tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21594114
30.12.2017
Nhiều tác giả
Sông Luộc – Ninh Giang Hải Dương



Sông Luộc


Tên chữ là sông Phú Nông, một trong những con sông nối sông Hồng với sông Thái Bình. Điểm đầu là ngã ba giao với sông Hồng tại Phương Trà - xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Đoạn đầu của sông Luộc là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình. Điểm cuối là Quý Cao, xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (gặp sông Thái Bình). Sông có chiều dài 72 km; các loại tàu thuyền, xà lan có tải trọng dưới 300 tấn đều có thể vận tải trên sông cả hai mùa.


 


Các cây cầu bắc qua sông Luộc:


Cầu Triều Dương (nối huyện Tiên Lữ của tỉnh Hưng Yên và huyện Hưng Hà của tỉnh Thái Bình).


Cầu La Tiến, xã Điệp Nông, Hưng Hà, Thái Bình với xã Nguyên Hòa, Phù Cừ, Hưng Yên (dự án)


Cầu Hiệp (nối huyện Ninh Giang của tỉnh Hải Dương và huyện Quỳnh Phụ của tỉnh Thái Bình).


Cầu Tranh (không phải Chanh); nối liền hai làng Tranh Chử - huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng với làng Tranh Xuyên cũ (nay là Thị trấn Ninh Giang) - Huyện Ninh Giang - Tỉnh Hải Dương


Cầu Quý Cao, nối Tứ Kỳ, Hải Dương - Vĩnh Bảo, Hải Phòng, trên quốc lộ 10


Cầu Sông Mới (huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).


Trong thi ca


Tố Như Nguyễn Du có bài thơ về sông Luộc bằng chữ Nho nhắc đến cảnh thuyền bè buôn bán trên sông như sau:


渡富農江感作


農水東流去


滔滔更不回


青山傷往事


白髮復重來


春日商船合


西風古壘開


遊人無限感


芳草遍天涯


"Độ Phú Nông Giang cảm tác"


Nông thủy đông lưu khứ


Thao thao cánh bất hồi


Thanh sơn thương vãng sự


Bạch phát phục trùng lai


Xuân nhật thương thuyền hợp


Tây phong cổ lũy khai


Du nhân vô hạn cảm


Phương thảo biến thiên nhai.


"Qua sông Luộc cảm tác"


Sông Luộc nước chảy đông


Thao thao chẳng trở hồi


Núi xanh thương chuyện cũ


Tóc trắng được về nơi


Ngày xuân thuyền buôn họp


Lũy cổ mở gió khơi


Lòng vô cùng thương cảm


Cỏ thơm rợn chân trời.


Thảo Nguyên dịch.


Ninh Giang


Là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương, nằm bên bờ sông Luộc và tiếp giáp với các tỉnh lân cận là Thái Bình, Hải Phòng. Ninh Giang nằm ở đỉnh phía Đông Nam tỉnh Hải Dương, vị trí khoảng 20 độ 43’vĩ Bắc,106 độ 24’ kinh Đông; phía Nam giáp xã Thắng Thủy (Hải Phòng) qua sông Luộc, phía Bắc


giáp xã Đồng Tâm, Tây Giáp xã Hiệp Lực, phía Tây Nam giáp xã An Khê, phía Đông Giáp xã Hà Kỳ.


Dân số huyện Ninh Giang là 146.780 người, diện tích 135,4 km².


Theo đường bộ Ninh Giang cách thành phố Hải Dương 29 km, Hà Nội 87 km. Về đường bộ tiếp giáp và có các con đường chạy qua 37A, 37B, 217


- Đi Hải Dương - Vĩnh Bảo bằng đường 37A


- Đi Quý Cao- Hải Phòng bằng đường 37B


- Đi Quỳnh Phụ Thái Bình bằng đường 217


- Đi Hưng Yên bằng tuyến sông Luộc


Ninh Giang cách biển 25 km(đường chim bay). Thời tiết khí hậu như Hải Phòng và Thái Bình


Huyện có thị trấn Ninh Giang và 27 xã: An Đức, Đồng Tâm, Đông Xuyên, Hiệp Lực, Hoàng Hanh, Hồng Dụ, Hồng Đức, Hồng Phong, Hồng Phúc, Hồng Thái, Hưng Long, Hưng Thái, Kiến Quốc, Nghĩa An, Ninh Hải, Ninh Hòa, Ninh Thành, Quang Hưng, Quyết Thắng, Tân Hương, Tân Phong, Tân Quang, Ứng Hòe, Văn Giang, Văn Hội, Vạn Phúc, Vĩnh Hòa.


Thời Pháp thuộc dân số phủ lỵ Ninh Giang có khoảng 7000 người, gốc gác từ nhiều vùng: Hải Phòng, Bắc Thái, Thái Bình, Hà Nội xong gốc Hà Nam là chủ yếu. Người Hoa cũng đến lập nghiệp ở đây có khoảng 100 hộ Hoa Kiều. Người Hoa thường lập thành hang bang riêng của họ. Năm 1996 dân số thị trấn là 8071 người; dân số huyện Ninh Giang là 146.780 người, có diện tích 135,4 km².


Phủ Ninh Giang


Tên gọi Ninh Giang có chính thức từ năm 1822.


Cuối triều Trần gọi là Hạ Hồng. Sang triều Lê, đời Quang Thuận(1460-1669) đặt là phủ Hạ Hồng và quản 4 Huyện: Huyện Trường Tân (tức Gia Lộc), huyện Tứ Kỳ, huyện Thanh Miện và huyện Vĩnh Lại (tức huyện Ninh Giang và huyện Vĩnh Bảo ngày nay). Đến năm Cảnh Hưng thứ 2(1741) đổi thành đạo Hạ Hồng. Dưới triều Nguyễn năm Gia Long thứ nhất(1802) gọi là phủ Hạ Hồng.


Vào năm Minh Mạng thứ 3(1822) đổi thành phủ Ninh Giang. Lúc ấy, Ninh Giang quản 4 huyện: Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện & Vĩnh Lại. Năm Tự Đức thứ 4 Phủ Ninh Giang quản 4 huyện: Vĩnh Lại, Vĩnh Bảo, Gia Lộc và Tứ Kỳ.


Huyện Ninh Giang


Từ triều Trần về trước gọi là huyện Đồng Lợi, đến Lê Lợi đổi thành Đồng Lại. Vào đời Quang Thuận(1460-1469) đổi thành huyện Vĩnh Lại. Năm Minh Mạng thứ 19(1838) cắt 5 Tổng của Huyện Tứ Kỳ, 3 Tổng của huyện Vĩnh Lại thành lập ra huyện Vĩnh Bảo còn lại 8 Tổng với 88 xã thôn trang trại. Tên Vĩnh Lại duy trì đến năm 1919.


Năm Thành Thái thứ 9 (1897) Pháp đặt sở đại lý ở Ninh Giang. Năm 1919 Pháp bỏ cấp Phủ- cấp hành chính trung gian- phủ chỉ là tên gọi cho những huyện lớn và quan trọng, không quản các huyện nữa vì vậy sau năm 1919 tên gọi Ninh Giang thay cho tên gọi Vĩnh Lại. Trong thời kỳ Pháp tạm chiếm, vào năm 1951, Ninh Giang là cấp quận và thuộc tỉnh Vĩnh Ninh. Tỉnh Vĩnh Ninh gồm các quận: Ninh Giang, Hà An, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng và Phụ Dực. Hòa bình lập lại năm 1954, Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương và năm 1968 thuộc Hải Hưng. Ngày 1/4/1979, Ninh Giang và Thanh Miện nhập lại thành huyện Ninh Thanh. Tháng 3/1996, Ninh Thanh lại tách trở lại theo ranh giới 2 huyện cũ.


Lỵ sở Ninh Giang trước đóng ở Gia Lộc (có thuyết nói rằng xã Kinh Kiều), năm Gia Long thứ 7(1808) dời về xã Quý Cao (huyện Tứ Kỳ), đến năm Gia Long thứ 10 (1811) phủ lỵ rời về xã Phù Cựu (thuộc Huyện Vĩnh Lại), đến năm Minh Mạng thứ 11 (1830) thì rời về Tổng Bất Bế (tức Ninh Giang ngày nay).


Phủ Ninh Giang ngày xưa có thành đất bao quanh. Thành dài 171 trượng (684m) cao 6 thước 2 tấc. 4 mặt thành có hào, 3 cửa ra xã Tranh Xuyên. Hòa bình lập lại năm 1954, Ninh Giang được phân cấp là thị xã. Tháng 9/1959, điều chỉnh lại là thị trấn. Từ đó, huyện có 1 thị trấn Ninh Giang và 27 xã: An Đức, Đồng Tâm, Đông Xuyên, Hiệp Lực, Hoàng Hanh, Hồng Dụ, Hồng Đức, Hồng Phong, Hồng Phúc, Hồng Thái, Hưng Long, Hưng Thái, Kiến Quốc, Nghĩa An, Ninh Hải, Ninh Hòa, Ninh Thành, Quang Hưng, Quyết Thắng, Tân Hương, Tân Phong, Tân Quang, Ứng Hòe, Văn Giang, Văn Hội, Vạn Phúc, Vĩnh Hòa.


 


Vùng đất Ninh Giang xưa trong một số bộ sử và tiểu thuyết đã nhắc tới. Mỗi thời kỳ với những tên gọi khác nhau, được nhắc tới nhiều nhất là Hồng Châu, Hạ Hồng, Vĩnh Lại.


Kết quả khảo sát và khảo cổ học năm 1982 ở huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình) giáp với Ninh Giang qua sông Luộc, phát hiện thấy phế tích mộ đời Hán. Công trình trên kết luận: vùng đất Quỳnh Phụ ít ra trước kia cũng có dân cư trước Công nguyên, cư dân từ trung du (Vĩnh Phú,Tuyên Quang) hoặc Biển(Thanh Hóa –Nghệ An) đến lập nghiệp ở đây. Ninh Giang xa biển hơn Quỳnh Phụ, đất bồi tụ trước quỳnh Phụ vì vậy mà sẽ có dân cư trước Quỳnh Phụ. Như vậy muộn nhất cư dân Ninh Giang cũng phái có trước Công nguyên (tức hơn 2000 năm).


-       Năm 40 Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Nhà Hán cử Mã Viện sang đàn áp. Tại cùng Hạ Hồng đã chứng kiến cuộc giao tranh giữa 2 bên. Phá vây ở Hạ Hồng, Hai Bà chạy về Thạch Bàn. Đô Lượng 1 tướng giỏi của Hai Bà Trưng có cứ quân đóng ở Hiệp Lực (Ngã ba sông Hóa).


Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đất nước lại trải qua 1000 năm Bắc thuộc.


-       Vào thế kỷ thứ X, tương truyền rằng có một người ở làng Cúc Bồ (nay là xã Kiến Quốc) là Khúc Thừa Dụ đã chiêu binh mã nổi dậy chống quân đô hộ phương Bắc. Trong lịch Triều hiến chương loại chí có ghi:


"Cuối đời Đường thổ hào là Khúc Thừa Dụ người Hồng Châu chiếm lấy cứ thành tự xưng là Tiết Độ Sứ... rồi đến cháu là Khúc Thừa Mỹ nối chức, yêu cầu nhà Lương cho làm Tiết Độ Sứ. Khi ấy nhà Nam Hải chiếm đất Phiên Ngung, đem quân đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi đặt Thứ Sử. Viên tướng của Khúc là Dương Đình Nghệ nổi lên đánh châu thành, tự xưng là Tiết Độ Sứ, sau bị nha tướng là Kiều Công Tiến giết chết. Khi ấy có một biệt tướng của Diên Nghệ giết Tiến, đánh quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, tự xưng là vua đóng đô ở Loa thành(Cổ Loa ngày nay).


-       Vào thế kỷ thứ XV sau cuộc bảo vệ đất nước của nhà Hồ thất bại nước ta bị ách thống trị của Nhà Minh -Trong thời kỳ này sử còn ghi lại một sự kiện: Vào mùa xuân năm 1418 Lê Lợi dấy binh ở Thanh Hóa thì 1419 tại châu Hạ Hồng, Trịnh Công Chứng và Lê Hành dấy quân đánh Tống binh Lý Bân của nhà Minh ở vùng Bắc.


Sau cuộc kháng chiến thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên một vương triều phong kiến cực thịnh ở Việt Nam. Ở thời điểm đó Ninh Giang chứng kiến sự kiện lạ, sử cũ ghi: "Mùa hạ, tháng 4 năm 1443, có rồng hiện ở bến đò Hóa (huyện Vĩnh Lại)".


-       Đầu thế kỳ thứ XVI nhà Lê bước vào thời suy vong. Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Lê, trong nước diễn ra nhiều cuộc chiến một bên là Chúa Trịnh(dưới danh nghĩa Phù Lê) và một bên là Mạc. Đây là thờ kỳ nội chiến kéo dài, chiến tranh xảy ra liên miên. Ninh Giang nằm trong vùng chiến ác liệt. Tháng 2/1559 sau khi thu phục xứ Hải Dương, Trịnh Tùng sai quân đến xã Thanh Giang (huyện Vĩnh Lại) đóng quân vài hôm rồi về kinh.


-       Năm 1594 phủ Hạ Hồng có nhiều quân cát cứ chống Trịnh Tùng. Tháng 7 năm ấy Mạc Kính Chương chiếm huyện Thanh Hà và Tứ Kỳ, còn huyện Vĩnh Lại có Lai Quận Công. Những năm ấy xứ Hải Dương mất mùa to, chết đói 1/3.


-       Năm 1595 Trịnh Tùng cử Trịnh Văn chương về trấn giữ huyện Vĩnh Lại. Năm 1598 Nguyễn Hoàng lại được cử về xứ Hải Dương dẹp quân chống đối. Thời Lê Trung Hưng vào năm 1740, có nhiều cuộc nổi dậy chống nhà Chúa: Thái Bình có Công Chất, Nam Hà có Tú Cao, Vĩnh Phú có Nguyễn Danh Phương và Hải Dương có Hữu Cầu (Quận He). Ninh Giang là một trong những địa bàn hoạt động của Quận He. Tại đất Tranh Xuyên có những trân giao tranh quyết liệt giữa quân nổi dậy và quân Triều đình. Một lần quân Triều đình bị vây ở đất Tứ Kỳ, danh tướng Triều đình là Hoàng Ngũ Phúc phải đến giải vây. Khi qua vùng Ninh Giang bị quân nổi dậy chặn đánh gây nhiều thiệt hại. Triều đình phải cử quân của Phạm Đình Trọng về đánh quân của Nguyễn Hữu Cầu ở ngã ba sông Tranh. Lần ấy quân Nguyễn Hữu Cầu thua chạy.


-       Vào đời Gia Long 1808 vùng Hải Dương có quân Tàu Ô làm loạn. Nhân dân huyện Vĩnh Lại và một số huyện trong vùng cùng quân Triều Đình chiến đấu anh dũng, bắt được nhiều giặc, được Vua ban thưởng.


Vào đời Tự Đức (1858), Pháp tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của Pháp vào nước ta. Tại Hải dương nhiều huyện như Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Gia Lộc, thành Hải Dương bị giặc chiếm đóng, triều đình phải huy động quân từ nhiều tỉnh, kể cả Thanh Hóa và Nghệ An, có lúc số quân huy động lên tới 15 000 quân cùng nhiều thuyền tàu và đại bác dẹp giặc.


-       Năm 1979, huyện được sáp nhập với huyện Thanh Miện thành huyện Ninh Thanh. Nhưng đến đầu năm 1996, huyện Ninh Thanh lại được tách ra thành 2 huyện như cũ.


Di tích lịch sử, văn hóa


Không nổi tiếng về du lịch nhưng Ninh Giang cũng có một vài Đền,Chùa mang đậm dấu ấn lịch sử như: Đền quan Tuần Tranh (hay còn gọi là đền Tranh) là một trong những ngôi đền lớn và nổi tiếng ở Ninh Giang, Chùa Chông, Đình Làng Xuyên Hử,... Đình Làng Xuyên Hử là nơi thờ Vị Thành Hoàng của Làng, trong kháng chiến chống Pháp người dân địa phương đã che giấu cán bộ cách mạng tại đây... người dân còn tháo dỡ Đình Làng lấy vật liệu làm cầu Đồng Bình phục vụ kháng chiến. Tháng 3 năm 2006 được sự đồng ý của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương đình làng Xuyên Hử được tái tạo.


Wikipedia


Di tích lịch sử văn hóa


Địa phận xã Tân Phong thuộc huyện Ninh Giang trước đây có rất nhiều các di tích đình, chùa, miếu mạo. Đặc biệt đình Chuông với những cây cột gỗ lim hai người ôm và những phiến đá xanh lát hè nặng hàng chục tấn, Chùa Chuông với rất nhiều tượng phật... Hiện nay đình chùa đã bị phá hết (trong cải cách văn hoá), thời gian gần đây, người dân đã phục dựng lại chùa Chuông ở một vị trí khác nhưng các tượng thì đã không còn (đã bị thiêu hủy trong cải cách văn hoá). Năm 2005 chính quyền địa phương đã tổ chức khai quật tại nơi chôn những pho tượng phật của chùa Chuông cũ và thu giữ được rất nhiều di vật cổ gồm vài chục ngôi tương gỗ không còn nguyên vẹn nhưng những đường nét điêu khắc trên tượng của người xưa được xem là rất tinh tế và đẹp thì vẫn còn gần như nguyên vẹn. Hiện số tượng phật này vẫn được cất giữ tại chùa Chuông mới.


Đình La Khê thuộc Xã Ninh Thành Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương. khi xưa gọi là Làng Vào thuộc xã La Khê ( ) Tổng Đông Bối ( ) phủ Ninh Giang ( ) tỉnh Hải Dương ( )


Tương truyền Đình La Khê được nhân dân xây dựng từ rất sớm ở khu đất cao ở giữa làng, thờ Tượng Vị Tướng Quân HỒ ĐẠI LIỆU. Đình đã được tu sửa nhiều lần. Đến năm Duy Tân thứ 8 (1914) ngôi Đình được trùng tu và mở rộng.Kiến trúc kiểu chữ đinh () Gồm 5 gian Tiền tế và 3 gian Hậu cung. Đình còn giữ nguyên các hoa văn,phù điêu mang nét văn hoá thời Nguyễn và các hiện vật như: Ngai thờ,Mũ đồng, Khám chỉ, Bát biểu, Xà mâu v.v… và 3 pho tượng: Tượng Vị Tướng Quân HỒ ĐẠI LIỆU phò Bà Trưng, giữ chức: Điện Tiền đô chỉ huy Sứ Tướng Quân; Tượng Mẫu Hậu Huệ Nương (Mẹ của Tướng Quân Hồ Đại Liệu), thờ Tượng Ngài Hà Quý Công - tự Bút Hoa Đỗ Thám hoa đời Trần. Đình La Khê suy tôn Vị Tướng Quân HỒ ĐẠI LIỆU Là Thành hoàng làng Có nhiều sắc phong qua các Triều đại hiện lưu giũ tại Sở Văn hoá Tỉnh Hải Dương và Viện thông tin khoa học xã hội: (TT – TS FQ 4018 I X,44 F2)


Đình La Khê trong 9 năm kháng chiến chống Pháp cũng là nơi sơ tán của Trường Đại học Bắc Sơn được đón Tôn Đức Thắng về thăm và nói chuyện và cũng là trụ sở hội họp của Mặt trận cứu Quốc Huyện Ninh Giang. Năm 1949, Đình La Khê là Bệnh viện dã chiến của Quân khu Tả Ngạn. Năm 1952 Pháp càn quét đốt phá phần Hậu cung hỏng hoàn toàn. Tượng, đồ thờ đã được nhân dân cất giữ năm gian tiền tế không được trùng tu đã mai một xuống cấp theo thời gian. Đến tháng 10 – 1997 đình đã được tu tạo lại khang trang.


Công trình có tổng diện tích hơn 57.000m2, gồm 5 hạng mục chính, được khởi công xây dựng năm 2005, với tổng vốn đầu tư 38.3 tỷ đồng. ba loại vật liệu quý để làm đền thờ là đá xanh, gỗ lim và đồng.


Đền thờ Anh hùng Dân tộc Khúc Thừa Dụ nằm giáp đê sông Luộc, mặt đền quay theo hướng Nam. Từ ngoài vào trong đền qua chiếc cầu đá, đến sân hội, với hai bức phù điêu ghép bằng các tảng đá lớn. Các họa tiết được chạm khắc công phu, mô tả quang cảnh nhân dân tụ nghĩa theo Tiên Chúa Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ và cuộc sống thái bình, an cư lạc nghiệp.


Wikipedia


Bánh gai cổ truyền Ninh Giang Hải Dương


Bánh gai là món bánh ngọt cổ truyền xuất phát từ vùng đồng bằng Bắc Bộ, hiện nay bánh gai được bán ở nhiều nơi, nhưng nhắc tới bánh gai đặc sản truyền thống thì hầu hết mọi người đều nhớ tới Ninh Giang. Bánh gai Ninh Giang có vị ngọt của mật, thơm dẻo quánh của bột nếp hòa quyện cùng nhân đỗ thơm ngậy với mỡ, dừa, hạt sen... mang một hương vị đặc trưng mà không nơi nào có được.


Nằm bên dòng sông Luộc êm đềm, cách thành phố Hải Dương gần 30km, thị trấn Ninh Giang là vùng quê nổi tiếng với đặc sản bánh gai được nhiều du khách biết đến.


Theo lời kể của các cụ cao niên, nghề làm bánh gai tại đây đã xuất hiện từ rất lâu, cách đây khoảng 700 năm.


Khi xưa, bánh gai được nặn tròn như quả chanh, không bọc lá, thường chỉ được làm nhiều trong ngày lễ Tết, ngày thường là món quà hiếm, nhà ai có người đi xuống huyện về mới có 1 chiếc bánh, xắt thành từng miếng nhỏ cho mỗi người cùng nhâm nhi vị ngọt đượm, thơm bùi.


Còn nay, bánh bọc lá - nhân dẹt, được làm quanh năm, trở thành đặc sản quà biếu dành cho khách khi ghé qua thị trấn Ninh Giang.


Hiện nay trên địa bàn Huyện có khoảng trên dưới 100 cơ sở sản xuất bánh gai, trước kia bánh thường được đặt trong ngày lễ hội, giỗ chạp, đám cưới... nay du khách nhiều nơi biết tiếng tìm mua ngày càng đông, vì vậy từ một số ít cơ sở gia truyền ban đầu, hiện nay nghề làm bánh được mở rộng trở thành một công việc thường nhật ổn định cho người dân trong vùng.


Để làm nên một chiếc bánh gai ngon cần nhiều sự kỳ công. Đầu tiên, gạo làm bánh được chọn là gạo nếp cái hoa vàng đặc sản. Mật làm bánh phải ngọt, đun nóng để trộn cho dễ. Lá gai phải chọn lá gai nếp thì bánh mới dẻo, có mùi thơm đặc trưng.


Lá gai được phơi khô, làm sạch, sau đó chế biến theo phương pháp truyền thống để tạo thành bột lá gai có màu đen đặc trưng, bột lá gai được trộn đều với bột gạo nếp, mật tạo thành phần vỏ dẻo của bánh.


Phần nhân bánh bao gồm mỡ cánh được muối cùng đường tạo nên độ giòn, không còn vị ngấy, bột đậu xanh bóc vỏ, bên cạnh đó các nguyên liệu không thể thiếu là dừa, hạt sen, vừng... hòa quyện tạo nên hương vị tròn trịa của chiếc bánh gai Ninh Giang.


Cụ Bùi Thị Tới là một trong những người làm bánh gai lâu năm tại Ninh Giang chia sẻ: “để làm bánh ngon phải tuân thủ một số nguyên tắc như bột làm bánh phải dùng toàn gạo nếp, nếu lẫn gạo tẻ thì bánh sẽ cứng, không ngon. Nguyên liệu phải sạch sẽ đảm bảo thì bánh mới thơm đúng vị, bảo quản được lâu... Khi trộn bột, nguyên liệu càng mịn, trộn càng lâu thì bánh càng dẻo, mềm và thơm. Mỗi người lại có cách thức và bí quyết riêng nhưng đó là những điều cơ bản để làm nên vị ngon của chiếc bánh”.  Bánh gai bà Tới Ninh Giang nổi tiếng nhiều nơi, trở thành thương hiệu của bánh gai truyền thống Ninh Giang.


Về với không gian văn hoá miền đất Ninh Giang, Hải Dương


Cách thành phố  Hải Dương gần 30km về phía Đông Nam, nằm bên dòng sông Luộc êm đềm thơ mộng, vùng đất Ninh Giang, tỉnh Hải Dương vốn là miền quê có bề dày lịch sử văn hóa. Sự đa dạng và phong phú không chỉ về văn hóa tinh thần mà còn cả những sản phẩm văn hóa vật chất nổi tiếng được truyền tụng lâu đời đó là nghề làm bánh gai, một đặc sản gắn với tên đất, tên làng, mang đậm hồn quê truyền thống.


Nằm ở vị trị thuận lợi, tiện cả về giao thông, thuỷ, bộ, từ xa xưa Ninh Giang là mảnh đất trù phú, nơi có phong cảnh thiên nhiên hữu tình ở tỉnh Hải Dương. Lịch sử Việt nam hàng ngàn năm cũng đã để lại cho vùng đất này một tài sản vô giá với hàng chục di tích lịch sử văn hóa. Ở Ninh giang có nhiều di tích Đền, Chùa mang dấu ấn  lịch sử hàng trăm năm như: Chùa Chông, có hệ thống tượng Phật rất độc đáo. Đền thờ Khúc Thừa Dụ nằm giáp đê sông Luộc là công trình di tích với chiếc cầu đá, đến sân hội và các bức phù điêu ghép bằng các tảng đá lớn. Đây là một công trình có ý nghĩa lịch sử, văn hóa nhằm tôn vinh người Anh hùng dân tộc có công đặt nền móng cho nền độc lập, tự chủ của Việt Nam sau 1.000 Bắc thuộc. Đến thăm Đền thờ Khúc Thùa Dụ trong ngày đầu xuân,  anh Nguyễn Thanh An, một du khách đến từ Hà Nội, bày tỏ cảm xúc: Tôi đã đi nhiều nơi, nhưng phải nói ở Ninh Giang có phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp và thanh bình. Hiếm có ở nơi đâu cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống con người lại lại hài hoà như ở đây. Tôi rất thích các lễ hội nhất là khi được xem Hội thi pháo đất ở đây, nó khơi gợi truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha từ xã xưa và có lẽ đây là một trong những trò chơi dân gian cổ xưa nhất ở Việt Nam.


Đền Thờ Khúc Thừa Dụ


Ở Ninh Giang có một di tích lịch sử văn hoá tâm linh, đó là Đền Tranh còn có tên gọi là đền Quan Lớn Tuần Tranh, thuộc thôn Tranh Xuyên xã Đồng Tâm. Đền Tranh trước đây được xây dựng ở bên bờ sông Tranh (tức sông Luộc). Trải qua nhiều thế kỷ, Đền Tranh đã được xây dựng lại gồm 3 toà, tiền đường, trung từ và hậu cung, mỗi công trình 7 gian, tổng số là 21 gian. Kiến trúc phỏng theo thời Lê và thời Nguyễn, đặc biệt trong Đền còn bảo lưu một số cổ vật có giá trị nghệ thuật như tượng Quan Lớn Tuần Tranh bằng đồng nặng 200 Kg, 4 pho tượng Tứ Trụ bằng đá. Ông Nguyễn Thành Vạn, cán bộ Phòng văn hoá  thông tin huyện Ninh Giang, cho biết: Theo tín ngưỡng địa phương Đền quan Tuần Tranh thờ thuỷ thần sông, bởi trước đây ở những đoạn sông chảy qua Ninh Giang, dòng chảy thường tạo ra những dòng nước xoáy, thuyền bè đi lại bị lật cho nên họ cho rằng có vị thuỷ thần nổi giận do đó khi đền thờ được lập nên mọi người đều đem lễ vật đến cầu, may mắn đã đem lại cho họ, do vậy đền được coi là rất thiêng. Việc thờ Quan lớn Tuần Tranh cho thấy tín ngưỡng thờ thuỷ thần vẫn in đậm trong tiềm thức của người dân địa phương.


Đền Tranh


Một năm Đền Tranh có hai kỳ lễ hội: Kỳ thứ nhất được tổ chức từ ngày mùng 10 đến 20 tháng 2 âm lịch. Kỳ thứ hai là từ ngày mùng 10 đến 20 tháng 8 âm lịch. Lễ hội Đền Tranh được chính quyền địa phương đứng ra tổ chức với những nghi lễ trọng thể với các đội tế lễ ăn mặc rất đẹp mắt. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhiều khách thập phương trong, ngoài tỉnh đã tham gia lễ hội ngày càng nhiều, đem đến sự nhộn nhịp trong suốt thời gian Lễ hội.


Việc khôi phục lễ hội truyền thống ở Ninh Giang đã đáp ứng nguyện vọng của  người dân địa phương. Việc tu bổ nâng cấp các di tích góp phần đưa Ninh Giang là trở thành điểm du lịch văn hoá tâm linh, hấp dẫn ngày càng đông du khách đến với miền quê giàu truyền thống văn hoá này.


Tô Tuấn/ vovworld.vn


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Đình Cần bị hành quyết như thế nào? - Tư liệu 18.01.2018
Hoàng đế Quang Trung ra Bắc - Nguyễn Duy Chính 15.01.2018
Về nhà văn lưu vong Nabokov/ Về Woody Allen - Nhiều tác giả 15.01.2018
Từ chối sách đoạt giải Nobel ? - Tư liệu sưu tầm 15.01.2018
Người Việt Nam TK 19 qua lăng kính một sử gia Nhật - Tư liệu sưu tầm 14.01.2018
Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở VN 1954-60 (tiếp & hết) - Heinz Schütte 14.01.2018
Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở VN 1954-60 (P3) - Heinz Schütte 14.01.2018
Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua nở ở Việt Nam 1954-60 (P1) - Heinz Schütte 14.01.2018
Hai dòng họ Lý vượt biển tới Triều Tiên thế kỉ 12-13 - Tư liệu sưu tầm 14.01.2018
Vua Tự Đức với việc bảo vệ an ninh biên giới phía Bắc (1848-78) - Tư liệu sưu tầm 14.01.2018
xem thêm »