tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21264485
Tiểu thuyết
09.10.2017
Boleslaw Prus
Búp bê



Chương 12. Chạy theo những chuyện không đâu


Vôkulxki chậm chạp mở lá thư của bà Meliton  định đọc, nhưng trong đầu vẫn lởn vởn những chuyện mới xảy ra. Ông có cảm giác ở cái góc không được chiếu sáng trong phòng làm việc của mình, ông vẫn nhìn thấy bóng tối dày đặc gần các bụi cây tại công viên Lazienki, những thân hình mờ ảo của mấy người ăn mặc rách rưới, những con người đã nhường đường cho ông, còn sau đó là gò đất cạnh cái giếng, nơi anh chàng Ôkhôxki  trút bầu tâm sự về lý tưởng. Nhưng khi ông ngước nhìn lên vầng sáng thì những bức tranh mờ ảo kia lập tức biến mất. Ông nhìn thấy chiếc đèn bàn có chụp màu xanh lá cây, một đống giấy tờ, mấy tấm đồng đặt trên bàn làm việc và đôi khi ông nghĩ rằng Ôkhôxki với cỗ máy biết bay cùng nỗi thất vọng của anh ta chỉ là  giấc chiêm bao.


“Thiên tài gì cậu ta? - Vôkulxki tự nhủ - chẳng qua cũng chỉ là một kẻ mơ mộng tầm thường!Cả tiểu thư Izabela nữa, nàng cũng chỉ là một phụ nữ bình thường như bao phụ nữ khác. Nếu nàng lấy ta - tốt thôi; còn nếu nàng không lấy ta - ta cũng có chết ngay đâu”.


Ông mở bức thư ra đọc.


“Thưa ông,có một tin rất quan trọng: Mấy hôm nữa gia đình Oenxki sẽ bán ngôi nhà cổ,  người mua duy nhất là nữ bá tước Ksêsôvska- cô em họ, đồng thời là kẻ thù của ngài Tômas. Tôi biết chắc bà ta chỉ trả cho ngôi nhà không quá sáu mươi ngàn rúp, và trong trường hợp này, món hồi môn cho tiểu thư Izabela dự kiến là ba mươi ngàn rúp sẽ còn hụt giảm. Đây là thời điểm thuận lợi, bởi tiểu thư Izabela, khi bị đặt giữa hai khả năng, một là bị cái nghèo đe dọa, hai là lấy ngài công tước, sẽ sẵn sàng chấp nhận bất cứ lối thoát nào khác. Tôi dự đoán rằng ông sẽ không bỏ qua cơ hội ngàn năm có một này như  giây phút ông xé nát những tờ hối phiếu của ông Tômas trước mặt tôi. Xin ông nhớ cho: Phụ nữ thích bị o ép đến mức đôi khi phải giẫm mạnh lên họ. Ông càng tàn nhẫn với nàng bao nhiêu, nàng sẽ càng yêu ông bấy nhiêu. Xin ông nhớ kỹ cho!


Vả lại ông cũng có thể đem lại cho tiểu thư Izabela một ân huệ. Nam tước Ksêsôvxki, vì nhu cầu bức thiết, đã phải bán lại cho chính vợ mình con ngựa mà ông ta rất quý. Con ngựa này sẽ tham gia cuộc đua trong mấy ngày tới và tất nhiên ngài nam tước  đặt hy vọng vào nó. Nếu tôi không nhầm về quan hệ giữa họ, tiểu thư Izabela hẳn sẽ hài lòng nếu trong cuộc đua, cả nam tước Ksêsôvski lẫn nam tước phu nhân đều không phải chủ nhân của con ngựa ấy. Nam tước Ksêsôvxki thực sự hổ thẹn vì phải bán lại ngựa cho vợ, còn nam tước phu nhân thì thất vọng nếu con ngựa đó chiến thắng và đem lại lợi ích lớn cho người khác.  Giới quý tộc  rỉ tai nhau những lời đồn đại ấy, ông hãy nhân đây mà mượn gió bẻ măng. Cơ hội đã đến thực sự. Theo chỗ tôi biết, có một gã Marusievich nào đó, bạn thân của cả hai vợ chồng nam tước Ksêsôvski, sẽ đến  gợi ý ông mua ngựa. Ông hãy nhớ rằng phụ nữ là nô lệ của những người biết mạnh tay giữ họ và chiều theo những ý nghĩ,  hành động đỏng đảnh của họ.


Tôi thực sự tin rằng ông sinh ra dưới một ngôi sao may mắn.


                               Người bạn chân thành của ông


                                             A-M


Vôkulxki hít một hơi thật sâu. Cả hai thông tin mà ông vừa đọc đều quan trọng. Ông đọc lại bức thư lần thứ hai, lấy làm ngạc nhiên trước lối viết hơi thô của bà Meliton và bật cười về những nhận xét của bà về giới mình. Mạnh tay giữ lấy người khác hoặc nắm giữ cơ hội là bản chất của Vôkulxki, tất thảy mọi thứ và mọi người đều bị ông túm gáy, trừ tiểu thư Izabela, người mà đến nay, bất chấp mong muốn cháy bỏng của mình, ông vẫn để cho hoàn toàn tự do, nếu không chiếm đoạt được bằng tình cảm.


Ông vô tình nhìn sang bên, anh hầu vẫn đứng cạnh cửa.


- Đi ngủ đi chứ! - ông nói.


- Con sẽ đi ngay đây,  ngặt nỗi còn một ông nữa cũng đã đến, - anh hầu thưa.


- Ông nào?


- Ông ấy để lại danh thiếptrên bàn ạ.


Trên bàn có tấm danh thiếp của Marusievich.


- À hà! Rồi ông ta nói gì?


- Ông ấy nói mà cũng như không nói. Ông ấy chỉ hỏi bao giờ ông chủ về? Con bảo khoảng mười giờ sáng, thế là ông ấy  hẹn sẽ quay lại lúc mười giờ tối, chỉ một phút thôi.


- Được rồi, chúc ngủ ngon!


- Con xin quỳ lạy ông chủ.


Anh hầu đi rồi, Vôkulxki cảm thấy hoàn toàn tỉnh táo. Ôkhôxki và cỗ máy biết bay của anh ta nhỏ dần trong mắt ông. Ông thấy mình tràn trề nghị lực, giống như khi  chuẩn bị lên đường đi Bungari. Hồi đó ông đi để gây dựng một tài sản lớn, còn bây giờ ông đang có cơ hội quẳng một phần tài sản ấy vì tiểu thư Izabela. Mấy từ trong lá thư như kim châm vào ông: “một là bị cái nghèo đe dọa, hai là lấy ngài công tước…” Không, không bao giờ nàng bị dồn vào tình cảnh ấy. Người kéo nàng lên không phải là Ôkhôxki, nhờ cỗ máy biết bay, mà chính là ông- Vôkulxki. Ông cảm nhận trong mình một sức mạnh lớn lao đến mức nếu lúc này trần nhà có đổ xuống đầu thì vẫn đủ sức đỡ chúng trên tay.


Ông lấy trong ngăn bàn ra cuốn sổ và bắt đầu tính toán:


Con ngựa đua - chuyện vặt! Ta chi cùng lắm là một ngàn rúp, ít nhất cũng thu lại được một phần. Ngôi nhà sáu mươi ngàn rúp, của hồi môn cho tiểu thư Izabela ba mươi ngàn rúp, tổng cộng chín mươi ngàn- chuyện vặt! Mới chỉ chừng một phần ba tài sản của ta. Nói chung, tiền mua nhà sẽ quay về khoảng sáu mươi ngàn, thậm chí nhiều hơn… Nào! Cần phải vận động ngài Oenxki để ngài ấy tin tưởng giao cho ta ba mươi ngàn rúp kia, ta sẽ trả lãi năm ngàn rúp một năm. Có lẽ như vậy cũng đủ chi dùng cho họ nhỉ? Còn con ngựa ta sẽ giao cho một  tay huấn luyện  cừ để chuẩn bị dự thi. Mười giờ sáng mai, anh chàng Marusievich sẽ đến đây, lúc mười một giờ ta sẽ đến chỗ luật sư… Từ số tiền bỏ ra, ta sẽ  hưởng tám phần trăm một năm - khoảng bảy ngàn hai trăm rúp, mà cũng có thể là mười lăm phần trăm cơ. Thế nào ngôi nhà chẳng sinh lời ít nhiều nữa. Những người cộng sự của ta sẽ nói gì ? À, mà chuyện ấy liên quan gì nhiều đến ta? Ta đã sở hữu bốn mười nhăm ngàn rúp mỗi năm, mất đi mười hai đến mười ba ngàn rúp, vẫn còn ba mươi hai ngàn rúp nữa… Chắc vợ ta không phải chịu cảnh buồn chán vì thiếu tiền… Trong vòng một năm ta rút khỏi ngôi nhà đó, cứ cho là thiệt hại ba mươi ngàn rúp đi. Không thể gọi là thiệt hại, đó là của hồi môn của nàng…


Nửa đêm, Vôkulxki bắt đầu thay áo đi ngủ. Dưới  tác động của một mục tiêu tương đối rõ ràng, những dây thần kinh bị kéo căng trong ngày giờ chùng xuống. Ông tắt đèn, đi nằm và ngửa mặt nhìn lên những tấm rèm cửa đang bị gió thổi qua cửa sổ khép hờ. Lát sau ông đã ngủ say như chết.


Ông tỉnh dậy lúc tám giờ sáng, thấy tỉnh táo, nét mặt vui vẻ đến mức anh hầu cũng nhận ra. Anh này cứ quanh quẩn trong phòng ông chủ.


- Cậu muốn gì vậy? - Vôkulxki hỏi.


- Chẳng có gì đâu, thưa ông. Chả là anh gác cổng bảo con xin ông chiếu cố để anh ta có mặt trong buổi làm lễ Thánh ở nhà thờ cho con trai anh ta ạ.


- Ra thế! Nhưng cậu ta đã bao giờ xin phép


được có con chưa?


- Anh ta không hỏi được vì dạo ấy ông chủ đang


ở ngoài mặt trận.


- Được, ta nhận là người đỡ đầu cho con cậu ta.


- Vậy ông chủ cho con một chiếc áo đại lễ cũ, vì con cũng sẽ có mặt trong buổi lễ đó mà…


- Được, cầm lấy cái áo này đi.


- Thế còn tiền sửa chữa ạ?


- Ồ, cậu ngốc gì mà ngốc quá thế? Đừng làm ta phải chán ngấy đến tận cổ!Bảo đứa nào nó sửa cho, mà ta cũng đâu biết  phải sửa những gì.


- Bởi thưa ông chủ, con muốn có cổ nhung.


- Cậu đi mà máy cổ nhung vào rồi biến nhanh, đồ quỷ!


- Ông chủ không phải nổi cáu vô ích như vậy đâu, con làm thế  để giữ thể diện cho ông chủ chứ có phải cho con đâu, - anh hầu vừa trả lời vừa đóng cửa lui ra.


Anh ta cảm nhận được ông chủ đang rất vui.


Sau khi ăn mặc chỉnh tề, Vôkulxki ngồi vào bàn tiếp tục tính toán, vừa làm việc vừa uống trà. Sau khi tính toán xong, ông viết hai bức điện, một gửi đi Maxkva về chuyện thanh toán tiền và bổ sung giấy tờ liên quan đến một trăm ngàn rúp, một cho người đại diện ở Viên để anh ta nhận các đơn đặt hàng.


Mấy phút trước mười giờ, anh chàng Marusievich đến. Hôm nay con người trẻ tuổi này trông còn tiều tụy hơn và dáng điệu còn khúm núm hơn hôm qua nhiều.


- Ngài cho phép, - Marusievich cất lời sau mấy câu chào hỏi - để tôi được bắt đầu câu chuyện bằng cách lật ngửa tất cả các con bài lên bàn… Chả là một đề nghị rất nghiêm túc…


- Tôi xin nghe đề nghị rất nghiêm túc ấy…


- Nam tước phu nhân Ksêsôvxki (tôi là bạn thân của cả hai người) - chàng trai có vẻ  ngoài tiều tụy nói - muốn bán một con ngựa đua. Tôi nghĩ ngay đến ngài, vì với những điều kiện thuận lợi của mình, ngài có thể muốn sở hữu một con ngựa như thế.  Trước cơ hội lớn chiến thắng, ngoài nó ra chỉ còn hai con nữa, nhưng yếu hơn nhiều…


- Tại sao nam tước phu nhân không tự mình nhắc đến chuyện bán ngựa?


- Nam tước phu nhân ấy à? Bà ấy căm thù đến chết những cuộc đua ngựa.


- Vậy tại sao bà ta lại tậu ngựa đua?


- Có cả hai lý do, - người trẻ tuổi giải thích - Thứ nhất, nam tước, khi cần tiền chi trả các khoản nợ bằng lời thề danh dự, đã tuyên bố sẽ tự bắn vào đầu nếu không bán được con ngựa đua yêu quý với giá tám trăm, thứ hai, nam tước phu nhân không bao giờ muốn ông chồng dự vào các cuộc đua ngựa. Rốt cuộc, bà mua con ngựa đó, nhưng hôm nay người đàn bà khốn khổ ấy xấu hổ và thất vọng đến mức đổ bệnh, muốn bán tống bán tháo con ngựa đi, giá bao nhiêu cũng được.


- Cụ thể  thế nào?


- Tám trăm rúp, - chàng trai trả lời, mắt nhìn xuống đất.


- Ngựa đang ở đâu?


- Ở trại ngựa của ông Miller.


- Thế còn giấy tờ?


- Có ngay đây ạ, - chàng trai trả lời, nét mặt tươi hẳn, và lấy ra một tập giấy từ túi bên sườn áo khoác.


- Có thể kết thúc việc mua bán ngay ở đây được không? - Vôkulxki vừa hỏi vừa lật qua mấy tờ giấy.


- Ngay lập tức.


- Ăn trưa xong ta đi xem ngựa chứ?


- Ồ, tất nhiên rồi.


- Anh viết giấy biên nhận đi, - Vôkulxki vừa nói vừa mở ngăn kéo lấy tiền.


- Tám trăm rúp? Dĩ nhiên là thế chứ ạ? - chàng trai


hỏi.


Anh ta với nhanh lấy giấy bút rồi bắt đầu viết. Vôkulxki để ý thấy tay anh ta hơi run và mặt đỏ lên.


Giấy biên nhận được viết theo đúng mẫu quy định. Vôkulxki đặt tám tờ một trăm rúp lên bàn, cầm lấy giấy tờ cất đi. Lát sau, chàng thanh niên, vẫn chưa hết lúng túng, rời khỏi phòng, vừa chạy trên các bậc cầu thang vừa nghĩ:


“Ta là kẻ đê tiện, đúng rồi, kẻ đê tiện! Nhưng suy cho cùng, hai ngày sau ta sẽ đưa cho mụ hai trăm rúp và  nói  rằng Vôkulxki đưa thêm sau khi biết điểm mạnh của con ngựa. Đằng nào thì họ có chạm trán nhau đâu.Hắn bắt ta viết giấy biên nhận… Thật  tuyệt! Làm thế nào để nhận ra kẻ đầu cơ,học đòi nhi? Ôi! Đến lúc có người ôm đầu kêu to: “Trời ơi, tôi phải trả giá quá đắt cho sự nhẹ dạ của tôi…”


Đúng mười một giờ trưa Vôkulxki bước chân ra đường với ý định đến nhà luật sư.


Ông vừa đứng trước cổng thì có ba gã đánh xe ngựa, khi thấy người mặc áo khoác sáng màu, đội mũ trắng, đã đồng loạt quất ngựa lồng lên. Kết quả là một xe ngựa đâm thẳng vào chiếc thứ hai, mui trần, còn chiếc thứ ba, vì muốn tránh hai cái kia, suýt nữa lao vào một  gã đang vác tủ đi qua. Thế là ầm ĩ cả lên. Một cuộc đấu roi ngựa bắt đầu, cảnh sát cũng phải dùng roi mà nhập cuộc. Cuộc huyên náo kết thúc  khi hai anh đánh xe hăng máu nhất phải ngồi xe của chính mình về đồn cảnh sát.


“Vừa ra khỏi cửa đã gặp điềm gở, - Vôkulxki nghĩ rồi bỗng nhiên đập đập tay lên trán - Rõ lẩm cẩm thật, - ông lẩm bẩm - ta đến chỗ luật sư nhờ ông ta mua giúp ngôi nhà, vậy mà ta vừa không biết nó tròn méo ra sao vừa chẳng biết nó nằm ở xó xỉnh nào”


Ông quay về nhà, đội nguyên cả mũ, gậy ba toong cắp nách, lật nhanh mấy tờ lịch. Bỗng nhiên ông nhớ lại có lần ông nghe nói ngôi nhà của ngài Tômas nằm đâu đó gần đại lộ Jerôzôlimxkie. Mặc dù vậy, cũng phải mất mấy phút ông mới tìm ra tên phố và số nhà trong cuốn lịch của mình.


“Nếu cứ thế mà đi thì không hiểu mình sẽ nói chuyện gì với luật sư nhỉ? - ông vừa nghĩ vừa bước trên các bậc lên xuống - Hôm thì mình vận động mọi người tin tưởng góp vốn với mình, hôm thì mình lại mua ngôi nhà hú họa theo kiểu mua mèo trong bao tải. Rõ ràng là ngay từ đầu hoặc mình thỏa hiệp với bản thân hoặc thỏa hiệp với… tiểu thư Izabela”


Ông nhảy lên xe ngựa, bảo anh đánh xe đưa mình đi. Đến góc phố, ông nhảy xuống đi bộ trên một trong những con phố cắt ngang.


Hôm đó trời đẹp tuyệt. Nền trời hầu như không hề có một gợn mây, dưới đường không  một hạt bụi. Cửa sổ các nhà mở toang, một số ô cửa được rửa sạch bong. Một ngọn gió đang mơn trớn những chiếc váy mỏng của mấy phụ nữ giúp việc, dễ thấy là đội quân phục vụ của Varsava sẵn sàng leo lên lau cửa sổ tầng ba hơn là rửa đôi chân của chính mình. Từ nhiều căn hộ vọng ra tiếng đàn dương cầm, dưới sân vang lên tiếng đàn kéo hoặc tiếng lọc cọc của xe rắc cát, tiếng rao của những người bán bàn chải và những hàng hóa rẻ tiền khác. Đây đó dưới cổng dẫn vào các khu nhà có thể gặp những trật tự viên mặc bu-dông xanh lá cây ngồi ngáp vặt. Mấy con chó đuổi nhau trên những đường phố vắng xe cộ qua lại. Bọn trẻ con chơi trò mặc áo cho những cây hạt dẻ mới trồng chưa kịp mọc đủ lá xanh để làm sẫm vùng đất chúng đang mọc.


Ông đang đi trên con phố sạch sẽ, yên tĩnh nhưng vui nhộn. Ở dãy phố này có thể nhìn thấy một phần chân trời và một bụi cây, song vì thấy có vẻ không phù hợp với Varsava nên người ta đã che quang cảnh mang đậm tính thôn quê này bằng những giàn giáo và tường gạch.


Đi dọc vỉa hè bên phải, Vôkulxki đã nhận ra ở phía đường bên trái, tại khoảng giữa, một ngôi nhà màu vàng không bình thường. Varsava có rất nhiều ngôi nhà màu vàng, đây có lẽ là thành phố vàng nhất dưới gầm trời này. Tuy nhiên, ngôi nhà cổ ấy hình như vàng hơn so với các ngôi nhà khác và nếu có một triển lãm các gam màu vàng mà nhất định chúng ta sẽ được chứng kiến thì  hẳn nó sẽ đoạt giải quán quân.


Sau khi  đến gần hơn, Vôkulxki hoàn toàn tin rằng ngôi nhà vàng không chỉ thu hút sự chú ý của ông mà ngay cả những con chó hay qua đây cũng đã để lại nhiều dấu vết hơn bên cạnh bất cứ bức tường nào khác.


“Quỷ thật, - ông lẩm bẩm - mình có cảm giác đây chính là ngôi nhà mình đang cần đến…”


Quả đúng đây là ngôi nhà cổ của gia đình Oenxki.


Vôkulxki bắt đầu ngắm nghía kỹ hơn. Đó là ngôi nhà bốn tầng, có mấy ban công bằng sắt và mỗi tầng được xây dựng theo một phong cách khác. Chỉ có những cánh cổng đều là hình quạt. Phần trên cổng có hình chiếc quạt mở, trên đó có hình một phụ nữ khổng lồ dáng vẻ cổ xưa đang ngồi hóng mát. Hai bên cánh gà là những khối chạm trổ lớn vuông thành sắc cạnh, ở các góc cũng trang trí những hình quạt khép hờ. Nhưng cái làm tăng vẻ đẹp đáng giá nhất của cổng là hai bức chạm trổ mũ đinh, to đến mức lẽ ra phải gắn với cổng vào thành phố Varsava chứ không phải ở cổng một ngôi nhà.


Nét đặc sắc thật sự là tiền sảnh, nơi  nền nhà đã  cũ nát,  có điều  những bức tranh  tường  đẹp không chê vào đâu được. Trên đó có biết bao quả đồi, cánh rừng, tảng đá, thác nước, đến mức những người sống trong ngôi nhà này chỉ cần ngắm chúng là không còn muốn đi đâu nghỉ hè.


Khoảng sân dưới nhà cũng được những tòa nhà bốn tầng bao quanh, trông giống như đáy giếng khổng lồ, chứa đầy một bầu không khí tỏa hương. Mỗi góc đều có cửa ra vào, mỗi cửa gồm hai cánh, dưới cửa sổ căn phòng dành cho người bảo vệ đặt một thùng rác và vòi nước.


Vôkulxki bất giác nhìn lên cầu thang chính của tòa nhà sau khi đi qua hai cánh cửa kính. Các bậc cầu thang quá bẩn, ngay cạnh đó  là bức tượng tiên nữ giơ cao chiếc bình trên đầu. Bởi vì chiếc bình màu xanh rau dền, gương mặt tiên nữ màu vàng, khuôn ngực xanh lá cây, đôi chân màu thiên thanh nên có thể dự đoán rằng tiên nữ đứng đối diện với ô cửa sổ có màu trùng với màu các tấm kính.


“Thế đấy…” - Vôkulxki lẩm bẩm bằng giọng nói của một người không để lộ  cảm giác không mấy thích thú  trước những gì đang nhìn thấy.


Đúng lúc đó, một phụ nữ xinh đẹp đi ra từ cánh cửa bên phải, dắt theo đứa con gái nhỏ.


- Mẹ ơi, bây giờ mẹ con mình  ra công viên được không? - đứa trẻ hỏi.


- Không được đâu, con yêu ạ. Bây giờ mẹ con mình đến cửa hàng, phải ăn trưa xong mới đến công viên, - người mẹ trả lời con bằng giọng vô cùng êm ái.


Đó là một phụ nữ tóc sẫm,mắt xám, mang nét đẹp cổ điển. Cả ba người nhìn nhau và bà mẹ bỗng nhiên đỏ mặt.


“Ta đã gặp nàng ở đâu nhỉ?” - Vôkulxki vừa nghĩ vừa bước chân qua cổng ra ngoài .


Người mẹ ngoái lại, nhưng khi thấy Vôkulxki nhìn mình, chị vội vã quay đầu.


“Phải rồi, - ông reo thầm - ta đã thấy cô ta hồi tháng Tư trong ngày lễ lạc quyên ở khu mộ cổ, sau đó trong cửa hàng. Lão Giexki còn bảo ta để ý đến nàng và bảo đôi chân nàng cực đẹp. Quả thật đôi chân nàng rất đẹp”


Ông lùi vào trong cổng, bắt đầu đọc danh sách các cư dân của ngôi nhà cổ.


“Sao? Nam tước phu nhân Ksêsôvxki ở trên tầng ba. Sao? Marusievich ở tầng hai, phía bên trái cổng? Toàn những chuyện tình cờ. Các sinh viên sống trên tầng bốn. Nhưng người đẹp kia có thể là ai? Bên phải cổng chính, tầng hai - Jadviga Misievich, hưu trí và Helena Xtarska cùng con gái. Chắc chắn là nàng rồi”.


Ông bước vào trong sân, đưa mắt nhìn quanh. Hầu như tất cả các cửa sổ đều mở. Cạnh cổng chính vào nhàlà phòng giặt. Từ  tầng bốn vọng xuống tiếng búa gõ của một bác thợ đóng giày, thấp hơn một tầng có mấy đôi bồ câu đang gù nhau, còn trên tầng ba cùng phía ấy cứ vài phút lại vang lên âm thanh rất chuẩn của đàn dương cầm và một giọng nam cao hát solo nốt nhạc kéo dài hết cỡ.


-A!…a!…a!…a!…a!…a!…a!…a!…a!…a!…a!… a!…a!…a!…a! 


Từ trên tầng bốn,  Vôkulxki nghe thấy một giọng nam trầm:


- Ôi! Mụ lại uống thuốc giun rồi. Giun lại bò từ bụng mụ ra. Maryxia ơi, lại đây nào!


Cùng lúc đó,  trên cửa sổ tầng ba  thò ra một cái đầu phụ nữ cùng tiếng gọi:


- Maryxia! Quay về nhà ngay, Maryxia!


“Ta xin thề rằng đó đích thị là bà Ksêsôvxka” - Vôluxki thầm nhủ.


Đúng lúc ấy ông nghe thấy tiếng ào ào rất đặc trưng: từ tầng bốn, một dòng nước dội trúng mái đầu đang thò ra ngoài cửa sổ của bà Ksêsôvxka rồi bắn tung tóe xuống sân.


- Maryxia! Vào đây nào! - vẫn là giọng trầm lúc nãy.


- Mấy thằng côn đồ! - bà Ksêsôvxka ngẩng mặt lên chửi.


Một dòng nước nữa lại dội từ tầng ba xuống ngắt lời bà. Cùng lúc đó, một thanh niên để râu quai nón đen xì cũng thò đầu ra, khi nhìn thấy bà Ksêsôvxka thụt đầu vào, anh ta gọi to bằng giọng trầm thật đáng yêu:


- Ôi, thì ra đó là bà mẹ tốt bụng! Con xin lỗi nhé…


Đáp lại câu xin lỗi của anh ta là tiếng khóc tức tưởi vọng ra từ căn hộ của bà Ksêsôvxka:


- Ôi, sao lại khốn khổ khốn nạn cái thân tôi thế này!  Tôi thề rằng chính lão, gã côn đồ ấy, đã đưa bọn cướp đến ở ngay trên đầu tôi. Lão đền ơn tôi vì đã lôi lão từ vũng bùn nghèo khó lên như thế đấy! Trả ơn vì tôi đã mua cho lão con ngựa già!


Cũng vào lúc đó, phía dưới có những phụ nữ đang giặt chăn đệm, trên tầng bốn ông thợ đóng giày đang gõ búa đều đặn, còn trên tầng ba, ngay sau mặt tiền vọng ra tiếng đàn dương cầm và giọng solo của người nghệ sĩ trong một giai điệu kéo dài tưởng như vô tận.


 “Một khu nhà vui nhộn không gì sánh nổi…” - Vôkulxki thầm nhủ và hất tay phủi những giọt nước đọng trên áo mình.


Ông bước nhanh từ trong sân ra phố,  ngoái lại nhìn một lần nữa tòa nhà mà có thể ông sẽ phải trở thành chủ nhân rồi rẽ ra Đại lộ Jerôzôlimskie. Tại đây ông bắt xe ngựa  đến thẳng nhà luật sư.


Tại tiền sảnh nhà luật sư ông gặp những người Do thái ăn mặc rách rưới và một phụ nữ trùm khăn kín đầu. Phía bên trái cửa chính, qua cánh cửa khép hờ, có thể thấy những ngăn tủ chứa đầy tài liệu, ba thanh niên tập sự ngồi tốc ký và mấy vị khách thuộc giới tiểu tư sản, trong đó có một người  mang dáng điệu thám tử, số còn lại trông đến là chán chường.


Lão hầu già ria bạc đỡ lấy áo khoác của Vôkulxki cùng cái nhìn nghi hoặc, cất tiếng hỏi:


- Ông lớn có chuyện phải nói lâu không?


- Ngắn gọn thôi.


Lão đưa Vôkulxki vào phòng chờ bên tay phải.


- Tôi phải bẩm báo thế nào ạ?


Vôkulxki đưa tấm danh thiếp và ngồi lại một mình. Đồ đạc trong căn phòng này được phủ bằng vật liệu đặc biệt màu xanh rau dền như trong các toa tàu hạng một - mấy cái tủ trang trí đựng đầy sách bìa cứng, trông như chưa ai đọc bao giờ - trên bàn có mấy quyển album và sách  minh họa mà bề ngoài tạo ấn tượng là ai nhìn thấy cũng muốn mở ngay ra đọc. Bức tượng thần công lý bằng thạch cao và những cái cân bằng đồng, quả cân rất bẩn được đặt trong một góc phòng.


- Ngài luật sư cho mời ngài! -  lão hầu già gọi qua cánh cửa khép hờ.


Phòng làm việc của vị luật sư nổi tiếng bày biện những đồ vật được bọc da, cửa sổ treo rèm nâu. Chủ nhân căn phòng vận một cái chiếc áo đại lễ nâu, cầm trên tay chiếc tẩu rất dài, một đầu  gắn cục hổ phách và lông chim.


- Tôi đã tin chắc hôm nay sẽ được hân hạnh đón ngài tại nhà mình, - tay luật sư vừa nói vừa đẩy chiếc ghế gắn bánh xe về phía Vôkulxki đồng thời lấy một bàn chân làm phẳng tấm thảm đang bị cong lên - Nói ngắn gọn thì, - luật sư tiếp tục câu chuyện - chúng ta có thể trông đợi vào khoản tiền đóng góp khoảng ba trăm ngàn rúp cho các liên doanh của chúng ta. Tất nhiên chúng ta sẽ đến văn phòng công chứng càng nhanh càng tốt, và tiền mặt thì phải thu hút đến từng đồng, trong vấn đề này ngài có thể tính cho tôi…


Ông ta nói tất cả những điều này mà không quên nhấn các từ quan trọng, siết chặt tay Vôkulxki và quan sát ông từ cặp mắt luôn nhìn xuống của mình.


- À vâng, cái liên doanh ấy… - Vôkulxki nhắc lại sau khi đã ngồi xuống ghế bành - Đó là chuyện của các vị ấy và phụ thuộc vào số tiền mặt đóng góp được.


- Vâng, đó luôn là vốn liếng… - luật sư ngắt lời.


- Còn tôi, không có liên doanh thì tôi vẫn có vốn riêng.


- Một  chứng cứ đáng tin…


- Vốn riêng của tôi cũng đủ.


Luật sư yên lặng, bắt đầu vội vã hít khói từ chiếc tẩu có lông chim.


- Tôi muốn đề nghị ngài luật sư một việc, - Vôkulxki nói sau một lát im lặng.


Tay luật sư nhìn chằm chằm vào người đối thoại với mình, cố gắng đoán xem nội dung lời đề nghị kia là gì. Nhưng rõ ràng luật sư đã không phát hiện ra điều gì, bởi  trên khuôn mặt ông bỗng hiện lên nét trang nghiêm nhưng đầy thiện chí, chân tình.


- Tôi muốn mua ngôi nhà cổ, - Vôkulxki nói tiếp.


- Ngài quyết rồi chứ? - tay luật sư hỏi, đầu cúi xuống nhưng đôi lông mày dướn lên. Xin chúc mừng, chúc mừng nhiệt liệt! Không phải lúc nào cũng có thể gọi cửa hàng bách hóa là nhà… Ngôi nhà cổ đối với một thương gia giống như vật để chân của kỵ sĩ trên yên ngựa,  khiến anh ta tự tin hơn trong công vụ làm ăn. Buôn bán mà không dựa trên nền tảng  một ngôi nhà thì chỉ là buôn thúng bán mẹt. Vậy ngài đang nói đến ngôi nhà cổ nào, có thể dành cho tôi niềm vui  được biết?


- Nghe nói trong mấy ngày tới ngôi nhà cổ của ngài Oenxki sẽ được đem bán đấu giá…


- Tôi biết, - luật sư ngắt lời - Nói chung tường còn tốt, đồ gỗ thì phải thay dần, sau đó đến tu sửa vườn… Nam tước phu nhân có thể trả sáu mươi ngàn rúp là cùng, chắc không có người cạnh tranh đâu, chắc chắn ta sẽ mua được với giá cao nhất là sáu mươi ngàn rúp.        


- Cứ cho là với giá chín mươi ngàn rúp, thậm chí cao hơn, - Vôkulxki ngắt lời.


- Để làm gì cơ? - tay luật sư đứng phắt dậy - Nam tước phu nhân không thể vượt qua con số sáu mươi nhăm ngàn, vì nay chẳng ai bỏ tiền ra mua nhà. Nói chung đây đâu phải là hướng làm ăn tốt.- Nhưng đối với tôi, thậm chí chín mươi ngàn vẫn hời.


- Nhưng tốt nhất vẫn chỉ đến sáu mươi nhăm ngàn.


- Tôi không muốn làm sứt mẻ quan hệ giữa tôi và người đồng sự của mình.


- Đồng sự sao? - luật sư kêu to - Nhưng ngài Oenxki đáng kính đang trên đà phá sản không gì cứu vãn nổi, nếu ngài trả thêm vài ngàn rúp thì điều đó cũng chỉ thuần túy là xúc phạm. Tôi nắm rất rõ  ý định của nữ bá tước - em gái ông ấy về vấn đề này. Trong thời điểm ngài Tômas không một xu dính túi, cô con gái xinh đẹp của ngài, người mà tất cả chúng ta đều ngưỡng mộ, sẽ lấy một bá tước hay hầu tước…


Đôi mắt Vôkulxki long lên điên dại khiến tay luật sư phải im lặng. Ông nhìn người đối thoại với mình và tỏ ra nghĩ ngợi. Bỗng ông đập tay trên trán:


- Ông bạn thân mến, - luật sư nói - ông bạn đã quyết định chi chín mươi ngàn rúp cho  đống đổ nát ấy phải không?


- Phải, - Vôkulxki trả lời khô khốc.


- Sáu mươi ngàn trong số chín mươi ngàn đó là… của hồi môn cho tiểu thư Izabela. - luật sư lí nhí trong miệng - Aha!Nét mặt và toàn bộ thân hình ông ta thay đổi đến mức không còn có thể nhận ra. Ông ta hít một hơi dài từ cái tẩu gắn cục hổ phách, thở ra một cuộn khói, ngồi phịch xuống ghế bành, chìa bàn tay run run về phía Vôkulxki,nói:


- Chúng ta hiểu nhau rồi, ông bạn Vôkulxki ạ. Tôi thừa nhận với ông rằng trước đây năm phút tôi còn nghi ngờ ông một điều mà chính tôi chẳng biết đó là điều gì, bởi vì các công cụ làm ăn của ông đều sạch sẽ. Nhưng lúc này, xin ông hãy tin tôi, ông có thể trông cậy vào tôi với tư cách một người thiện chí và… một đồng minh.


- Bây giờ thì tôi lại không hiểu ngài, - Vôkulxki nói nhỏ, hai mắt cụp xuống.


Luật sư bỗng nhiên đỏ mặt. Có tiếng chuông ngoài cửa. Người hầu già bước vào.


- Không cho phép bất cứ ai vào khi tôi chưa gọi, - luật sư nói.


- Con xin vâng lời ngài luật sư ạ, - người hầu cómang vẻ mặt rầu rầu trả lời.


Còn lại hai người trong phòng.


- Thưa ông Xtanixlav, - luật sư mào đầu - Ông biết rõ giới quý tộc của ta nó như thế nào và có những đặc điểm gì chứ? Là vài ngàn con người chuyên gặm nhấm đất nước , chuyên quẳng tiền xuống sông xuống biển ở nước ngoài rồi đem về từ đó những thói hư tật xấu tồi tệ nhất, truyền bá chúng cho tầng lớp trung lưu có vẻ còn trong trắng hơn cả. Kết quả là chính giới quý tộc ấy, chứ không  ai khác, đang chết dần, vô phương cứu chữa, cả về mặt kinh tế, sinh lý và đạo đức. Nếu buộc họ phải làm việc, hòa nhập vào những giai cấp khác, có thể thu được hiệu quả nhất định, bởi đã có những tổ chức tỏ ra chặt chẽ hơn các tổ chức của chúng ta. Ông hiểu cho: phải thả cho họ hòa nhập, cọ xát với tầng lớp khác, nhưng không phải quẳng cho họ ba mươi ngàn rúp để họ tồn tại. Tôi sẽ giúp ông giúp họ hòa nhập, cọ xát chứ để ông quẳng qua cửa sổ một lúc ba mươi ngàn rúp thì - không!


- Tôi không hiểu ngài một tí gì, - Vôkulxki nói nhỏ.


- Ông hiểu đấy, chỉ có điều ông không tin tôi. Không tin tưởng cũng là một trong những cái đức lớn, tôi sẽ không chữa  cho ông khỏi bệnh nghi ngờ. Chỉ xin nói với ông một điều: Oenxki - kẻ đang bị phá sản không thể trở thành… máu mủ của một thương gia, nhất là thương gia quý tộc như ông. Nhưng Oenxki sẽ vơ được ba mươi ngàn rúp đút túi!


- Thưa ngài luật sư,  - Vôkulxki ngắt lời - ông có định thay mặt tôi tham dự cuộc bán đấu giá ngôi nhà cổ đó không?


- Tôi sẽ tham gia, nhưng với một điều kiện: tôi chỉ  trả hơn con số mà bà Ksêsôvxka đưa ra nhiều nhất  năm ngàn rúp. Ông Vôkulxki, xin ông thứ lỗi cho, tôi không bao giờ đấu giá với chính mình.


- Vậy nếu có một người thứ ba tham gia đấu giá?


- À, khi đó tôi sẽ tạo khoảng cách với hắn ta để đáp ứng những ý thích đỏng đảnh của ông.


Vôkulxki đứng dậy.


- Xin cảm ơn ngài, - ông nói - về mấy lời rất chân tình vừa rồi. Ngài  có lý, nhưng tôi cũng có lý lẽ của riêng tôi. Ngày mai tôi sẽ đưa tiền đến, còn bây giờ, xin từ biệt ngài …


- Tôi thấy tiếc cho ông, - tay luật sư trả lời và nắm chặt tay Vôkulxki.


- Tại sao?


- Là bởi vì, thưa ông, ở đời vẫn vậy, ai muốn giành được cái gì, kẻ đó phải chiến thắng, phải bóp chết đối thủ, chứ không phải vỗ béo hắn bằng tất cả những gì có trong tủ đồ ăn. Ông đang phạm phải sai lầm mà thay vì đưa ông đến mục tiêu, nó đang đẩy ông ra xa mục tiêu đấy!


- Ngài nhầm rồi.


- Lãng mạn! Lãng mạn quá! - luật sư mỉm cười nhắc đi nhắc lại lời mình.


Vôkulxki đi nhanh ra khỏi nhà luật sư, ngồi vào một chiếc xe ngựa, bảo người đánh xe đưa mình đi về phía đường Elektôralna. Ông cảm thấy bực bội vì bị tay luật sư phát hiện ra điều bí mật trong lòng, nhất là ông ta lại phê phán cách xử lý vấn đề lẽ ra là của riêng ông. Tất nhiên, theo lẽ thường tình, ai muốn giành phần thắng thì phải bóp chết đối thủ, nhưng cái ông định giành lấy  là tiểu thư Izabela!


Ông xuống xe trước một cửa hàng nhỏ, trên cửa treo tấm bảng đen với hàng chữ màu vàng “Đổi ngoại tệ và bán vé xổ số của S. Slangbaum”.


Cửa hàng đang mở, ông già Do thái đầu hói, râu bạc ngồi sau cái bàn  lát tôn, được ngăn cách với khách bằng tấm lưới sắt. Ông già cắm mặt vào tờ báo Người đưa thư.


- Xin chào ông, ông Slangbaum! - Vôkulxki lên tiếng.


Ông già Do thái ngẩng đầu lên, đưa tay hạ cặp kính gác trên trán xuống mắt.


- À, thì ra là anh, anh chàng tốt bụng đấy à? - ông già nói đoạn nắm lấy tay Vôkulxki - Sao, có chuyện gì vậy, chẳng lẽ đến anh cũng cần tiền?


- Không, - Vôkulxki trả lời rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Vì hơi ngượng khi phải giải thích ngay lý do chuyến viếng thăm của mình, ông hỏi chiếu lệ:


- Có gì mới không, ông Slangbaum?


- Tồi tệ lắm! - ông già trả lời - Họ bắt đầu ngược đãi người Do thái. Cũng có thể đó là điều tốt. Khi mọi người đá đít, nhổ nước bọt hoặc ngược đãi bọn ta thì có thể bấy giờ lũ con gái Do thái sẽ sáng mắt ra mà tu tỉnh. Như thằng Henrich nhà này, ăn mặc nhí nhố, quên cả tôn giáo của mình.


- Ai ngược đãi lão cơ? - Vôkulxki hỏi.


- Anh muốn bằng chứng à? - lão già Do thái hỏi - Thì anh có ngay chứng cớ trong tờ Người đưa thư đây. Hôm kia tôi đã gửi cho họ một câu đố. Anh có hay giải câu đố không? Tôi đã gửi câu đố về bọn Côdắc. Tòa soạn hồi đáp rằng tôi nói chuyện chính trị. Chẳng hiểu chính trị gì trong câu đố ấy. Nếu tôi viết câu đố về Israel hay Bismarck thì đi một nhẽ. Đằng này  là bọn Côdắc, chỉ về tinh thần chiến đấu thôi chứ lấy đâu ra chính trị?


- Nhưng trong tờ báo cũng làm gì có chuyện ngược đãi người Do thái? - Vôkulxki nói.


- Tôi sẽ chỉ cho anh thấy ngay bây giờ. Chính anh phải tự vệ trước kẻ ngược đãi thằng Henrich nhà tôi. Tôi biết rõ tất cả, mặc dù nó không nói với tôi. Nhưng bây giờ ta nói về câu đố đã. Cách đây nửa năm, tôi mang đến cho Sưmanôvxki, nhà báo, nhà văn, biên tập viên tờ Người đưa thưVarsava một câu đố. Ông ấy bảo với tôi thế này: “Thưa ông Slangbaum, chúng tôi không thể in các câu đố của ông, nhưng tôi khuyên ông nên viết câu đố, như vậy còn tốt hơn  ăn lãi phần trăm từ việc đổi tiền”. Tôi đáp: “Thưa ông biên tập viên, nếu ông trả tiền cho các câu đố của tôi để tôi đủ sống, hơn chuyện đổi tiền, thì tôi sẽ viết câu đố”. Ông Sưmanôvxki lại bảo: “Chúng tôi, thưa ông Slangbaum, không có tiền  trả cho câu đố của ông”. Chính ông Sưmanôvxki đã nói như thế, anh nghe rõ chưa? Thế mà hôm nay họ lại viết khác. Cách đây nửa năm, mọi chuyện khác hẳn. Giờ họ lại in trên báo những điều không phải như thế về người Do thái!


Vôkulxki ngồi nghe câu chuyện ngược đãi người Do thái, mắt nhìn lên tường, nơi  treo tấm bảngxổ số, còn tay gõ gõ trên mặt bàn. Nhưng đầu ông đang nghĩ đến một thứ khác. Ông ngập ngừng hỏi:


- Vậy ông vẫn tiếp tục viết câu đố hay sao, ông Slangbaum?


- Tôi ấy à? - ông Do thái trả lời - Nhưng mà tôi, thưa anh, có thằng cháu nội, con thằng Henrich ấy, mới lên chín tuổi đầu, mà đã viết thư cho tôi, anh biết không, xin tiền mua cái quần, nhưng không nói thẳng, mà viết dưới dạng câu đố. Tôi giải ra, đó là từ “cái quần”. Tôi đọc thư nó mà không cầm được nước mắt. Thằng bé thông minh làm sao, nhưng chỉ vì tính bướng bỉnh của thằng bố mà nó chả có quần mặc, phải xin ông tiền mua. Tôi đã viết thư trả lời nó: “Cháu yêu quý của ông, ông rất vui vì cháu đã học được ở ông cách ra câu đố. Nhưng để cháu học được thêm đức tính tiết kiệm thì ông gửi cho cháu bốn rúp trong số sáu rúp cháu xin. Cháu mua quần vải bốn đồng thôi. Nếu cháu học giỏi, sau kỳ nghỉ hè ông sẽ gửi cho cháu một câu đố, và nếu cháu giải được thì phần thưởng của cháu sẽ là  chính đáp án. Câu đố như sau:


Từ thứ nhất tiếng Đức nghĩa là miệng,


Từ thứ hai tiếng Đức nghĩa là giờ,


Thứ này người lớn mua cho trẻ,


Khi chúng cắp sách đến trường.


- Chắc anh cũng đoán được ngay, đó là từ “đồng phục”, đúng không, anh Vôkulxki?


- Vậy là cả nhà ông chơi trò ra câu đố và giải câu đố? - Vôkulxki hỏi.


- Không chỉ có gia đình tôi, - lão Slangbaum trả lời - Đối với chúng tôi, thưa anh, những người Do thái, khi bọn trẻ thụt lùi so với cha ông, chúng lo ăn diện, nhảy nhót, tán dương nhau sành điệu này khác như dân các anh, song chúng cũng lao vào tính toán hoặc lấy sách ra đọc, đua nhau đi thi, giải câu đố, giải ô chữ, giải nước cờ. Chúng tôi luôn quan tâm đến trí tuệ cho nên dân Do thái thuộc loại có đầu óc, và vì thế, xin anh đừng giận nhé, họ chinh phục cả thế giới. Dân các anh làm mọi thứ nhờ những con tim nóng bỏng nhiệt tình và thông qua chiến tranh, còn chúng tôi chỉ dựa vào trí thông minh, lòng nhẫn nại.


Những từ cuối cùng tác động mạnh đến Vôkulxki. Thì chính ông đã giành được tiểu thư Izabela bằng trí thông minh và lòng nhẫn nại. Một niềm thôi thúc lớn lao  nảy sinh trong trái tim ông khiến ông không còn do dự nữa.


- Tôi có một đề nghị thế này xin được ông giúp đỡ, thưa ông Slangbaum!


- Đề nghị của anh, với tôi, cũng có nghĩa là mệnh lệnh, thưa anh Vôkulxki.


- Tôi muốn mua ngôi nhà cổ của ngài Oenxki…


- Nó sẽ được bán với giá sáu mươi ngàn rúp hơn một chút.


- Tôi muốn nó được bán với giá chín mươi ngàn rúp nên cần  một đối thủ đẩy lên mức đó.


Ông già Do thái trợn tròn mắt.


- Sao lại thế! Chẳng lẽ anh muốn trả đắt hơn tới ba mươi ngàn rúp hay sao? - Lão già Do thái hỏi.


- Phải.


- Xin lỗi, nhưng tôi không hiểu. Nếu người ta bán đấu giá nhà  anh, còn gia đình Oenxki là người mua, khi đó anh tăng giá thì đã đi một nhẽ. Đằng này là người mua, anh phải  yêu cầu giảm giá chứ …


- Tôi có lợi trong việc mua với giá cao hơn.


Ông già lắc đầu quầy quậy, mãi một lúc lâu sau mới nói:


- Nếu  không quen anh, tôi sẵn sàng nghĩ  anh đang làm một trò dại dột, nhưng vì  biết anh quá rõ, tôi tự nhủ anh đang có một phi vụ… quỷ quái. Anh không chỉ vùi vào mấy bức tường một khoản tiền mặt lớn, mất vào đó mức lãi suất chín phần trăm một năm mà còn muốn trả thêm ba mươi ngàn rúp nữa. Anh Vôkulxki này, - lão nói thêm, cầm lấy tay người đối thoại với mình - anh đừng làm điều ngu ngốc ấy. Tôi van anh đấy! Lão già Slangbaum này van anh đấy.


- Lão hãy tin tôi, nhất định tôi sẽ được nhiều trong vụ này…


Bỗng nhiên lão Do thái đưa một ngón tay lên trán. Đôi mắt lão sáng lên cùng hai hàm răng trắng đều như những hạt ngọc.


- Ha! Ha! - lão cười to - Ôi, ta mới già nua làm sao, đến nỗi không đo đếm được ngay từ đầu. Anh định biếu ông Oenxki ba mươi ngàn rúp, còn ông ấy sẽ tạo điều kiện thuận lợi để anh  làm một việc có thể đem lại một trăm ngàn rúp chứ gì. Hay! Tôi sẽ giới thiệu cho anh một người tham dự đấu giá, ông ta sẽ nâng giá bán nhà lên mười lăm ngàn rúp. Đây là một người nghiêm chỉnh theo đạo Thiên chúa hẳn hoi, có điều là không thể đưa tiền trực tiếp cho ông ta được.Tôi giới thiệu thêm cho anh một bà nữa. Bà này sẽ đẩy giá bán lên mười ngàn rúp nữa.  Cuộc bán đấu giá sôi nổi sẽ giúp anh mua ngôi nhà với giá một trăm năm mươi ngàn rúp mà không ai hiểu được làm ăn gì mà lạ thế!


Vôkulxki thấy hơi khó chịu.


- Bất kể trong trường hợp nào thì đây cũng chỉ là chuyện riêng giữa hai chúng ta, - ông nói.


- Thưa anh Vôkulxki, - ông già Do thái trang nghiêm nói - tôi nghĩ  anh không cần phải nói ra điều này. Bí mật của anh cũng là bí mật của tôi. Tôi coi anh như thằng Henrich nhà tôi, anh không ngược đãi dân Do thái…


Họ chia tay nhau. Vôkulxki trở về nhà. Tại đó ông đã thấy Marusievich chờ ông để đến trại ngựa xem con ông vừa trả tiền hôm trước.


Trại ngựa gồm hai dãy nhà nối nhau tạo thành một tổng thể hình  nơ. Trong khu nhà tròn có khu nhà tập, còn ở khu vuông thành sắc cạnh có dãy chuồng ngựa.


Đúng lúc ông Vôkulxki và Marusievich đến, ở đây đang có lớp học cưỡi ngựa, con nọ nối đuôi con kia dọc theo bức tường khu nhà tập. Trại trưởng, một người đàn ông mang nét mặt nghiêm trang như sĩ quan quân đội, mặc áo bu- dông màu tím than, quần trắng bó sát người, giày đế cao đóng đinh sắt nhọn, đứng ở giữa. Đó là ông Miller. Ông luôn miệng ra lệnh cho các kỵ sĩ bằng cách  quất một cây roi dài vào không khí báo hiệu động tác không chuẩn của ngựa. Nhưng động tác này thường khiến các kỵ sĩ nhăn mặt. Vôkulxki để ý ngay đến một người cưỡi ngựa không yên  với tay phải để ra sau vai, trông  như một tay anh chị, người thứ hai ngồi giữa lưng ngựa, người thứ ba tuy cưỡi ngựa nhưng lúc nào cũng muốn nhảy xuống và đến cuối đời không bao giờ tập cưỡi ngựa nữa. Chỉ có một  phụ nữ mặc trang phục chuẩn để tập cưỡi ngựa là có vẻ mạnh dạn, khéo léo, khiến Vôkulxki chợt nghĩ rằng trên thế giới này chẳng có vị trí nào là không phù hợp hoặc nguy hiểm đối với phụ nữ.


Marusievich giới thiệu người cùng đi cho trại trưởng làm quen.


Chính tôi đang đợi các ngài đây nên tôi sẽ phục vụ ngay tức khắc. Anh Sulxơ đâu rồi nhỉ?


Người có tên  Sulxơ chạy vào. Đó là một chàng trai tóc vàng cũng mặc bu dông màu xanh tím than, đi đôi giày gót còn cao hơn và bận cái quần  bó sát hơn. Với điệu cúi chào theo phong cách quân sự, anh ta cầm lấy vật tượng trưng cho quyền lực của trại trưởng và trước khi Vôkulxki rời khu nhà tập, ông đã hoàn toàn tin rằng anh chàng Sulxơ này, tuy tuổi đời còn rất trẻ, đã khiển roi linh hoạt và mạnh mẽ hơn cả ông trại trưởng. Người đàn ông thứ hai ở đây lúc nào cũng sôi lên sùng sục, còn người thứ ba động một tý là muốn cãi nhau.


Ông trưởng trại nói với Vôkulxki:


- Ngài  tiếp nhận con ngựa của nam tước với toàn bộ những  phụ kiện đi kèmnhư yên cương, chăn, đệm… phải không ạ?


- Tất nhiên rồi.


- Vậy thì tôi còn ở chỗ ngài sáu mươi rúp khoản trại phí mà ngài nam tước Ksêsôvxki chưa trả.


- Biết làm sao được.


Họ cùng bước vào  chuồng ngựa sáng sủa như một  phòng ở, thậm chí còn được trải những tấm thảm khá đắt tiền. Máng thức ăn còn mới, đựng đầy thức ăn cho ngựa. Thang cũng mới sắm. Trên nền nhà trải đống rơm tươi. Vậy mà đôi mắt tinh nhanh của trưởng trại ngựa đã phát hiện ra điều bất ổn. Ông quát:


- Sao lại lộn xộn thế này hả ông Kxaverư? Quỷ tha ma bắt các ông đi!Chẳng lẽ trong phòng ở của các người cũng lung tung thế này  sao?


Người giúp việc thứ hai của trưởng trại xuất hiện ngay sau lời quát tháo đó. Anh ta nhìn ông chủ một lát rồi biến ngay, lát sau có tiếng vọng vào từ hành lang:


- Vôichếch đâu rồi! Quỷ tha ma bắt mày đi! Có sắp xếp mọi thứ lại cho nghiêm chỉnh không thì bảo. Tao lại cho người đặt tất cả lên bàn cho mày biết tay bây giờ!


- Schepan! Đồ thổ tả! - giọng  thứ ba cất lên sau những lời mắng mỏ vừa rồi - Nếu còn để trại trủng bừa bãi thế này thì tao sẽ bắt lấy răng mà dọn nhé. Đúng là thân lừa ưa nặng…


Đúng lúc đó, tiếng “cộp”giống như có người túm lấy đầu người thứ hai dúi vào tường vang lên. Không bao lâu sau, qua cửa sổ, Vôkulxki nhìn thấy chàng thanh niên mặc chiếc áo đính hàng cúc bằng kim loại chạy ra sân lấy chổi, và sau khi tìm được  chổi anh ta  va vào một ông Do thái đang chăm chú theo dõi điều gì đó. Với tư cách người nghiên cứu về thiên nhiên, Vôkulxki cảm thấy rất đỗi ngạc nhiên trước một hình thức mới của định luật bảo toàn lực, trong đó cơn tức giận của vị trại trưởng có thể, bằng cách đặc biệt, lan đến một người đang đứng rất xa.


Đúng lúc đó trại trưởng ra lệnh mang ngựa đến hành lang. Đó là một con vật tuyệt đẹp, chân thon, đầu nhỏ, đôi mắt vừa ánh lên niềm vui nhộn vừa sẵn sàng nhỏ lệ. Con ngựa đang bước thì quay về phía Vôkulxki, khịt khịt đánh hơi và liếm lên người ông, như thể  đã đoán ra ai sẽ là chủ nhân của nó.


- Nó nhận ra ngài rồi đấy, - ông trại trưởng nói - Ngài hãy cho nó tí đường. Một con ngựa đẹp tuyệt!


Vừa nói ông vừa lấy trong túi ra một mẩu đường trông bẩn bẩn, bốc mùi thuốc lá. Vôkulxki đưa vào miệng con ngựa, nó ăn ngay, không hề do dự.


- Tôi xin đánh cuộc năm mươi rúp là nó sẽ thắng! - ông trại trưởng nói to - Ngài có dám cuộc không?


- Tất nhiên, - Vôkulxki trả lời.


- Nó sẽ thắng, sẽ không làm ai thất vọng. Tôi có thể giới thiệu cho ngài một tay đua ngựa hoàn hảo,  cậu này khiển ngựa theo chỉ dẫn của tôi. Còn một khi con ngựa này vẫn thuộc quyền sở hữu của nam tước Ksêsôvxki thì dẫu bị sét đánh tôi vẫn cam đoan rằng nó chỉ về thứ ba. Vả lại tôi không thể giữ nó ở trại lâu hơn.


- Trại trưởng vẫn chưa hết tức... - Marusievich chen ngang bằng  giọng hết sức ngọt ngào.


- Hết tức à? - ông trại trưởng gào lên, mặt đỏ bừng bừng - Nào, ngài Vôkulxki hãy phán quyết đi, liệu tôi có thể tiếp tục duy trì quan hệ với một con người từng đi rêu rao rằng tôi đã bán sang tỉnh Lublin con ngựa mắc bệnh não, chạy đua mà chẳng có chút khí thế nào, cứ như đi bách bộ! Những chuyện như thế, - ông trại trưởng mỗi lúc một cao giọng hơn - ai mà quên được, đúng không anh Marusievich? Nếu bá tước không đứng ra hòa giải thì chắc hôm nay nam tước Ksêsôvxki phải đi tập tễnh vì hứng một viên đạn ở đùi.Tôi mà lại đi bán con ngựa mắc bệnh não! Tôi xin đánh cuộc một trăm rúp rằng con ngựa này nhất định thắng,trừ trường hợp chẳng may  bị ngã. Rồi  nam tước sẽ thấy… Con ngựa kia mắc bệnh não? Ha ha ha - ông trưởng trại bỗng nhiên cười sặc sụa.


Sau khi xem ngựa xong, mấy người vào văn phòng để Vôkulxki trả nốt những khoản nợ đồng thời cùng nhau cam đoan sẽ không rêu rao bất cứ con ngựa nào mắc bệnh não.


Khi chia tay, Vôkulxki đề nghị:


- Thưa trại trưởng, tôi có thể không nêu tên con ngựa này khi đưa nó vào đua được không?


- Được thôi.


- Nhưng…


- Ồ xin ngài cứ yên tâm, - trại trưởng nói và nắm tay Vôkulxki. - Đối với người quân tử, việc giữ bí mật là một đức tính cần phải có. Tôi hy vọng rằng cả ông Marusievich đây cũng…


- Ồ, - anh chàng Marusievich khẳng định bằng cách lắc đầu, xua tay để mọi người hiểu  nếu anh đã chôn sâu bí mật trong lòng thì không có gì phải nghi ngờ cả.


Khi quay về, đi cạnh khu tập, Vôkulxki lại nghe tiếng quất roi vun vút, sau đó là cuộc đấu khẩu giữa người thứ tư của trại với vị trại phó.


- Đây là chuyện thiếu tế nhị, thưa ông, - người thứ tư kêu to. - Quần áo tôi sẽ lần lượt bị bới tung ra.


- Sẽ chịu được, - ông Sulxơ có vẻ điềm tĩnh khi vẫn quất roi về phía người kia.


Vôkulxki rời trại ngựa.


Sau khi chia tay Marusievich, ông ngồi vào xe ngựa và một ý nghĩ đặc biệt đã đến trong đầu ông: “Nếu con ngựa này thắng thì tiểu thư Izabela sẽ yêu ta…” Bỗng nhiên ông ngoái đầu lại, con vật cách đây không lâu còn xa lạ, còn khiến ông thờ ơ nay thành thân thiết, hấp dẫn lạ thường.


Khi quay lại trại ngựa, Vôkulxki lại nghe thấy tiếng động phát ra khi đầu người bị đập vào tường. Đúng lúc đó, chàng trai làm ở trại ngựa, mặt đỏ bừng, từ một ngăn chuồng chạy ra. Đó là cậu Xtephan, đầu tóc bù xù như bị ai vừa bới tung lên, ngay sau cậu ta  là người đánh xe ngựa tên Vôichếch, vừa đi vừa chùi bàn tay đầy mỡ vào áo bu dông. Vôkulxki đưa cho người nhiều tuổi hơn ba rúp, người trẻ một rúp, hứa hẹn với họ khoản tiền thưởng hậu hĩnh nếu con ngựa của ông  được chăm sóc đàng hoàng.


- Thưa ông, con sẽ chăm sóc nó chu đáo hơn cả chăm sóc vợ, - anh chàng Vôichếch nói và cúi gập người. - Ngay cả trại trưởng cũng sẽ không xử tệ với nó. Tất nhiên rồi! Bao giờ đến ngày đua, thưa ông, con ngựa ấy cứ gọi là sáng như gương chứ chẳng phải đùa.


Vôkulxki  vào chuồng ngựa, ngắm nghía con ngựa mới mua đến mười lăm phút. Ông thoáng lo vì bốn cẳng chân hơi gày của nó, và rùng mình khi thấy có cái gì đó giật giật từ đầu đến đuôi, dọc theo sống lưng, dưới làn da như một lớp nhung của nó. Ông lo nó bị ốm. Sau đó, ông ôm lấy cổ nó, khi nó tựa đầu trên vai ông thì ông hôn nó rồi thầm thì:


“Nếu mày biết được điều gì đang hoàn toàn phụ thuộc vào mày! Phải chi mày biết được…”


Từ hôm đó, một ngày ông đến trại ngựa mấy lần, cho con ngựa ăn đường và vuốt ve, vỗ về nó. Ông cảm thấy trong bộ óc con ngựa hình như đang nảy nở một cái gì đó có thể gọi là sự liên hệ bí hiểm. Ông coi đó là  điềm lành, bởi  con ngựa bao giờ cũng vui vẻ chào đón ông. Nhưng khi thấy nó buồn thì nỗi lo lắng xâm chiếm trái tim ông. Vì vậy, mỗi lần đến trại ngựa ông lại tự nhủ: “Nếu hôm nay ta thấy nó vui vẻ thì tiểu thư Izabela sẽ yêu ta”.


Đôi khi lý trí lành mạnh trỗi dậy, ông làm chủ nỗi bực tức và tự mình coi thường chính bản thân.


“Cái gì thế này, - ông nghĩ - chẳng lẽ cả cuộc đời mình chỉ phụ thuộc vào cơn đỏng đảnh của một phụ nữ? Chẳng lẽ ta không tìm được một trăm cô khác hay sao? Chính bà Meliton đã hứa sẽ giới thiệu cho ta bốn cô cũng đẹp như thế còn gì. Nào, đồ quỷ, tỉnh lại đi!


Nhưng thay vì tỉnh lại, ông ngày càng lún sâu vào cõi mê muội. Trong những lúc tỉnh táo, ông nghĩ trên mặt đất này có lẽ vẫn còn tồn tại các thầy phù thủy, và rằng một trong số  họ sẽ đưa ra cho ông lời khuyên hữu ích. Khi đó ông tự nhủ: “Ta không phải  con người trước đây nữa rồi. Ta đã thành người khác… Ai đó đã đổi tâm hồn cho ta!


Đôi khi trong ông nhà thiên nhiên học và nhà tâm lý học cùng lên tiếng.


Và đây - họ thầm thì đâu đó sâu trong đầu óc ông - tự nhiên đang trả thù. Hồi trẻ cậu coi thường con tim, mỉa mai tình yêu, bán mình làm chồng một người đàn bà lớn tuổi, và bây giờ cậu phải gánh chịu hậu quả! Tình cảm vốn bị cậu kìm kẹp bao năm nay trở về, đòi bù đắp…”


“Được thôi, - ông nghĩ - nhưng như thế ta sẽ phải sống buông thả, vậy tại sao ta chỉ nghĩ đến  mình nàng?”


“Có quỷ mới biết được, - kẻ đối chất trả lời. - Biết đâu chính người phụ nữ kia lại phù hợp nhất với cậu. Có thể, như truyền thuyết, quả thật tâm hồn hai người kiếp trước đã nhập vào nhau làm một?”


“Vậy  nàng phải yêu ta… - Vôkulxki nói. Sau đó ông bổ sung thêm - Nếu con ngựa kia chiến thắng trong cuộc đua, đó sẽ là dấu hiệu chứng tỏ tiểu thư Izabela sẽ yêu… Ôi, tên ngu ngốc, kẻ điên khùng, cậu đang đi đến đâu thế này?”


Mấy ngày trước cuộc đua , vị bá tước có phong cách Ăng-lê  đến thăm Vôkulxki tại nhà riêng. Đây là vị bá tước ông đã có dịp làm quen trong cuộc họp ở nhà công tước.


Sau mấy câu chào hỏi xã giao, bá tước ngồi xuống ghế bành với dáng điệu cứng đơ rồi nói:


- Đến thăm và tiện thể có câu chuyện, tếch! Có nói được không?


- Xin được hầu chuyện bá tước.


- Nam tước Ksêsôvxki, - bá tước kéo dài giọng - chủ nhân con ngựa hôm trước ngài đã mua, mua đúng luật  - tếch! - mạnh dạn xin ngài nhượng lại nó cho ông ta. Giá cả không thành vấn đề.  Nam tước có thể trả thêm một khoản kha khá. Ông ta đề xuất mức giá một ngàn hai trăm rúp.


Vôkulxki tỏ ra lạnh nhạt. Nếu ông bán con ngựa, chắc tiểu thư Izabela sẽ khinh thường ông.


- Nhưng nếu tôi có lý lẽ riêng về con ngựa này thì sao, thưa bá tước? - ông hỏi.


- Nếu thế thì ngài xứng đáng được ưu tiên, tếch! - bá tước nói chậm, có vẻ miễn cưỡng.


- Ngài đã  kết luận vấn đề rồi, - Vôkulxki nói và cúi chào.


- Vậy à, tếch? Tôi rất tiếc cho nam tước, nhưng quyền của ngài là chính đáng.


Ông ta đứng dậy như một cỗ máy gắn lò xo và sau khi nói lời chia tay, còn bổ sung thêm:


- Khi nào, thưa ngài, ta đi đăng ký liên doanh của chúng ta? Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi quyết định góp vốn năm mươi ngàn rúp. Tếch!


- Điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào các vị.


- Tôi rất muốn được nhìn thấy đất nước này phát triển và vì thế, thưa ngài Vôkulxki, ngài có tất cả mối thiện cảm và lòng kính trọng, tếch, bất kể ngài đã mang nỗi buồn phiền nhường nào đến cho nam tước. Tếch, ông ta  hầu như tin rằng ngài sẽ nhượng lại con ngựa…


- Tôi không thể làm vậy.


- Tôi hiểu ngài, - bá tước kết thúc câu chuyện - Người quý tộc, mặc dù đã khoác lên mình lớp da của nhà công nghiệp, cần phải lột da khi có cơ hội. Còn ngài, xin ngài thứ lỗi cho sự mạo muội của tôi, trước hết là một nhà quý tộc, và lại là nhà quý tộc mang màu sắc Anh quốc, một mẫu người mà mỗi chúng ta phải noi theo.


Bá tước nắm chặt tay chủ nhà một lát rồi bước đi. Trong thâm tâm Vôkulxki phải thừa nhận rằng vị bá tước này, tuy bề ngoài có vẻ “con rối” một chút, song chân chất và có nhiều điểm đáng mến.


“Phải, - ông thì thầm - với các vị này, sống cùng sẽ dễ chịu hơn là cùng làm ăn buôn bán. Quả thật họ được nặn ra từ loại đất sét khác mình…”


Sau đó ông nói thêm:


“Thật kỳ lạ, tiểu thư Izabela, được nuôi dưỡng, giáo dục giữa những người như họ mà lại khinh thường những người như ta. Vậy họ đang làm gì trên thế gian này và làm gì cho thế giới này? Họ kính trọng những người có thể cho họ lãi suất mười lăm phần trăm từ khoản vốn bỏ ra. Đó chưa phải là công lao”


“Thây kệ chuyện đó! - ông nói lí nhí và búng ngón tay. - Làm sao họ biết được ta đã mua con ngựa nhỉ.À phải rồi, chả gì thì mình cũng đã mua thông qua anh chàng môi giới Marusievich. Vả lại, mình cũng thường xuyên có mặt ở trại ngựa và mọi người ở đó ai chả biết mình. Ồ, mình đang làm những chuyện ngu ngốc, mình thiếu thận trọng quá! Mình không thích cái cậu Marusievich kia chút nào…”.


(còn tiếp)


Nguồn: Búp bê. Tiểu thuyết của nhà văn Balan: Boleslaw Prus. Nguyễn Chí Thuật dịch từ nguyên bản tiếng Balan. NXB Phụ nữ, quý I-2017.


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »