tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21264434
Tiểu thuyết
09.10.2017
TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz
Thầy lang



Mọi người đều đồng ý thế, bà Okszana gạt nước mắt quay vào phòng ngủ. Sau bao đêm không chợp mắt, chính nàng cũng mệt lắm, nàng bước đi mà chân nặng như chì. Song khi đến gần giường người ốm, nàng cố mỉm cười, tỏ ra bình tĩnh. Nàng sợ rằng ánh mắt của Janek sẽ đọc được những ý nghĩ thật của nàng, những ý nghĩ khủng khiếp và đớn đau đang hành hạ tâm hồn tội nghiệp ấy. Khi chàng đã thiếp đi, nàng bèn quỳ xuống và cầu nguyện khẩn thiết.


- Lạy Chúa, hãy tha tội cho con, xin Người đừng trừng phạt con, đừng trả thù con! Đừng cướp anh ấy đi! Con có tội, con đã phạm nhiều điều ác, nhưng xin Người hãy tha thứ! Tha thứ cho con! Con không thể làm khác được!


Và lệ giàn giụa cả khuôn mặt gần như trong suốt của nàng, môi nàng run rẩy khi thì thầm những lời khó hiểu.


Nhưng Janek lại tỉnh ngay. Một cơn ho nữa hành hạ chàng và trên chiếc khăn lại hiện ra thêm một vệt máu nữa. Lại phải đưa nước đá cho chàng uống thuốc.


Đột nhiên, đến đêm chàng đỡ đau hơn. Cơn sốt lui hẳn. Chàng bảo nâng người lên để chàng ngồi dậy. Không một lời phản hồi, chàng uống cạn cốc kem sữa rồi nói:


- Anh thấy là anh sẽ sống!


- Chắc chắn rồi, hẳn thế rồi, anh Janku. Cơn nguy hiểm qua rồi, tất nhiên là thế. Anh đã thấy khỏe hơn. Rồi anh xem, chỉ tháng nữa là anh sẽ khỏe hoàn toàn thôi mà.


- Anh cũng nghĩ thế. Mariola chưa ngủ hả em?


Không khi nào chàng gọi con bằng cái tên ấy. Ngay từ đầu chàng đã không thích tên gọi ấy và chỉ gọi con là Marysia, khiến  Beata cũng quen dần.


- Vâng, con chưa ngủ. Nó đang làm bài.


- Thế ra em vẫn còn thì giờ dạy con học ư?


Chàng nín lặng, rồi lát sau chàng bảo:


- Lạy Chúa, anh đã mang đến cho em và con biết bao khổ cực.


- Janku! Sao anh có thể nói ra những lời kinh khủng nhường ấy! – Nàng hoảng hốt.


- Đó là sự thật.


- Chính anh cũng không tin điều đó. Anh đã mang lại cho em và con biết bao hạnh phúc, những niềm hạnh phúc đẹp nhất!


Chàng nhắm mắt thì thầm:


- Anh yêu em, Beata, càng ngày càng yêu đắm say hơn. Và chính tình yêu ấy không cho phép anh chết.


- Anh sẽ không chết, anh không thể chết được. Không có anh, cuộc sống đối với em sẽ tồi tệ hơn là cái chết. Nhưng chúng mình đừng nói tới chuyện ấy nữa anh. Chuyện ấy đã qua rồi, ơn Chúa! Anh biết không? Để em gọi Marysia nhé. Đã bao lâu con không được gặp anh rồi. Anh cho phép chứ?


- Không nên. Ở đây không khí đầy mầm bệnh. Chính anh đang lo khi nghĩ em phải thường xuyên thở hít chúng. Đối với buồng phổi trẻ thơ của con đó là thuốc độc.


- Vậy thì để con đứng ở ngưỡng cửa thôi cũng được. Anh hãy nói với con đôi lời. Anh không biết con hay đòi hỏi việc đó đến mức nào đâu.


- Thôi cũng được - chàng đồng ý.


 Beata hé cửa gọi:


- Marysia! Cha cho phép con rồi đấy.


- Cha ơi! - Từ trong nhà vang lên tiếng reo vui mừng rỡ, rồi tiếp đó là tiếng những bước chân chạy gấp gáp.


Cô bé chạy vào và đứng sững lại. Đã hai tuần em không được gặp mặt người ốm và những thay đổi trên mặt cha khiến em kinh hoàng.


- Hôm nay cha thấy đỡ hơn -  Beata vội nói - nhưng cha mới chỉ cho phép con đứng ở cửa mà thôi. Vài hôm nữa cha sẽ dậy được và hai cha con sẽ lại cùng nhau vào rừng con nhé.


- Con yêu của cha, dạo này con ra sao? - Oksza hỏi con.


- Cảm ơn cha. Cha biết không, cái cây bạch dương cong cạnh Sivy Ruczaj đã bị nước rửa trơ rễ ra rồi đấy?


- Nước rửa trơ ra rồi à?


- Vâng. Bác Makola bảo rằng nó sẽ đổ ngay bây giờ cho xem. Bác ấy còn bảo rằng anh Grysza, con trai bác ấy, hôm qua trông thấy bốn con nai ở chỗ suối cạn Huninski ấy. Chúng nó đi thành hàng một nối đuôi nhau, cha ạ.


- Chắc chúng nó từ Rừng Đỏ sang.


- Vâng, bác Makola cũng bảo thế.


- Thế con chưa quên hết môn thực vật và vật lý đấy chứ? - Chàng mỉm cười hỏi.


- Còn lâu, cha ạ! - Cô bé khẳng định và để chứng minh điều đó cô bắt đầu kể ra những gì cô đã tự học được. Sau một lúc trò chuyện Oksza gửi cho con một cái hôn gió để chia tay.


Tay chàng gầy và trắng một cách thiếu tự nhiên.


Khi Marysia đã ra, chàng nói:


- Con bé lớn nhanh thật. Mới mười hai tuổi mà nom đã gần bằng em rồi. Năm tới chúng mình sẽ phải gửi con đến trường thôi. Anh hy vọng rằng rốt cuộc công tước phu nhân cũng sẽ được phép đốn gỗ và khi ấy chúng ta sẽ lại vững vàng.


- Cầu Chúa ban cho. Cốt sao anh khỏe thật nhanh.


- Phải, phải - chàng hăng hái tán đồng - anh sẽ phải khỏe để lo công chuyện. Nếu không chặt hạ, anh đã quyết định sẽ tìm một chỗ làm khác. Phải rời bỏ Rừng đại ngàn Odryniecka thì thật là nặng nề, nhưng Marysia đã lớn rồi. Đó là điều quan trọng nhất.


Chàng hơi trầm ngâm rồi lát sau chàng hỏi:


- Em lại phải tiêu khá nhiều tiền thuốc thang phải không?


- Anh đừng lo chuyện ấy.


- Em biết không, anh cứ nghĩ rằng nếu bây giờ anh chết đi thì sau khi lo chuyện ma chay, em sẽ còn lại chẳng được mấy tí tiền nong. Điều đó hành hạ anh nhiều hơn cả... Có bán hết đồ đạc trong nhà thì em cũng chỉ đủ sống được một năm thôi. Nhất là những tấm thảm tranh cổ kia. Hình như chúng cũng giá trị đấy.


- Anh Janku! Anh nói gì thế! - Nàng kêu lên trách móc.


- Không, anh chỉ nhắc lại những gì anh suy nghĩ đó thôi. Anh cũng nghĩ rằng trong trường hợp anh có làm sao em có quyền nhắc người ta cấp cho một khoản tiền nào đó cho Marysia. Anh không nghĩ là ông Wilczur sẽ tìm được về. Nếu không, hẳn người ta sẽ viết trên báo. Chắc phải có một ai khác quản lý tài sản của ông ta, và Marysia có quyền hưởng tài sản đó.


Mặt  Beata đỏ bừng.


- Chính anh nói thế ư, Janku?! - Nàng kêu lên không giấu nổi vẻ bất bình.


Cho đến hôm nay, trong suốt năm năm qua, chưa bao giờ họ nhắc một lời nào đến giáo sư. Suốt năm năm trời kể từ khi chàng bảo nàng gửi hết các thứ quần áo của bé Marysia tặng một nhà nuôi trẻ nghèo nào đó.


Oksza nhìn xuống:


- Anh không có quyền bắt con phải sống đời nghèo khổ.


- Nhưng em không có quyền chìa tay xin tiền của ông ấy. Trăm lần, ngàn lần không, thà chết còn hơn. Không bao giờ, Janku, anh nghe không, không bao bao giờ!


- Thôi được rồi, chúng mình đừng nhắc đến chuyện ấy nữa đi em. Song em thấy đấy, nếu anh không sống nổi... Khi nghĩ rằng mình sẽ chết, anh thật kinh hoàng hình dung ra những điều sẽ xảy đến cho mẹ con em.


- Em biết may, biết thêu thùa, em có thể đi dạy thuê... Em có thể làm tất cả, trừ chuyện đó. Anh hãy nghĩ lại mà xem, em còn mặt mũi nào đến gặp những người thừa kế của ông ấy để mà đòi hỏi, em, kẻ mà bọn họ... có quyền coi là kẻ đã gây nên cái chết của ông. Vả lại, anh Janku, tại sao chúng mình nói tới việc ấy mà làm gì? Anh thấy đỡ hơn, ơn Chúa, mọi sự sẽ tốt đẹp vô cùng.


- Hẳn rồi, em thân yêu, chắc chắn là thế - anh áp mặt vào tay nàng.


- Anh thấy chưa! - Nàng tươi lên - Còn bây giờ anh phải cố ngủ đi nhé. Muộn rồi.


- Ừ. Anh thấy hơi buồn ngủ.


- Chúc anh ngủ ngon. Anh duy nhất của em, chúc anh ngon giấc. Giấc ngủ sẽ cho anh thêm sức.


- Chúc em ngủ ngon, niềm hạnh phúc của anh.


Nàng che đèn, quấn mình trong tấm chăn và ngả người trên ghế xô pha. Nhưng mười lăm phút sau nàng chợt nhớ ra còn phải cho anh uống thuốc nước trước khi đi ngủ.


Nàng nhổm dậy, đếm đúng mười hai giọt thuốc bốc mùi crozot, rót thêm nước, rồi cúi xuống phía người ốm.


- Janku - nàng khẽ gọi anh - anh uống thuốc đã này.


Chàng không tỉnh. Nàng nhẹ nhàng chạm vào tay anh và cúi người xuống phía anh.


Và lúc ấy nàng nhìn thấy đôi mắt anh đang mở trừng trừng.


Anh không còn sống nữa.


 


 


 


V.


Đúng chính giữa quãng đường từ Radoliszki đi Nieckupa, từ thuở xa xưa nào đó không ai nhớ nổi, đã có chiếc cối xay chạy bằng sức nước. Ngày trước, nó là tài sản của các cha thuộc dòng Bazili  ở tu viện Wiskuny được dựng lên vào triều vua Batory, còn bây giờ là tài sản của ông Prokop Sapien, người mà cả vùng đều gọi là Prokop Mielnik theo tiếng Bạch Nga.


Đất đai trong vùng không quá giàu có cũng chẳng quá phì nhiêu, chỉ là đất thường trồng khoai tây, hắc mạch, chủ yếu thuộc về các quý tộc nhỏ và nông dân, song ông Prokop vẫn không thiếu lúa mạch để xay, vì trong vùng chẳng hề có ai cạnh tranh, nếu không kể đến cái cối xay gió nằm cách đây năm cây số, tại làng Bierwinty của người Litva. Chiếc cối xay gió kia thì lại chẳng đủ phục vụ cho tám mươi nóc nhà, bởi người Litva nổi tiếng là giỏi canh tác, và chẳng phải là một người biết thu hoạch từ năm đêxiachin ruộng một lượng thóc lúa nhiều hơn nông dân Bạch Nga thu từ bảy hoặc tám đêxiachin.


Ở Nieckupa cũng thế. Ở đó có họ hàng nhà Moskale, những người theo cựu giáo, ngày xưa từ Nga di cư tới đây. Tất cả đều là những nông dân to lớn, khỏe mạnh, ham làm, họ có thể theo cày từ mờ sáng đến chập tối, mà họ cày rất sâu, ở Bierwinty người ta cũng chẳng cày sâu đến thế.


Còn ở Radoliszki thì cũng giống như ở mọi thị trấn khác, có dân Do Thái, họ chuyên nghề thu mua trên quy mô nhỏ ngũ cốc từ các làng xa để cung cấp cho nhu cầu của đám thị dân cũng như để tải đi Wilno. Nhờ họ, ông Prokop cũng có thêm việc làm. Vì vậy ông chẳng có gì để phàn nàn, và chỉ cần không có hạn hán, chỉ cần không thiếu nước trong các đầm chứa thì quả thực ông cũng chẳng có lý do để mà ca thán. Mà hạn hán thì rất hiếm hoi tại vùng này, thảng hoặc nếu có chăng cũng chẳng rõ nó phải kéo dài đến bao lâu mới không đủ nước cho cặp bánh xe. Bởi mặc dù các đầm chứa nước được đào từ vài trăm năm trước, nhưng rất sâu và vững chãi, cứ mười năm lại được vét bùn một lần để khỏi bị lau sậy mọc lấn.


Có ba đầm chứa tất cả. Hai cái thượng và một cái hạ. Quanh các đầm đều có những cây liễu mọc dày. Độ chênh mực nước so với đầm khá lớn, quãng hai sagien, ngoài máng dẫn chính đưa nước vào bánh guồng còn có thêm hai cống xả lũ nữa đề phòng khi lụt. Trong các đầm cá nhiều vô kể: nào cá dây, cá tuyết sông, cá rô, nhưng nhiều nhất vẫn là cá bống. Tôm cũng không thiếu, trong những hố sâu dưới lòng những bộ rễ cây đã bị nước rửa trôi đất, chúng tụ tập hàng trăm con. Hai chàng thợ phụ của ông Prokop, nhất là anh chàng Kaziuk trẻ tuổi hơn, rất thích bắt tôm. Nó đứng ngâm trong đất sâu ngập đến đầu gối, cứ mỗi lần cúi người xuống, thò tay vào hang sâu tới khuỷu hoặc hơn một chút là lại lôi ra được một chú tôm.


Thực ra chẳng có ai trong cối xay biết ăn tôm, người ta coi chúng như loài sâu bọ, nhưng trong thị trấn, ở Radoliszki, lúc nào cũng có thể bán chúng được ngay, cả cha cố thiên chúa giáo, cả cha cố chính giáo, lẫn ông đốc tờ, nhất là ông này - đều là những người rất thích chén tôm. Ông thích được trả công ba chục tôm hơn là hai chục trứng hay ba zloty.


Trong cái nhà máy ở cách thị trấn chừng mười hai viorsta  cũng không thiếu những người nghiện tôm nhưng muốn đến đấy phải có dịp. Đi bộ thì quá xa, mà ngựa thì ông Prokop chẳng bao giờ chịu cấp cho những chuyến vớ vẩn như thế, dù đó là con nghẽo đã già nua tuổi tác và béo ị như lợn. Thì thức ăn cho nó có bao giờ bị thiếu đâu. Chỉ nguyên đứng một chỗ thôi nó cũng luôn phải đổi chân và kêu rừ rừ ầm ĩ cả chuồng. Chuồng gia súc rất lớn, vững chãi, được xây dựng bằng những thanh gỗ tròn. Ngoài con ngựa ra còn có hai con bò sữa và lũ lợn trong các ngăn nữa. Cả chiếc xe và cỏ khô cũng được chứa dưới mái che.


Ngôi nhà được xây kề vào cối xay. Nhà có ba buồng trong đó ông Prokop sinh sống cùng gia đình và những người phụ việc, ngoài ra còn có một nhà ngang hoàn toàn mới mà ông làm cho con trai cả, anh Albin khi anh định lấy vợ. Từ khi Albin chết đi, nhà ngang vẫn để trống, vì đứa con trai thứ hai vừa dọn xuống đó hôm trước thì hôm sau đã gặp ngay tai họa. Người ta đồn rằng chắc có ai đó đã yểm bùa vào ngôi nhà ấy hoặc đã liếc cặp mắt độc vào móng nhà. Không biết có thật thế không, có điều chẳng ai muốn vào ở đó, mặc dù cũng có những kẻ nói vụng nói trộm rằng không phải cái nhà ngang bị yểm bùa độc mà chính Đức Chúa đã trừng phạt hậu duệ ông Prokop Mielnik vì tội ông đã đuổi em ruột mình đến nỗi phải bị gậy ra đi.


Những lời bàn tán vụng trộm ấy khiến ông Prokop tức kinh khủng. Ông không tài nào chịu nổi và không ít kẻ vì nỗi ngờ vực của mình đã bị ông trừng trị nặng nề.


Nhưng chắc hẳn trong chuyện đó cũng phải có một cái gì đó. Bởi lẽ ông Mielnik có tới ba anh con trai. Anh con thứ bị chết trận, anh con cả thì ngay trước đám cưới say rượu bước nhầm xuống mặt băng, băng vỡ, anh bị chết đuối. Còn đứa con trai út, khi đang đóng chiếc chêm vào cối ở tít trên cao thì bị ngã, may mà chưa mất mạng nhưng bị gãy cả hai chân. Người ta đưa bác sĩ đến, bác sĩ cố định hai chân anh ta vào ván, nhưng cũng chẳng ích gì. Anh đành chịu cảnh tàn tật suốt đời, không thể đi lại được. Đã suốt năm tháng trời nay anh chỉ nằm hoặc ngồi chẳng làm được một việc gì cả, mới mười tám tuổi đã trở thành gánh nặng cho cha.


Cô con gái cả cũng chẳng khiến cho ông Mielnik vui sướng gì. Cô ta lấy chồng làm thợ cả ở xưởng gạch, nhưng anh thợ cả nọ bị chết trong một trận hỏa tai, còn cô, đang lúc bụng mang dạ chửa nên sinh ra một đứa bé bệnh hoạn, mắc chứng động kinh.


Chính vì thế mà ông lão Prokop cứ âm thầm như đêm tối, nhìn ai cũng gườm gườm, mặc dù mọi người vẫn ghen với gia tài của ông, dù cái cối xay chẳng phải nghỉ việc bao giờ, còn bản thân ông chưa có điều gì phải kêu ca về sức khỏe.


Năm ấy, đến mùa thu ông lại có thêm một chuyện lo phiền nữa: anh chàng thợ phụ trẻ nhất Kaziuk, bị bắt sung vào lính. Ông lão Prokop không muốn lấy một kẻ vớ vẩn nào đó thay chân anh ta. Công việc ở cối xay đòi hỏi phải có trách nhiệm, phải thận trọng và có sức khỏe. Một tay mục đồng tầm thường không thể đảm đương nổi. Ông lão cứ cân nhắc mãi, cuối cùng chọn được gã Ninitka Romaniuk ở làng Poberedie. Cha Ninitka có hai con trai đã có vợ con, còn thằng trẻ nhất ông muốn cho lên phố kiếm việc làm. Nó vốn là thằng có sức khỏe, biết việc, thậm chí có bằng tốt nghiệp nữa kia.


Ý đã quyết, hôm thứ năm, đúng ngày phiên chợ tại Radoliszki, ông lão Prokop chuẩn bị lên đường. Từ cối xay đến xưởng cưa cũng chẳng xa xôi gì, chưa đến một dặm, mà trên đường thì nông dân đang lũ lượt kéo đi chợ phiên. Xe ngựa và xe kéo nối theo nhau. Ai cũng chào ông Mielnik, bởi lẽ mọi người đều biết ông. Cũng có những kẻ không hãm ngựa lại, vừa chào vừa tò mò liếc xem ông lão đón nhận sự trừng phạt của Chúa giáng xuống đứa con trai út của ông, cậu Wasiłka ra sao. Nhưng qua nét mặt của ông Prokop không thể nhận ra một điều gì hết. Cũng như mọi khi, ông chỉ nhíu mày và nhúc nhích bộ râu cằm nhọn hoắt đã nhuốm bạc của mình.


Cuối cùng, ông Romaniuk cũng tới. Chắc hẳn ông đi chợ sắm sửa, bởi xe ông rỗng không, đằng cuối xe là mụ vợ. Lão Prokop vẫy tay chào rồi bước theo cạnh xe. Họ siết chặt tay nhau.


- Thế nào, đằng ấy ra sao? - Ông Romaniuk hỏi. Bác vẫn đang tự vỗ béo đấy chứ, người anh em?


- Tôi đang sống nhờ lượng Chúa. Nhưng cũng có điều đang phải lo nghĩ đây.


- Tôi có nghe nói.


- Không phải chuyện ấy. Có điều người ta lôi thằng Kaziuk vào lính?


- Lôi vào lính à?


- Ừ, vào lính.


- Thế đấy?


- Ừ. Mà bác biết đấy, chỗ tôi kiếm tiền cũng khá. Người làm công chẳng những không bị đói mà còn để dôi ra được ít nhiều.


- Thì hẳn rồi - ông Romaniuk thừa nhận.


- Tôi có nghĩ, thằng bé Nikita nhà bác có thể làm được việc ấy chăng.


- Sao không?


- Nào, thế thì sao?


- Sao cái gì?


- Nào, thì việc thằng Nikita ấy?


- À, để nó đến chỗ ông làm phải không?


- Ừ.


Ông Romaniuk gãi gãi đầu, trong đôi mắt bạc màu nhỏ bé của ông thoáng lên niềm vui. Song ông cũng vẫn nói bằng giọng dửng dưng.


- Thằng bé khỏe đấy...


- Vậy thì ơn Chúa - Lão Prokop vội lầm bầm như thể sợ ông Romaniuk chợt nảy ra ý định hỏi thăm sức khỏe thằng Wasił nhà lão chăng - Có điều nó phải đến đúng thứ sáu tuần tới, vì thứ sáu thằng Kaziuk phải đi rồi.


- May mà ông nói, người anh em ạ, vì hiện nay nó không có nhà. Nó đang đi Osmian.


- Tìm việc à?


- Đúng vậy.


- Nhưng nó sẽ về chứ?


- Sao lại không về? Chốc nữa, tới Radoliszki tôi sẽ gửi bưu thiếp cho nó.


- Vậy thì hay lắm. Để sao cho thứ sáu...


- Tôi hiểu rồi.


- Bây giờ công việc nhiều, tôi không kham nổi nếu thiếu người làm - ông Prokop nói thêm.


- Nó sẽ đúng hẹn.


- Chào bác.


- Chào ông.


Ông Romaniuk lắc lắc dây cương, điều mà thực ra cũng chẳng làm cho con ngựa nhỏ bé lông xám bụng ỏng phải để ý, và ông chìm trong những suy tính đầy thỏa mãn. Thật là một phần thưởng lớn, khi mà trong ngần ấy người, lão Mielnik đã chọn chính con trai ông.


      Ông quay người lại nhìn vợ. Tấm khăn sau dày dặn phủ kín cả đầu bà, chỉ còn nom thấy mỗi mắt và mũi.


- Ông Mielnik lấy thằng Nikita của ta đấy - ông nói.


Bà vợ thở dài.


- Chúa tôi, lạy Chúa tôi!


Không rõ bà mừng vui hay lo lắng. Vả lại, ông Romaniuk cũng chưa bao giờ suy nghĩ kĩ về chuyện đó. Giọng bà vốn đã rền rĩ thế rồi.


Còn ông lão Prokop cũng mừng. Ông rất không thích đổi thay và những chuyện lo lắng. Thế là việc đã giải quyết xong. Ít nhất thì ông cũng tưởng thế cho đến tận buổi tối thứ sáu.


Hôm ấy, ông sửa soạn đóng sửa cối xay muộn hơn thường lệ. Ông cứ chờ mãi. Người nhà không hiểu tại sao ông lại cáu bẳn thế, vì ông chẳng nói với ai nửa lời. Nhưng trong lòng ông thì sôi sùng sục. Thì chính ông đã nói rõ ràng rằng nó phải đến đúng vào ngày thứ sáu kia mà! Thằng Kaziuk đi mất rồi. Từ ngày mai, việc sẽ bừa ra đấy, thế mà ở đây cứ phải đứng chờ, có bực không kia chứ!


- Mày cứ đợi đấy, đồ chó con mất dạy - lão khẽ gầm gừ, tay xoắn xoắn bộ râu.


Lão thề độc trong bụng sẽ không thèm nhận nó nữa, dù nó có đến ngay sáng sớm tinh mơ ngày mai. Thứ bẩy không phải là thứ sáu. Tốt nhất cứ lấy ngay một người ngoài đường, dù là kẻ cắp, còn hơn chịu nhận Nikita.


Nhưng ngày hôm sau Nikita vẫn cũng không ló mặt. Đành phải lấy tạm một người làm đỡ trong đám nông dân chở lúa đến xay.


Ngày hôm sau nữa là chủ nhật, cối xay nghỉ, lão Prokop cầu nguyện xong - mặc dù nỗi bực bội cản trở lão đọc kinh - bước ra trước nhà, ngồi xuống ghế dài. Lão sống trên đời đã ngần ấy năm mà chưa có ai lại đánh lừa lão như lần này. Lão muốn ban cho thằng bé một thứ đặc ân thế mà nó lại không thèm ló mặt đến. Chắc là ở Osmian nó đã tìm được việc làm nên không tới nữa, nhưng cái đó cũng chẳng thanh minh cho nó được kia mà.


- Rồi bọn Romaniuk còn phải nhớ đời về việc này - lão lẩm bẩm, rít tẩu thuốc.


(còn tiếp)


Nguồn: Thầy lang. Tiểu thuyết của Tadeusz Dołęga-Mostowicz . Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên tác tiếng Ba Lan. NXB Hội Nhà văn. Bản in lần thứ 19, tháng 7-2017.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »