tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21054362
24.10.2017
Tư liệu
Nước Nga và nền kinh tế hậu dầu mỏ



Nguồn: Vitaly Kazakov, “Russia and the Post-Oil Economy”, Project Syndicate, 10/06/2016.


Biên dịch: Trương Thái Tiểu Long


Ngành công nghiệp dầu mỏ có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Nga. Trên phương diện toàn cầu, nước Nga chẳng hề kém cạnh trong các lĩnh vực quốc phòng, vũ trụ, năng lượng hạt nhân, khoáng sản và công nghệ thông tin. Tuy vậy, không có ngành nào trong số này có thể sánh được với ngành xuất khẩu dầu khí. Đối với một người Nga bình thường, nền kinh tế quốc gia có vẻ được cơ cấu quanh việc đổi các thùng dầu để lấy xe hơi và điện thoại thông minh. Dĩ nhiên vấn đề là giá dầu đã giảm và các thùng dầu ấy ngày càng mua được ít hàng nhập khẩu hơn.


Doanh thu từ dầu cũng như doanh thu từ hầu hết các mặt hàng khác, đều mang tính chu kỳ, và những đợt sụt giảm bất ngờ cũng chẳng có gì bất thường. Nhưng sẽ là sai lầm đối với những nước như Nga khi cho rằng giá dầu sẽ lại tăng. Đợt giảm giá gần đây là dấu hiệu của một thay đổi về cơ cấu chưa từng có tiền lệ trong lĩnh vực năng lượng – điều sẽ có những hệ quả chính trị đáng kể đối với các nước xuất khẩu dầu mỏ.


Trong suốt thế kỉ 20, dầu là nguồn tài nguyên có hạn và có vẻ như giá dầu chỉ có thể tăng. Khi nguồn dầu dễ tiếp cận cạn kiệt, việc khai thác những nguồn mới và ngày càng nhỏ khiến dầu ngày càng trở nên đắt đỏ. Khi giá tăng, chủ sở hữu may mắn của những nguồn dầu khí giá rẻ – nổi bật là Nga và các nước xuất khẩu dầu khí tại Trung Đông – đã thu được những khoản lợi nhuận ngày càng lớn.


Tuy nhiên, như thường lệ, sự kết hợp giữa giá cao và sức sáng tạo của loài người đã đưa đến nhiều giải pháp cho một nguồn hàng hóa có hạn. Ngành năng lượng đã chứng kiến những đột phá về công nghệ bắt nguồn từ cả bên trong (cách mạng dầu đá phiến tại Mỹ) lẫn bên ngoài ngành (năng lượng rẻ và có thể tái tạo).


Ngày nay, ở hầu hết những địa điểm thuận lợi nhất, năng lượng gió và năng lượng mặt trời chỉ tốn khoảng 0,03 đô la/kWh. Còn những mặt hàng tiêu dùng “xanh” thì ngày càng trở nên cạnh tranh hơn. Ví dụ, vào tháng Ba năm 2016, dòng xe hơi Model 3 chạy hoàn toàn bằng điện của hãng Tesla đã ra mắt với mức giá phải chăng vào khoảng 35.000 đô la. Trong vòng một tháng, đơn đặt hàng đã vượt mức 14 tỉ đô và khiến dòng xe này trở thành sản phẩm ra mắt thành công nhất trong lịch sử.


Khi các nguồn năng lượng mới ngày càng trở nên cạnh tranh, động lực giá của ngành dầu khí cũng được đặt trong tình trạng phải thay đổi. Sản xuất năng lượng sẽ không còn bị bó buộc vào một nguồn tài nguyên khan hiếm và ngày càng đắt đỏ mà ngược lại, cũng như với các ngành công nghệ khác, giá sẽ tiếp tục đi xuống.


Cuộc cách mạng công nghệ này sẽ có những hệ lụy chính trị nghiêm trọng. Trong phần lớn thời gian của thế kỉ 20, các nước đang phát triển có hai con đường để phát triển kinh tế. Một là tiếp nhận các nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản phương Tây, cho phép dòng vốn nước ngoài đổ vào và tận dụng lợi thế so sánh của nguồn lao động địa phương giá rẻ để tìm một phân khúc ngách trong nền kinh tế toàn cầu hóa mới nổi. Con đường kia là tìm kiếm và phát triển các nguồn dầu mỏ dồi dào, đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho sự phát triển bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu và thu lợi.


Các đặc điểm kinh tế của ngành công nghiệp dầu mỏ đã định hình nên quang cảnh chính trị ở những nước sản xuất dầu. Chính phủ ở những khu vực với nguồn dầu giá rẻ thỉnh thoảng xem nguồn lợi từ đó là một đặc ân thiêng liêng từ tạo hóa và tiêu tiền như thể nguồn lợi đó không bao giờ cạn kiệt.


Vài người như Ahmed Zaki Yamani – cựu bộ trưởng dầu mỏ của Ả Rập Saudi – từng cảnh báo rằng cách tiếp cận này là không bền vững. “30 năm sau sẽ có một lượng dầu khổng lồ mà không ai mua,” ông nói vào năm 2000. “Thời đại đồ đá kết thúc không phải là vì thiếu đá, và Thời đại dầu mỏ sẽ kết thúc rất lâu trước khi chúng ta cạn kiệt dầu.” Tuy nhiên, cho đến tận gần đây, những lời cảnh báo như thế hầu như lúc nào cũng bị làm ngơ.


Chỉ khi sự kết thúc thời kỳ bùng nổ giá dầu trở nên rõ ràng thì nhu cầu thay đổi mới được công nhận rộng rãi. Tại Ả Rập Saudi, nhiệm vụ hoàn thành “giấc mơ khác biệt” của thế hệ này vì một tương lai hậu dầu khí là của Mohammed bin Salman – người đứng thứ hai trong danh sách kế vị. Còn tại Nga, Tổng thống Vladimir Putin gần đây đã chỉ định cựu Phó Thủ tướng Alexei Kudrin để soạn thảo một chương trình kinh tế mới theo hướng tự do cho nước này.


Khi soạn thảo các cải cách, chính phủ hai nước cần khôn ngoan ghi nhớ rằng ngành năng lượng chỉ là một trong số rất nhiều ví dụ về cách mà công nghệ đang khiến những nguồn cung khan hiếm – dù là vốn, lao động hay một loại hàng hóa nào đó – ngày càng trở nên không còn quan trọng. Kinh tế học của thế kỉ 20 được định nghĩa bằng quỹ đạo phát triển phi mã của tri thức và công nghệ.


Con đường phát triển của những nước như Trung Quốc đang dần khép lại vì lao động giá rẻ đã không còn là một lợi thế trong nền kinh tế tri thức toàn cầu. Sự tăng trưởng mới để bắt kịp kinh tế toàn cầu sẽ phải dựa trên sự sao chép từ khuôn khổ thể chế của Mỹ và đầu tư vào giáo dục cũng như các trung tâm công nghệ theo kiểu Thung lũng Silicon.


Nếu nền kinh tế của một nước muốn nở rộ, nền kinh tế này cần phải sản sinh tri thức và tạo ra môi trường thuận lợi nhất để chuyển tri thức ấy thành tăng trưởng. Xét về chính sách thì điều đó có nghĩa là cần nhấn mạnh vào giáo dục và thực hiện các cải cách thể chế. Những ưu tiên hàng đầu phải bao gồm việc thiết lập nền pháp quyền, cụ thể là việc tạo ra một hệ thống pháp luật mạnh và độc lập để có thể bảo vệ các quyền về tài sản.


Đáng buồn thay, nhìn thấy con đường phía trước không đồng nghĩa với việc lựa chọn được con đường đúng. Trong những năm từ lúc kết thúc quá trình công nghiệp hóa vào những năm 1960 tại Nga và sự ra đời của Perestroika hai thập niên sau đó, quốc gia này đã trải qua một giai đoạn trì trệ kéo dài. Sự chần chừ rộng khắp khi tiến hành cải cách để chuẩn bị cho một thế giới hậu dầu mỏ có thể sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn tương tự trong những năm sắp tới.


Vitaly Kazakov là người điều hành chương trình Thạc sĩ Kinh tế học Năng lượng tại Trường New Economic School.


Copyright: Project Syndicate 2016 – Russia and the Post-Oil Economy


 


Tại sao nền kinh tế Nga sẽ không sụp đổ?


Nguồn: Charles Wyplosz, “Why Russia’s Economy Will Not Collapse,” Project Syndicate, 27/01/2015.


Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng


Cơn sụt giá chóng vánh của đồng rúp bất chấp nỗ lực tăng mạnh lãi suất đến dường như tuyệt vọng giữa đêm khuya[1] của Ngân hàng Trung ương Nga (CBR) hồi tháng trước đã làm dấy lên nỗi ám ảnh về cuộc khủng hoảng kinh tế Nga năm 1998. Quả thật, phương Tây đã tìm cách làm sống lại bóng ma đó trong cuộc đối đầu đang tiếp diễn với Tổng thống Nga Vladimir Putin. Nhưng dù nền kinh tế Nga chắc chắc đang gặp rắc rối, khả năng nó sụp đổ hoàn toàn lại rất thấp.


Dầu mỏ và khí đốt chiếm hơn 60% kim ngạch xuất khẩu của Nga; phần còn lại là các hàng hóa cơ bản khác. Do đó, sự sụt giảm giá dầu thế giới gần đây rõ ràng là một cú sốc đủ lớn – khi kết hợp với tác động của các biện pháp trừng phạt ngày càng khắt khe của phương Tây – để châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng đáng kể.


Tệ hơn, giá cả hàng hóa cơ bản được dự đoán là sẽ tiếp tục giữ ở mức thấp một thời gian. Trong trường hợp đó, tổn thất về mặt thu nhập sẽ không chỉ đơn giản là thách thức tạm thời.


Nhưng nền kinh tế Nga không phải là không có lối thoát – ít nhất là vào lúc này. Tình hình hiện nay rất khác so với tình hình năm 1998, khi đó Nga vừa bị thâm hụt tài khoản vãng lai , vừa bị thâm hụt ngân sách. Nga cần vay nợ và nó đã vay rất nhiều ngoại tệ. Tức là khi đồng rúp mất giá, các khoản nợ của Nga tăng lên. Cuối cùng, vỡ nợ là không thể tránh khỏi. Ngược lại, trong những năm gần đây, Nga đạt được thặng dư ngân sách khá lớn, và nợ công ở mức dưới 20% GDP. Đúng là thu nhập từ dầu mỏ và khí đốt, vốn chiếm phần lớn thu ngân sách của chính phủ, đã giảm đi một nửa nếu tính bằng đồng đô la. Nhưng đồng rúp cũng rớt giá với mức phần trăm tương tự, tức là thu nhập của chính phủ tính bằng đồng rúp không có nhiều thay đổi.


Tương tự, cán cân tài khoản vãng lai của Nga chủ yếu ở mức thặng dư trong những năm gần đây. Tổng nợ công và nợ tư ngoài nước ở mức dưới 40% GDP, đa phần tính bằng đồng rúp. Sự sụt giảm doanh thu xuất khẩu đang thay đổi tình hình nhanh chóng, nhưng xuất phát điểm của Nga khá thuận lợi. Việc lo sợ (bây giờ) sẽ là quá sớm.


Giá đồng rúp rơi tự do chủ yếu là do luồng vốn chảy ra. Giới đầu sỏ chính trị nổi tiếng của Nga đã cất giữ hầu hết tài sản của họ ở nước ngoài, nhưng giữ lại khoản tiết kiệm đáng kể trong nước. Khi tình hình kinh tế và chính trị suy giảm, nhiều khả năng họ sẽ rút thêm tiền ra. Các khoản tiết kiệm nhỏ cũng có đủ mọi lý do để chuyển sang ngoại tệ.


Điều này đặt CBR vào vị trí đầy thách thức. Đồng rúp mất giá chắc chắn làm tăng lạm phát, vốn đang ở khoảng 11%, cao hơn nhiều so với mục tiêu 5% của CBR. Trong bối cảnh đó, việc tăng mạnh lãi suất là hết sức hợp lý, và các quan chức có thể hi vọng điều đó sẽ ngăn nguồn vốn chảy ra ngoài – bất chấp rủi ro rằng nếu quyết định tăng lãi suất bị hiểu nhầm là nhằm bảo vệ đồng rúp (khỏi bị sụp đổ), có thể nó sẽ có tác dụng ngược.


Vấn đề là lãi suất cao sẽ có khả năng khiến cơn suy thoái kinh tế của Nga thêm trầm trọng, dễ biến CBR trở thành kẻ giơ đầu chịu báng. Dù ngân hàng trung ương không phải là kẻ gây ra những rắc rối của Nga – như đồng rúp rớt giá, suy thoái kinh tế, lạm phát bùng nổ – và chuyện lấy lãi suất để ngăn chặn luồng vốn chảy ra luôn thất bại, nhưng những chính trị gia đang nguy khốn vẫn có thể đổ lỗi cho CBR.


Mối đe dọa đối với Pitun là rõ ràng. Ông có nguy cơ chịu chung số phận như người tiền nhiệm Boris Yeltsin, cũng giữ chức tổng thống trong giai đoạn giá dầu thấp bất thường. Đến giờ Putin vẫn may mắn khi lên nắm quyền lúc giá dầu mới bắt đầu tăng. Hầu hết người dân Nga đều cho việc mức sống tăng trong hai thập niên sau suốt nhiều năm suy thoái là công lao của ông.


Việc Putin quyết định không thực hiện những cải cách vốn có thể tạo nên một ngành xuất khẩu phi dầu lửa vững mạnh nhưng không được lòng dân có thể gây hại cho nền kinh tế về lâu về dài, nhưng nó cho phép ông duy trì sự ủng hộ rộng rãi của công chúng. Vận may kinh tế của ông cùng việc sẵn lòng đứng lên đối đầu phương Tây đã tạo nên một ấn tượng sai lầm ở nước Nga rằng nước này, một lần nữa, lại là cường quốc thế giới.


Nhiều người ở Mỹ và châu Âu tin rằng siết chặt áp lực kinh tế sẽ hạ gục được Putin. Đây là một canh bạc vô cùng nguy hiểm. Khi mức sống Nga suy giảm, chiến lược khả thi duy nhất của Putin để có thể tiếp tục nắm quyền sẽ là một vị thế quốc tế hiếu chiến. Nói cho cùng, các cuộc phiêu lưu quân sự ở nước ngoài là hấp dẫn nhất khi mặt trận trong nước đang gặp rắc rối.


Nói thế không có nghĩa là phương Tây nên cúi đầu và từ bỏ những nguyên tắc của mình. Nhưng thực sự đã đến lúc tìm một giải pháp ngoại giao không phụ thuộc vào giả định rằng nền kinh tế Nga sẽ sụp đổ.


Charles Wyplosz là Giáo sư Kinh tế Quốc tế và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Tiền tệ và Ngân hàng tại Viện sau Đại học về Nghiên cứu Quốc tế (Graduate Institute of International Studies), Geneva.


___


[1] Nga thông báo tăng lãi suất lên 17% vào lúc trước 1 giờ sáng, ngày 16/12/2014 – NHĐ.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế kỷ đẫm máu - Stephen Kotkin 07.11.2017
Nhà Lê sơ - Lê sơ triều - Tư liệu sưu tầm 06.11.2017
Đông Kinh Nghĩa Thục: Cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên ở VN - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
Mao, Tập và “Cơn bão tháng Giêng” - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Vai trò của Stalin trong Chiến tranh Triều Tiên - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
02/10/1966: Báo Liên Xô đưa tin sĩ quan Nga bị tấn công - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Đặng Tiểu Bình và quyết định của TQ tiến hành chiến tranh với VN - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Ngoại tộc giày xéo, cai trị Trung Quốc (2) - Hồ Bạch Thảo 03.11.2017
Dơi, bộ dơi, con dơi - Tư liệu sưu tầm 03.11.2017
xem thêm »