tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055779
Những bài báo
16.10.2017
Nhiều tác giả
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc



Những anh tài của trường học sinh miền Nam trên đất Bắc


Liệt sĩ - nhà thơ Lê Anh Xuân, tác giả của 'Dáng đứng Việt Nam'; NSND Trà Giang; nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được; Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân... là những gương mặt ưu tú của trường học sinh miền Nam.


Từ năm 1960 khi miền Bắc dồn lực chi viện cho chiến trường miền Nam, hàng chục nghìn cán bộ, giáo viên, học sinh trường miền Nam tình nguyện trở về giải phóng quê nhà. Họ góp mặt trên tất cả các chiến trường, là cán bộ, chiến sĩ, quân y, phóng viên, nhạc sĩ... Nhiều người trong số đó được tặng huân, huy chương, danh hiệu Anh hùng, dũng sĩ... và không ít đã anh dũng hy sinh như: nhà báo Chu Cẩm Phong (phóng viên Thông tấn xã Việt Nam), anh hùng Nguyễn Kim Vang, Phùng Ngọc Tường...


Liệt sĩ - nhà thơ Lê Anh Xuân (1940-1968), quê Bến Tre, tên thật là Ca Lê Hiến), sau khi tốt nghiệp ĐH Tổng hợp Hà Nội, được chọn ở lại trường giảng dạy, nhưng đã tình nguyện đi B. Không nề hà gian khổ, anh có mặt trên nhiều vùng chiến sự ác liệt và hàng đêm vẫn làm thơ. Từ tuyến lửa phương Nam, các tác phẩm của anh như: "Trở về quê nội", "Gặp những anh hùng", "Mùa xuân Sài Gòn, mùa xuân chiến thắng"... được các báo lớn trong và ngoài nước đăng tải.


Năm 1968, Lê Anh Xuân sáng tác bài "Dáng đứng Việt Nam" với niềm xúc động tự hào về cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc, qua dáng đứng hiên ngang của người chiến sĩ, chết rồi vẫn ở thế tiến công quân thù.


"Anh đã ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất,


Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng,


Và anh chết trong khi đang đứng bắn...


Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ,


Anh chẳng để lại gì cho riêng anh trước lúc lên đường,


Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ


Anh là chiến sĩ Giải phóng quân...


Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất,


Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân".


Bài thơ ngay lập tức được phát trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam và nhanh chóng lan tỏa, thôi thúc bao thanh niên Việt Nam tham gia cứu quốc. Hai tháng sau, Lê Anh Xuân hy sinh trong một trận càn, nhưng tác phẩm của anh đã được lưu truyền, trở thành một biểu tượng bi tráng của dân tộc anh hùng cầm súng chống giặc ngoại xâm. "Dáng đứng Việt Nam" khi góp mặt trong chương trình sách giáo khoa, đã được nhiều thế hệ học sinh về sau yêu thích.


Đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa, học sinh trường miền Nam số 24, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, sau là Hiệu trưởng trường Hàng không Việt Nam. Năm 1954, ông theo cha ra Bắc tập kết, mẹ ở lại quê hương Quảng Ngãi với cậu út mới một tháng tuổi.


 


Nguyễn Văn Nghĩa sau đó được đi học lái máy bay MIG-21 ở nước ngoài rồi về nước lập nhiều chiến công trên bầu trời bảo vệ miền Bắc. Biên đội MIG-21 do Anh hùng Nguyễn Văn Nghĩa đã được chọn bay dọc đại lộ Công Lý trong lễ mừng Đại thắng mùa xuân 1975 (ngày 15/5/1975) tại TP HCM.


Sau khi được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm và chỉ thị phải làm chủ máy bay F.5 của Mỹ, Anh hùng Nguyễn Văn Nghĩa là người đầu tiên chuyển sang lái thành thạo máy bay F.5. Trung đoàn của ông cũng trở thành đơn vị tiêm kích bom đầu tiên của không quân Việt Nam và sau đó được phong danh hiệu Anh hùng.


Sau ngày đất nước giải phóng, học sinh trường miền Nam tiếp tục góp sức vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhiều người trong số đó trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội như: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh, Chánh án Toà án nhân dân tối cao Việt Nam Trương Hòa Bình, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được, cựu Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Khoa Điềm...


Nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được (học sinh trường miền Nam số 24 Hà Đông, Hà Nội) luôn được bạn bè nể phục vì thành tích học tập xuất sắc. Học hết chương trình phổ thông, ông thi vào khoa Cơ khí của ĐH Bách khoa. Nhờ lực học giỏi, ông sau đó được chọn đi học tại Liên Xô và kết nạp Đảng Lao động Việt Nam ngay tại ĐH Bách khoa Kharkov.


Về nước, ông Trương Quang Được được bố trí đi dạy ĐH nhưng lại hăm hở vác balô đi cơ sở ở Nhà máy cơ khí 19-8 tại Hải Phòng. Từ một kỹ sư xông xáo, sáng tạo, ông Trương Quang Được liên tục được đề bạt các chức vụ cao hơn trong nhà máy, Đảng bộ Hải Phòng, Ban chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 8/2002, ông được cử làm Phó chủ tịch Quốc hội đến hết nhiệm kỳ khóa XI (2002-2007).


Trong công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng tinh nhuệ, hiện đại, các học sinh trường miền Nam cũng có những đóng góp quan trọng. Nhiều người trở thành tướng lĩnh tài năng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân như: Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng thường trực Bộ Công an; Thượng tướng Trương Quang Khánh; Trung tướng Bùi Quang Bền; Thiếu tướng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Tôn Thất...


Rất nhiều học sinh miền Nam trở thành những nhà khoa học đầu ngành trong các lĩnh vực như: GS.TSKH Nguyễn Khoa Sơn - Phó chủ tịch Hội Khoa học vũ trụ Việt Nam; GS.TS nhà giáo nhân dân Nguyễn Thanh Tuyền; GS.TSKH nhà giáo nhân dân Lê Du Phong… Học sinh miền Nam cũng góp mặt trong sự nghiệp văn học nghệ thuật của nước nhà với nhiều tên tuổi nổi tiếng như: nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền với "Hát mãi khúc quân hành"; NSND Tường Vi, NSND Trà Giang, NSND Lâm Tới, NSND Đinh Xuân La, NSND Đàm Liên…


Chia sẻ về những năm tháng được nuôi dưỡng, đào tạo trên đất Bắc để trở thành người có ích, diễn viên điện ảnh Trà Giang gọi "đó là những phần thưởng quý báu nhất mà tôi may mắn có được... Tôi luôn ghi nhớ với niềm biết ơn sâu sắc".


Quỳnh Trang


https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/nhung-anh-tai-cua-truong-hoc-sinh-mien-nam-tren-dat-bac-3122106.html


Cuộc dịch chuyển lịch sử của hơn 32.000 học sinh miền nam


Từ năm 1954 đến 1975, hơn 32.000 học sinh miền Nam lần lượt theo xe bộ đội, đi tàu thủy, đi bộ vượt dãy Trường Sơn… ra miền Bắc học tập. Hàng chục nghìn người trưởng thành lại trở về xây dựng miền Nam.


Năm 1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Cùng với việc tập kết bộ đội và cán bộ miền Nam ra Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ chủ trương đưa học sinh từ 6 -7 tuổi cho đến 19-20 tuổi là con em cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam từ các địa phương ra miền Bắc học tập. Nhiệm vụ là đào tạo thành đội ngũ kế cận cho cách mạng miền Nam cũng như cách mạng cả nước sau này.


Khi ông Hoàng Quốc Việt dẫn đầu đoàn đại biểu vào Nam nắm tình hình chuyển quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "…Nhắc nhở các cấp, các ngành quân, dân, chính ở miền Nam thực hiện nghiêm túc và chuẩn bị chu đáo việc đưa thiếu nhi, học sinh miền Nam tập kết theo đúng tiêu chuẩn, chính sách, khẩn trương và đảm bảo an toàn".


Học sinh trường số 18 Hải Phòng. Thời kỳ đó, Hải Phòng được gọi là thủ đô của học sinh miền Nam với tổng cộng 10 trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Ảnh: Tư liệu.


Từ năm 1954 đến 1975, hơn 32.000 học sinh miền Nam bằng nhiều con đường như theo bộ đội tập kết, đi tàu thủy ra Thanh Hóa, Hải Phòng, đi bộ vượt Trường Sơn... lần lượt ra vùng giải phóng. Những "hạt giống đỏ" năm xưa nằm trong diện tập kết do Bộ Giáo dục quản lý bao gồm: con em cán bộ miền Nam theo cha mẹ tập kết, học sinh có thành tích cao, con liệt sĩ. Ngoài ra, còn có học sinh vượt tuyến, học sinh miền Nam (Bình Trị Thiên, liên khu V) được ra Bắc học trong kháng chiến, nhưng không có cha mẹ ở miền Bắc và không liên lạc được với gia đình để có tiền tiếp tục ăn học. Một số cán bộ, bộ đội dưới 18 tuổi cũng được cho đi học văn hóa.


Thời gian đầu, học sinh được đón tiếp ở Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Hội (Nghệ An). Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1954, hơn 5.000 học trò miền Nam đã ra Bắc học tập. Sau này học sinh đông, các địa phương trên không đáp ứng được nơi ăn ở, chăm sóc y tế, trường lớp. Bộ Giáo dục và các bộ ngành liên quan được giao nhiệm vụ xây dựng những trường nội trú "thuận tiện giao thông, gần Hà Nội, gần Hồ Chủ tịch, gần Chính phủ" dành riêng cho học sinh miền Nam ăn học.


28 trường học sinh miền Nam (tên trường được gọi theo số thứ tự từ 1 đến 28) được thành lập ở các địa phương xung quanh Hà Nội, như: Hà Tây (cũ), Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nam… Nơi có nhiều trường nhất gồm Hà Đông (12 trường), thành phố Hải Phòng (10 trường). Ngoài ra, còn có các trại nhi đồng miền Nam và khu học sinh ở Quế Lâm, Nam Ninh (Trung Quốc) và hàng nghìn học sinh được gửi đi đào tạo ở Liên Xô, Đức.


Quy trình đào tạo học sinh miền Nam từ cấp nhà trẻ mẫu giáo, liền mạch đến trung học chuyên nghiệp, đại học. Những người có năng lực thì được chọn đi học cao hơn để về phục vụ đất nước. Học sinh miền Nam được đào tạo đa dạng các ngành nghề khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học quân sự, từ công nhân kỹ thuật thực hành đến chuyên gia nghiên cứu. Phương pháp đào tạo là tổ chức các trường nội trú, cùng nuôi dưỡng và dạy học.


Thực hiện tinh thần "Tất cả vì học sinh miền Nam thân yêu", đội ngũ giáo viên giảng dạy được lựa chọn kỹ càng, đào tạo bài bản, có trình độ và khả năng sư phạm. Đội ngũ này xuất phát từ hai nguồn, hoặc là giáo viên tập kết, lão luyện tay nghề, hoặc thầy cô được đào tạo ở các trường sư phạm miền Bắc, hoặc ở Trung Quốc để dạy học sinh miền Nam. Thầy cô cũng phải tạm xa gia đình, cùng ăn cùng ở, vừa giảng dạy vừa thay người thân chăm lo cho học trò miền Nam.


 


Trong những ngày đầu tập kết, chưa xây dựng được trường lớp, người dân miền Bắc dù còn nhiều khốn khó đã nhường cơm, sẻ áo, đùm bọc, đón nhận những đứa con của đồng bào, đồng chí miền Nam. Ngược lại, học sinh miền Nam cùng nhân dân miền Bắc khắc phục khó khăn, tiếp sức cho miền Nam đánh giặc. Các lứa học sinh miền Nam đã góp sức lao động sản xuất, đắp đê Gia Lương (Hà Bắc) bị vỡ, nạo vét kênh dẫn nước chống hạn hán ở Chương Mỹ (Hà Nội),


Nhà báo Đức Lượng, nguyên Phó tổng biên tập báo Nhân dân chia sẻ: "Ngày ấy, nhân dân miền Bắc mới được giải phóng, vừa cải cách ruộng đất, vừa khôi phục hòa bình, đời sống còn nhiều khó khăn. Nông dân huyện Quảng Xương (Thanh Hóa), nơi chúng tôi đặt chân đến còn đang đói. Khoai lang vừa bói củ bằng ngón tay đã phải dỡ lên ăn. Người già ốm đau, trẻ con được bát cháo hoa là điều hiếm lắm. Vậy mà chúng tôi có tất cả để ăn học nên người". Còn diễn viên điện ảnh, nghệ sĩ nhân dân Trà Giang (học sinh miền Nam tập kết ra Bắc năm 1955) gọi quãng thời gian học trường miền Nam ở Hải Phòng là những tháng năm tươi đẹp nhất đời.


Năm 1975, miền Nam được giải phóng, các học sinh được đưa trở lại quê hương tiếp tục học tập, công tác, một số ở lại miền Bắc làm việc và xây dựng gia đình. Các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc cũng dần đóng cửa. Cuộc dịch chuyển học sinh quy mô lớn nhất lịch sử được đánh giá thành công trên cả ba phương diện: đào tạo con người, mô hình giáo dục và chiến lược đào tạo lâu dài.


Phần lớn học sinh miền Nam sau tốt nghiệp phổ thông trung học được tuyển vào các trường đại học, cao đẳng trên cả nước và cử đi đào tạo ở nước ngoài. Đến năm 1975, hơn 15.000 học sinh miền Nam được đào tạo qua bậc đại học và sau đại học ở các trường đại học trong và ngoài nước.


Nhiều người trở thành cán bộ cao cấp trong chính quyền, như các ông Trương Quang Được, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng; bà Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em; ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Thượng tướng công an Nguyễn Khánh Toàn; đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa, nguyên Hiệu trưởng trường Hàng không Việt Nam. Nhiều học sinh miền Nam ra Bắc khi còn tuổi nhi đồng, sau này làm rạng danh học sinh miền Nam, như Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Kso Phước...


GS.TS Lê Du Phong, nguyên Hiệu trưởng ĐH Kinh tế quốc dân, Trưởng ban liên lạc học sinh miền Nam trên đất Bắc khẳng định: "Các thế hệ học sinh miền Nam dù ở đâu, trên cương vị nào cũng không bao giờ quên công ơn của Đảng, Bác Hồ, các thầy, cô, chú đã nuôi dưỡng, tình cảm của đồng bào miền Bắc dành cho các thế hệ học trò miền Nam. Có học sinh trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã dặn dò anh em rằng 'Hãy ghi trên bia mộ tôi là học sinh miền Nam và nhớ khi gặp lại thầy cô, cho tôi gửi lời thăm hỏi và xin lỗi vì những điều đã làm các thầy cô phiền lòng".


Về mô hình giáo dục, dù chỉ tồn tại 21 năm (1954–1975), các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc được đánh giá là đã góp phần đào tạo hàng chục nghìn người con ưu tú đáp ứng yêu cầu cung cấp cán bộ, nhân tài cho các ban ngành, địa phương của miền Nam và trên cả nước. Trường học sinh miền Nam là mô hình, phương pháp tổ chức, đào tạo giáo dục của một loại hình giáo dục đặc biệt để lại nhiều bài học cho ngành trong chiến lược trồng người của đất nước.


Việc đưa học sinh miền Nam ra ngoài Bắc học tập được coi là quyết sách đúng đắn, kịp thời, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ phục vụ cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, đặc biệt là việc xây dựng lại miền Nam khi nước nhà thống nhất. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng đánh giá: "Đây là vườn ươm đặc biệt, ươm những hạt giống quý báu vào bậc nhất mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân miền Bắc đã dành cho miền Nam từ những ngày gian khó".


 


Hoàng Phương


https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/cuoc-dich-chuyen-lich-su-cua-hon-32-000-hoc-sinh-mien-nam-3120192.html?ctr=related_news_click


Người dân miền Bắc nhường cơm, sẻ áo cho học sinh miền Nam


Những ngày đầu ra miền Bắc, bà Lê Ngọc Mẫn và các học sinh miền Nam được bố trí về nhà dân ở. Gia đình bà đến ở chỉ có chiếc giường tre, vợ chồng chủ nhà đã nhường cho học sinh miền Nam, còn mình và hai con nhỏ lui về mé bếp, trải ổ rơm nằm ngủ.


Năm 1954, theo chủ trương của Chính phủ và Hồ Chủ tịch, cô bé Lê Ngọc Mẫn (7 tuổi, quê Quảng Ngãi) được đưa ra miền Bắc học trường học sinh miền Nam. Đêm trước khi đi, mẹ ôm Mẫn khóc thút thít vì thương con gái nhỏ tuổi đã phải xa gia đình. Chẳng phụ sự tin tưởng trao gửi của đồng bào miền Nam, gần 20 năm sống trên đất Bắc, nữ sinh Mẫn và 32.000 học sinh trường miền Nam được nhân dân đón tiếp, bao bọc, nuôi dạy như con em.


Cựu học sinh trường miền Nam giờ đây vẫn nhớ như in câu chuyện của 60 năm trước, khi đi tàu ra Bắc bị say sóng, được bộ đội chăm sóc tận tình. Tàu cập bến Cửa Hội (Nghệ An), cả rừng người áo nâu, cầm nón đã đứng đợi như đón những đứa con đi xa trở về nhà. Cảnh tượng ấy khiến cô bé Mẫn cùng các bạn thấy yên lòng khi lần đầu tiên xa gia đình, đặt chân đến vùng giải phóng.


Đồng bào miền Bắc, cả rừng người áo nâu, đứng đón chào tàu chở cán bộ, học sinh miền Nam ra tập kết, như đón chào người thân đi xa trở về nhà. Ảnh tư liệu.


"Các trường học sinh miền Nam chưa kịp xây dựng nên chúng tôi được bố trí thành nhóm 3-5 người ở nhờ nhà dân vùng Diễn Châu (Nghệ An). Trong làng, chỉ còn người già, phụ nữ, trẻ em, không thấy bóng dáng đàn ông, có lẽ họ ra trận hết rồi", bà Mẫn kể lại.


Nhóm của bà Mẫn được ở nhờ ngôi nhà tranh của cặp vợ chồng có 2 con nhỏ. Khi các học sinh miền Nam đến, căn buồng đã được dọn dẹp sạch sẽ. Chiếc giường tre duy nhất trong nhà dành cho học sinh miền Nam, còn chủ nhà lui về mé bếp, trải ổ rơm nằm ngủ. Trẻ con khi ấy vô tâm, mãi sau này bà Mẫn và các bạn mới biết.


Ở nhà dân, học sinh miền Nam vẫn có bếp ăn tập thể riêng. Có lần đi ăn cơm về, đang tíu tít đùa cùng các bạn, bà Mẫn thấy cô chủ nhà lúi húi làm gì đó nên tò mò vào xem. Nhìn thấy chiếc nồi trên bếp đang đun dở thứ gì đó đen đen, hóa ra là lá khoai lang cùng rễ cây nấu nhuyễn thay cơm, mấy cô cháu nhìn nhau rưng rưng nước mắt.


Từ đó mỗi bữa ăn, bà Mẫn và các học sinh miền Nam lại để dành một vắt cơm nhỏ đem về cho con của chủ nhà. Sau này chia tay để vào trường học sinh miền Nam ở Hải Phòng, mấy chị em cứ ôm những đứa trẻ con chủ nhà mà hôn hít, lưu luyến không rời.


Bà Mẫn (quê Quảng Ngãi) ra Bắc học tập từ năm 7 tuổi và nhận được nhiều tình cảm thương yêu, đùm bọc của đồng bào vùng giải phóng. Bà và bạn bè vẫn bảo nhau, kể với con cháu rằng, không có nhân dân miền Bắc, sẽ chẳng có các thế hệ học sinh miền Nam thành đạt như ngày nay. Ảnh: Hoàng Phương.


Bà Bùi Thị Huệ (72 tuổi, quê Quảng Ngãi) nhớ mãi cảm giác lần đầu tiên biết đến nằm ổ rơm, ăn khoai nước với người dân Đông Quan (Thái Bình). Bà kể, quê lúa khi ấy nghèo lắm, nhưng đồng bào vẫn dành những thứ tốt đẹp nhất cho học sinh miền Nam. Do chưa quen khí hậu mùa đông lạnh giá, nhiều em bị ốm, các bác chủ nhà lại lót ổ rơm dưới manh chiếu mỏng để học sinh nằm cho ấm.


Có lần, bà Huệ cùng các bạn được chủ nhà cho ăn một củ khoai nước rất to đã được luộc chín rồi vùi trong tro để nở bung, thơm lừng và không bị ngứa. "Sau này có điều kiện ăn sang mặc đẹp, nhưng hương vị của củ khoai 60 năm trước vẫn khiến tôi có cảm giác ngon hơn mọi thứ trên đời", bà Huệ nhớ lại.


Theo đoàn học sinh miền Nam ra Bắc năm 1954, bà Đặng Thị Chín (68 tuổi, quê Đồng Tháp) vẫn nhớ như in cái Tết đầu tiên xa nhà. "Nghệ An năm đó đói lắm nhưng bà con vẫn dành dụm gạo đỗ làm bánh chưng, bánh tét, tổ chức cái Tết đầu tiên xa nhà nhưng đầm ấm cho học sinh miền Nam", bà Chín kể.


Những năm sau khi về trường học sinh miền Nam ở Hải Phòng học, mỗi dịp Tết, em nào ở lại lớp sẽ được bà con tặng bánh, xôi, chè. Dịp Tết năm 1964, Chính phủ có chủ trương học sinh miền Nam về nhà dân ăn Tết, vừa biết tin, các tiểu thương chợ Sắt (Hải Phòng) đã đổ đến nhận các cháu về. "Nhiều gia đình đến muộn không đưa được học sinh về nhà đón Tết cứ đứng giữa sân trường khóc rưng rưng", bà Chín kể.


Ông Nguyễn Tuấn (69 tuổi, quê Quảng Ngãi) may mắn hơn khi có gia đình tập kết ngoài Hà Nội nên ngày Tết được về sum họp. Không có tiền, ông cùng bạn bè đi bộ hơn 100 km từ Hải Phòng về và khi nào mệt, đói bụng thì dừng lại xin vào nhà dân tá túc. "Đồng bào miền Bắc nhắc đến học sinh miền Nam đều thương lắm. Ai cũng nhận chúng tôi về nhà cho ăn, ngủ đoàng hoàng", ông Tuấn kể.


Người học sinh khi xưa nghẹn ngào chia sẻ, suốt hơn 10 năm sống trên đất Bắc, quá nhiều lần ông chứng kiến cảnh bà con nhận ăn cám để nhường cơm trắng cho những "hạt giống đỏ" miền Nam. Mùa hè nóng bức đi gặt lúa, tăng gia sản xuất cùng nhân dân, bữa cơm quây quần, chủ nhà lại ngồi quạt mát cho các trò ăn xong rồi mình mới dùng bữa. Đám nam sinh quậy phá, trộm mía, trộm mì, người dân biết nhưng vẫn dành tình yêu thương, dành của ngon, đồ ấm cho.


"Không có đồng bào miền Bắc đùm bọc, hy sinh, tận tình nuôi dưỡng, sẽ không có những thế hệ học sinh miền Nam thành tài ngày nay", ông Tuấn nói.


Vợ chồng bác sĩ Hiền (ngoài cùng bên trái) và các học sinh trường miền Nam trên đất Bắc đến thăm tượng đài đồng bào miền Bắc chở che cho các "hạt giống đỏ" miền Nam tại TP Hải Phòng. Nơi đây, từ những năm 1954 đến 1975 đã đón khoảng 15.000 con em miền Nam ra học. Ảnh: Quỳnh Trang.


Vợ chồng bác sĩ Hiền (70 tuổi, Quảng Ngãi) lại có tình cảm sâu đậm với gia đình ở Tuyên Quang đã nhận mình làm con nuôi, đưa về nhà chung sống. Bà Hiền bảo, bố mẹ ruột cũng không chăm sóc bà chu đáo như bố mẹ nuôi. Khi bà sinh em bé đầu tiên, cô con gái của gia đình chủ chẳng ngại tã bẩn, suốt ngày giặt giũ, dọn dẹp, lo ăn uống cho chị và cháu nuôi.


Ngày ông bà Hiền xin chuyển ra ở riêng cho gần nơi làm việc, bố mẹ nuôi cứ buồn rầu níu giữ. Thương con, nhớ cháu, những ngày vợ chồng bác sĩ Hiền bận không thể về thăm, bố mẹ nuôi lại tự động đến trường đón cháu về tắm rửa, cho ăn. Bà Hiền gọi những ngày sống trên đất Tuyên Quang với gia đình bố mẹ nuôi là thời gian "thần tiên" vì được chăm sóc quá chu đáo. Bố mẹ nuôi, thậm chí còn muốn chia sẻ cơ ngơi, để vợ chồng bà ở luôn ngoài Bắc sinh sống.


"Các cụ đã khóc rất nhiều khi chúng tôi quyết định trở lại quê hương làm việc. Giờ đây khi bố mẹ đã mất, vợ chồng tôi và em gái nuôi vẫn giữ tình cảm keo sơn như ruột thịt trong gia đình", bà Hiền kể.


 


Vợ chồng bà Hiền và bao thế hệ học sinh khác của trường miền Nam luôn ghi nhớ công ơn đồng bào miền Bắc. Hơn 3.000 học sinh khi xưa, nay tóc đã bạc, da nhăn nheo, họp mặt trong lễ kỷ niệm 60 năm của nhà trường (ngày 14/12) vẫn bảo nhau rằng, mục tiêu đầu tiên của ngày lễ này là để tri ân nhân dân miền Bắc.


Quỳnh Trang - Hoàng Phương


https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/nguoi-dan-mien-bac-nhuong-com-se-ao-cho-hoc-sinh-mien-nam-3121002.html


Ký ức thầy trò miền Nam những ngày sống trên đất Bắc


Với 32.000 học sinh miền Nam, mái trường khi xưa vừa là nơi học tập, vừa là gia đình, thầy cô giáo là người truyền kiến thức, cũng là người thân.


Năm 1954, khi học sinh miền Nam tập kết dần ra Bắc, Bộ Giáo dục lựa chọn những giáo viên đủ tiêu chuẩn: lý lịch tốt, hoặc là giáo viên tập kết, hoặc tốt nghiệp trường sư phạm miền Bắc, có lòng yêu mến học sinh, ngoài tuổi trẻ phải có năng khiếu thể dục thể thao... để có thể đào tạo tốt nhất cho những "hạt giống đỏ" miền Nam. Trong 21 năm, hơn 5.000 giáo viên được lựa chọn để vào giảng dạy tại các trường học sinh miền Nam.


28 trường miền Nam ở Hà Nội và các tỉnh lân cận thời đó đều được tổ chức theo mô hình trường nội trú. Giáo viên cùng ăn, cùng ở, cùng học tập với học sinh. Trong công tác quản lý và giảng dạy đều có giáo viên người miền Nam và miền Bắc phối hợp đảm nhận. Nhà trường không để thời gian nhàn rỗi vì sợ học sinh buồn chán. Ngoài giờ học, các em tăng gia sản xuất, hoạt động ngoại khóa. Học sinh miền Nam rất ham mê văn nghệ, thể thao. Thầy cô giáo dạy học trò dân ca quan họ, chèo của miền Bắc. Học sinh lại dạy thầy múa lâm thon, ca vọng cổ, câu hò miền Nam. Tình cảm thầy trò vì thế càng thêm khăng khít.


Thầy Lê Vạn Phiên từng dạy trường miền Nam số 9 (Quảng Ngọc, Quảng Xương), một trong những người đi đón học sinh miền Nam sớm nhất ở Sầm Sơn (Thanh Hóa) kể lại: "Khi ấy chúng tôi đều nhận thức đây là chủ trương lớn của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm đào tạo lực lượng cách mạng để xây dựng miền Nam sau này nên càng ý thức được trách nhiệm lớn lao của người thầy khi về trường học sinh miền Nam dạy học. Mái trường khi ấy vừa là nơi học tập, vừa là gia đình, thầy cô giáo vừa dạy học, cũng là người thân".


Lúc đó Thanh Hóa đã chuẩn bị nhiều trường học, dù là tranh tre nứa lá, nhưng sạch sẽ để đón học sinh. Các em được tổ chức thành lớp khoảng 40 người. Ban ngày học tập, vui chơi ở trường, tối lại về ngủ ở nhà dân.


Ông giáo già 89 tuổi kể lại, các em lần đầu xa nhà, khóc nhiều vì nhớ gia đình. Có em nhớ ba má đã trốn trường, tìm về bến Sầm Sơn để mong được gặp người thân. Toàn bộ giáo viên trong trường dọc tuyến đường xuống Sầm Sơn được huy động đi tìm suốt đêm. Đến sáng thì thầy cô thấy học sinh đang khóc ở vệ đường. Từ đó, các giáo viên trong trường đều được phân xuống nhà dân để ở cùng các em.


Nhiều người trưởng thành từ những trường học sinh miền Nam lại quay trở về trường dạy, trở thành thầy giáo thế hệ 2. Thầy Lê Thái Phiên (73 tuổi) nằm trong số học sinh ra Bắc sớm vào đầu năm 1955, học trường miền Nam ở Chương Mỹ (Hà Nội). Sau thầy tốt nghiệp ĐH Hà Nội năm 1966 rồi về dạy tại trường bổ túc ở Đông Triều (Quảng Ninh).


Mỗi lần tiếp nhận một lứa học sinh mới, thầy Phiên đều dặn dò: "Miền Nam đang đánh giặc, đồng bào miền Bắc còn nghèo, nhưng ưu tiên cho các em ăn no mặc ấm để học. Các em học không giỏi, không nên người thì có tội với ba má, với nhân dân hai miền. Thầy từng trải qua thời niên thiếu của học sinh miền Nam rồi nên rất hiểu". Có học sinh sau này gặp lại thầy, hối hận vì ngày xưa không chịu học cho bằng bạn bằng bè. Thầy chỉ cười, bảo: "Thầy dặn rồi mà bọn bây không nghe, ráng chịu".


Thầy Nguyễn Có (93 tuổi), người cao tuổi nhất trong số hơn 500 giáo viên dạy học sinh miền Nam có mặt tại lễ kỷ niệm 60 năm học sinh miền Nam trên đất Bắc. "Tôi ra đi mang theo những kỷ niệm thân thương/ Về mái trường học sinh miền Nam trên đất Bắc/ Trong đó, tôi chỉ như hạt cát/ Góp một phần chăm sóc các em/ Tôi tự hào đã chung sức làm nên/ Bao kỳ tích học sinh miền Nam trên đất Bắc/ Tôi mang theo hình ảnh 'đàn chim non xa mẹ' mà tôi đã 'thay cha hôm sớm vỗ về', thầy chia sẻ. Ảnh: Hoàng Phương.


Với các thế hệ học trò miền Nam, các thầy cô được xem như người thân. Nhắc lại câu chuyện ra Bắc học tập, ông Hóa (69 tuổi) kể khi học ở Hải Phòng, trường nam và trường nữ được phân rõ. Cánh nam sinh của trường miền Nam nghịch nổi tiếng đất Hải Phòng. Mỗi lần quậy phá, trộm mía, mì của nhân dân lại bị nhà trường phạt nghiêm khắc bằng cách cho đứng ở tổ kiến lửa, hay đặt thanh sắt lên mông để thầy "làm thẳng thanh sắt bị cong".


Cứ tối tối sau khi học bổ túc về, các thầy lại ghé qua khu nội trú để mắc màn cho những bạn ngủ quên. Học trò còn nhỏ, hay tè dầm, thầy cặm cụi đem quần áo, chăn màn đi giặt. Những ai trên lớp học bài chưa hiểu sẽ được thầy kèm cặp tận tình. Trong trí nhớ của cậu học trò miền Nam khi ấy, thầy giáo tên Trung (quê Hải Dương), chủ nhiệm lớp 5-6 để lại ấn tượng sâu sắc nhất.


"Một sáng mùa đông, thầy đi lật chăn gọi học sinh dậy tập thể dục. Vì rét quá, tôi không muốn ra ngoài nên đạp chân khiến thầy ngã nhào. Thầy Trung không trách phạt, còn chăm sóc tôi tận tình và giảng giải nhiều điều. Tôi nhận ra, phá phách không giải quyết được gì, từ đó chuyên tâm vào học tập rèn luyện", ông Hóa nhớ lại.


Bà Đặng Thị Chín (Đồng Tháp) và Nguyễn Thị Nhung (Quảng Ngãi) cùng tập kết ra Bắc năm 1954, học trường nữ học sinh miền Nam ở Hải Phòng lại không quên những lần bị ghẻ. Học trò được các cô bảo mẫu tắm lá sầu đông (lá xoan) cho khỏi ngứa. Lớp học gần 40 học sinh mà ngày nào cô cũng cần mẫn tắm táp, mắc màn cho từng em. Hai người phụ nữ gần 70 tuổi cười như trẻ thơ khi nhớ chuyện ngủ giường tầng ở trường nội trú, bị bạn giường trên tè dầm xuống. Để tránh mùi khai lan ra cả phòng, người bạn đó còn lấy nước dội thẳng lên người bà Nhung rồi sáng hôm sau tự đem màn, chiếu đi giặt.


Tết đến, học sinh miền Nam nhớ nhà thường khóc. Một số giáo viên về nhà, còn hầu hết thầy cô ở lại đón Tết cùng học trò. Để nguôi ngoai nỗi nhớ miền Nam, thầy trò thường cắt dán giấy màu, giả làm cành mai vàng đón Tết, cũng có bánh chưng, giò, cây nêu, đốt pháo rôm rả. Một số học sinh được người dân miền Bắc nhận làm con nuôi đón về nhà ăn Tết trong không khí ấm cúng của gia đình. Có khi không đón được, bà con lại mang quà bánh tặng học sinh.


Trong lứa học trò thời ấy, có những người sau này giữ vị trí cao trong các cơ quan nhà nước, như ông Ksor Phước, ông Ksor Nham... Dù làm chức cao nhưng đến ngày lễ, ngày Tết, học trò vẫn gọi điện chúc mừng thầy, hỏi thăm bạn cũ. Đó cũng là truyền thống tri ân của học trò miền Nam.


Hơn 32.000 học sinh ra đời ở miền Nam, nhưng lớn lên trong sự đùm bọc của nhân dân miền Bắc để trưởng thành, về xây dựng lại miền Nam. Nhà báo Đức Lượng, nguyên Phó Tổng biên tập báo Nhân dân ghi lại cảm xúc những năm tháng ấy: "Bù lại những mất mát, thiếu thốn tình cảm, chúng tôi lại có một thứ hạnh phúc vô ngần mà không biết sau này bao giờ các thế hệ trẻ mới có được may mắn như thế và hơn thế...". Còn nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được thì xúc động chuyển những điều muốn nói thành thơ: Nhớ sao hết thuở chim chuyền/ Ai người dìu dắt lớn lên từng ngày/ Chim non vỗ cánh tung bay/ Dễ đâu quên được những ngày rừng xưa...


Hoàng Phương - Quỳnh Trang


https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/ky-uc-thay-tro-mien-nam-nhung-ngay-song-tren-dat-bac-3120937.html


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhân Ngày Nhà Giáo VN 20/11/2017: Những điều ít biết về Thầy tôi – Nhà thơ Thúc Hà - Nguyễn Văn Thanh 18.11.2017
Thuyết trình khoa học với chủ đề: Tính hiện đại của tiểu thuyết M. Proust - Tư liệu 13.11.2017
Tàu sân bay Mỹ sẽ đến thăm cảng Việt Nam - Tư liệu 12.11.2017
Hoàng Như Mai văn tập - Đoàn Lê Giang 12.11.2017
hai bài của GS Trần Hữu Tá viết về GS, NGND Hoàng Như Mai - Trần Hữu Tá 12.11.2017
DONALD TRUMP phát biểu tại APEC, Đà Nẵng, ngày 10-11-2017 - DONALD John Trump 11.11.2017
Kiểm dịch "Luận chiến văn chương" (quyển 4) của Chu Giang, Nguyễn Văn Lưu - Kiều Mai Sơn 07.11.2017
Cụ Triệu Thái - cùng thời Nguyễn Trãi - Danh nhân đất Việt - Vũ Truyết 06.11.2017
Cát Bà & huyện Cát Hải, Hải Phòng - Nhiều tác giả 05.11.2017
Tỷ phú cá vược Trương Văn Trị - Tư liệu sưu tầm 02.11.2017
xem thêm »