tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22672209
12.12.2017
Tư liệu sưu tầm
Cam Ranh trong mắt chuyên gia quân sự nước ngoài



07:04 | 02/08/2016


Ông Viktor Aistov hiện là Thượng nghị sĩ Quốc hội, trước đây từng nhiều năm giám sát việc xây dựng, củng cố căn cứ Hải quân Cam Ranh. Tạp chí Công nghiệp Quốc phòng Nga đã có cuộc trò chuyện với Aistov về chủ đề liệu Nga có ý định trở lại Cam Ranh và triển khai tàu chiến ở đó hay không? 


Bài 1: Lợi thế mang tên Cam Ranh


Cam Ranh - Pháo đài lý tưởng


Ông Viktor Aistov cho biết, Nga đang tăng cường việc bảo vệ biên giới Viễn Đông, mà lựa chọn đầu tiên sẽ là xây dựng căn cứ hải quân trên đảo Matua, thuộc quần đảo Kurile. Nhưng ở đó chỉ có 52km2. Ngoài ra, hòn đảo này nằm khá xa khu vực dân cư của Sakhalin và Kamchatka, lại không có người ở. Việc xây dựng sẽ mất nhiều thời gian, chi phí cao. Còn có một sự lựa chọn nữa mà ông Aistov cân nhắc, đó là thuê lại hoặc hợp tác với Việt Nam sử dụng quân cảng Cam Ranh, một căn cứ hải quân hiện đại từng được Liên Xô (và sau đó là Nga) sử dụng trước đây.


Vấn đề Cam Ranh được thể hiện trong cái bắt tay giữa Bộ trưởng Quốc phòng hai nước Nga (Sergey Shoigu, trái) và Việt Nam (Phùng Quang Thanh)


“Là một quân nhân, tôi tin rằng việc phát triển khả năng phòng thủ không bao giờ là dư thừa. Việc xây dựng căn cứ ở đảo Mantua là rất tốt trên nhiều phương diện, mặc dù khu vực này ở xa các trung tâm hành chính - quân sự có quy mô lớn, nhưng lại nằm trên lãnh thổ Nga, vì thế Nga có thể thuận lợi chủ động trong mọi việc” - ông Viktor Aistov nói.


Tuy nhiên, ông cũng đánh giá cao quân cảng Cam Ranh cho rằng, với điều kiện tự nhiên tuyệt vời, nơi đây được coi là một trong những cảng nước sâu lý tưởng nhất thế giới. Với địa hình có núi bao bọc ở hai hướng Bắc và Nam, đã hình thành nên một vịnh biển khá lớn chỉ có một cửa hẹp thông ra biển, rất thuận lợi cho cả phòng thủ lẫn tấn công. Theo ông, cảng Cam Ranh là “một pháo đài thiên nhiên tuyệt hảo”. Với diện tích mặt nước khoảng 100km2 và độ sâu 32m, vịnh Cam Ranh đủ sức cho 40 tàu chiến và tàu vận tải quân sự neo đậu cùng lúc.


Vài nét lịch sử Cam Ranh


Tháng 8-1886, tàu hộ tống Vityaz của Hải quân Nga hoàng, trong chuyến đi vòng quanh thế giới, đã ghé cảng Cam Ranh (lúc đó được gọi là Pan-Rank). Các vị chỉ huy của Hải quân Nga hoàng từ thời đó đã đánh giá cao lợi thế của cảng này và trong nhiều năm, các tàu Nga không ít lần ghé thả neo nơi đây.


Quân cảng Cam Ranh nhìn từ trên cao


Người Pháp bắt đầu xây dựng căn cứ hải quân ở vịnh Cam Ranh từ đầu thập niên 30 của thế kỷ trước. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương hồi đầu năm 1945, cảng Cam Ranh lọt vào tay người Nhật một thời gian ngắn rồi lại trở về tay người Pháp. Sau Hiệp định Geneva (về đình chiến ở Đông Dương), chính quyền Sài Gòn tiếp quản cảng Cam Ranh và sau đó chuyển giao cho người Mỹ sử dụng khi Mỹ đổ quân vào miền Nam. Cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài 20 năm đã kết thúc bằng thắng lợi của quân dân Việt Nam. Cam Ranh được giải phóng vào ngày 26-4-1975.


Theo đánh giá của Trung tướng Aistov, người Mỹ đã đổ không ít công sức, tiền của vào việc tái thiết, nâng cấp quân cảng Cam Ranh. Mỹ cũng đã xây dựng sân bay Cam Ranh khá bề thế, với đường băng dài 3,5km, đủ sức cho tất cả các loại máy bay, kể cả máy bay ném bom chiến lược, cất và hạ cánh. Ngoài ra, Mỹ còn xây dựng khu nhà ở cùng các cơ sở sinh hoạt cho các quân nhân phục vụ trong căn cứ, trông như một thị trấn tuy nhỏ nhưng rất hiện đại, cao cấp thời đó. Các kho chứa vũ khí, đạn dược, thiết bị kỹ thuật, các cơ sở hậu cần và cơ sở y tế cũng nhanh chóng mọc lên. Ở đảo Bình Ba trong vịnh Cam Ranh, người Mỹ đã xây dựng một nhà máy sửa chữa tàu hải quân khá hiện đại. Hệ thống đường sá trong căn cứ và ở khu vực xung quanh được xây dựng với một trình độ kỹ thuật cao.


Mặc dù chỉ là căn cứ hậu phương, quân cảng Cam Ranh được tăng cường phòng thủ rất chặt chẽ, đặc biệt là đối với hướng tấn công từ phía biển (nếu xảy ra). Trên các dãy núi bao quanh vịnh có cả một hệ thống hầm chứa đồng thời là bệ phóng tên lửa hướng ra phía biển. Pháo chống hạm và pháo cao xạ phòng không được bố trí dày đặc hai bên lối ra vào vịnh. Xung quanh các mục tiêu quân sự này đều có những bãi mìn dày đặc để bảo vệ.


Tổng thống Mỹ lúc đó, Lindon Johnson đã hai lần đích thân thị sát căn cứ Cam Ranh, vào ngày 26-10-1966 và ngày 23-12-1967. Phát biểu trước các quân nhân Mỹ phục vụ tại đây, ông Johnson nói rằng, cờ sao và vạch (quốc kỳ Mỹ) sẽ vĩnh viễn tung bay trên quân cảng Cam Ranh (!).


Cờ Liên Xô đã thay cho cờ Mỹ


Trung tướng Aistov cho biết, Liên Xô và rất nhiều quốc gia khác đồng cảm sâu sắc với cuộc chiến giành tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam, vì thế đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ cả về kinh tế lẫn quân sự. Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam 5.600 pháo chống tăng, 316 máy bay chiến đấu, 23 tổ hợp tên lửa phòng không đặc biệt S-75M (dùng để tiêu diệt máy bay ném bom chiến lược), cơ số tên lửa phòng không hạng nhẹ (dùng để tiêu diệt máy bay cường kích ném bom bình thường) đủ trang bị cho 2 trung đoàn tên lửa phòng không, gần 700 chiếc xe tăng các loại, 70 tàu chiến và tàu vận tải quân sự, cùng rất nhiều các loại đạn dược, vũ khí, khí tài quân sự khác. Vào những thời điểm ngặt nghèo nhất trong cuộc chiến của nhân dân Việt Nam anh em khi đối đầu với Mỹ, Chính phủ Liên Xô đã quyết định điều động một số tàu ngầm nguyên tử và nhiều tàu chiến hạng nặng đến Biển Đông để ngăn chặn những hành động từ phía các lực lượng xâm lược.


Sau khi người Mỹ thua cuộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, phía Liên Xô rất quan tâm đến việc giúp Việt Nam quản lý, sử dụng quân cảng Cam Ranh. Chuẩn Đô đốc Valentin Kozlov, người đứng đầu Cục Hợp tác Quân sự - kỹ thuật quốc tế của Hải quân Liên Xô đã được cử đến Cam Ranh trong tháng 12-1978, với nhiệm vụ nghiên cứu kỹ tình hình và tình trạng của quân cảng này, đồng thời tìm hiểu về phản ứng của phía Việt Nam trước ý muốn của Liên Xô về việc sử dụng cảng phục vụ cho các tàu của Liên Xô hoạt động tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Sau này, Kozlov nhớ lại rằng, ông đã rất ấn tượng với một căn cứ hải quân kéo dài gần 100km mà người Mỹ đã xây dựng với tất cả những yếu tố thiết yếu: trụ cầu bê tông, cơ sở sửa chữa tàu hiện đại, cầu cảng, sân bay có hai đường băng, đường giao thông...


Ngày 2-5-1979 hai Chính phủ Liên Xô và Việt Nam đã ký thỏa thuận về sử dụng chung căn cứ Cam Ranh trong thời hạn 25 năm, có thể gia hạn sau đó. Nhưng đến tháng 4-2004, phía Nga đã quyết định không gia hạn hợp đồng. Sau 12 năm, vấn đề đang được khơi dậy trở lại.


Bài 2: Cam Ranh - pháo đài tự vệ


Từ cơ sở hậu cần đến căn cứ quân sự


Thời kỳ đầu, Liên Xô chỉ sử dụng Cam Ranh như một căn cứ hậu cần phục vụ các tàu chiến Nga hoạt động ở Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, cung cấp thực phẩm, quân trang, tài chính, nhiên liệu, thiết bị kỹ thuật, phương tiện phòng cháy chữa cháy, dịch vụ sửa chữa tàu thuyền... đồng thời xây dựng thêm bệnh viện hải quân, phòng khám, khu ăn nghỉ cho thủy thủ những tàu ghé cảng để sửa chữa. Thời đó, do tình trạng điện lưới ở Việt Nam không ổn định, phía Liên Xô đã tự chủ động cung cấp điện cho hoạt động của cảng bằng cách lắp đặt trạm phát điện chạy bằng diesel và turbine khí, ngoài ra còn xây dựng một nhà máy lọc nước có công suất vừa phải và một cơ sở sản xuất bánh mì.


Lính Hải quân Nga ở Cam Ranh năm 1986


Thủy thủ đoàn của những tàu hải quân ghé cảng có thể nhận được tất cả các vật tư cần thiết, thực hiện sửa chữa trang thiết bị, nghỉ dưỡng ở những bãi biển tuyệt đẹp quanh vịnh. Thủy thủ và phi công phục vụ ở vùng nhiệt đới rất nhanh mất sức, nhưng ở Cam Ranh, họ có thể nhanh chóng phục hồi sức lực, theo nhận xét của các chỉ huy hải quân Nga.


Từ năm 1982, Cam Ranh mới thực sự trở thành một căn cứ quân sự, khi phi - hải đoàn tác chiến số 17 được thành lập ở đây, đóng trụ sở tại sân bay Cam Ranh.


Thời điểm đó là cao điểm của Chiến tranh lạnh, Liên Xô buộc phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa kết hợp răn đe đối với Mỹ. Khả năng xảy ra một cuộc tấn công hạt nhân từ các hàng không mẫu hạm và các tàu ngầm nguyên tử của Mỹ nhắm vào Liên bang Xôviết là rất cao, vì thế các nhà lãnh đạo Liên Xô quyết định tăng cường sức mạnh của Hải quân Xôviết, triển khai tại các đại dương để có thể ngăn chặn bất kỳ “đòn phủ đầu” nào từ phía NATO hoặc Mỹ. Nhiệm vụ này được giao phó cho các phi đội thuộc lực lượng hải quân.


Họ đã tiến hành giám sát và theo dõi các tàu sân bay, tàu tên lửa và các nhóm kẻ thù tiềm năng khác, sẵn sàng khởi động các hành động quân sự để tiêu diệt chúng. Ngoài ra, họ còn phải tập trung chú ý tới việc thăm dò sức mạnh các phương tiện tác chiến chống tàu ngầm của đối phương. Nhiệm vụ quan trọng nhất lúc đó là đảm bảo an toàn cho máy bay và tàu dân sự Liên Xô trong những vùng thuộc trách nhiệm của các phi đội.


Xin nói rõ thêm về việc Liên Xô quyết định tăng cường sức mạnh của Hải quân Xôviết, triển khai tại các đại dương để ngăn chặn bất kỳ “đòn phủ đầu” nào. Đầu tiên là phi - hải đoàn tác chiến số 5 được thành lập để hoạt động tại Địa Trung Hải, sau đó là đoàn số 8 ở Ấn Độ Dương, rồi đoàn số 7 ở Bắc Cực và Đại Tây Dương. Dần dần, tình hình ở các đại dương đã được Liên Xô kiểm soát tốt. Đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, Liên Xô đã triển khai 38 tàu ngầm tên lửa đạn đạo, 30 tàu ngầm đa năng, 60 tàu phóng ngư lôi diesel và 111 tàu chiến lớn. Đó là một lực lượng rất lớn. Chỉ trong năm 1985 không quân hạm đội của Liên Xô đã thực hiện hơn 4.500 phi vụ trên các đại dương.


Tàu chiến neo đậu ở Cam Ranh, 1982


Nòng súng chĩa vào quân thù


Phi - hải đoàn tác chiến số 17 ở Cam Ranh có nhiệm vụ kiểm soát toàn bộ mặt nước Thái Bình Dương. Nó bao gồm Sư đoàn tàu ngầm số 38, Lữ đoàn tàu mặt nước số 119, Sư đoàn 255 tàu cung ứng, Sư đoàn 300 tàu tuần dương, trung đoàn không quân hỗn hợp số 169, Lữ đoàn chống ngầm số 501, Trung tâm truyền thông số 1073 và nhiều bộ phận khác.


Theo Trung tướng Viktor Aistov, vị trí thuận lợi của căn cứ quân sự Cam Ranh cho phép “nắm yết hầu” toàn bộ Biển Đông. Từ Cam Ranh, dù với lực lượng nhỏ hơn, Nga vẫn có thể khống chế Hạm đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương và hòa giải tất cả các các mối đe dọa trên biển nói chung. Ông Aistov đưa ra hình ảnh so sánh khá thú vị: Cam Ranh như một họng súng chĩa vào thái dương bất cứ kẻ thù nào đến từ phía biển. Theo ông, vị trí của “pháo đài tự nhiên” này cho phép phản ứng tức thời đối với hành động của mọi kẻ thù tiềm năng.


Lúc đó, ở Philippines có hàng chục cơ sở quân sự của Mỹ như căn cứ Hải quân Subic, căn cứ Không quân Clark, nhiều sân bay dã chiến, nhiều đơn vị đồn trú và rất nhiều cơ sở đào tạo, huấn luyện quân đội. Tất nhiên, số lượng tàu, máy bay và khả năng chiến đấu của quân Mỹ ở Philippines là vượt trội so với lực lượng Liên Xô ở Cam Ranh. Nhưng người Nga lúc đó chủ trương lấy chất lượng bù cho số lượng và đã thành công.


Ông Aistov đưa ra một dẫn chứng. Tại Sư đoàn không quân hỗn hợp số 169 chỉ có các phi đội mang tên lửa chống hạm và trinh sát hàng hải, cùng các phi đội trực thăng vũ trang, hoàn toàn không có máy bay tiêm kích. Phía Mỹ biết rõ điều đó nên các phi công Mỹ hành xử rất ngông nghênh. Họ ngang nhiên cản mũi máy bay Nga trong vùng lân cận căn cứ Cam Ranh, thả các loại tạp chí khiêu dâm, thậm chí cả hình tượng phụ nữ khỏa thân bằng cao su xuống khu vực tàu Hải quân Liên Xô đang hoạt động. Phải bắt người Mỹ chấm dứt những hành động càn rỡ vô liêm sĩ này. Máy bay tiêm kích (vận chuyển bằng tàu, dưới dạng tháo rời) và các phi công cự phách của Liên Xô được điều đến Cam Ranh. Sau đó, máy bay được bí mật lắp ráp hoàn chỉnh. Một hệ thống phát sóng giả, thiết kế đặc biệt cho chương trình này, đã khiến người Mỹ bị đánh lừa, nhầm lẫn lung tung. Song song đó, việc báo cáo về hoạt động của các máy bay Mỹ được thực hiện bằng điện thoại hữu tuyến để tránh bị phía Mỹ bắt sóng. Một đòn bất ngờ đã được chuẩn bị kỹ để tung ra.


Thế rồi lần nọ, Sở Chỉ huy Trung đoàn 169 nhận được tin báo máy bay tiêm kích Mỹ xuất hiện ở khoảng cách khoảng 100km tính từ Cam Ranh (tức bên trên lãnh hải Việt Nam). Đích thân Trung tá Semerov, Chỉ huy trưởng phi đội tiêm kích, lái máy bay tiêm kích Nga bay lên đón đầu các vị khách không mời này.


Ông chọn một chiếc Phantom của Mỹ làm mục tiêu tấn công. Theo hướng dẫn của hệ thống radar ven biển, ông điều khiển máy bay bay ở độ cao siêu thấp và bí mật tiếp cận mục tiêu từ hướng có ánh nắng mặt trời. Sau khi đã tăng tốc đạt khoảng cách cần thiết, ông bật radar trên máy bay mình, ra tín hiệu sẽ thực hiện tấn công bằng tên lửa. Viên phi công Mỹ không nhìn thấy máy bay chiến đấu của Nga, nhưng radar trên máy bay của anh ta ngay lập tức cảm nhận tín hiệu cảnh báo từ máy bay Nga. Viên phi công Mỹ vội tăng tốc, thực hiện hai vòng nhào lộn tránh tên lửa rồi chuồn thẳng. Biện pháp này được các phi công Liên Xô sử dụng vài lần và kể từ đó, không một chiếc máy bay nào của Mỹ dám “giỡn mặt” ở gần căn cứ Cam Ranh nữa.


Sau chuyến thăm Nga gần đây của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, một nhóm chuyên gia của Việt Nam đã đến Moskva để hội đàm với thượng nghị sĩ Nga, Trung tướng Viktor Aistov, về hướng sử dụng quân cảng Cam Ranh trong tương lai.


Nhìn chung, Việt Nam và Liên Xô cũ không thừa hưởng được nhiều từ căn cứ Cam Ranh do Mỹ để lại. Vào khoảng giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, nhiều hạng mục công trình ở đây đã bị hư hỏng, xuống cấp nghiêm trọng, một số hạng mục trở nên lạc hậu, lỗi thời. Cầu cảng và đường băng sân bay phải được sửa chữa, nâng cấp. Khí hậu nhiệt đới cũng làm cho hệ thống đường sá bị hư hỏng nặng.


Xây dựng lại từ đầu


Theo ông Viktor Aistov, phía Liên Xô gần như hoàn toàn phải xây dựng mới căn cứ quân sự Cam Ranh. Chỉ trong năm 1987 (năm ông bắt đầu được giao phụ trách công tác xây dựng ở Cam Ranh), tại đây đã có 440 tòa nhà và binh xưởng được bàn giao đưa vào sử dụng. Con số của năm 1988, 1989 là 28 và 131.


Trong việc tái thiết quân cảng Cam Ranh, người Nga đã tỏ ra cao tay hơn người Pháp và người Mỹ. Người Mỹ dù cố gắng cách nào cũng không thể giải quyết vấn đề nước ngọt cho căn cứ này, buộc phải chở nước bằng xe bồn từ sâu trong đất liền tới đây, còn người Nga thì xây dựng thành công một nhà máy lọc nước với nguồn nước lấy từ hồ trên núi qua hệ thống ống dẫn.


Hàng trăm tòa nhà phục vụ đa chức năng khác nhau được người Nga xây dựng tại đây. 7 khu doanh trại với chỗ ăn nghỉ, sinh hoạt cho nhiều nghìn quân nhân thường trực ở căn cứ và các thủy thủ đoàn ghé lại trong thời gian ngắn. 2 khu nhà ăn với tổng cộng hơn 500 bàn ăn. Chỉ huy sở và trạm thông tin của các đơn vị đều thuộc hàng hiện đại nhất thời đó. 1 bệnh viện có 100 giường bệnh. 1 trung tâm văn hóa với rạp đa năng (sân khấu, điện ảnh, xiếc…) có 400 chỗ ngồi. 2 trung tâm luyện tập, thi đấu thể dục thể thao. 1 trường học cho học sinh là con em các quân nhân phục vụ thường trực dài ngày ở căn cứ. 16 tòa nhà chung cư có tổng cộng 700 căn hộ.


Tàu chiến Nga ở cảng Cam Ranh năm 1987


Một căn cứ tiên tiến


Ngoài cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần, người Nga đã tạo ra ở Cam Ranh một cơ sở vật chất - kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất thời đó. Họ đã xây dựng được những sở chỉ huy, những trung tâm thông tin liên lạc hiện đại, những kho lưu trữ và bảo trì các hệ thống tên lửa hành trình, kho bom và tên lửa không đối không, không đối hạm, không đối đất cho Trung đoàn Không quân, kho nhiên liệu lỏng (12 hầm chứa và các phương tiện lưu trữ đặc biệt). Một hệ thống cung cấp năng lượng hiện đại: Trạm phát điện chạy bằng động cơ diesel có công suất 24.000kW, đường dây tải điện cao áp, trạm biến áp... 1 hệ thống kho hậu cần cũng đã được xây dựng, gồm 2 kho thực phẩm và hai kho quân trang quân dụng, 3 kho thiết bị kỹ thuật, 2 kho đông lạnh với sức chứa 270 tấn.


Cần biết rằng tất cả những hạng mục công trình kể trên được xây dựng theo công nghệ tiên tiến nhất thời đó. Thí dụ, kho lưu trữ tên lửa hành trình đã được xây dựng với sự tính toán đến các yếu tố cần thiết để đảm bảo loại vũ khí này luôn có thể được sử dụng tốt trong điều kiện thời tiết, khí hậu miền nhiệt đới. Mọi thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất đều được ứng dụng vào những công trình đặc biệt như thế. Kho vũ khí ở Cam Ranh được coi là tối tân nhất so với bất cứ cơ sở tương đương nào ở Liên Xô thời đó. Sau khi Liên Xô tan rã và Hải quân Nga rút về nước, toàn bộ vũ khí ở Cam Ranh được chuyển giao cho phía Việt Nam, Tướng Aistov cho biết.


Việt Nam góp sức lớn


Cũng cần biết rằng sự đóng góp của phía Việt Nam trong việc xây dựng lại căn cứ quân sự Cam Ranh là rất lớn. Ban đầu, việc tái thiết căn cứ Cam Ranh được giao cho bộ phận xây dựng công trình cơ bản của Hạm đội Thái Bình Dương, về sau được chuyển giao cho Binh đoàn xây dựng hải ngoại thuộc Bộ Quốc phòng Liên Xô. Tướng Aistov lúc đó là Chỉ huy trưởng Lữ đoàn số 22 thuộc lực lượng này, đơn vị trực tiếp thực hiện việc tái thiết căn cứ Cam Ranh.


Dĩ nhiên phía Việt Nam cũng tham gia quá trình xây dựng, nâng cấp căn cứ Cam Ranh. Trong giai đoạn cao điểm (1987-1989), có khoảng 4.500-5.000 binh sĩ thuộc Lữ đoàn Xây dựng số 394 của Việt Nam tham gia xây dựng Cam Ranh cùng 2.400-2.500 binh sĩ Liên Xô.


Tổn thất khó tránh


Trong quá trình xây dựng, phục hồi căn cứ quân sự Cam Ranh, phía Liên Xô đã phải chịu một số tổn thất về nhân mạng, với 44 binh lính, sĩ quan hy sinh. Hiện nay tại nơi đây vẫn còn tấm bia đá khắc tên những quân nhân Liên Xô ngày ấy đã ngã xuống. Đó là toàn bộ phi hành đoàn chiếc máy bay Tu-95, hy sinh ngày 13-2-1985; các phi công và hành khách của chiếc máy bay An-42, thọ nạn ngày 8-7-1989 khi hạ cánh xuống đường băng sân bay Cam Ranh, các phi công của đội bay Tráng sĩ Nga nổi tiếng, lâm nạn gần Cam Ranh ngày 12-12-1995 và một số trường hợp đáng tiếc khác.


Cuộc chiến tranh ngày ấy, tuy được gọi là “lạnh”, nhưng phía Liên Xô đã phải đổ không ít máu. Theo chuẩn đô đốc Nikolai Matyushkin, người đã từng phục vụ tại căn cứ Cam Ranh, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Liên Xô mất một số lượng tàu ngầm nhiều hơn số tàu ngầm bị mất trong chiến tranh Nga - Nhật, Thế chiến thứ I, nội chiến và chiến tranh Nga - Phần Lan cộng gộp.


Tại sao Nga rời khỏi Cam Ranh?


Những năm đầu thế kỷ XXI, Hải quân Nga chủ trương giảm hoạt động. Hội đồng An ninh quốc gia cho rằng, căn cứ Cam Ranh không còn cần thiết cho Nga.


Nhưng trong văn bản Thỏa thuận ký kết vào năm 1979 lại không có điều khoản về việc chấm dứt hợp tác trước thời hạn (25 năm, theo thỏa thuận). Sau một quá trình đàm phán kéo dài, ngày 2-5-2002, hai bên đã ký biên bản bàn giao - tiếp nhận các hạng mục của căn cứ này.


Sau khi Nga rút đi, Việt Nam đã tiến hành nâng cấp sân bay Cam Ranh thành phi trường quốc tế và tiếp tục duy trì quân cảng. Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc khẳng định rằng Liên bang Nga là đối tác chiến lược của Việt Nam và hai bên nên sử dụng những tiềm lực sẵn có để phát triển mối quan hệ vì lợi ích của cả hai quốc gia. Với những điều kiện mở như thế, theo Tướng Aistov, Nga sẽ không gặp trở ngại gì nếu muốn trở lại với Cam Ranh.


Cũng theo Tướng Aistov, Việt Nam giờ đây đã cởi mở hơn nhiều. Người Việt Nam, sau nhiều thập niên phải cầm súng bảo vệ nền tự do, độc lập của dân tộc, bây giờ chính là thời điểm chín muồi để tái thiết đất nước, vươn tầm thời đại, đồng thời cũng quan tâm đến việc chống trả sự nhòm ngó, lấn ép từ những thế lực bên ngoài. Theo truyền thống, Liên Xô trước đây và Nga ngày nay không bao giờ xa lánh bạn bè, đối tác. Những kinh nghiệm dồi dào của Nga trong các lĩnh vực quốc phòng và kiến thiết có thể sẽ giúp ích cho Việt Nam anh em, ông Aistov bày tỏ hy vọng sẽ được tái ngộ tại Cam Ranh.


Phạm Bá Thủy Theo Tass


Năng lượng Mới 545 -547


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tại sao người Nga vẫn tưởng nhớ Stalin? - Roy Medvedev 26.05.2018
Tại sao Stalin được dựng tượng, còn Hitler thì không? - Peter Singer 26.05.2018
Chuyên gia Singapore dẫn thành công đặc khu Trung Quốc làm hình mẫu cho Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 23.05.2018
Hãy để Nga được là Nga - Shlomo Ben-Ami 21.05.2018
Đảng cộng sản có thể tồn tại bao lâu nữa ở Trung Quốc? - Tư liệu sưu tầm 18.05.2018
Vần đề Đảng cộng sản trong Hiến pháp Trung Quốc - Hồ Anh Hải 18.05.2018
17/05/1970: Hải trình chứng minh người châu Phi cổ đại từng tới châu Mỹ - Tư liệu sưu tầm 17.05.2018
Krill oil: Nguồn dinh dưỡng quý giá nhất Nam Cực - Tư liệu sưu tầm 15.05.2018
Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn - Tư liệu sưu tầm 14.05.2018
Sông Đồng Nai - Tư liệu 09.05.2018
xem thêm »