tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22672188
19.12.2017
Tư liệu sưu tầm
45 năm sau “Hà Nội, 12 ngày đêm”, đôi điều bí mật được giải mã



Chiến dịch Linebacker II mà không quân Mỹ tiến hành là những cuộc ném bom dữ dội nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh.


Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã sử dụng từ 197 đến 207 máy bay ném bom chiến lược B-52, 14 liên đội không quân chiến thuật gồm 1.077 máy bay các loại từ 3 căn cứ không quân và 6 tàu sân bay, đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971.


Cuộc ném bom nhằm "đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá" của quân đội Mỹ đã tàn phá tan hoang nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga; giết chết 2.368 dân thường và làm bị thương 1.355 người khác.


Đồng thời Mỹ cũng nhận được thất bại thảm hại với 81 máy bay bị bắn rơi gồm có 34 B-52 (16 rơi tại chỗ) và 5 F 111.


Tháng 9/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán không quân Mỹ sẽ sử dụng B-52 để đánh phá Hà Nội. Bác đã nói với đồng chí Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh quân chủng Phòng không-Không quân: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội.”


B-52 là máy bay ném bom chiến lược lần đầu tiên được Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. B-52 có khả năng gây nhiễu điện từ rất lớn. Một chiếc B-52 có 15 máy phát nhiễu điện tử, mỗi tốp 3 chiếc là có 45 máy phát nhiễu. Đấy là chưa kể các nguồn nhiễu khác như: nhiễu ngoài hạm tàu, nhiễu của các máy bay chuyên gây nhiễu từ xa cùng với máy gây nhiễu của máy bay chiến thuật tạo thành một từ trường nhiễu tổng hợp chồng chéo, dày đặc và gây rất nhiều khó khăn cho bộ đội Phòng không- Không quân. Hầu hết các đài radar của ta lúc đó đều trong tình trạng nhiễu rất nặng, không thể phát hiện được mục tiêu B-52.


Mỹ cho rằng đối thủ lúc bấy giờ của B-52 không phải là tên lửa SAM 2 bởi mọi tính năng kỹ thuật về SAM 2 họ nắm rất rõ. Mỹ chủ quan khẳng định rằng đã loại trừ được tên lửa SAM 2 và máy bay MiG 21 ra khỏi danh sách những mối đe dọa B-52.


Nguyên nhân dẫn đến sự chủ quan này là có cơ sở. Năm 1967, trong chiến tranh Trung Đông, Israel đã chiếm được của Ai Cập 3 bộ tên lửa SAM 2 và MiG 21 còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, Mỹ đã sản xuất ra các thiết bị nhiễu để vô hiệu hóa dòng tên lửa này. Chính vì vậy, trong chiến dịch Linebacker II, máy bay ném bom chiến lược B-52 được quân đội Mỹ ngạo mạn tuyên bố là “bất khả xâm phạm”. Họ tự tin nói “Noel 1972, phi công Mỹ dạo chơi trên bầu trời Hà Nội”. Trong cuộc tập kích chiến lược 12 ngày đêm, Mỹ đã không cần thăm dò mà thực hiện leo thang rất nhanh, đánh trực tiếp, dùng B-52 đánh thẳng vào Hải Phòng, Hà Nội.


Thực tế là, với hàng loạt loại nhiễu điện tử, thời gian đầu tên lửa SAM 2 khi phóng lên không thể điều khiển, có khi rơi ra chỗ khác gây thương vong cho chính quân dân ta.


Một lần, khi Mỹ đánh vào Hải Phòng, đúng lúc Sư đoàn Phòng không 363 đang diễn tập phương án đối phó B-52. Trận đánh ấy, Sư đoàn đã bắn lên 93 tên lửa nhưng lại không bắn rơi một chiếc máy bay nào. Những tên lửa của chúng ta rơi chỗ khác hoặc mất điều khiển. Đây là trận đánh không thành công cả về kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội tên lửa. Nhưng chính từ bài học không thành công này đã thôi thúc các chiến sĩ radar cũng như chiến sĩ tên lửa tìm mọi cách để phát hiện và tiêu diệt B-52.


Nhằm đối phó với B-52 và các thủ đoạn gây nhiễu của Không quân Mỹ, ngay từ những năm 1968-1970, các đơn vị Trinh sát nhiễu được điều đi nhiều nơi để thu thập, nghiên cứu các thủ đoạn gây nhiễu của máy bay địch ở nhiều vị trí khác nhau, đặc biệt là trên tuyến đường dây 559. Quá trình hoạt động, ta phát hiện một điều đặc biệt, máy gây nhiễu địch không gây nhiễu radar rãnh sóng 3cm. Như vậy, B-52 chưa gây nhiễu dải sóng 3cm đối với các loại radar phòng không.


Trong lực lượng phòng không của ta khi đó có trang bị một loại radar làm việc ở rãnh sóng 3cm, đó là đài radar bắt mục tiêu K8-60 thường dùng cho pháo cao xạ 57mm, một loại radar thuộc loại “cổ lỗ sĩ” mà hình như bị Không quân Mỹ chẳng thèm ngó ngàng. Hóa ra máy gây nhiễu hiện đại của B-52 chỉ nhằm đối phó với radar hiện đại thế hệ thứ 8 thứ 9 mà chúng ta đang trang bị, nhưng nó lại cho qua thế hệ radar cũ thế hệ thứ 2,3,4.


Với phát hiện trên, ta đã giải bài toán ghép phần tử mục tiêu của radar K8-60 làm việc ở dải sóng 3cm với đài điều khiển SAM 2. Từ kết quả trên, ta dùng radar có bước sóng thích hợp đo ghép và truyền phần tử mục tiêu tới đài điều khiển tên lửa chống nhiễu B-52, bộ khí tài được gọi chung là KX. Một điều bất ngờ thú vị, radar K8-60 có khả năng phân biệt B-52 với các loại máy bay cường kích, tiêm kích giả (tín hiệu nhiễu) B-52, không những có khả năng bắt mục tiêu B-52 mà còn chống nhiễu và chống tên lửa Sơrai. Cự ly bắt được khoảng 40km, có khi là 60km, bám tự động chính xác 30km.


Ngoài ra, đài K8-60 còn có lợi thế là không bị tên lửa Sơrai tấn công, do loại tên lửa đó chỉ nhắm vào rãnh sóng 10cm đài tên lửa. Do đó, khí tài gần như thoát được sự chống phá điên cuồng của không quân chiến thuật Mỹ trong hoạt động chế áp điện tử. Và chính bộ điều khiển mang mật danh KX này đã góp phần vào việc phát hiện B-52 rất chính xác thậm chí có thể phát hiện đâu là B-52 thật, đâu là B-52 giả để tập trung lực lượng tiêu diệt.


Có lẽ sau này khi biết một trong những cách mà bộ đội ta bắt được B-52 trong màn nhiễu, những vị tướng tá sừng sỏ của Không quân Mỹ chỉ có nước “chắp tay bái phục” các cán bộ kỹ thuật quân sự Việt Nam.


Ngay sau khi bắn hạ B-52 trên bầu trời Vinh (Nghệ An) tháng 11/1972, Quân chủng Phòng không-Không quân đã thảo luận, rút kinh nghiệm rất kỹ và tìm ra các quy luật chính góp phần vào chiến thắng B-52 trên bầu trời Hà Nội.


Góp phần quan trọng vào chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” phải kể tới một quyết định rất đặc biệt của Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên bang Xôviết tại Việt Nam nhiệm kỳ 1964-1974, đồng chí Ilia S.Shcherbakov. Thời kỳ đó, Chính phủ và quân đội Liên Xô có quy định rất ngặt nghèo: việc can thiệp vào tên lửa SAM 2 bằng bất cứ hình thức gì cũng không được phép thực hiện ngoài lãnh thổ Xôviết. Vì vậy, quyết định táo bạo nhưng vô cùng có trách nhiệm với Việt Nam của vị Đại sứ Liên Xô đã góp phần quan trọng để tên lửa SAM 2 có thể vươn tới độ cao và vượt nhiễu của B-52.


Vị Đại sứ đã trực tiếp đến thăm các trận địa phòng không, biết rõ những khó khăn về kỹ thuật xuất hiện trên các chiến trường. Từ việc am hiểu tình hình thực tế ở Việt Nam, với tinh thần quốc tế cộng sản cao cả, tinh thần trách nhiệm của một vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, ông đã thay mặt Chính phủ Liên Xô ra quyết định cho phép các chuyên gia Liên Xô đang có mặt ở Việt Nam được can thiệp trực tiếp vào hệ thống của tên lửa SAM 2, theo hướng tăng công suất radar lớn hơn công suất hệ thống gây nhiễu của B-52. Kết quả cải tiến này của chuyên gia Liên Xô và của bộ đội phòng không Việt Nam đã thu được kết quả lớn, khi chúng ta liên tục hạ gục tại chỗ pháo đài bay B-52. Riêng 12 ngày đêm trong chiến dịch “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không,” đã có 34 chiếc B-52 phải đền tội (chiếm 16,2% tổng số B-52 tham chiến).


Cũng cần nói thêm, trước thời điểm B-52 đánh vào Hà Nội, tên lửa SAM-3 mà Liên Xô viện trợ ta đã tiếp nhận xong nhưng không thể triển khai kịp. Vì thế trong chiến dịch 12 ngày đêm chúng ta chỉ sử dụng SAM 2 để đánh B-52. Chúng ta có một số cải tiến trên SAM 2 nhưng việc nối tầng tên lửa như một số thông tin nước ngoài phỏng đoán là không chính xác, vì SAM 2 có tầm bắn hiệu quả tới 20 km trong khi máy bay B-52 vào đánh phá Hà Nội thường chỉ bay ở độ cao 11-12 km để đảm bảo thả bom chính xác. Cụ thể, những chi tiết ta cải tiến trên tên lửa SAM 2 là cải tiến phần đầu nổ để các mảnh nổ sẽ bung ra nhiều hơn, dẫn đến xác suất tiêu diệt mục tiêu cao hơn. Qua kiểm tra chức năng và định kỳ khí tài, ta thay đổi về công suất điện áp của cánh sóng để chế áp điện tử gây nhiễu của máy bay địch gây ra cho các đài điều khiển tên lửa của ta.


Trong thực tế chiến đấu, do máy bay Mỹ dùng mọi hình thức gây nhiễu khác nhau cho hệ thống radar của tên lửa SAM 2 nên có lúc phòng không ta đấu trí với địch bằng cách bật công tắc phóng giả để phát sóng điều khiển tạo ra một hình thức nghi binh. Khi phát hiện ra tín hiệu phóng tên lửa (phóng giả) này, các máy bay Mỹ sẽ hoảng loạn và tản mát đội hình, do vậy các tín hiệu nhiễu cũng bị giãn ra và yếu đi. Ngoài ra, để bớt nhiễu do đám máy bay F4 đi theo bảo vệ B-52 gây ra, chính chiến thuật bắn tên lửa giả (tên lửa vẫn nằm dưới đất nhưng sóng phát tên lửa đã ra ngoài) đã làm đám F4 nháo nhào chạy bỏ trơ lại B52, ta thật dễ dàng xử lý. Chính vì chiến thuật bắn tên lửa giả mà không quân Mỹ đã sập bẫy SAM 2 trên bầu trời Hà Nội. Mỹ đã công bố chúng ta bắn hơn 1.000 quả tên lửa trong chiến dịch chống B-52 nhưng thực chất ta chỉ bắn 334 quả, riêng 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội ta bắn 241 quả và diệt 25 B-52.


Cũng qua thực tế chiến đấu, bộ đội ta phát hiện lúc gây nhiễu giảm, chế áp tên lửa cũng ít nên bộ đội tên lửa dễ tập trung vào B-52 theo công thức: B-52 vào gần thì hiệu quả nhiễu tăng theo bình phương, nhưng tín hiệu phản xạ lại tăng theo lập phương. Vì vậy, cứ bắn gần thì mục tiêu nhất định sẽ hiện trên nền nhiễu!


Đó là sự nhạy bén của bộ đội tên lửa. Không quân Mỹ đã thua toàn diện trên bầu trời Hà Nội năm 1972 chính vì quy luật này.


Mặt khác, để thả bom chính xác các mục tiêu, B-52 phải căn cứ vào các mục tiêu cố định trên thực địa, do vậy B-52 bắt buộc phải bay theo những đường bay cố định. Muốn di chuyển và ném bom trúng các mục tiêu ở Hà Nội thì máy ngắm radar phải dựa vào một số chuẩn lớn như hồ Thác Bà, cầu Đuống, cầu Long Biên, hồ Tây. Trên cơ sở này chúng ta đã vạch ra đường bay vào chính xác của B-52. Trên cơ sở đó lực lượng Phòng không ta đã bố trí các trận địa tên lửa tập trung đánh vào những đường bay cố định của B-52. Do vậy xác xuất tiêu diệt B-52 của SAM 2 đã tăng lên đáng kể. Có thể nói Không quân Mỹ còn rất may mắn vì thời điểm 1972 số tên lửa bảo vệ Hà Nội chỉ bằng non nửa so với năm 1966- 1967. Nếu đầy đủ tên lửa SAM 2 như trước và loại tên lửa mới SAM 3 kịp thời xung trận thì chắc toàn bộ 200 chiếc B-52 tham chiến không thể chịu đựng được quá 7 ngày!


Chúng ta còn phát hiện ra quy luật khi vào đánh phá Hà Nội, máy bay B-52 đều bật đèn trên lưng để giữ đội hình. Lợi dụng quy luật này, phi công lái MiG 21 của ta từ vòng ngoài tiếp cận và hạ B-52 bằng mắt thường.


Và một điều bí mật khác cũng được giải mã, những thông tin tình báo đầy đủ, chi tiết về thời gian, số lượng cất cánh từng chuyến bay của B-52 từ căn cứ Guam và Thái Lan chuẩn bị bay vào Hà Nội đã góp phần không nhỏ vào thế chủ động trên bầu trời Hà Nội của bộ đội ta trong chiến thắng 1972.


Trần Hùng, viết theo tư liệu của Quân chủng Phòng không- Không quân do Trung tướng, Anh hùng LLVT Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó Tư lệnh chính trị, kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng PK-KQ cung cấp.


 Facebook 19-12-2017


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tại sao người Nga vẫn tưởng nhớ Stalin? - Roy Medvedev 26.05.2018
Tại sao Stalin được dựng tượng, còn Hitler thì không? - Peter Singer 26.05.2018
Chuyên gia Singapore dẫn thành công đặc khu Trung Quốc làm hình mẫu cho Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 23.05.2018
Hãy để Nga được là Nga - Shlomo Ben-Ami 21.05.2018
Đảng cộng sản có thể tồn tại bao lâu nữa ở Trung Quốc? - Tư liệu sưu tầm 18.05.2018
Vần đề Đảng cộng sản trong Hiến pháp Trung Quốc - Hồ Anh Hải 18.05.2018
17/05/1970: Hải trình chứng minh người châu Phi cổ đại từng tới châu Mỹ - Tư liệu sưu tầm 17.05.2018
Krill oil: Nguồn dinh dưỡng quý giá nhất Nam Cực - Tư liệu sưu tầm 15.05.2018
Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn - Tư liệu sưu tầm 14.05.2018
Sông Đồng Nai - Tư liệu 09.05.2018
xem thêm »