tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21051667
Những bài báo
06.11.2017
Vũ Truyết
Cụ Triệu Thái - cùng thời Nguyễn Trãi - Danh nhân đất Việt



Dưới chế độ quân chủ ngàn năm của nước ta, vương triều nào cũng có công lao to lớn làm vẻ vang dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Vương triều tiền Lê tuy ngắn ngủi nhưng với sóng Bạch Đằng vùi quân Nam Hán làm nên tên tuổi Lê Hoàn, Vương triều Trần 3 lần chiến thắng quân Nguyên Mông tạo cho dân tộc ta một Trần Hưng Đạo là một trong 10 vị tướng thiên tài của nhân loại. Vương triều Nguyễn có công lao to lớn Nam tiến, bờ cõi nước ta mới có như ngày nay.


         Nói về góc độ khai dân trí thì phải nói đến vương triều Lý, vương triều khai sinh ra nền giáo dục, chăm lo kẻ sỹ, bồi dưỡng hiền tài, tạo ra nguyên khí quốc gia. Năm 1010 dời đô về Thăng Long, đến năm 1070 xây dựng Văn miếu Quốc Tử Giám thờ Chu Công, Khổng Tử, dậy học, là trường đại học đầu tiên cuả đất nước, lấy văn tự là chữ Nho truyền bá Nho Giáo nền tảng lấy nhân nghĩa trị nước. Chỉ sau 5 năm đẫ mở khoa thi Minh Kinh Bác Học, Lê Văn Thịnh đỗ đầu thành vị khai khoa của nền khoa bảng nước nhà. Ngót 900 năm với nền giáo dục này đã tạo cho đất nước ta gần 3000 trí thức Nho học nguồn nguyên khí vô cùng to lớn cho dân tộc để xây dựng bảo vệ tổ quốc, làm cho dân tộc ta không bị Hán hóa như các dân tộc trong Bách Việt khác, vững bền hưng thịnh đến ngày nay. Những tri thức đó là sự đóng góp của trăm họ và cũng là niềm tự hào của gia đình, gia tộc, địa phương nói riêng, niềm tin về nguyên khí và kiêu hãnh của dân tộc nói chung. Có gia tộc có vài trạng nguyên, hàng trăm tiến sỹ, trong đó Triệu tộc cũng có danh nhân Triệu Thái góp phần vào nền khoa bảng của đất nước.


         I- TRIỆU THÁI DANH NHÂN LỊCH SỬ


Theo dòng lịch sử thì Triệu Thái được chính sử gi lại rất khiêm tốn: Nhiều nhất là “Đại Nam nhất thống chí” khoảng 5 dòng nói về danh, quê quán, đỗ đạt, làm quan nhà Minh, nhà Lê Sơ, “Đại Việt sử ký toàn thư” nói về kỷ nhà Lê sơ có việc cử Người sang đàm phán với nhà Minh về biên giới phía bắc, “Khoa mục chí” trong “Lịch triều hiến chương loại chí” ghi Người là Ngự sử đài Thị ngự sử làm Giám thí khoa thi năm Nhâm Tuất 1442 niên hiệu Đại Bảo.


        Lịch sử để lại là như vậy nhưng rất mừng vào xuân 1991, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Vĩnh Phú và một số nhà sử học, khảo cổ, bảo tàng, các nhà văn hóa đã tổ chức hội thảo khoa học về danh nhân Triệu Thái lám sáng tỏ phần nào về Người.


        1/ Triệu Thái người khai khoa của vương triều Lê sơ.


        Lê Lợi, lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với nhãn quan sâu sắc về vai trò của kẻ sỹ, vào năm 1427, năm cuối của cuộc kháng chiến chống nhà Minh xâm lược đã cho thi tuyển chọn người tài mưu lược phá thành Đông Quan được trên 30 người, trong 2 năm 1428 – 1429 có 4 lần ra hạ chiếu về việc học, tuyển chọn hiền tài. Đến năm Thuận Thiên thứ 2 vào tháng 5 năm 1429 triều đình đã mở khoa thi Minh Kinh. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư, “Việt sử thông giám cương mục… Thông qua khoa này triều đình đã chọn được một số tri thức Nho học bổ sung cho quan trường, trong đó Triệu Thái là người đỗ đầu.


 Như vậy người trở thành người khai khoa của vương triều Lê Sơ cũng là khai khoa của Triệu Tộc trong nền giáo dục Nho học Việt Nam. Sáu mươi bẩy năm sau, 1496, Triệu Tuyên Phù - cháu gọi Người là bác ruột cũng đỗ đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân.


         2/ Con đường quan lộ.


         Người sinh ra lớn lên vào thời cuôi Trần và trong cuộc xâm lược của nhà Minh cho nên có thể Người cũng là kết quả của chính sách thâm độc cuả Minh Thái Tổ lùng bắt, thu nhận cống nạp người tài. Thời kỳ này có nhiều nhân tài đất Việt bị bắt sang Trung Quốc tiêu biểu nhất là Nguyễn An kiến trúc sư xây dung hoàng thành Bắc Kinh.


           Theo tộc phả họ Triệu bắng chữ Nho được trưởng tộc Triệu Lễ chép lai còn lưu lại tại đền thờ Người ở Hoàng Trung, Đông Ích, Lập Thạch, Vĩnh Phúc có những bức hoành phi:


-  Lưỡng quốc tiến sỹ


-  Định quốc điều luật


 Câu đối tiêu biểu có câu:


 Hốt văn yên thượng mã lai, Việt trí báo văn khôi vị Bắc.


 Hỷ kiến Lam trung long khởi chứ, thân hổ trân biểu giang Nam


 Có thể hiểu: Từng nghe trên yên người vì, vui đất Việt đỗ đầu đất Bắc.


 Mừng thấy rồng trời Lam dậy, vào trận bút rạng rỡ sông Nam.


“Lưỡng quốc Hạnh lâm trung hòa hiếu/ Cổ kim lưu phương hậu duệ tòng “.


Có thể hiểu: Đỗ tiến sỹ hai triều đức hạnh hội đủ trung hòa hiếu,


Danh thơm thông cổ kim con cháu muôn đời noi theo.


Nhất là trong sách “Đại Nam nhất thống chí: “Triệu Thái người xã Sơn Đông (nhầm mà là xã Hoàng Trung) huyên Lập Thạch đời Vĩnh lạc nhà Minh đỗ tiến sỹ làm hàn lâm viện học sỹ. Biết tin ở nước nhà Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa cáo quan về nước”, tất nhiên trong tình thế hai nước đang nước sôi lủa bỏng không phải là dễ, nhưng nói về khả năng thì không thể nói mọi khả năng như đinh đóng cột được.


          Đương thời trong giới trí thức Nho học, ngoài Nguyễn Trãi ra thì chỉ còn có Triệu Thái là người hiền tài, trí tuệ, uyên bác tinh thông kinh sử, dầy kinh nghiệm quan trường, có thâm niên trong quan hành. Rất tiếc Nguyễn Trãi lại rơi vào vụ án oan nghiệp “Lệ chi viên” phải tru di 3 tộc (1442) kể cả lúc xin về ẩn chí thì thời gian tại triềungắn ngủi. Thói đời hơn người người ghét kém người người khinh, với lẽ này mà Phạm Hữu Sản trong thành phần ban giám khảo khoa thi Nhâm Tuất 1442, Đại Bảo có làm thơ nói móc tặng Người, nói người là quan nhà Minh, về nước lại được bổ làm những việc quan trọng.          


Cuộc đời quan trường theo ý các nhà nghiên cứu trừ thời gian tu lý ở quê, Triệu Thái phục vụ triều đình khoảng trên dưới 20 năm với 3 đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, không kể thời gian thi đỗ làm quan nhà Minh. Dưới vương triều Lê sơ chắc hắn Người phải được vua tin, đồng nghiệp quan trường phục, dân tôn, vì vậy theo sử sách để lại Người mới được tiến cử làm “Ngự sử đài Thị ngự sử “. Chương “nhân vật chí” trong: “Luật triều hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú viết “Chức Ngự sử đài giữ phong hóa pháp độ chức danh rất trọng”, chức trách: “Đàn hặc các quan nói bàn về chính sự hiện thời”. Qua đây ta thấy Triệu Thái đã giữ chức vụ này trước tiên Người phải có nhân cách đạo đức trong sáng, trung hiếu vẹn toàn, từ bi hỷ xả, bao dung vị tha, thứ hai tính tình thẳng thắn trung thực, thứ ba trong hành xử phải thực sự trung dung mới có thể can gián vua, vạch thói hư tật xấu của quan lại cho triều đình chấn chỉnh xây dựng triều chính, thịnh trị xã tắc bình an dân giầu nước mạnh.


Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Mùa đông tháng10, sai sứ sang nhà Minh…Thị ngự sử Triệu Thái sang tâu việc địa phương Châu Khâm”. “Việt sử thông giám cương mục” cũng ghi: “Bấy giờ Triệu Nhân Chính, trị châu Long Châu ủy thác cho bọn đầu mục Lữ Thông thống lĩnh hơn 1000 quân xâm lấn châu Hạ Tư lang cướp bóc lung tung người và các súc vật. Các đại thần xin sai Triệu Thái sang nhà Minh tâu bày về việc này”. Trong “Văn miếu quốc tử giám và 82 bia tiến sỹ”, trang 82 viết ở bia tiến sỹ khoa Nhâm Tuất 1442 Niên hiệu Đại Bảo 3 ghi: “…Lúc ấy Đề điệu là Thượng thư tả bộ xạ Lê Văn Linh Thượng thư Tả bộ xạ làm đề điểu, Giám thí là Ngự sử đài thị ngự sử Triệu Thái…”


           3/ Người có phần công lao đóng góp vào biên soạn bộ Luật Hồng Đức.


          Sau khi chiên thắng quân Minh, xây dựng vương triều còn non trẻ, đất nước bị tàn phá nặng nề sau 10 năm chống quân Minh xâm lược; ngoài công viêc cầu hiền tuyển tài, Lê Lợi rất quan tâm đến luất lệ để trị dân giữ nghiêm kỷ cương phép nước xây dựng lại đất nước cho dân giầu nước mạnh, đây là mầm mống nền tảng cơ sở ban đầu cho sự ra đời bộ luật Hồng Đức sau này. Trong giới trí thức đương triều sau khi Nguyễn Trãi bị án oan lúc này chỉ còn Triệu Thái và các học trò có khả năng giúp vua soạn thảo hoàn chỉnh bộ luật này mà thôi. Triệu Thái là Tiến sỹ Trung Quốc, từng làm quan ở Trung Quốc, qua đó ông tiếp thu chọn lọc tinh hoa của luật lệ nhà Minh để bổ sung vào luật của ta, cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của ta.


         Tháng 5 năm Kỷ Dậu, Triệu Thái ra ứng thi với tư cách là “Người ẩn dật thông kinh sử và giỏi văn nghệ” và đã đỗ danh sách thứ nhất, ông được Hoàng đế Lê Lợi tin dùng giao cho quan trị ngự sử, đứng đầu ở Nghị sử đài (ngang với Thanh tra Nhà nước và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày nay).


Ông được vua Lê Lợi giao cho cùng với Phan Phu Tiên và Nguyễn Trãi dịch ra luật lệ triều Lê Lợi (năm 1430 và 1431) nền móng ban đầu để đến năm 1484 bộ luật Hồng Đức được ban hành.


 Với cương vị đứng đầu cơ quan Ngự sử đài quan trọng thế dù chính sử không ghi nhưng ta cũng có thể hiểu, nói như ngày nay, Triệu Thái có góp phần chủ biên bộ luật Hồng Đúc còn đương nhiên về hành chính tất phải là vua ký và ban hành.


  4/ Người công vào việc tuyển hiền tài cho đất nước.


          Ở cương vị phó chủ khảo (Vua là chủ khảo) khoa thi Tiến sỹ năm Nhâm Tuất 1442 niên hiệu Đại Bảo 3[1] cùng với Đề điệu Lê Văn Linh và các quan khác khi chấm thi, khảo hạch tấu trình lên vua chọn chính xác: Đệ nhất cập đệ 3 người, đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân 7 người, đệ tam giáp tiến sỹ đồng xuất thân 23 người.


Trong đó tiêu biểu Trạng nguyên Nguyễn Trực mới 26 tuổi. Làm đến chức Thủ trung thư lệnh, tri Tam quán sự, đại tiêu ban, đặc thụ Hàn lâm viện, 2 lần đi sứ Trung quốc, họa thơ lưu biệt sứ Minh 50 vần, làm quốc thể vẻ vang. Vua Lê Nhân Tông sai họa chân dung ông để bên cạnh tỏ ý không quên. Tiến sỹ Ngô sỹ Liên nhà sử học tác giả bộ Đại Việt sử ký toàn thư gồm 15 quyển đến nay vẫn là bộ cổ sử nổi tiếng; làm quan 3 đời vua giữ các chức: Đô ngự sử, Lễ bộ hữu thị lang, triều liệt đại phu kiên Quốc tử giám tư nghiệp, kiêm sử quan tu soạn.


             5/ Nhà ngoại giao giành đất giữ yên bờ cõi.


              Quê hương đất nước không thể như cái thuyền trên biển thích đẩy đi đâu cũng được, trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, bên cạnh nước lớn luôn luôn hiện hữu tư tưởng bành trướng… Trong bang giao làm sao giữ hòa khí để an dân là cực kỳ quan trọng khôn khéo. Từng học thi đỗ tiến sỹ, làm quan nhà Minh, do vậy Triệu Thái rất hiểu Trung Quốc, nên triều đình cử Người đi sứ thương thuyết về biên giới đúng là “chọn mặt gửi vàng”. Trong sách lược ngoại giao từ khi giành được độc lập, với Trung Quốc chấp nhân phong triều cống nạp, xong vấn đề biên giới luôn luôn phức tạp và nóng bỏng… Khu vực biên giới Chiêu Lãng, Như tích vùng biên giới Đông bắc - sử cũ thường gọi là địa phương Châu Khâm. Trải qua nhiều lần 2 nước thương thuyết căng thẳng, rồi cũng đến hồi kết sau cuộc đi sứ của Triệu Thái. Với hiểu biết và tài năng của mình, năm 1442, vùng Châu Khâm vẫn là lãnh thổ Việt Nam. Rất tiếc cho đến năm 1540 dưới triều Mạc, vùng này lại bị sáp nhập vào Trung Quốc!


             Về công việc ngoại giao này đã được Đại Việt sử ký toàn thư, trang 132, tâp III chép: “Mùa đông tháng 10 sai sứ sang nhà Minh…Thị ngự sử Triệu Thái sang tâu việc địa phương Châu Khâm“, ngoài ra còn được “Việt sử thông giám cương mục“ cũng khảng đinh chuyến đi của Người.


            6/ Một nhà Nho uyên thâm đối nhân xử thế theo đạo trung dung.


         Mười năm nằm gai nêm mật thiếu tốn đủ thứ từ quân lương đến trang bị... khổ cưc muôn vàn, các lãnh tụ Lam Sơn vẫn đồng chí đồng lòng như ruột thịt. Nhưng sau khi chiến thăng quân Minh giành được độc lập cho đất nước, thành lập vương triều Lê, vinh hoa phú quý mãn đầy, bản năng dục vọng con người nảy nở, tính đa nghi đố kỵ trỗi dậy, vua tôi bất hòa mâu thuẫn, lũ bất tài cơ hội đua nhau nịnh nọt bầy mưu tính kế gây ra bao vụ án oan khuất khốc liệt cho các công thần khai quốc.


        Tả tương quân Trần Nguyên Hãn đệ nhất công thần bị loại trước tiên tháng 3/1429. tiếp là Thái bảo huyện thượng hầu Phạm Văn Xảo bị giết vào tháng 12/1430, tiếp đến Nguyễn Chích, người có công xếp thứ tư sau Nguyễn Trãi, rồi đến một loạt các tướng có công khác bị giết: Lê Sát tháng 9/1437, Lê Ngân tháng 12/1437 (hai vị đều là tề tướng), người tài ba lỗi lạc như Nguyễn Trãi cũng phải buộc thôi việc về Côn sơn an trí cũng không yên mà vẫn rơi vào án oan Lệ chi viên rốt cục là cả 3 họ bị giết 1442…, ở cấp dưới và ngoài xã hội còn ác liệt hơn nhiều.


         Trong triều có lẽ bầu không khí vô cùng căng thẳng, ngột ngạt…lắm không khéo chỉ sơ xuất dễ liên lụy mất mang như chơi và ngoài xã tắc không thể tránh khỏi rối loạn được.


         Ở chốn quan trường hành xử thế nào mà Triệu Thái vẫn đứng vững trên cương vị một quan có trách nhiệm là phải can gián vua, hoàn thành trách nhiệm của mình không chỉ phụng sự một đời vua mà đến ba đời vua của triều Lê. Đúng là một câu hỏi lớn cho đương thời và ngày nay. Theo thiển ý của tôi Người là một Nho sinh Người là khai khoa Minh Kinh khoa đâu tiên triều Lê, trên phương diện tri thức Nho học hẳn người có kiến thức rất uyên thâm về (Tứ thư, ngũ kinh…) nhất là Trung dung mới có thể đứng vững tồn tại trước phong gió bão táp cuộc đời phải nói là khốc ác liệt dưới triều Lê.


         Xin phép chỉ nêu nên nội dung chính của đạo Trung dung mà Khổng Tử đã chỉ ra: “Nói không quá lời, làm việc không quá nguyên tắc, không chiếm hết công lao, không đùn đây sai lầm, không nên thiên, không nên lệch bên nào, không được thái quá hay bất cập”…


        Với thời đại ấy, với điều kiên lich sử ấy Người có thể là bậc thầy về vân dụng xử thế theo đạo Trung Dung của cổ nhân.


         7/ Là thành hoàng thứ tư được thờ tự tại đình Hoàng Chung.


        Hoàng Chung quê hương của Người là vùng bán sơn đia lại là rốn nước của huyện Lập Thạch dân thường gọi “là chiêm khê mùa thối”, một vùng quê nghèo, nhân dân lại rất cần cù. Theo tài liệu của các nhà nghiên cứu, tộc phả Triệu tộc, và di tích “đá cụ nghè” để lại trên cánh đồng Khoang. Thời kỳ Người tu lý ở quê, cụ có công rời làng từ Nga Sơn, Nga Lĩnh về Hoàng Chung. Kiến trúc làng đến nay có nhiều thay đổi nhưng cũng còn nhiều dấu tích về đường đi đình, chùa, đền, miếu có nhiều lơi ich cho dân cư, như: Tiết kiệm đất đai, bảo đảm an ninh, có điều kiện cho quê hương tiếp tục phát triển và cải tạo hệ thồng thủy lợi tưới tiêu cho quê hương khắc phục cảnh “chiêm khê mùa thối”, xây dựng quê hương hưng thịnh ngày một an lạc.


        Với công lao với đất nước và quê hương Người đã cùng ba vị đại vương được nhân dân tôn, vua ban sắc phong Thành hoàng làng. Hiện đình Hoàng Chung còn lưu giữ 5 sắc phong. Trong đó có 3 sắc phong có liên quan đến phong thần cho Triệu Thái. Xin được trích một phần nội dung sắc Đồng Khánh 1887 tiêu biểu:


“… Sắc tuấn lương đồng nha tam vị chi thần, tuấn lương Triệu tướng công tự Thái thụy Cự Tuấn phủ, quân chi thần hưởng lại, hộ quốc tỷ dân  mẫn chí linh ứng, tiết mông ban cấp …Chuẩn hữu Sơn Tây tỉnh, Lập Thạch, huyên Hoàng Chung xã y cựu phụng sự thần khâm tài”.


 Dịch: “Sắc phong 3 vị thần tuấn lương đống nha và vị thần là tướng công họ Triệu tự là Thái, thụy là Cự Tuấn. Từ trước tới naycác vị thần đã hiển linh giúp nước, giúp dân nay đến tiết trẫm ban cấp sắc để lưu truyền sự thờ cúng…”.


Người là vị thành hoàng thứ tư được lưu thờ ờ tại đình, được tỉnh Vĩnh Phú công nhận di tịch cấp tỉnh năm 1994. Xuân thu nhị kỳ nhân dân đều tổ chúc lễ hội tế lễ tưởng nhớ tri ân công đức cùa các thành hoàng và cầu mong sự bảo hộ che chở của các ngàì (mùa xuân vào ngày 10 tháng Giêng, mùa thu vào ngày 4 tháng Một ).


          Ngoài đình ra Hoàng Chung còn có miếu, chùa và đền thờ danh nhân Triệu Thái, hình thành một khu di tích lich sử văn hóa.


          Đền thờ danh nhân Triệu Thái theo gia phả Triệu tộc được biết đền xây dựng từ lúc người còn tại thế, khi Người mất, con trưởng Triệu Bồ và thứ nam Triệu Tiệp lập đàn tế Người một tuần, như thế đền được xây dựng và cuối thế kỷ 15, trùng tu quy mô lớn vào1832, kiến trúc mang đâm nét kiến trúc thời Nguyễn. Gần đây thập niên 90 trùng tu, lần này kiến trúc thay đổi nhiều với 3 gian đại bái 1 gian hậu cung kiến trúc chữđinh, mái võng các đầu đao vươn lên, giữ cho đền cân bằng âm dương, trời đất, làm cho đền vẫn mang dáng vẻ uy nghi bề thế, trầm mặc, tĩnh tại, uy linh  của một di tích lịch sử văn hóa.


Năm 1994 đền được nhà nước công nhân là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Hàng năm cháu con Triệu tộc tổ chức tế lễ tri ân công đức Người mùa xuân vào ngày 27 tháng Hai, mùa thu vào 15 tháng Chín âm lịch.


          Về tác phẩm Người còn lưu lại trong tộc phả ở tư đường 15 bài thơ chữ Nho nội dung nói lên nỗi lòng mình với quê hương, đất nước, thời cuộc…


         II- Danh nhân Triệu Thái qua sự tích và truyền tụng dân gian.


          1/ Thế gia.


           Xuất thân từ một gia đình thuần nông không phải là danh gia vọng tộc. Một gia đình nông thôn ngheo thủa ban đầu khởi gia ở xứ Mả vàng tức là Nga Sơn,nên đến nay Hoàng Chung vẫn còn câu: “Trung Sơn phát tích. Nga Lĩnh lưu truyền”


           Giải thích gốc tích làng Hoàng Chung trước đó bắt đầu từ Trung Sơn vốn có từ Nga Lĩnh. Nhà tranh vách đất ra ông bà có thên một con bò còm và con chó trăng nhưng chỉ có ba chân, hai ông bà quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, tranh thủ con làm thuê làm mướn lam lũ thế mà vẫn không đủ ăn. Vốn dĩ là người nông dân chân chỉ hạt bột luôn sông theo nếp nhà “Giấy rách phải giữ lấy lề, Đói cho sạch rách cho thơm”; tuy đói rách nhưng sông rất thanh cao. Hòa đồng với láng ghiềng, sống tôn hiền, trọng thiện, sẵn sàng  nhừng cơm xẻ áo cho những người nghèo kém may mắn hơn mình, không mất lòng mọi người, được bà con chòm xóm yêu thương đùm bọc.


            Sống với nhau hai ông bà tóc đã hoa râm khao khát cho vui cửa vui nhà chưa nói gì đến nối dõi tông đường mãi vẫn chưa có một mụn con. Nhưng ông bà vẫn an ủi thương yêu nhau, sống thủy chung có trước có sau, tin vào vận mênh hướng về tương lai, mặc cho tiếng bấc tiêng chì của họ hàng thôn xóm.


2/ Sống biết đủ biết dừng giữ lòng thanh bạch tất phúc lộc, bình an sẽ đến.


            Xong thời vụ ông thường chăn bò ở cánh đồng Khoang đi kèm theo bao giờ con chó trắng ba chân cũng đi theo. Trong lúc ngồi nghỉ Con cún con cũng mon men lại nằm bên cạnh,tay vuốt ve con chó ông ngước nhìn về cuối trờ xa xăm bỗng có người nông dân trạc tuổi ông đến gần rồi ngồi bên vuốt ve con chó hỏi ông:


-          Cụ có thể cho tôi xin con chó này có được không?


          Là người thật thà thương người dầu lòng thơm thảo ông thản nhiên trả lời:


- Ừ cho anh đấy anh mang nó đi. Xong người ấy lại bỏ đi.


         Ngày hôm sau cũng vào thời gian ấy, địa điểm ấy, người ấy lại xuất hiện lại gần cũng hỏi xin cụ con chó cụ cũng vui vẻ nhân lời rồi người ấy lại bỏ đi.


          Đến ngày thứ ba cụ lại ra chăn bò ở đó con chó vẫn theo đang ngồi nghỉ người ấy lại xuất hiện lại gần hỏi cụ:


-          Cụ cho tôi xin con chó này nhé?


          Cụ trả lời:


          -Hình như hai hôm trước anh đã đến đây hỏi xin con chó này phải không?


         Anh đó trả lời cụ:


         -Thưa cụ phải ạ.


         Cụ bảo:


          -Ngay từ hôm đầu tôi đã đồng ý cho anh rồi cơ mà sao anh còn hỏi mãi thế?


         Anh đó trả lời tiếp:


-          Nếu cụ cho tôi thực thì cụ về thịt nó bầy ra mâm ngày mai vào giơ này cụ mang ra đây.


          Cụ về làm thịt chó, hôm sau bày ra mâm, khi đi chăn bò vào giờ ấy cụ bê mâm thịt chó đến và gọi:


-          Anh hôm qua đâu ra mà ăn đi.


        Chỉ ít phút sau người đó xuất hiện bảo cụ và ngồi ăn hết con chó, xong anh ta nói:


-          Không giám giấu cụ tôi là thần giữ của ở sau nhà cụ, thấy cả đời cụ là người cần cù lam lũ chất phác thật thà luôn biết đủ biết dừng tuy cuộc sống có nghèo nàn vẫn sống vui an phận không oán trời oán đất, đố kỵ vời người. Tôi mách cụ có 3 hũ vàng ở sau nhà cụ ra đào lên mà dùng cho đời đỡ khổ, tôi đã đánh dấu 3 vạch vôi rồi đấy.


Cụ tỏ ra bình thản, ậm ờ cho qua chuyện.


         Về nhà cơm nước xong cụ đi ngủ như mọi khi một mạch đến sáng, trời sáng lúc nào không biết, cụ dậy lúc sau mói nhớ ra cụ ra sau vườn đào 3 hố, đúng là có 3 hũ. Hai cụ khiêng vào trong buồng để cạnh giường cũng không ngó ngàng gì biết đây là của người có phải của mình đâu.


         Cuộc sống của hai cụ vẫn bình thản trôi đi, một thời gian sau có hai người khách Tầu đến quanh vườn nhà cụ ngó nghiêng tìm kiếm hồi lâu không thấy, hỏi cụ:


-          Cụ ở đây lâu ngày từ trước đến nay có đào được cái gì không.


         Cụ tự nhiên kể hết sự tình và dẫn khách vào buồng lấy 3 hũ vàng ra, hai khách rất ngạc nhiên là 3 hũ vàng vẫn còn nguyên si, họ rất vui mừng, cản động thực lòng biếu cụ một hũ cụ không nhận, họ lại nài nỉ cố tình biếu cụ một ít cụ cũng không nhận và nói:


-          Của các chú thì các chú cứ lấy; của người không thể nào là phúc ta được, tôi biết số của này thì cả xã cả tổng này cũng không ai có đâu, ở đời không phải của mình mà mình hưởng lộc, lộc ấy sẽ vô hậu, không bền đâu, mà có khi còn mang họa đấy.


         Thế rồi cuối cùng hai người khách Tầu ấy đành nhận cả nhưng trong lòng vừa ấy náy vừa cảm phục người nông dân nghèo trong sạch, thanh bạch “Trọng nghĩa khinh tài” hiếm có ở đời. 


         3/ Cả đời ăn ở phúc đúc gieo nhân thiện gặt quả phúc.


         Ngày tháng cứ trôi đi hai cụ vẫn sống trong cảnh tfhanh bần nhưng rất vui vẻ hạnh phúc của tuổi xế chiều, rồi một hôm hai ông khách Tầu ấy lại xất hiện nói với cụ:


-          Hai anh em tôi là người lần trước đến tìm vàng được cụ trao lại, chúng tôi thấy hai cụ tuy nghèo nhưng sống rất nhân hậu, trọng nghĩa coi thường lợi, ơn này vô cùng to lớn; để đáp đền chúng tôi xin giúp cụ đặt một ngôi mộ phát… ít nhất cũng phải được hai đời.


        Cụ trầm ngâm suy nghĩ trả lời:


       - Các anh thấy đấy gia cảnh nhà tôi thế này vợ chồng tôi lại già yếu làm sao mà làm được. 


Một người nói:


       - Cụ không ngại chỉ cần cụ thuận lòng chỉ ngôi mộ cần táng còn mọi việc anh em chúng tôi giúp đến nơi đến chốn.


Sau khi chỉ dẫn hai người khách Tầu, hai người Tầu bí mật táng xong mộ cạnh chùa, về nhà nói với cụ:


-          Hẹn cụ 5 năm nữa chúng tôi sẽ quay lại, cụ ở lại thời gian sau nếu có ai đến hỏi ở nhờ thì cụ cho người ta ở, mà xin lại làm thiếp cụ nhớ là phải chấp nhận nhé.


      Qua năm sau đến vụ gặt có người đàn bà tuổi ngoại 30 đến xin ở trọ đi gặt thuê, hết vụ gặt người đó nói:


        - Sau một thời gian ở nhờ cụ làm thuê, thấy gia đình cụ có nghèo nhưng sống rất nhân hậu, hiền thảo, tôi hiện không có gia đình, xin ở lại làm bạn với cụ, cụ có ưng thuân không ạ?


Nhớ tới lời hai ông khách Tầu, cụ ưng thuận vui vẻ để người ấy ở lại làm thiếp.


        Hai bà sống thương nhau như chị em ruột không có xích mích, không có tiếng bấc tiếng chì nào, cụ ông chăn sóc thương yêu hai bà đúng đạo của người chồng, mọi viêc trong gia đinh họ hàng, hàng xóm láng giềng xử thế tình nghĩa, công bằng, phân minh rõ ràng; gia đình tràn đầy hạnh phúc nhất là khi sau vài năm đã có 3 cậu con trai khỏe mạnh tuấn tú chào đời; trong nhà lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười vui vẻ.


        Tròn 5 năm năm sau hai ông khách Tầu trước kia y hẹn đã đến. Chủ khách tay bắt mặt mừng, cụ làm cơm mời khách. Trước khi hai người khách ra về một người nói:


-          Cụ cho tôi xin cậu cả tôi đưa sang Trung Quốc để cho cậu ấy ăn học sau này đỗ đạt thành tài sẽ cho cậu ấy về để phụng dưỡng các cụ. Ba cụ vui vẻ đồng ý, cậu cả chính là Triệu Thái với trí thông minh trời phú ở Trung Quốc, Người đã đỗ tiến sỹ đời Vĩnh Lạc triều Minh, làm quan đến chức Hàn lâm học sỹ. Nghe tin trong nước Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa kháng chiến chống quân Minh xâm lược, Người khôn khéo xin về phụng dưỡng cha mẹ già (Đối với Nho giáo thì 100 hạnh, hiếu là trước tiên ). Về nước, Người theo Lê Lợi tham gia kháng chiến chống quân Minh. Năm Thuận Thiên thứ 2 khoa thi Minh Kinh (Tháng 5 năm 1429) Người đỗ đầu, trở thành người khai khoa của nhà Lê sơ và cũng là người khai khoa của Triệu tôc, sau đó 68 năm sau Triệu Tuyên Phù cháu gọi người bằng bác ruột cũng đỗ đệ nhị giáp đồng tiến sỹ xuất thân. Thật là linh nghiệm với lời tiên đoán của hai người khách địa lý Tầu trước kia.


          Được giáo dục trong nền giáo dục Nho giáo luôn lấy “Tiên học lễ hậu học văn” làm trước tiên. Coi trong thực dạy, thực học, thực thí, thưc tài, thực quan. Ở cương vị nào người cũng là người xuất sắc, không những đỗ tiến sỹ ở Trung Quốc mà con là người khai khoa của vương triều Lê sơ, trên dưới 20 năm phục vụ xuất sắc 3 đời vua, góp phần chọn chính xác người hiền tài cho đất nước, chủ trì giúp vua soạn thảo hiệu chỉnh bộ luật Hồng Đức, ngoại giao giữ vững biên cương của tổ quốc hoàn thành nhiệm vụ chức trách của vi quan Ngự sử đài Thị ngự sử chức quan vô cùng quan trọng trong triều.


         Người hoàn toàn xứng đáng là nhà tri thức Nho học có đạo đức thanh cao, có học thức uyên bác, có tài xử thế mẫu mực, Người thưc sự là nhà khoa bảng, danh nhân của Triệu tộc của quê hương đất tổ nói riêng đất nước nói chung. Đền thờ Người đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (1994), tên Người và cháu Người cũng được đặt tên cho 2 phố đẹp của thành phố Vĩnh Yên quê hương, và tên Người còn đặt tên cho một trường THPT huyện Lập Thạch.


Người là niềm tự hào của con cháu Triệu tộc và niềm tin yêu của quê hương đất nước.


Ngày 15 tháng 9 năm 2017. Kính dâng lên hương hồn Cụ Tổ Triệu Thái,  nhân ngày tế THU Danh nhân thành hoàng Triệu Thái.


Vũ Truyết - Triệu Duy Thiếu.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


__


Tham khảo:


        1/ Gia phả họ Triệu ở Hoàng Trung, Đông ích, Lập Thạch, Vĩnh phúc.


         2/ Đại Việt sử ký toàn thư.


         3/ Đại nam nhất thống chí.


          4/ Việt sử thông giám cương mục.


          5/Lịch triều hiến chương loại chí.


          6/ Kiến văn tiểu lục.


          7/ Văn miếu quốc tử giám và 82 bia tiến sỹ.


          8/ Các nhà khoa bảng Việt Nam.


          9/ Tứ thư ngũ kinh.


          10/ Các tham luận hội thảo nghiên cứu về danh nhân Triệu Thái năm 1991.


           11/ Hồ sơ di tích đình Hoàng Chung.


*Là hậu hậu duệ của Triệu tộc tuy không có nguồn gốc xuất xứ từ Hoàng Chung, trên góc độ huyết thống Triệu tộc hàng ngàn năm, tôi là Vũ Truyết - Triệu Duy Thiếu, rất tự hào ngưỡng mộ về Người. Tôi đã cố công nghiên cứu sưu tầm thuật lại, trước tiên để con cháu Triệu tộc noi theo Người sống học tập tiếp nối tiền nhân để làm vẻ vang cho Triệu tộc, góp công vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chắc chắn có nhiều sơ xuất nếu có phạm húy mong các vị trưởng lão, huynh, đệ, con cháu Triệu tộc trên quê hương Người thông cảm thứ lỗi. – Vũ Truyết.


 


Đền Triệu Thái


Quyết định: Đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 259- VH/QĐ ngày 12 tháng 02 năm 1994


Địa chỉ di tích: xã Đồng Ích, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.


Đền Triệu Thái thờ  Lưỡng quốc Trạng nguyên Triệu Thái. Đền có diện tích rộng khoảng 500m2, bằng phẳng, với kiến trúc bằng gỗ.


 Lưỡng quốc Trạng nguyên Triệu Thái là người xã Hoàng Chung, huyện Lập Thạch, thuộc Tây Đạo (nay là thôn Hoàng Chung, xã Đồng Ích). Ông xuất thân từ một gia đình nông dân, được theo học trường Nho dưới thời thuộc Minh. Nhưng vì trong nước lúc đó chỉ là quận, huyện thuộc sự thống trị dưới triều đình Vĩnh Lạc (1403-1424), nên về thể chế không thể tổ chức được hai kì thi đại khoa tuyển chọn tiến sĩ là thi Hội và thi Đình (Giao chỉ quận chỉ có thẩm quyền tổ chức kì thi Hương, tuyển chọn cử nhân và sinh đồ).


Muốn ra làm quan, không có con đường nào khác, ông Triệu Thái phải lặn lội sang tận kinh đô Trung Quốc, lúc đó là Yên Kinh để ứng thi. Ông đã thi đỗ tiến sĩ dưới triều vua Vĩnh Lạc, rồi nhận chức quan học sĩ Viện Hàn lâm trong triều đình Trung Quốc. Năm 1428, khi nước nhà đã giành độc lập, ông mới xin phép nhà vua, với lí do về quê thăm cha mẹ, rồi ở lại quê nhà.


Thời kì này ông có công lao lớn với dân làng là ông đã quy hoạch làng Hoàng Chung với một con đường ở bìa làng, nối liền 2 làng cổ là Đại Lữ và Tiên Lữ giữa cánh đồng chiêm trũng, các ngõ rẽ đều vuông góc với đường trục, có khoảng cách hai nhà giáp lưng vào nhau, tạo thành ngõ xương cá, rất tiện cho sinh hoạt và trị an. Giáp đường về mặt phía Tây Nam, chia thành từng ô lấy đất đắp nền làng, trồng tre chắn gió, rào làng. Các ô đất trũng trở thành ao, dân làng chuyên cấy rau cần về mùa đông, cũng là một nguồn thu lợi về kinh tế.


Ngày 25 tháng 2 năm Kỷ dậu (1429), Hoàng đế Lê Lợi tổ chức khoa thi Minh Kinh, để tuyển dụng người tài giỏi “Hiền, Lương, Phương, Chính” (tài giỏi, lương thiện, đức hạnh, ngay thẳng) bổ sung vào hàng ngũ quan lại trong triều đình sau chiến tranh giành độc lập.


Triệu Thái dự thi với tư cách là người ẩn sĩ và đã đỗ danh sách thứ nhất. Sau khi đỗ, ông nhận chức quan Thị Ngự sử (Lê Thánh Tông đổi gọi Đô Ngự Sử). Ông được Hoàng đế Lê Lợi giao cho việc định ra luật lệ của nhà Lê. Những đạo luật ban hành năm Canh Tuất (1430) và chương về tiền sản gồm 14 điều bổ sung năm Kỷ Tỵ thời Thái Hoà (1449) đều có công đóng góp của ông.


Sau khi ông mất được ban tên thuỵ là Cự Tuấn, được dân xã Hoàng Chung suy tôn, phối thờ ở đình làng cùng với 3 vị thành hoàng Đông Nha Tam Vị Đại Vương và được triều đình phong “Thần”. Tên ông có trong ba đạo sắc hợp phong và một đạo biệt phong là sắc triều Nguyễn, thờ ở đình.


 


Đền Triệu Thái


Đền Triệu Thái xã Đồng Ích, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 259- VH/QĐ ngày 12 tháng 02 năm 1994


Đền Triệu Thái thờ  Lưỡng quốc Trạng nguyên Triệu Thái. Đền có diện tích rộng khoảng 500m2, bằng phẳng, với kiến trúc bằng gỗ.


Lưỡng quốc Trạng nguyên Triệu Thái là người xã Hoàng Chung, huyện Lập Thạch, thuộc Tây Đạo (nay là thôn Hoàng Chung, xã Đồng Ích). Ông xuất thân từ một gia đình nông dân, được theo học trường Nho dưới thời thuộc Minh. Nhưng vì trong nước lúc đó chỉ là quận, huyện thuộc sự thống trị dưới triều đình Vĩnh Lạc (1403-1424), nên về thể chế không thể tổ chức được hai kì thi đại khoa tuyển chọn tiến sĩ là thi Hội và thi Đình (Giao chỉ quận chỉ có thẩm quyền tổ chức kì thi Hương, tuyển chọn cử nhân và sinh đồ).


Muốn ra làm quan, không có con đường nào khác, ông Triệu Thái phải lặn lội sang tận kinh đô Trung Quốc, lúc đó là Yên Kinh để ứng thi. Ông đã thi đỗ tiến sĩ dưới triều vua Vĩnh Lạc, rồi nhận chức quan học sĩ Viện Hàn lâm trong triều đình Trung Quốc. Năm 1428, khi nước nhà đã giành độc lập, ông mới xin phép nhà vua, với lí do về quê thăm cha mẹ, rồi ở lại quê nhà.


Thời kì này ông có công lao lớn với dân làng là ông đã quy hoạch làng Hoàng Chung với một con đường ở bìa làng, nối liền 2 làng cổ là Đại Lữ và Tiên Lữ giữa cánh đồng chiêm trũng, các ngõ rẽ đều vuông góc với đường trục, có khoảng cách hai nhà giáp lưng vào nhau, tạo thành ngõ xương cá, rất tiện cho sinh hoạt và trị an. Giáp đường về mặt phía Tây Nam, chia thành từng ô lấy đất đắp nền làng, trồng tre chắn gió, rào làng. Các ô đất trũng trở thành ao, dân làng chuyên cấy rau cần về mùa đông, cũng là một nguồn thu lợi về kinh tế.


Ngày 25 tháng 2 năm Kỷ dậu (1429), Hoàng đế Lê Lợi tổ chức khoa thi Minh Kinh, để tuyển dụng người tài giỏi “Hiền, Lương, Phương, Chính” (tài giỏi, lương thiện, đức hạnh, ngay thẳng) bổ sung vào hàng ngũ quan lại trong triều đình sau chiến tranh giành độc lập.


Triệu Thái dự thi với tư cách là người ẩn sĩ và đã đỗ danh sách thứ nhất. Sau khi đỗ, ông nhận chức quan Thị Ngự sử (Lê Thánh Tông đổi gọi Đô Ngự Sử). Ông được Hoàng đế Lê Lợi giao cho việc định ra luật lệ của nhà Lê. Những đạo luật ban hành năm Canh Tuất (1430) và chương về tiền sản gồm 14 điều bổ sung năm Kỷ Tỵ thời Thái Hoà (1449) đều có công đóng góp của ông.


Sau khi ông mất được ban tên thuỵ là Cự Tuấn, được dân xã Hoàng Chung suy tôn, phối thờ ở đình làng cùng với 3 vị thành hoàng Đông Nha Tam Vị Đại Vương và được triều đình phong “Thần”. Tên ông có trong ba đạo sắc hợp phong và một đạo biệt phong là sắc triều Nguyễn, thờ ở đình.


ditichlichsuvanhoa.com






[1] Nhà văn Triệu Xuân: Đời vua Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long), từ 1434 đến 1442, đặt hai Niên hiệu: Thiệu Bình (1434-39) và Đại Bảo (1440-1442).




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhân Ngày Nhà Giáo VN 20/11/2017: Những điều ít biết về Thầy tôi – Nhà thơ Thúc Hà - Nguyễn Văn Thanh 18.11.2017
Thuyết trình khoa học với chủ đề: Tính hiện đại của tiểu thuyết M. Proust - Tư liệu 13.11.2017
Tàu sân bay Mỹ sẽ đến thăm cảng Việt Nam - Tư liệu 12.11.2017
Hoàng Như Mai văn tập - Đoàn Lê Giang 12.11.2017
hai bài của GS Trần Hữu Tá viết về GS, NGND Hoàng Như Mai - Trần Hữu Tá 12.11.2017
DONALD TRUMP phát biểu tại APEC, Đà Nẵng, ngày 10-11-2017 - DONALD John Trump 11.11.2017
Kiểm dịch "Luận chiến văn chương" (quyển 4) của Chu Giang, Nguyễn Văn Lưu - Kiều Mai Sơn 07.11.2017
Cụ Triệu Thái - cùng thời Nguyễn Trãi - Danh nhân đất Việt - Vũ Truyết 06.11.2017
Cát Bà & huyện Cát Hải, Hải Phòng - Nhiều tác giả 05.11.2017
Tỷ phú cá vược Trương Văn Trị - Tư liệu sưu tầm 02.11.2017
xem thêm »