tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21326529
Truyện ngắn
24.11.2017
Nguyễn Thị Anh Thư
Tường Đôngkisốt

        Cứ mỗi khi nghe tiếng “Pạch sịch! Pạch sịch! Pạch sịch!...” từ tít ngoài ngõ, xa đến cả trăm mét, cả nhà tôi dù đang làm bất cứ việc gì, dù không hề ngó nhìn ra cửa, nhưng ai cũng nhận ra ông Tường đang đến nhà mình.


 


Ông Tường là con trai thứ của cụ trưởng đằng ngoại nhà tôi, là dân Hà Nội có cội rễ gốc gác ở ngay làng Ngọc Hà. Gia đình ông đã từng sở hữu cả một khu đất rộng tới bốn ngàn rưỡi mét vuông, và có một tòa nhà thờ họ rất rộng toàn bằng gỗ lim do chính ông nội ông Tường xây.Tất cả các cột cái, các dầm xà của tòa nhà đều to tròn thẳng tắp, được lựa chọn rất công phu và được chạm trổ tinh vi, lộng lẫy. Mái lợp là ngói Bát Tràng được thửa riêng, từng viên đều có chữ “Đỗ” là tên của dòng họ.Tòa nhà thờ này lại ngự trên một cái sân rộng đến vài trăm mét vuông và được lát gạch bát đỏ au.


 


Ông Tường lại đã từng là kỹ sư từ những năm đầu 1970, tốt nghiệp Bách khoa đàng hoàng. Ấy vậy mà ông lại dùng một chiếc xe gắn máy cổ lỗ sĩ có tên là SACHS.


 


Chiếc xe trông tã đến nỗi, nếu có đem biếu không mấy anh dân quê nghèo rớt ôm mộng đi xe máy, thì họ cũng chẳng dám nhận vì sợ chẳng bõ rước họa vào thân.


 


SACHS là một loại xe của Đức. Con “nghẽo” này hình như thuộc loại sêri đã thịnh hành từ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai thì phải. Hay là nó được sản xuất từ thời Chiến tranh lạnh, khoảng những năm 1960? Tôi cũng không biết rõ lắm. Chỉ biết chỗ của nó đáng ra là phải nằm ở trong Viện khảo cổ về xe cộ từ lâu lắm rồi.


 


Loại xe này có hình dáng rất nực cười - y hệt một con cào cào màu xanh lá cây già. Sau nhiều lần sửa sang, ông Tường đã cho nó một bộ cánh mới.


 


Ông sơn con xe yêu quý của mình từng nhát một bằng chổi sơn thường như người ta sơn chấn song gỗ của cửa sổ, lại còn sơn bằng mầu đỏ của xe cứu hỏa nữa.


 


Sau vụ này ở nhà tôi, phe người già thì bảo: “Có lẽ nó là con của con máy cày Bông sen thời khoán 10”. Phe trẻ con lại bảo: “Giống hệt con ngựa gỗ trẻ con vẫn phi trong nhà trẻ”. Còn ông anh tay chơi FX125 của tôi thì hóm hỉnh bảo: “Chủ tớ ấy trông rất giống Đôngkisốt với chiến mã nghẽo còm”.


 


Khi con SACHS nổ máy, các bộ phận của nó đều rên lên run rẩy như ông lão 80 bị bệnh Parkinson.


 


Lần trước, khi ông cưỡi nó phóng vào sân nhà tôi một cách điệu đàng, rồi phanh kít lại, thì cái yên của nó đã bốc cả ông phi lên bình xăng. Còn lúc ra về, để mồi cho máy nổ, ông bôi xăng rồi xòe bật lửa ga hơ nóng bugi khiến cả nhà tôi há hốc miệng không dám thở, sợ muốn đứng tim.


 


Bố tôi đã từng kể có lần ông đã chứng kiến một chiếc xe máy Suzuki bắt lửa vì bị rò xăng cháy thành than chưa đầy mười phút.


 


Con “nghẽo” này vốn sắp bị bác thợ sửa xe đem phanh thây, xé xác, lọc nạc, vạc xương rồi bán cân cho mấy bà thu gom sắt vụn. Ông Tường hôm ấy đi ngang qua thấy thế xót xa liền chuộc nó ra khỏi tay bọn họ với giá năm hào một ký lô.


 


Ông Tường bảo: “Con xe SACHS có đặc biệt là vòng bi hình củ tỏi, bi hình đũa. Khi bi trục trặc là các bác thợ vớ vẩn nhà ta khóc thét luôn. Nhưng nó cực khỏe, thậm chí có thể chạy bằng dầu hỏa, chỉ cần bôi tí xăng lên bugi là chạy vô tư. Cực tiết kiệm!”. Sau một năm được ông Tường nhiệt tình kiên trì vá víu bồi bổ, nào thay cả cụm vòng bi, nào lắp lốp Honda90... nó gượng dậy được, và cõng ông chủ còm nhom cao lêu đêu đi đây đó, để ông chủ quảng bá chủ kiến và hiệu quả chủ kiến của mình.


 


Con xe mầu đỏ lửa, mỗi lần chạy ngoài phố nó nổ pành pạch rất ầm ĩ, rặn ra từng đám khói dầu hỏa đen mù mịt, ai ai cũng phải ngoái cổ nhìn theo.


 


Thật ra ông Tường không nghèo đến nỗi không thể sắm một con xe tàm tạm để đi. Xe Tầu gần đây người ta bán mớ. Hơn chục triệu được hẳn ba cái. Gia đình ông cũng không đến nỗi không bao bọc tương trợ giúp nhau để ông phải đi chiếc xe như bôi bác thể diện của cả nhà. Ông Tường làm ra cái xe gắn máy như thế, ông đi nó như thế, chẳng qua là vì ông thích thế. Người ngoài cho rằng ông hâm mặc xác ông không gàn đã đành; mà cả người trong nhà cũng không ai dám gàn.


 


Bởi lẽ, nhìn vào ông Tường bây giờ: còm nhom ốm yếu, râu ria tua tủa không thèm cạo, áo quần thì xốc xếch nhem nhếch, ít ai ngoài người trong nhà nhớ rằng vào những năm 1979, 1980 ông Tường là một trong những người giầu nhất Hà Nội. Mà lại giầu nhờ rác!


 


*


Sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, khi mọi người đổ xô vào Sài Gòn cố đi lùng những Tivi, Honda còn tốt để khuân ra Hà Nội, thì ông Tường lúc đó mới khoảng 44, 45 tuổi trẻ trung, sung sức hăng say lần mò vào các kho bãi phế thải của chiến trường xưa.


 


Ông Tường lùng mua những cỗ xe máy làm lạnh, những chiếc xe máy nổ phát điện có công suất cực lớn to như cả một chiếc xe buýt để phục vụ cho các công sở, doanh trại của Mỹ sau này là của quân đội Sài Gòn cũ, đã bị bỏ hoang trong bãi phế liệu do hỏng hóc không có nguyên vật liệu để thay thế, do rơi vãi mất mấy con ốc điều chỉnh, hoặc đơn giản hơn, do hết khí ga; nhưng những người có trách nhiệm bảo quản chúng lại có trình độ quá kém nên không hiểu hết được giá trị thực sự của chúng.


 


Ông Tường nhờ vậy đã mua được vô khối máy với giá sắt vụn. Ông bỏ việc Nhà nước. Ông xin lấy trước phần tài sản được chia của gia đình là một nghìn mét vuông đất, bán đi để lấy tiền thuê chuyển những đống sắt vụn ấy ra Hà Nội.


 


Không có kho bãi, tài sản của ông Tường để rải rác khắp các vỉa hè, đường phố, vườn hoa thời ấy. Chỉ khi cần sửa chữa chiếc nào, ông mới lôi chiếc đó về sân nhà thờ nhà ông để mổ xẻ.


 


Dưới đôi tay vàng tài nghệ của ông, ông xử lý từng chiếc một: tháo dỡ lau chùi; thiếu chi tiết nào bổ sung chi tiết ấy tháo từ một chiếc máy cũ sang; nạp đầy khí ga vào... thế là lại ngon lành - máy đang chạy tốt nhé! Máy Made in Japan nhé! Hay lấy máy Made in USA? Loại nào cũng có.


 


Những chiếc máy tưởng đã thành mớ sắt gỉ yên nghỉ ngàn thu, nhờ tài năng của ông bỗng thức cả dậy như các nàng công chúa ngủ trong rừng. Và đương nhiên ông Tường cũng bán chúng với giá bán những công chúa cho những bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh ở ngoài Bắc - những kẻ đang đói khát điện, lạnh - sắc đẹp và sức mạnh của tiện nghi văn minh hiện đại.


 


Không thể nói một vốn bốn lời; mà phải nói là một vốn nghìn lời. Chỉ cần bán được một, hai cái máy phát điện, hoặc làm lạnh cho một cơ quan nào đấy với giá vài trăm nghìn đồng một chiếc lúc đó, nhà ông đã thu bộn tiền. Đằng này ông có tới cả trăm cái xe máy như thế để khắp nơi trên đường phố Hà Nội.


 


Tiền của dồn dập đổ vào nhà ông như thác lũ. Vợ ông đong các chỉ vàng vào ống bơ rồi cân lên đổ vào thùng sắt khóa lại. Khi chúng tôi được Nhà nước bán cho một lạng mỡ mỗi tháng để bôi quanh chảo cho trơn thì nhà ông thừa tiền mua một lúc cả mười căn nhà quãng ngã tư Bạch Mai - Đại Cồ Việt.


 


Nhưng rồi tiền bạc không mang lại được cho ông hạnh phúc. Mặc dù giầu có vô biên nhưng ông Tường không hề thay đổi. Người ông lúc nào cũng lấm lem dầu mỡ, áo quần nhếch nhác lôi thôi. Ông không có hứng thú tiêu pha chơi bời. Ông chỉ có hứng thú khi được ở bên máy móc, và khoái cảm khi được sửa chữa chúng.


 


Vợ ông Tường chán chồng lại thừa tiền liền rửng mỡ đi đánh bạc. Trên chiếu bạc, bà đã quen và dính phải một tay đào mỏ trẻ trung galăng đẹp trai. Y vốn là nhạc công chơi pianô. Tay nghệ sĩ này chơi bà và moi tiền của bà để đánh bạc còn thiện nghệ hơn chơi ngón đàn hắn đã luyện bao năm trên cây đàn.


 


Thế là của nả của ông Tường như bị hút xuống đáy sông ngầm. Lần lượt từng căn nhà lại đội nón ra đi mà ông Tường chẳng hề hay biết. Ông vẫn miệt mài ngày tháng vào Nam ra Bắc lùng sục mua thêm máy về. Ông vẫn một mình hì hụi thâu canh suốt sáng nghiên cứu sửa chữa máy móc trên cái sân nhà thờ rộng thênh thang của dòng họ nhà ông.


 


Rồi cũng đến ngày bà vợ ông bán nốt căn nhà cuối cùng trong đó có ông cùng hai con gái nhỏ - đứa thì lớp mười, đứa thì lớp tám đang ở. Ẵm hết số tiền cuối cùng bà biến vào Sài Gòn đi tìm gã nhân tình. Y đã bỏ rơi bà chạy theo đánh bài với một cô chủ sạp vải ở trong Chợ Lớn.


 


Rồi để có thể ở lâu trong Sài Gòn mong thu phục lại người yêu, bà lừa hai đứa con vào cùng với mình. Cũng chẳng phải bà yêu thương chúng nên không thể xa rời, mà vì bà đã hết sạch tiền. Bà nghĩ rằng có hai đứa trẻ bên mình, ông sẽ phải gửi tiền cho bà.


 


Bà đâu biết rằng: ngày đầu tiên ông biết là mình trắng tay khi chủ mới của căn nhà cuối cùng của ông vứt đồ đạc của ông ra ngoài đường, cũng là ngày chiếc máy phát điện lớn đầu tiên ông bán được bị đem trả lại. Nó vẫn đang trong thời hạn được ông bảo hành, nhưng đã bị hỏng hóc, gỉ gẫy lung tung.


 


Họa vô đơn chí. Máy móc của ông lần lượt rủ nhau về: chiếc xe máy lạnh thứ hai, chiếc xe máy lạnh thứ ba, rồi chiếc máy nổ phát điện thứ tư... Khắp nơi người ta gọi về bắt ông phải chạy chữa bảo hành, đền bù xe máy khác hoặc trả lại đòi bồi hoàn tiền cho họ.


 


Đi đến những nơi vỉa hè, vườn hoa hôm trước vẫn đặt những chiếc xe máy nổ của mình ở đấy thì nay cái đã không cánh mà bay, cái lại thấy khóa của mình đã được thay bằng một ổ khóa khác to đoàng, lại còn gắn niêm phong cẩn thận. Hỏi ai khóa? Ai niêm phong? Chẳng ai biết!


 


- Những chiếc máy to vĩ đại thế này chắc không của Sở Điện lực thì cũng của quân đội. Có thể họ đang di chuyển nó đến kho bãi nhưng chưa có người chuyển kịp nên để tạm đây. Của chính quyền mà. Chính quyền để đâu mà chẳng được!


 


- Đúng rồi! Ở các nơi khác trong thành phố, tôi cũng thấy họ để đầy máy móc ra đấy. Mấy hôm lại có dăm ba người tới chuyển đi.


 


- Mà ơ hay ông này tò mò nhỉ?


 


- Của ông ấy à? Cái máy to tướng như toa xe thế này mà là rác thải ấy à? Ông có bị điên không đấy?


 


- Giấy tờ sở hữu máy của ông đâu?... Không có à?


 


- Ông ở đơn vị nào? Cơ quan nào?... Không ở cơ quan nào à? Giấy tờ tùy thân đâu?... Không mang à? Dớ dẩn nhỉ!


 


- Định táy máy tài sản Xã hội chủ nghĩa đấy! Ái dà giả ngô giả ngọng đợi mọi người không để ý là làm một mẻ đấy. Lôi hắn ra đồn công an!...


 


Thế là cả đám người xúm lại lôi ông Tường ra đồn công an.


 


Để cổ vũ tinh thần bảo vệ trị an của những người dân khối phố, anh công an phụ trách khu vực đó đã lập biên bản tạm giữ ông Tường lại đồn rồi bắt tay cảm ơn nồng nhiệt các bác dân phố đã có tinh thần cảnh giác cao. Khi tiễn các bác ra về, anh còn hứa sẽ cảnh cáo cái đơn vị nào có máy kia tội buông lỏng quản lý tài sản của Nhà nước.


 


Sau bao ngày đêm vất vả vì quá chú tâm sửa chữa máy móc, rồi gia đình tan nát, rồi các nơi truy đòi tiền nong, bảo hành máy móc, ông Tường lại càng không còn thời gian nào để nhìn lại hình thức của mình: tóc râu xơ xác cứ tự nhiên mọc tua tủa, áo sơ mi bẩn thỉu chỉ còn hai khuy. Quần toạc ống đến bẩy xăngtimet. Dép nhựa Tiền phong cáu bẩn một bên bung quai sau cũng không buồn xỏ vào, cứ thế lê lẹt quẹt.


 


Anh công an đã nhìn ông Tường như nhìn một gã trí thức lang thang điên khùng vì ngộ chữ. Suốt hai giờ đồng hồ gã lảm nhảm giảng cho anh nghe những điều to tát và kì cục - khuynh hướng tâm thần phân lập, tưởng mình là vĩ nhân: “Tất cả máy móc lớn ở các nơi trong thành phố này đều là của tôi cả. Tôi muốn biến rác thải thành những thứ có ích. Phải tận dụng của cải còn có ích cho con người. Phải biết tận dụng những tiềm năng trong rác thải. Máy móc được con người tạo ra là để tạo ra năng lượng quay lại phục vụ con người. Con người chưa sử dụng hết tiềm năng tàng ẩn trong máy móc đã vứt bỏ là có tội với những người sản xuất ra nó...”


 


Ai thừa hơi bắt bớ giam cầm một tên tâm thần hoang tưởng, anh công an thả ông Tường ra với lời dọa: “Cấm không được lớ xớ ở khu vực này nữa. Lần sau ông còn quay lại đây nói năng lăng nhăng chúng tôi sẽ cho xe đưa ông sang trại điên Trâu Quỳ”.


 


Đã đến nước ấy thì ông Tường chỉ còn biết tay trắng ra về. Tôi nghi rằng những ngày này ông Tường chắc cũng đau đớn như vua Ngô Phù Sai khi bất lực đứng nhìn thành quách đền đài quý giá của mình bị thiêu hủy.


*


Trước đây, khi chưa dính vào vụ sửa chữa máy phát điện, máy làm lạnh, ông Tường có tặng bố tôi một cái đài Hồng Mao hay Xiêng Mao gì đó của Trung Quốc. Một cái rađiô cũ kỹ được ông đại tu lung tung ở bên trong đến mức ông dặn bố tôi khi muốn mở rađiô thì phải triệt để tuân theo các bước sau: cắm điện vào rồi, vặn núm nghe rồi thì phải gõ trên đầu hai cái, tát nhẹ má phải một cái thì nó mới kêu.


 


Lâu nay cái rađiô hỏng hóc rơi rụng lỏng lẻo thế nào mà bố tôi gõ đầu bạt tai hết bên phải sang cả bên trái, đánh đập mỏi tay mà tên nô lệ ấy cứ câm tịt chẳng hát hò nói năng gì cả. Mà đến cả năm rồi không thấy ông Tường đến chơi để chỉnh sửa như mọi khi rađiô bị trục trặc.Bố tôi cho chiếc rađiô Trung Quốc vào túi và đến nhà ông Tường. Nghe nói ông đã thoát nạn bị đòi nợ, bị truy đuổi nhưng trắng tay sạch bách không còn cả cái mái nhà che đầu.


 


Ông Tường về cái sân nhà thờ của ông nội gác một cây tre từ đầu một chái hiên nhà thờ sang một gốc cây hồng xiêm lâu năm, trùm một tấm bạt xe tải lên thân cây tre, rồi kéo căng dây bốn đầu bạt, đóng xuống đất làm một túp lều như túp lều của trẻ con đi cắm trại để trú ngụ.


 


Từ nhà ông Tường về, bố tôi kể: “Cái ông Tường Đông-ki-sốt ấy gàn bát sách. Trông cái túp lều của ông ấy chềnh ềnh trên sân nhà thờ thật chướng mắt vậy mà ông trưởng với các bà em năn nỉ thế nào ông cũng không chịu về nhà họ ở. Ông ấy bảo cái giai đoạn này chỉ là tạm thời. Ông ấy lại sắp giầu rồi. Ông đã có hướng làm ăn mới. Ông lại sắp có tiền tỉ rồi. Ông ta phải ở riêng như thế thì mới tiện tận tâm cho nghiên cứu...”


 


Ông Tường lại ngồi vẽ, kẻ, hí hoáy thiết kế máy phân loại rác và lò thiêu hủy rác cho các bệnh viện. Cùng với nó ông cải tử hoàn sinh cho con SACHS, rồi cưỡi con SACHS, ông đi khắp nơi rao giảng cho Dự án tầm cỡ quốc gia của ông - việc làm có tầm tư tưởng lớn có tính chiến lược toàn cầu, phù hợp với xu thế của thế giới của thời đại - làm xanh sạch cho môi trường.


 


Mấy tháng trước, chúng tôi đọc báo thấy có vụ án về việc một bệnh viện tỉnh T. mua phải lò thiêu hủy rác rởm. Các quan chức ở bệnh viện và ở tỉnh, huyện đó đã lợi dụng việc mua lò thiêu hủy rác cũ đưa giá mua là lò mới để tham nhũng.


 


Không biết cái lò ấy có phải do ông Tường thiết kế và xây dựng không nhưng không thấy tên ông bị bêu lên trên báo.


*


Hôm nay ông Tường đến chơi nhà, chúng tôi xúm đến tò mò hỏi ông về vụ lò thiêu hủy rác ở tỉnh T.


 


Ông Tường cười rất ỏn ẻn: “Cái vụ đó họ đã ăn cắp bản quyền phát huy sáng kiến của tôi. Họ đã lừa tôi. Nhưng không sao. Sáng kiến thì lúc nào tôi cũng sẵn, chỉ sợ không đủ sức để thực hiện thôi. Chẳng hạn như gần đây tôi được biết sau năm 1975 đường ống cáp liên lạc thông tin có đường kính to tới cả mét nối từ khu quân sự của Mỹ ở cảng Cam Ranh sang Mỹ đã bị đứt và chìm dưới biển Nha Trang. Những đường cáp ấy đều được bọc vàng để bảo vệ đường dây thông tin khỏi bị sự ăn mòn của nước biển mặn, chỉ cần ta mò được những đoạn cáp bị bỏ hoang đó lên là sẽ giàu to - mắt ông Tường sáng rực lên đầy hứng khởi, mặt ông rạng rỡ vẻ hoan lạc - hiện nay tôi đang thiết kế làm những bộ đồ lặn sao cho người lặn có thể ở thật lâu dưới đáy biển để làm việc...”


 


Ừ có thể có những đoạn cáp truyền dẫn thông tin được bọc vàng lắm chứ. Đồ lặn sâu dưới biển thì thế giới người ta đã làm ra rồi, chỉ có đắt thôi. Mà ông kỹ sư Tường của chúng tôi lại hoàn toàn có thể làm ra được những máy móc có giá cực rẻ chỉ cần ông cẩn thận hơn, chỉ cần có ai đó tài trợ cho ông những nguyên vật liệu còn tốt...


Chúng tôi há miệng nghe như nuốt những hoạch định cho Dự án chẳng biết có chút hoang đường không của ông và ngờ ngợ biết đâu  sắp đến ngày ông Tường lại trở thành người giầu nhất Hà Nội.


NTAT.


 


Nguồn: Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm/vanvn.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lan man chuyện bả (chó) - Đỗ Trường Leipzig 05.12.2017
Sau tiếng chuông chùa - Đỗ Trường Leipzig 05.12.2017
A lê! Gâu! Gâu! - Nguyễn Thị Anh Thư 24.11.2017
Tường Đôngkisốt - Nguyễn Thị Anh Thư 24.11.2017
Học phí làm người - Nguyễn Thị Anh Thư 24.11.2017
Có một đêm như thế - Phạm Thị Minh Thư 24.11.2017
Nước mắt “Hoa hậu làng” - Đỗ Xuân Thu 20.11.2017
Người đàn bà nghe nhạc đêm - Lưu Thị Mười 19.11.2017
Như vạt rêu ngoài suối - Kiều Duy Khánh 05.11.2017
Nhà số “100Big” - Y Mùi 17.10.2017
xem thêm »