờ ai (dân ca). Ngày mùa hè thì ta gọi nó là “nhật trường” hay “hạ trường”: Rồi hóng mát thuở ngày trường(Nguyễn Trãi).


Đó chính là thời khắc của ngày thì cùng trong tháng thì tận. Ở thời khắc đó xẩy ra sự chuyển giao. Câu thơ thứ hai có cái chữ SANG này, xưa nay các học giả đều cùng nhau phiên là Hết tấc đông trường SÁNGmai. Có lẽ các cụ ngẫm hơi vội hoặc bằng lòng mà theo nhau. Văn mạch câu thơ nghe ra không ổn. Đang tả thời khắc giao thừa mà hai chữ  “sáng mai” xuất hiện đột ngột, nó thượng hạ bất thông với ý tứ những câu sau. SANG ở đây với nghĩa “chuyển qua theo một hướng không gian hoặc thời gian nào đó”. (về chữ Nôm thì có thể phiên âm cả hai phương án “sáng” và “sang”, tỷ như trong câu Kiều Tiện hồng nàng mới nhắn lời gởi SANG). Ở đây Nguyễn Trãi nói về thời khắc chuyển giao khi hết 12 tháng, hết canh khắc của ngày cuối, đêm cuối để sang hôm sau. “Mai” là hôm sau. Giao thừa phương đông xưa chọn đúng nửa đêm mà.


Và sự chuyển giao (sang) đó tiếp tục được triển khai bằng cặp đối, một câu ngầm ý “giao”, một câu ẩn ý “thừa”:


     Hắc Đế, Huyền Minh đà đổi ấn


     Sóc Phong, Bạch Tuyết hãy đeo đai.


Người xưa quan niệm Hắc Đế là thần mùa đông, Huyền Minh là thần mùa xuân. Giao thừa là thời khắc họ đổi ấn cho nhau để đảm lãnh trách nhiệm. Câu này là “giao”.


Nhưng có hai vị thần khác, biểu tượng cho hiện tượng tự nhiên, cụ thể hơn, thì vẫn tiếp tục công việc của họ là Sóc Phong (thần gió bấc), Bạch Tuyết (thần sương tuyết) thì vẫn tiếp tục cái công việc cuối cùng của họ, vẫn còn đeo đai. Tự nhiên không đứt đoạn, cái rét vẫn thấm thía đất trời. Đó chính là “thừa”. Bút pháp Cụ Ức Trai thật chặt chẽ để nói trúng cái thời điểm Cụ sáng tạo.


Về riêng tư, cái tết đến, trẻ con mong ngóng, người già trẻ lại bởi hồi ức bởi tục lệ từ xưa đem lại:


     Chong đèn chực tuổi cay con mắt


     Đốt trúc khua na đắng lỗ tai.


Đốt trúc là đốt pháo làm bằng ống tre nứa, khua na vốn gốc từ Hán Việt là khu na:  khu trừ ma quỷ, một nghi lễ trừ tà. Chữ khua hayxua trong tiếng Việt đều có gốc từ chữ khu này.


Câu thơ vừa thực cái cảnh giao thừa, vừa hồn nhiên vì thật giản dị. Dẫu trẻ con hay người già cũng đều mang tâm lý chực tuổi cả. Nhưng làm sao mà câu trên thì có “cay”, câu dưới thì có “đắng”?. So với cái cảm hứng dân gian Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh… thì Nguyễn Trãi ngẫm ngợi hơn nhiều về nhân tình thế thái khi ông phải từ bỏ chính trường. Trầm ngâm và cô đơn.


     Chẳng thấy lịch quan tua sá hỏi


     Ướm xem dần nguyệt tiểu hay đài.


Ông kết bài bằng một tình thế, và cao hơn, đó là một lựa chọn. Khi xưa làm quan thì sắp tết, triều đình ban lịch cho quan lại như một ân huệ gọi là “lịch quan”, nay hưu nghỉ thì không còn ưu ái đó nữa nên “chẳng thấy”, mà cũng chả cần hỏi nữa (tua sá hỏi nên hiểu như vậy trong tình thế phát ngôn). Nay hết quan hoàn dân thì ứng xử kiểu dân dã: Muốn biết tháng giêng (dần nguyệt) ngắn hay dài (tiểu hay đại) thì ta phải “ướm” thôi. Ướm là lẩm nhẩm tính toán rồi đoán định tự mình mà thôi. Cảnh hưu nhàn nó là như vậy. Từ cái ướm bắt đầu tháng giêng đó mà người ta tính ra tiết khí, sự hanh thông hay trắc trở cả năm mới.


Một giao thừa trong bài thơ không có bóng người khác, chỉ mình danh nhân với cảnh vật rồi suy ngẫm mà thôi. Sâu sắc, điềm đạm.


Hà Nội, 21- 12- 2017.


NHV.


vanhoanghean


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
“Tụng giá hoàn kinh sư” bài thơ chói ngời khí phách, khát vọng Việt - Trầm Thanh Tuấn 21.05.2018
Võ Phiến: Đọc: “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta” (1974 ) - Võ Phiến 17.05.2018
Một giả thiết khác về hành trình đi sứ của Nguyễn Du năm 1813 - 1814 - Nohira Munehiro 15.05.2018
Theo hành trình Nguyễn Du Bắc Hành Tạp Lục: Thơ đi sứ năm 1813 và những bài thơ được sáng tác trong thời gian đi giang hồ (1787-1790) (1) - Phạm Trọng Chánh 15.05.2018
Thi ca Việt Nam qua những miền kinh tuyến - Khuất Bình Nguyên 02.05.2018
Nhà thơ Ngô Thế Oanh: “Mưa đập mãi trên những cơn mất ngủ” - Nguyễn Việt Chiến 02.05.2018
Nhà văn, Dịch giả Phan Quang: tác phẩm, nhân cách, tấm lòng - Triệu Xuân 22.04.2018
Truyện Tỳ Bà, từ Trung Quốc vào Việt Nam - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
Sự có mặt của Nguyễn Bính - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
Nhớ về Maxim Gorky - Nguyễn Văn Chiến 12.04.2018
xem thêm »