tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21051891
06.10.2017
RYSZARD Kapuscinski
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski


Năm 1974, ngay sau khi chuyển từ Thông tấn xã Ba Lan PAP sang làm việc cho tuần báo Văn hóa, Ryszard Kapuscinski được ban lãnh đạo tạp chí cử đi Addis Abeba (thủ đô Etiopia) để viết phóng sự về cuộc đảo chính quân sự do đại tá Mengistu Hajle chỉ huy lật đổ hoàng đế độc tài Hajle Sellasje. Nhưng sau khi trở về nước, khác với những chuyến đi trước đây, Kapuscinski không nộp ngay bài vở cho tòa soạn. Ông đóng cửa ngồi lỳ ở nhà, cả tuần không xuất hiện tại nơi làm việc. Các biên tập viên phải gọi điện giục ông nộp bài đầu tiên trong loạt bài được phân công viết. Mấy tuần sau, trước mặt ông vẫn chỉ là những tờ giấy trắng. Sau nhiều lần vò đầu bứt tai, câu chuyện về hoàng đế Etiopia mở đầu bằng mấy câu miêu tả con chó Lulu của Hajle Sellasje. Loạt bài này được đăng dài kỳ trên tuần báo Văn hóa, nhưng phải đến khi đoạn kết được đăng, tác phẩm mới gây được tiếng vang lớn. Cuốn “Hoàng đế” được in thành sách năm 1978. Đến năm 2007, sau khi nhà văn qua đời, nhà xuất bản Bạn đọc Vacsava tái bản, ghi rõ “In lần thứ 20”. Nhưng nếu tính cả số lần in của các nhà xuất bản khác tại Ba Lan thì “Hoàng đế” có số lần xuất bản chắc chắn không phải là con số 20.


Hoàng đế” không chỉ là tác phẩm đem lại danh tiếng cho Ryszard Kapuscinski trên văn đàn thế giới với tư cách nhà văn Ba Lan lớn nhất về thể loại phóng sự mà với tài năng của mình, ông đã đưa phóng sự văn học lên đỉnh cao của sáng tác văn học và chứng minh một cách thuyết phục rằng phóng sự văn học không chỉ là văn học đích thực, nó còn mang trong mình những giá trị rất lớn, đặc biệt là trong một thế giới không ngừng thay đổi như thế giới chúng ta đang sống những thập kỷ gần đây. Nhà văn Mỹ John Updike coi “Hoàng đế” là kết quả của phong cách tư duy có sức mạnh phép thuật, kết quả của lối viết khi thì rất gần với thơ, khi giống như những câu cách ngôn. Còn Salman Rushdi thì cho rằng “các trang miêu tả của Kapuscinski đã làm được cái việc mà chỉ có nghệ thuật mới làm được, đó là chắp cánh cho trí tưởng tượng phong phú”.


Sau một thời gian ra mắt bạn đọc, cuốn “Hoàng đế” được một số tờ báo và tạp chí danh tiếng như “New York Times”, “New Yorker”, “Time”, “Newsweek”, “Observer”, “London Review of Books”, “El Pais”, “La Vanguardia”, “Sunday Times” nhất trí bầu chọn là cuốn sách của năm 1983. Tác phẩm này của Kapuscinski cũng đã được chuyển thể thành kịch và công diễn tại những thành phố lớn ngoài Ba Lan như Luân Đôn, Amsterdam, Toronto, Oslo. Trong cuộc bình chọn 150 tác phẩm văn học lớn nhất thế kỷ XX do The New York Public Library tổ chức, “Hoàng đế” của Ryszard Kapuscinski cũng có mặt trong danh sách đó. Đến nay tác phẩm này đã được dịch ra trên 40 thứ tiếng trên thế giới. Vậy là bên cạnh Stanislaw Lem, nhà văn Ba Lan chuyên viết truyện khoa học viễn tưởng, Ryszard Kapuscinski là nhà văn thứ hai được dịch nhiều nhất. 


Chính tác giả đã có lần phát biểu về đứa con tinh thần của mình: “Trong đời chỉ có thể viết được một cuốn sách loại này. Ý tưởng chỉ xuất hiện một lần và không bao giờ lặp lại, bởi nếu lặp lại thì coi như thất bại. “Hoàng đế” được viết từ một tình huống khá đơn giản. Khi đó tôi đã là người viết phóng sự có thâm niên ở châu Phi 10 năm. Tôi đã viết rất nhiều phóng sự, hay có, dở có, rất khác nhau. Khi tôi được cử đi Etiopia để viết về cuộc nổi dậy ở đây, tôi nghĩ sự kiện này là một cuộc đảo chính quân sự bình thường. Tôi đã thu thập tài liệu để viết loạt bài phóng sự như thường lệ. Nhưng khi trở về nước, tôi cảm thấy không thể viết như kiểu đã viết trước đây. Trong cuốn “Hoàng đế”, ông vua Etiopia thực sự không xuất hiện. Đây là cuốn sách về đám quần thần của ông và người đọc có thể nhận ra một điều: những người dưới quyền có thể tạo ra một chế độ độc tài như thế nào”.


Sau đây là trích đoạn từ tác phẩm Hoàng đế:


Phần I: NGAI VÀNG


Vào các buổi tối, tôi ngồi nghe những người am hiểu chuyện cung đình kể lại những điều tai nghe mắt thấy. Một thời họ đã từng là những cận thần của hoàng đế hoặc ít ra họ cũng là những người được quyền lui tới cung đìện. Những người này còn lại không nhiều. Một số đã bị đội thi hành án xử bắn. Số khác chạy ra nước ngoài hay ngồi tù ở tầng hầm của một số tòa nhà ngay trên địa bàn cung điện: họ bị lôi tuột từ các đại sảnh xuống tầng hầm. Lại cũng có những người lẩn trốn trên núi cao hay vào sống trong các tu viện, giả làm người tu hành. Mỗi người đều cố gắng sống sót theo cách riêng, theo những điều kiện riêng phù hợp với mình. Chỉ có một số rất ít ở lại Addis Abeba, nơi mà – thật bất ngờ - sự cảnh giác của chính quyền bị đánh lạc hướng dễ dàng nhất.


Tôi đến thăm họ khi trời đã tối. Tôi phải thay đổi ô tô và thay đổi trang phục mấy lần. Người Etiopia có tính đa nghi ghê gớm nên họ không muốn tin vào ý định rất chân thành của tôi là tìm lại cái thế giới vừa bị thay đổi bằng súng máy của Sư đoàn Bốn. Những khẩu súng này gắn trên xe jeep Mỹ, ngay cạnh chỗ ngồi của người lái xe. Sử dụng súng là các xạ thủ chuyên nghề bắn giết. Ngồi phía sau là một anh lính được giao nhiệm vụ nhận lệnh qua máy bộ đàm. Bởi vì đây là loại xe jeep mui trần nên cả người lái, xạ thủ và lính điện đài đều đội mũ như mũ bảo hiểm xe máy có kính màu đen chống bụi phía trước. Nghĩa là không nhìn thấy mắt họ, còn toàn bộ khuôn mặt, do râu tóc bờm xờm,  cũng chẳng có nét gì rõ ràng để mà phân biệt. Bộ ba trên xe jeep đã quá quen với sự chết chóc đến nỗi người lái xe của họ có chạy xe theo cách mà người khác coi là tự sát, nghĩa là với tốc độ cực lớn ngay cả ở những chỗ cua gấp, trên các đường phố ngược chiều, khiến mọi người, mọi thứ phải tóe ra hai bên, thì bọn họ cũng chẳng thấy làm sao. Ai cũng hiểu là tốt nhất đừng dại gì nằm trong tầm bắn. Từ chiếc máy bộ đàm anh lính giữ trên đầu gối phát ra những tiếng lạo xạo, những giọng ra lệnh gắt gỏng, những tiếng thét lác. Chẳng ai biết trong số những âm thanh hỗn tạp đó tiếng nào là lệnh nổ súng. Cho nên tốt nhất là tránh xa. Tốt nhất là rẽ vào một ngõ ngách nào đó mà chờ.


Giờ thì tôi đã đi sâu vào một ngõ hẻm ngoằn ngoèo, nhầy nhụa bùn đất, bắt gặp những ngôi nhà mà bề ngoài rất dễ có cảm giác là chúng đã bị bỏ hoang, không một ai ở đó. Tôi cảm thấy sợ: những ngôi nhà này nằm trong tầm quan sát nên tôi có thể gặp nguy hiểm cùng với cư dân của chúng bất cứ lúc nào. Rất có thể như vậy vì người ta thường xuyên tiến hành các cuộc rà soát cả một khu vực rộng lớn để tìm vũ khí, tìm truyền đơn có nội dung chống đối chính quyền và tìm kiếm những người đã từng phục vụ chế độ cũ. Tất cả các ngôi nhà bây giờ nhòm ngó lẫn nhau, nhìn trộm và đánh hơi lẫn nhau. Đã là nội chiến thì mọi thứ đều diễn ra như vậy. Tôi vừa ngồi xuống cạnh cửa sổ thì mọi người đã hét lên: - „Ông phải đổi chỗ ngay đi, từ ngoài phố nhìn vào thấy ông rất rõ, như thế dễ bị „dính” lắm đấy!” Một chiếc ô tô xịch đến, đỗ lại, những tiếng nổ phát ra. Ai đấy? Người bên này hay người phía kia? Mà hôm nay ai là người bên này, còn ai không phải người bên này? Những người phía bên kia chống lại những người phía bên này bởi vì họ ủng hộ những người phía bên kia phải không? Chiếc ô tô chuyển bánh, phóng nhanh đi, tiếng chó sủa rộ lên, suốt đêm ở Addis Abela chó sủa không lúc nào ngừng. Đây là thành phố của những chú chó, khắp nơi nhan nhản những con chó nòi, chó hoang, lông lá bù xù, nhiều con đã chết, trở thành thức ăn cho dòi bọ, chúng chết vì dịch bệnh.


Mọi người đã nhắc nhở tôi là phải hết sức chú ý: không ghi địa chỉ, không ghi rõ tên người, cũng không miêu tả kỹ mặt mũi, hình dáng, cao thấp, béo, gầy, vầng trán, đôi bàn tay, cái nhìn, đôi chân, đầu gối… Họ đã nhắc tôi hơi thừa vì bây giờ họ còn có ai để mà nhìn, để mà quỳ gối nữa.


F.:


Đó là một chú chó nhỏ nòi giống Nhật Bản. Tên nó là Lulu. Nó được  quyền ngủ trên giường của hoàng đế. Trong thời gian diễn ra các nghi lễ khác nhau, nó nhảy từ lòng hoàng đế xuống và „tè” vào giầy của các quan lớn nhỏ. Các quan lớn nhỏ không được phép động đậy chân, cũng không được làm động tác gì khác khi cảm thấy ươn ướt trong giầy. Trách nhiệm của tôi là len lỏi giữa các quan lớn nhỏ để lau nước đái chó còn đọng trên giầy của họ. Dùng vào việc này là tấm giẻ làm từ lụa tơ tằm hay sợi bông. Nhiệm vụ quan trọng này tôi thực thi trong suốt mười năm.


L.C.:


Hoàng đế ngủ trên một chiếc giường rất rộng được làm từ gỗ cây óc chó sáng màu. Thân hình ngài nhỏ thó, mỏng manh đến nỗi ngài chìm nghỉm trong đống chăn, đệm, phải nhìn kỹ mới nhận ra. Càng về già hoàng đế càng nhỏ bé đi, ngài nặng vẻn vẹn năm mươi ký. Ngài cũng ăn uống càng ngày càng ỏn ẻn hơn và rượu thì tuyệt nhiên không bao giờ uống. Đầu gối ngài xơ cứng lại, cho nên khi nào còn lại một mình, ngài đung đưa đôi chân, vặn mình sang phải sang trái, như người đang đi trên dây, nhưng khi ngài thấy có ai đang nhìn mình thì bằng một cố gắng cực lớn, ngài buộc các cơ bắp phải tỏ ra linh hoạt, phải chứng minh ngài vẫn đi lại xứng đáng với địa của mình và để chứng tỏ thân hình một vị hoàng đế vẫn có thể duy trì ở thế thẳng đứng miễn chê. Mỗi bước đi của ngài là một cuộc chiến giữa sự liêu xiêu, loạng choạng và danh dự, giữa sự ngả nghiêng và tư thế đứng thẳng. Hoàng đế khả kính không bao giờ quên điểm yếu của tuổi già, cái mà ngài không muốn thể hiện ra để làm mất vẻ uy nghi của một người muốn làm vua của các ông vua. Nhưng chúng tôi, những kẻ hầu người hạ trong phòng ngủ của ngài, vì đôi khi có thể nhìn trộm, nên chúng tôi biết ngài đã phải trả giá như thế nào cho sự gắng gượng của mình. Hoàng đế có thói quen ngủ rất ít, cho nên ngài dậy từ sớm tinh mơ, khi ngoài trời vẫn còn tối mù tối mịt. Nói chung ngài coi giấc ngủ là một cái gì đó vạn bất đắc dĩ, là thứ lấy đi một cách không cần thiết thời gian của con người ta, khoảng thời gian lẽ ra có thể dành vào việc lãnh đạo đất nước và đi đó đi đây đại diện cho quốc gia của mình. Giấc ngủ là vấn đề riêng tư, là khoảng thời gian diễn ra ít người biết đến, diễn ra giữa các hoạt động được trang hoàng lộng lẫy và dưới ánh sáng lung linh. Vì vậy ngài tỉnh dậy và có vẻ như rất khó chịu vì mình đã ngủ, ngài cảm thấy bứt rứt vì bản thân hành động ngủ của mình, vì thế phải sau khi có các hành động tiếp theo trong ngày, ngài mới trở lại trạng thái cân bằng nội tâm. Nhưng tôi phải nói thêm rằng hoàng đế của chúng tôi không bao giờ thể hiện, dù chỉ là chút ít, sự nóng nảy, giận dữ, tức tối hay chán nản. Rất dễ có cảm giác rằng ngài không bao giờ phải trải qua các trạng thái này, cho nên thần kinh ngài lạnh băng và giống như thần kinh chết hoặc như thể nói chung ngài không có dây thần kinh. Đây là một đặc tính bẩm sinh mà hoàng đế khả kính của chúng tôi biết phát triển thêm và hoàn thiện theo tinh thần của nguyên tắc là trong chính trị, mất bình tĩnh là biểu hiện những yếu kém rất dễ để đối phương lợi dụng và khiến những người dưới quyền biến thành chuyện cười để khúc khích sau lưng với nhau. Hoàng đế đáng kính của chúng tôi biết rõ rằng kể chuyện tiếu lâm là một hình thức chống đối rất nguy hiểm, cho nên ngài luôn giữ cho tâm lý của mình vững vàng trên phong độ không thể chê vào đâu được. Ngài thường dậy vào lúc bốn hoặc năm giờ sáng, nếu ngài có chuyến thăm thú nước ngoài thì giờ tỉnh giấc còn sớm hơn thế, thậm chí vào lúc ba giờ sáng. Sau này, khi tình hình trong nước ngày càng xấu đi, những chuyến thăm nước ngoài của ngài diễn ra thường xuyên hơn, cả hoàng cung chỉ có mỗi một chuyện là chuẩn bị cho hoàng đế công du hết chuyến này đến chuyến khác. Sau khi ngài tỉnh giấc và đưa tay bấm chiếc chuông trên cái bàn nhỏ cạnh giường ngủ - tất cả các bộ phận phục vụ chỉ vểnh tai chờ tín hiệu này. Trong hoàng cung đèn bật sáng. Đó là tín hiệu thông báo cho cả hoàng gia, rằng hoàng đế đáng kính đã bắt đầu một ngày mới.


Y.M.:


Hoàng đế bắt đầu một ngày mới của mình bằng việc nghe báo cáo tình hình. Đêm là khoảng thời gian rất nguy hiểm để phát sinh các âm mưu đen tối, cho nên hoàng đế Hajle Sellaje biết rất rõ rằng những gì xảy ra vào ban đêm quan trọng hơn nhiều so với những gì diễn ra vào ban ngày, vì ban ngày các quan lại dưới trướng đều nằm trong tầm mắt của ngài, còn ban đêm chuyện đó lại vượt quá khả năng của ngài. Cũng chính vì lí do đó mà ngài rất coi trọng các báo cáo buổi sáng do các quan thực hiện. Ở đây tôi xin mở ngoặc nói thêm một chi tiết: hoàng đế đáng kính của chúng tôi không có thói quen đọc. Đối với ngài, khái niệm ngôn từ được viết hoặc in ra là không tồn tại, cho nên tất cả mọi cái đều phải báo cáo miệng. Chúa thượng của chúng tôi không học hành gì, ông thầy duy nhất của người – tất nhiên trong thời thơ ấu – là một người Pháp, mục sư Jerome, sau này là giám mục giáo phận Harar và là bạn của nhà thơ Arthur Rimbaud. Nhà tu hành này đã không kịp nhồi vào đầu đức vua thói quen đọc sách từ hồi bé, còn sau này thì mọi chuyện trở nên khó khăn hơn nhiều, bởi một lý do đơn giản là Hajle Sellasje ngay ở tuổi thiếu niên đã giữ chức vụ cao sang và đầy trọng trách, cho nên ngài chẳng có thời gian mà đọc cái gì cho hệ thống. Nhưng tôi cho rằng quan trọng không chỉ là vấn đề thiếu thời gian hay không có thói quen. Thói quen nghe báo cáo miệng cũng có mặt tốt của nó là khi cần thiết, hoàng đế có thể tuyên bố với bàn dân thiên hạ rằng viên quan này hay viên quan nọ đã báo cáo với người về một sự kiện khác hoàn toàn với sự kiện đã xảy ra và viên quan đó lại không thể chối cãi được vì làm gì có chứng cứ trên giấy trắng mực đen. Cho nên hoàng đế thu nhận từ những người dưới quyền không phải những cái do họ báo cáo mà những cái, theo ý ngài, cần phải được báo cáo. Chúa thượng có quan điểm riêng của mình và ngài điều chỉnh nó nhờ tất cả những tín hiệu thu thập từ xung quanh. Tương tự như vậy đối với chuyện viết lách. Hoàng đế khả kính của chúng tôi không chỉ không tận dụng kỹ năng đọc mà ngài còn chưa bao giờ viết và chẳng có cái gì do đích thân ngài ký. Mặc dù đã trị vì suốt nửa thế kỷ, ngay cả những người thân cận nhất cũng chưa bao giờ biết chữ ký của hoàng đế mặt ngang mũi dọc ra sao. Trong các buổi thiết triều, bên cạnh hoàng đế bao giờ cũng có vị quan đại thần luôn lo chuyện ghi chép. Ông ta cắm cúi ghi ghi chép chép mọi chỉ thị, mệnh lệnh ban bố của nhà vua. Nhưng tôi lại phải giải thích thêm là trong các buổi thiết triều, hoàng đế nói vô cùng nhỏ nhẹ, hầu như chỉ thấy đôi môi ngài mấp máy. Viên quan chịu trách nhiệm ghi chép, tuy đứng cách ngai vàng có nửa bước chân, vẫn phải ghé sát tai vào miệng vua như người ta ghé sát micro vào miệng diễn giả, mới có thể nghe được và ghi chép lại quyết định của ngài. Cần nói thêm là lời lẽ của hoàng đế nói chung rất không rõ ràng và luôn tối nghĩa, nhất là khi ngài không muốn bày tỏ quan điểm nhất quán về vấn đề mà tình huống đòi hỏi phải đưa ra chính kiến. Nhưng mặt khác cũng cần phải khâm phục sự khéo léo của đức vua. Khi được quan đại thần hỏi về quyết định của mình, đức vua không nói thẳng tuột ra mà cất tiếng thầm thì đến mức chỉ đủ đến tai ông ta khi một tai ông giống như cái micro ghé sát miệng vua. Viên quan này ghi lại mấy lời vừa cụt lủn vừa mù mờ, phát ra một cách lí nhí đó. Vấn đề còn lại là chuyện phân tích như thế nào nội dung các câu nói của đức vua, mà điều này thì phụ thuộc vào “tài thao lược” của viên quan phụ trách ghi chép, người đem đến cho quyết định của hoàng đế một hình thức văn bản và chuyển cho các cấp dưới quyền. Người đứng đầu “bộ ghi chép” là người được hoàng đế tin cậy nhất và có quyền lực tối cao. Từ những ngôn từ phải suy đoán mãi mới hiểu ra được của đức vua, viên quan có nhiệm vụ ghi chép có thể sắp xếp cho chúng thành những quyết định với nội dung tùy ý. Nếu các bước đi của hoàng đế tỏ rõ sự anh minh, đi vào lòng người thì sẽ có thêm một bằng chứng nữa về trí tuệ không bao giờ nhầm lẫn của thiên tử. Nhưng chẳng may đâu đó giữa không trung hay từ những xó xỉnh xa xôi nào đó vọng đến tai đức vua những xì xầm về sự oán giận của lòng dân thì đức vua đại trí có thể đổ tất cả mọi tội lỗi lên đầu người thảo ra sắc lệnh. Viên quan đại thần này là nhân vật bị căm ghét nhất trong hoàng cung, bởi vì những quyết định thể hiện sự thông thái và tấm lòng cao cả của đức vua thì ít, còn những sắc lệnh độc địa, không được lòng dân thì không sao kể xiết. Sự thật thì trong đám quần thần đã có lời xì xầm thắc mắc về chuyện tại sao hoàng đế Hajle Sellasje không thay viên quan chuyên việc ghi chép đi, nhưng đã thành thông lệ là trong hoàng cung các câu hỏi chỉ được đưa ra theo nguyên tắc từ trên xuống dưới chứ không bao giờ theo chiều ngược lại. Đúng khi lần đầu tiên người ta lớn tiếng nêu câu hỏi theo chiều ngược lại so với cái chiều vẫn diễn ra từ trước đến nay thì đó là dấu hiệu rằng một cuộc cách mạng đã diễn ra. Tôi đang tránh nói đến tương lai cho nên tôi phải quay lại với thời điểm buổi sáng khi trên các bậc cầu thang xuất hiện bóng dáng đức vua khả kính, khi ngài trên đường bắt đầu cuộc bách bộ sáng sớm. Đức vua bước vào công viên. Đó chính là thời điểm viên quan phụ trách tình báo của hoàng cung Solomon Kedir, tiến lại gần vua và bắt đầu báo cáo tình hình. Hoàng đế bước chậm rãi trên con đường nhỏ trong công viên, còn Kedir, không rời ngài nửa bước, vừa đi vừa thao thao. Nào là ông ta đã gặp những ai, chuyện xảy ra ở đâu, mọi người nói chuyện gì, họ bàn bạc với nhau nhằm chống lại ai, chuyện đó có thể coi là một âm mưu chứa đựng mục đích mờ ám hay không. Ông Kedir cũng thông báo về công việc của phòng mật mã quân sự. Cơ quan này nằm dưới sự chỉ đạo của ông, có nhiệm vụ luận ra những cuộc nói chuyện bằng mật mã mà các sư đoàn trao đổi với nhau – quan trọng là tìm  xem trong đó có len lỏi ý nghĩ lật đổ hay không. Đức vua không hỏi han gì thêm, cũng không bình luận câu nào, ngài chỉ đi và nghe. Thỉnh thoảng ngài dừng lại trước một chuồng hổ, quẳng cho chúng một cái đùi thịt bê do người hầu dâng lên. Ngài ngắm nhìn sự hung hãn của con thú ăn thịt và bất giác mỉm cười. Sau đó đức vua tiến sát lại nơi những con báo bị xích bằng xích sắt và quẳng cho chúng mấy dẻ xương sườn. Tại những nơi này, ngài phải tuyệt đối cẩn thận vì đối với những con thú ăn thịt, có biết bao chuyện khôn lường có thể xảy ra. Sau đó ngài lại tiếp tục đi, và sau lưng ngài, ông Kedir tiếp tục báo cáo. Vào thời điểm nhất định, đức vua khẽ gật đầu, đó là tín hiệu truyền đi cho ông Kedir biết là đức vua cho ông lui. Viên quan này cúi gập người và mất hút trên con đường nhỏ sau khi đi giật lùi một đoạn dài, sợ không làm như thế thì sẽ phạm thượng vì quay lưng về phía đức vua. Đúng lúc đó viên quan phụ trách công nghiệp và thương mại – Makonen Habte-Wald – từ sau một gốc cây hiện ra. Ông ta tiến lại gần đức vua đang dạo chơi và đi theo sau, cách ngài một bước chân, vừa đi vừa báo cáo tình hình. Habte–Wald có mạng lưới mật vụ riêng. Ông duy trì đội quân này là do sẵn máu say mê quấy rối người khác, song cũng để lấy lòng đức vua đáng kính. Bây giờ, trên cơ sở những thông tin do tay chân cung cấp, ông kể cho đức vua nghe những gì vừa xảy ra đêm qua. Đức vua lại yên lặng nghe, không hỏi câu nào, cũng không bình luận gì, hai tay ngài chắp sau lưng. Đôi khi ngài đi lại phía đàn chim hồng lạc, những chú chim nhút nhát này lập tức bỏ chạy và vị hoàng đế khả kính bất giác bật cười trước cảnh một loài vật dám khước từ sự gần gũi của mình. Cuối cùng ngài tiếp tục bước đi và làm động tác cúi đầu xuống, Habte–Wald lập tức nín lặng và lùi lại sau một đoạn rồi mất hút trên con đường nhỏ trong công viên. Và lúc đó, như từ dưới đất chui lên, viên quan có tên Asha Walde–Mikael, với đôi vai u, một người được coi là tai mắt của hoàng đế, con người rất mực trung thành. Viên quan này chịu trách nhiệm giám sát đội cảnh sát chính trị có chức năng thi đua với cơ quan phản gián hoàng gia của Solomon Keđir và tiến hành cạnh tranh quyết liệt với mạng lưới thu thập thông tin riêng mà Makonen Habte–Wald phụ trách. Công việc mà các vị quan này chỉ đạo rất nặng nề và nguy hiểm. Họ luôn phải sống trong lo âu, sợ hãi, vì nếu có tin tức gì không được bẩm báo kịp thời, họ sẽ bị đức vua quở trách, hoặc nếu kẻ cạnh tranh với mình bẩm báo giỏi hơn thì đức vua sẽ lập tức nghĩ: tại sao Solomon hôm nay cho ta một bữa tiệc thịnh soạn, còn Makonen thì đem đến toàn những thứ bỏ đi? Hắn không nói vì hắn không biết hay hắn yên lặng vì hắn cũng đang sắp đặt một âm mưu gì đen tối chăng? Hoàng đế đáng kính đã không ít lần nếm mùi những hành động phản loạn do những người được coi là rất thân cận tiến hành. Vì thế ngài trừng phạt cả sự yên lặng. Nhưng ngược lại, nói liên hồi kỳ trận cũng làm đức vua chán ngán, làm rác tai ngài, cho nên nói lắm cũng không phải một lối thoát hay. Dáng vẻ bề ngoài của mấy viên quan kể trên đã nói lên rằng họ đang sống trong mối đe dọa lớn. Họ mất ngủ, bị trạng thái mệt mỏi kéo dài hành hạ vì phải hoạt động trong trạng thái căng thẳng liên tục, luôn trong cơn sốt, trong cuộc chạy đua, trong sự ngột ngạt của căm ghét và sợ hãi bao quanh không bao giờ chấm dứt. Có cái lá chắn là hoàng đế, song hoàng đế có thể kết thúc mạng sống của họ chỉ bằng một động tác vẩy tay. Vâng, quả thật hoàng đế nhân từ đã không giúp cho cuộc sống của các viên quan nói trên dễ chịu hơn, nhẹ nhàng hơn. Như tôi đã nói, trong lúc đi bách bộ, Hajle Sellasje lắng nghe bẩm báo về tình trạng hoạt động phản loạn trong vương quốc của mình, không bao giờ người đặt câu hỏi và không đưa ra bất cứ câu bình luận nào về những thông tin vừa nhận được. Bây giờ tôi có thể nói là đức vua biết rất rõ điều mình làm. Người muốn nhận được những thông tin còn trong tình trạng tươi nguyên, nghĩa là những thông tin đích thực, chính xác, còn nếu người nêu ra câu hỏi hoặc đưa ra ý kiến riêng thì kẻ cung cấp thông tin có thể bắt đầu ngoan ngoãn thay đổi sự kiện cho phù hợp với cách hình dung của hoàng đế và khi đó toàn bộ những gì được bẩm báo sẽ mất tính tự nhiên và tính khách quan, khiến cho hoàng đế không thể biết được chuyện gì thực sự đang xảy ra trong hoàng cung và trong vương quốc của người. Sắp kết thúc cuộc đi bách bộ, đức vua nghe bẩm báo về chuyện đêm qua tay chân của Asha đã thu thập được những gì. Người dừng lại cho lũ chó và một con báo đen ăn, sau đó người ngạc nhiên chiêm ngưỡng vẻ đẹp của con thú ăn kiến và mối mà người vừa được tổng thống Uganda gửi tặng. Người gật nhẹ đầu một cái và ông Asha co rúm người lại, lùi xa, trong lòng nghi nghi hoặc hoặc, không biết mình bẩm báo như vậy là nhiều hay ít so với những gì mà những kẻ thù không độii trời chung của ông – Solomon, kẻ thù của Makonen và Asha, đã bẩm báo. Giai đoạn cuối cùng của cuộc dạo chơi bao giờ Hajle Sellaje cũng đi một mình. Trong công viên lúc đó trời sáng hẳn, sương tan dần, trong các đám cỏ lấp lánh ánh mặt trời phản chiếu từ những giọt sương. Hoàng đế tỏ vẻ nghĩ ngợi. Đó là lúc người sắp xếp chiến thuật chiến lược, cách xử lý bài toán nhân sự và chuẩn bị cho bước đi tiếp theo trên bàn cờ quyền lực. Hoàng đế suy nghĩ sâu hơn về những thông tin vừa nhận được từ các viên quan thân cận. Có rất ít điều quan trọng. Bọn họ chủ yếu tố cáo lẫn nhau. Đức vua đáng kính ghi nhớ tất cả mọi thứ trong đầu, trí nhớ của người giống như một cái máy tính, lưu giữ được từng chi tiết nhỏ, bất cứ điều gì, dù là vụn vặt nhất, đều được ghi nhớ. Trong hoàng cung không có bộ phận nhân sự, không có cặp lưu trữ tài liệu, không có biểu mẫu thăm dò dư luận. Tất cả những thứ đó đức vua để trong trí nhớ của mình, kể cả lý lịch tuyệt mật về những phần tử tinh hoa của hoàng cung. Tôi như thấy hoàng đế lúc này đang bước đi, rồi dừng lại, mặt ngẩng lên trời, có vẻ người đang đắm chìm trong những lời cầu nguyện. Lạy Chúa, Chúa hãy cứu ta khỏi những kẻ đầu thì gục trên hai đầu gối, nhưng trong thâm tâm lại giấu con dao và lúc nào cũng muốn đâm sâu vào sau lưng ta. Nhưng liệu Chúa có thể giúp được gì? Tất cả bọn người bao quanh hoàng đế đều là lũ người như vậy cả - gục đầu trên gối nhưng giấu kín con dao trong lòng. Trên những đỉnh núi cao không bao giờ có luồng khí ấm áp. Chỉ có gió lạnh băng, mỗi người đứng trên đó đều co ro vì rét và luôn phải canh chừng để kẻ đứng bên cạnh để hắn không đẩy mình rơi xuống vực sâu.


T.K.B.:


Ông bạn thân mến ơi, tất nhiên tôi còn nhớ chứ. Chả gì thì mọi chuyện như chỉ mới xảy ra hôm qua. Hầu như mới ngày hôm qua, nhưng là hôm qua cách đây một thế kỷ. Trong thành phố này, nhưng là ở hành tinh khác, cái hành tinh đã biến đi rất xa. Ôi, sao mọi chuyện lại đảo lộn thế nhỉ - thời gian, nơi chốn, thế giới bị tan thành nhiều mảnh, không thể nào gắn lại như cũ được. Chỉ có hồi ức, thứ duy nhất còn cứu vớt được, thứ duy nhất còn lại từ đời sống đã qua. Tôi ở bên hoàng đế rất lâu, với tư cách là viên quan phụ trách việc ghi chép. Chúng tôi bắt đầu công việc vào lúc tám giờ sáng, để tất cả sẵn sàng vào lúc chín giờ, khi hoàng đế thiết triều. Đức vua của chúng tôi ở trong lâu đài mới, đối diện với Africa Hall, nhưng mọi hoạt động chính thức của người thì lại diễn ra ở lâu đài cũ được hoàng đế Menelik xây dựng trên một gò đất cao bên cạnh. Cơ quan chúng tôi đặt chính tại lâu đài cũ, nơi có trụ sở phần lớn các bộ sậu của hoàng cung, bởi vì hoàng đế Hajle Sellasje muốn tất cả mọi thứ phải nằm trong tầm tay với của mình. Người đi đến đây bằng một trong số hai mươi bảy chiếc ô tô. Về ô tô, người đánh giá cao nhất là rolls – royce vì lý do là đường nét của nó trang nghiêm, long trọng, song để thay đổi, người cũng sử dụng mercedes và lincoln – continental. Tôi xin nhắc lại rằng đức vua khả kính của chúng tôi là người đầu tiên đưa ô tô vào đất Etiopia và người luôn có thái độ thiện chí với những ai ủng hộ các tiến bộ kỹ thuật mà, thật đáng tiếc, truyền thống dân tộc chúng tôi luôn cư xử lạnh lùng. Hoàng đế của chúng tôi suýt nữa đánh mất quyền lực, thậm chí cả tính mạng, khi vào những năm hai mươi, từ châu Âu, người đã đưa về đất nước Etiopia chiếc máy bay đầu tiên! Loại phi cơ đơn giản đó khi ấy được coi là sản phẩm của quỷ sa tăng và trong giới quý tộc đã âm ỉ các cuộc nổi loạn chống lại vị hoàng đế đầu óc điên cuồng, con người hầu như trở thành phù thủy, chuyên suy nghĩ những chuyện bí hiểm khác thường. Từ đó đức vua đáng kính của chúng tôi phải dè chừng vì tính bốc đồng của mình, cho đến khi ở tuổi khá cao, không còn hào hứng với tất cả những gì mới lạ nữa, người đã kiềm chế hoàn toàn những việc làm ngông cuồng thời trai trẻ. Vậy là cứ chín giờ sáng, hoàng đế đến cung điện cũ. Trước cổng vào đã thấy đám đông thần dân chờ sẵn để cố tìm mọi cách trao tận tay đức vua những kiến nghị, đơn thư của mình. Về mặt lý thuyết, đây là con đường ngắn nhất để tìm kiếm sự công bằng và lòng thương hại nơi hoàng cung. Bởi vì dân chúng đất nước tôi là dân mù chữ, mà theo nguyên tắc thì chỉ kẻ nghèo khó mới đi tìm sự công bằng. Những người này phải chịu cảnh nợ nần cả năm vì khoản tiền trả cho người viết đơn thư cầu khẩn cho mình. Chưa kể là về mặt lễ tân, họ cũng gặp chuyện trớ trêu, bởi đã có qui định là lũ thường dân trước mặt hoàng đế phải quỳ và úp mặt xuống đất, vậy thì ở tư thế này họ làm sao dâng đơn từ mà cầu với chả cứu khi chiếc xe sang trọng của đức vua lướt qua. Cuối cùng thì người ta cũng tìm ra lối thoát bằng cách khi đi đến gần đám thảo dân, xe của hoàng đế giảm tốc độ, người ghé sát khuôn mặt nhân từ của mình vào cửa kính, còn chiếc xe của đội cận vệ đi ngay tiếp sau sẽ nhận một phần đơn thư từ đám thảo dân đang gục mặt sát đất dâng lên. Nói là chỉ nhận một phần thôi vì có cả một rừng cánh tay đưa lên. Nếu đám người này quỳ sát đường đi của đoàn ô tô thì đội cận vệ buộc phải dẹp ngay, bằng cách vừa quát tháo vừa dùng chân tay đẩy họ lùi ra xa, một phần vì sự an toàn, một phần phải giữ nghiêm phép nước, không thể có chuyện hoàng đế đi đến cung điện mà đường lại không thông, kế hoạch thời gian không bảo đảm. Bây giờ đoàn xe nối đuôi nhau lên gò đất cao và dừng lại giữa khoảng sân rộng của tòa lâu đài. Tại đây cũng có một đám đông đứng chờ hoàng đế, song đám đông này khác hẳn cái đám người hỗn loạn trước cổng vào cung điện, cái đám đông luôn bị đội cận vệ gồm những người được chọn lọc cẩn thận để tham gia Đội vệ binh hoàng gia, dạy cho bài học về sự lễ độ. Đám đông đang đón chào hoàng đế trên sân cung điện gồm những người phụ trách công việc liên quan trực tiếp đến đức vua hàng ngày. Chúng tôi tề tựu ở đây từ sớm để kịp có mặt khi xe của đức vua đến, bởi cái giây phút này có một ý nghĩa vô cùng trọng đại. Ai cũng muốn xuất đầu lộ diện, bởi ai cũng nuôi một niềm hy vọng trong lòng là mình sẽ được đức vua để ý đến. Không, không phải là mơ ước chuyện người dành cho sự chú ý đặc biệt, chẳng hạn như người nhận ra, đi lại gần, và bắt chuyện. Không, làm sao dám mơ ước đến chuyện ấy! Tôi xin nói thẳng, có mơ là mơ được chú ý một chút thôi, rất nhỏ thôi, hoàn toàn chỉ là một chút thoáng qua, lướt qua giây lát, không khiến hoàng đế phải bận tâm gì cả, chỉ cần một phần nhỏ của giây thôi, nhưng là sự thoáng qua khiến sau đó người ta cảm thấy xao xuyến trong lòng và toàn bộ tâm trạng bị bao trùm bởi cái ý nghĩ đắc thắng: Ôi, ta đã được người để ý đến! Sau đó ý nghĩ này sẽ tiếp thêm cho người ta sức mạnh lớn lao. Nó tạo ra những khả năng lớn không lường trước được! Bởi vì chúng ta thử tính xem, con mắt của hoàng đế lướt qua những khuôn mặt, chỉ là lướt qua thôi! Đúng ra có thể nói là không có chuyện gì đặc biệt cả, nhưng mặt khác ta lại phải tự hỏi: không có gì là như thế nào khi rõ ràng là ánh mắt người đã lướt qua ta! Ngay sau đó chúng ta cảm thấy mặt mình nóng lên, máu chạy rần rật, máu chạy nhanh lên đầu, tim ta đập mạnh hơn. Đó là những bằng chứng rõ ràng nhất về việc ánh mắt của đức vua – người bảo hộ ta - đã lướt qua ta, nhưng thôi, những bằng chứng đó bây giờ chẳng có ý nghĩa gì. Quan trọng hơn là cái tiến trình diễn ra sau đó liên quan đến việc đức vua ghi nhớ trong đầu sự việc đã diễn ra. Như mọi người đều biết, đức vua của chúng tôi, do không tận dụng kỹ năng đọc cũng như kỹ năng viết, nên người sở hữu trí nhớ siêu việt về những gì con mắt nhìn thấy. Và trên nền món quà thiên phú ấy của hoàng đế, chủ nhân của một bộ mặt được ánh mắt đức vua giây lát lướt qua, có thể xây dựng cho mình cả một niềm hy vọng lớn lao. Bởi vì anh ta có thể tính đến chuyện một dấu vết nào đó, có thật, rõ ràng, sắc nét, đã đọng lại trong trí nhớ đức vua. Bây giờ thì cần phải bền bỉ và kiên quyết bước đi trong đám đông bằng những thao tác khéo léo, khi là những bước trượt dài, khi lại rẽ người khác ra để vượt lên, không ngại xô đẩy, cốt sao khuôn mặt mình hiện lên, lộ ra, và phải lo các thao tác khác nhằm tới mục tiêu là cái nhìn của hoàng đế, dù chỉ thoáng qua, dù là vô tình, không hề cố ý, nhưng ghi lại, giữ lại, níu kéo lại, trong trí nhớ của người về khuôn mặt của ta. Sau đấy phải chờ cho đến cái thời điểm hoàng đế chợt nghĩ: khoan, khoan, khuôn mặt này trông quen quen, hình như ta đã nhìn thấy ở đâu, có điều là họ tên thì ta không biết. Và, chúng ta cứ đặt giả thiết là người hỏi cận thần về tên họ. Chỉ hỏi tên họ thôi, nhưng như thế là quá đủ! Bây giờ khuôn mặt và tên họ khớp lại với nhau và hình thành một nhân vật đầy đủ, một ứng cử viên sáng giá sẵn sàng để gia phong. Ôi, nếu chỉ là khuôn mặt – vẫn vô danh, nếu chỉ là họ tên – trừu tượng quá, nhưng ở đây, cả khuôn mặt, cả họ tên, thì đã có cái để cụ thể hóa, để tạo ra một hình hài, một dáng vẻ nhất định, có cái để làm thành sự phân biệt. Ôi cái số đỏ ấy người ta mong đợi biết bao, nhưng nó cũng khó trở thành hiện thực biết bao. Bởi vì trên khoảng sân rộng bao la trước cung điện, nơi người ta chào đón đức vua, những người sẵn sàng phô bộ mặt mình ra có đến hàng chục, thậm chí – tôi không phóng đại chút nào đâu – có tới hàng trăm, bộ mặt này cọ vào bộ mặt kia, mặt đứng cao nhấn chìm mặt đứng thấp, mặt đen hơn che lấp mặt trắng hơn, mặt khinh bỉ mặt, mặt già vươn ra phô bày rõ hơn mặt trẻ, mặt yếu hơn phải chịu nhường mặt mạnh hơn, mặt ghét mặt, mặt nhàn nhạt tương phản với mặt quí tộc, mặt hung hăng bắt nạt mặt yếu đuối, mặt dằn mặt, nhưng thậm chí những bộ mặt bị xúc phạm, bị giày xéo, trở thành bộ mặt loại ba, bị khuất phục hoàn toàn, thì chúng, cho dù trong thực tế đã bị đẩy ra xa ở một mức độ nào đó, bị qui luật phân chia đẳng cấp ném đi, vẫn muốn bước lên phía trước, vẫn ngả bên này bên kia, bên cạnh những bộ mặt loại một, những bộ mặt thành danh, cho dù sự phô diễn này chỉ nhờ một phần nhỏ khuôn mặt, một bên tai hay mấy xăng-ti-mét thái dương, một bên quai hàm, cốt sao một trong số những bộ phận đó tiếp cận con người của hoàng đế! Khi đức vua đáng kính muốn thu mọi khuôn mặt vào mắt người sau khi bước ra khỏi xe, người có thể nhìn thấy rằng bao quanh người không chỉ là một đám đông ngoan ngoãn, nhún nhường nhưng cũng đồng thời là suối nham thạch nóng bỏng tuôn ra quấn lấy người, rằng ngoài những kẻ được coi là nhóm trung tâm có chức danh địa vị cao sang, còn có những người đứng cả bên phải lẫn bên trái, phía trước, phía sau, hơi xa một chút cũng có mà xa hơn nữa cũng có, đứng ngay ở cửa ra vào, cạnh cửa sổ, trên những con đường nhỏ người thường đi qua là cả đội quân phục vụ, nấu nướng, quét dọn, làm vườn, cận vệ, họ cũng muốn phô mặt mình ra để được người chú ý. Và đức vua đáng kính của chúng tôi đưa mắt nhìn tất cả. Liệu đức vua có lấy làm ngạc nhiên không? Tôi ngờ là không. Đức vua đáng kính của chúng tôi đã có thời là một phần của đám đông muôn mặt ấy. Nếu người không phô bày bộ mặt mình thì làm sao ở tuổi hai mươi bốn người đã được chọn làm nhân vật kế vị ngai vàng. Mà hồi ấy sự cạnh tranh diễn ra kinh khủng biết bao! Cả một đội quân đông đảo gồm các phần tử ưu tú lao vào cuộc cạnh tranh để đoạt vương miện. Ai cũng khẩn trương, người này nhìn người kia rồi nhảy bổ vào nhau, nóng lòng muốn vồ lấy vương miện cho mình. Đức ông đáng kính của chúng tôi biết cách chờ đợi. Mà năng khiếu chờ đợi là vô cùng quan trọng. Không có năng khiếu chờ đợi, năng lực kiên nhẫn, thậm chí nếu không biết ngoan ngoãn chấp nhận một điều là cơ hội chỉ có thể xuất hiện sau năm tháng, không phải ngay tức thời, thì không thành nhà chính trị được. Đức vua đáng kính của chúng tôi đã chờ đợi suốt mười năm để được chọn làm người kế vị ngai vàng, sau đó chờ thêm mười bốn năm nữa mới trở thành hoàng đế. Tính tổng cộng – người có gần một phần tư thế kỷ kiên nhẫn, thận trọng, nhưng đầy nhiệt huyết, tiến hành những động tác cần thiết để đoạt vương miện. Tôi nói người thận trọng là vì đức vua của chúng tôi có đặc điểm là kín đáo, khôn ngoan và biết ngậm miệng. Người biết rất rõ mọi ngõ ngách của hoàng cung, người biết rằng ở đây bức vách có tai, rằng đằng sau mỗi tấm rèm đều có những con mắt lúc nào cũng dõi theo từng bước đi của người. Cho nên người phải giỏi giang và khôn ngoan. Trước hết là không được phép lộ mình quá sớm, không được thể hiện lòng tham quyền lực một cách lộ liễu, bởi như vậy sẽ lập tức thống nhất những kẻ cạnh tranh với mình thành một khối vững chắc và thôi thúc họ lao vào cuộc chiến. Ở đời người ta thường đạp nát và hủy diệt những kẻ hăng hái tiến lên hàng đầu. Không, phải hàng năm yên lặng bước đi trong đội ngũ, nhưng cũng phải lo sao để không ai vượt lên trước mình, rồi cảnh giác chờ đợi thời cơ. Vào năm 1930, cuộc chơi này đã đem lại vương miện cho người và người ngồi trên ngôi báu suốt bốn mươi bốn năm sau đó.


 


Khi tôi cho một đồng nghiệp của tôi xem những gì tôi viết về hoàng đế Hajle Sellasje – mà đúng hơn là viết về những chuyện xảy ra trong cung và sự sụp đổ của nó, sau khi được nghe những người từng có mặt trong các đại sảnh của hoàng cung kể lại, chính anh bạn đó đã hỏi xem tôi có đích thân đến thăm những người đang phải ẩn náu đó đây. Một mình tôi ư? Tôi làm sao có thể làm được việc đó! Một người da trắng như tôi, lại là dân ngoại quốc – không ai trong số họ có thể cho phép tôi bước chân vào nhà nếu không có những lời giới thiệu đủ độ tin cậy. Chưa kể là trong bất kỳ trường hợp nào chẳng ai muốn giãi bày tâm sự của mình (nói chung rất khó thuyết phục người dân Etiopia giãi bày tâm sự, họ biết cách ngậm miệng hệt như người Trung Quốc). Vậy làm sao tôi biết được là phải tìm các cựu quan chức nơi nào, hiện tại họ ở đâu, làm gì, trong quá khứ họ là ai, họ có thể kể lại chuyện gì?


Không, tôi không đi một mình, tôi có người hướng dẫn riêng.


Bây giờ, khi anh ấy không còn nữa, tôi có thể nói rõ tên họ của anh. Anh ấy là Teferra Gebrewold. Tôi đến Addis Abeba vào giữa tháng 5 năm 1963. Mấy ngày nữa ở đây sẽ diễn ra cuộc gặp thượng đỉnh tổng thống các nước châu Phi độc lập. Hoàng đế Etiopia rất bận bịu với công việc chuẩn bị cho sự kiện trọng đại này. Addis Abeba khi ấy đã là một quần cư lớn có đến mấy trăm ngàn dân, nằm trên mấy quả đồi, giữa các khu rừng khuynh diệp bạt ngàn. Trên những thảm cỏ dọc đường phố chính mang tên Churchill Road có những đàn bò và dê thả rông, cho nên ô tô luôn phải dừng lại mỗi khi những người dân lùa lũ lạc đà qua đường. Đã có mưa to nên trên các phố nhỏ, ngõ ngách, xe cộ phải đi trên bùn lép nhép, mỗi lúc một khó khăn hơn, cuối cùng bị tắc nghẽn, tạo nên một hàng dài ô tô đứng yên tại chỗ.


Hoàng đế đã hiểu ra rằng thủ đô của cả châu Phi phải hoành tráng hơn, nên ngài ra lệnh xây dựng mấy tòa nhà hiện đại và sắp xếp lại trật tự những đường phố quan trọng nhất. Đáng tiếc là việc xây dựng cứ ỳ ạch mãi, không có điểm kết thúc nên khi tôi ngắm nghía những giàn giáo ở các điểm khác nhau trong thành phố và nhìn những người đang làm việc tại đây, tôi chợt nhớ đến cảnh tượng mà Evelyn Waugh đã miêu tả khi vào năm 1930 ông lần đầu tiên đến Addis Abeba để chứng kiến lễ đăng quang của hoàng đế Etiopia:


“Có cảm giác là mãi đến bây giờ người ta mới bắt tay vào việc xây dựng thành phố. Trên mỗi góc phố, có thể bắt gặp các ngôi nhà đang xây nửa chừng. Một số ngôi nhà đã bị bỏ hoang, ở một số công trình thấy có những người địa phương, ăn mặc rách rưới, đang làm việc. Một buổi chiều nọ, tôi đã nhìn thấy hai hay ba chục con người như vậy làm việc dưới sự chỉ đạo của ông thợ cả người Oman. Họ xúc gạch vụn và đá chất đống trên sân trước lối chính dẫn vào cung điện. Công việc của họ là xúc đầy gạch đá vào những hộc gỗ, sau đó gánh đổ vào một đống cách đó khoảng năm mươi mét. Ông thợ cả len lỏi giữa đám công nhân, tay cầm một cái gậy dài. Nếu ông có việc phải đi đâu một lát thì tất cả lập tức ngừng ngay lại. Không có nghĩa là mọi người bắt đầu ngồi xuống, nói chuyện rồi nằm ngả nằm nghiêng trên đất, không, đơn giản là họ chết lặng tại chỗ họ đang đứng, bất động như con bò đang đứng nghỉ trên đồng cỏ. Đôi khi họ đứng yên, không động đậy, nhưng trong tay vẫn giữ khư khư viên gạch. Cuối cùng viên thợ cả xuất hiện và khi đó mọi chuyện lại bắt đầu chuyển động, nhưng vô cùng chậm chạp, nặng nề, giống như các nhân vật trong một cảnh phim quay chậm. Khi ông thợ cả vung gậy đập lên đầu lên người đám công nhân, họ không kêu cứu, cũng không phản kháng gì, chỉ khẩn trương hơn một chút. Khi những cú vụt bằng gậy kết thúc, đám công nhân trở lại nhịp độ chậm chạp vốn có, còn khi ông thợ cả có việc phải đi, lập tức mọi người lại trong trạng thái chết đứng, bất động”.


Nhưng lần này thì một sự nhộn nhịp chưa từng thấy đang diễn ra trên các đường phố chính. Những cỗ xe ủi lớn đi men theo đường phố húc đổ các ngôi nhà đắp bằng đất mà hôm trước cảnh sát đã đuổi được chủ nhân ra khỏi thành phố. Tiếp theo, các đội thợ nề đã xây tường cao để che khuất những ngôi nhà tranh vách đất còn lại. Các đội thợ khác quét vôi những bức tường vừa xây theo hình mẫu mang đậm tính dân tộc. Cả thành phố thơm mùi bê tông vôi vữa mới, mùi nhựa đường vừa trải và mùi lá cọ dùng để trang trí cổng chào.


Nhân dịp cuộc gặp thượng đỉnh, hoàng đế cũng đã mở một cuộc chiêu đãi rất sang trọng. Để phục vụ buổi chiêu đãi này, mấy chiếc phi cơ đặc biệt đã phải chở từ châu Âu sang rượu vang và trứng cá hồi. Người ta cũng đã trả một khoản tiền 25 ngàn đô la cho việc mời ca sĩ Miriam Makeba từ Hollywood sang để anh này hát các bài dân ca của dân tộc Zulu cho các vị tổng thống nghe trước khi kết thúc buổi tiệc. Số lượng khách mời là trên dưới ba ngàn người, được phân chia thành mấy loại cao thấp khác nhau, mỗi loại được đặc trưng bằng màu sắc của giấy mời và dùng món ăn theo thực đơn khác nhau.


Buổi chiêu đãi diễn ra trong cung điện cũ của hoàng đế. Khách mời đi giữa những hàng dài vệ binh của hoàng gia được trang bị kiếm và sử kích. Đội kèn, dưới ánh đèn pha sáng choang, đứng trên các tháp cao, cử bản nhạc hùng tráng của hoàng cung. Trên các hành lang trong cung điện có đặt những hình nộm thể hiện những cảnh tượng lấy từ cuộc đời của các vị hoàng đế đã băng hà. Từ trên các ban công, những cô gái trong bộ quần áo dân tộc đứng rắc hoa lên đầu khách. Cả bầu trời sáng rực vì pháo hoa.


Khi khách khứa đã tề tựu đông đủ cạnh các dãy bàn tiệc trong đại sảnh, nhạc kèn nổi lên hùng tráng, hoàng đế bước vào, đi bên phải người là Naser. Hai người tạo thành một cặp vô cùng khập khiễng: Naser cao lớn, đẫy đà, đúng là một gã đàn ông tướng mạo hoàng đế, đầu ngẩng cao, người hơi chúi về phía trước với nụ cười thường trực trên môi, còn đôi môi thì được đặt trên đôi quai hàm rộng, bên cạnh ông ta, hoàng đế thân hình thấp bé, mỏng mảnh và bước đi không vững do không cưỡng lại được tuổi già, khuôn mặt gầy gò, hốc hác, chỉ có đôi mắt to là vẫn như xưa, long lanh, cái nhìn xuyên suốt. Sau lưng hai người, một số nguyên thủ quốc gia cũng bước vào đại sảnh theo từng đôi một. Cả phòng lớn đứng dậy, mọi người vỗ tay. Người ta vỗ tay chào đón sự đoàn kết và chào đón hoàng đế. Sau đó bữa tiệc thật sự diễn ra. Cứ một anh hầu bàn da đen thì phục vụ bốn vị khách (có anh hầu bàn xúc động đến nỗi để nhiều thứ tuột khỏi tay). Dụng cụ trên bàn tiệc đều bằng bạc, làm theo phong cách haran. Các loại đồ dùng này chắc chắn phải nặng tổng cộng vài tấn, toàn đồ quý bằng bạc, lại là đồ cổ cả. Vì thế nhiều vị khách bỏ vào túi mình nào thìa nào dĩa.


Thịt, cá, pho mát, hoa quả chất đống trên bàn. Những cái bánh ga tô nhiều màu sặc sỡ không chịu được nhiệt độ cao, đã chảy thành dòng. Rượu vang hảo hạng rớt đầy các mặt bàn, tạo nên một thứ mùi dễ chịu. Nhạc nổi lên, những người sẵn máu hài hước không giữ được vẻ nghiêm trang nữa, ngó ngoáy người, mua vui cho thực khách. Thế là thời gian trôi nhanh giữa các cuộc chuyện trò, cười đùa, ăn uống.


Mọi cái diễn ra thật vui.


Trong thời gian diễn ra bữa tiệc, tôi phải lo đi tìm cho mình một nơi yên tĩnh, nhưng tôi không biết chỗ đó ở đâu. Tôi bước ra khỏi đại sảnh, qua cửa sau, ra sân. Đó là một đêm tháng Năm tối trời, mưa nhỏ, mát mẻ. Ngay cạnh cửa sau là một suối nước nhân tạo, cách đấy mấy chục mét có một cái nhà tạm không tường, điện chiếu sáng rất yếu ớt. Từ cửa đến căn nhà tạm là một hàng dài những người hầu bàn. Họ chuyền tay nhau những đĩa thức ăn thừa từ bàn tiệc. Trên lũ bát đĩa đó, một dòng suối xương xẩu, đầu cá, mẩu thịt bị nhằn ra, xalat nát bét… tuôn trào về ngôi nhà tạm. Tôi đi về phía cái nhà tạm ấy, không ít lần trượt chân trên lớp đất nhớp nháp và các thứ đồ thừa từ bàn tiệc thải ra. Phía sau cái nhà tạm, tôi nhìn thấy có nhũng bóng đen động đậy, có những tiếng nhai tóp tép, tiếng thở dài và liếm mép. Tôi vòng ra phía sau.


Trong đêm tối dày đặc, trên lớp bùn đất và dưới làn mưa nhẹ, có một đám đông những người ăn xin chân trần đứng sát vào nhau. Mấy người rửa bát trong cái nhà tạm ném cho họ các thứ còn lại trên bát đĩa. Tôi nhìn đám đông đang ăn lấy ăn để những đầu cá, xương xẩu, thịt thừa do khách nhằn ra. Họ ăn ngon lành và chăm chú. Trong cái sự ăn uống này có thể thấy rất rõ sự tập trung và thận trọng, hơi vội vàng một chút, bỏ sang một bên khía cạnh sinh học, còn cái đói thì được đáp ứng trong sự căng thẳng, cố gắng, thôi thúc.


Thỉnh thoảng những người hầu bàn ngừng tay, dòng suối bát đĩa ngừng chảy và đám đông có một lát thư giãn, các cơ chùng xuống giây lát, giống như khi người chỉ huy hô “nghỉ”. Mọi người lau mặt, xốc lại áo xống vì vừa mưa vừa bẩn. Nhưng chỉ lát sau dòng chảy của bát đĩa lại khởi động trở lại, bởi trên “thượng nguồn” vẫn tiếp tục diễn ra cuộc chè chén lớn, vẫn tiếp tục xì xụp, loạp xoạp – và đám đông những người ăn xin lại bắt đầu động tác ẩm thực nhiệt tình, chăm chỉ của mình.


Thấy người ướt át quá, tôi quay lại đại sảnh, trở lại với bữa tiệc do hoàng đế khoản đãi. Tôi ngắm nghía một lát những bạc, những vàng, những nhung lụa trong đại sảnh, ngắm nhìn ngài tổng thống Kasavubu, ngắm người ngồi cạnh tôi, ông Aye Mamlaye nào đó, tôi hít sâu mùi thơm của hương và hoa hồng, nghe bài hát sôi động của bộ lạc Zulu do Miriam Makeba hát, rồi tôi kính cẩn cúi chào hoàng đế (theo nghi thức ngoại giao bắt buộc) để đi về nhà.


Sau khi các vị tổng thống lên đường về nước (cuộc gặp thượng đỉnh này diễn ra vội vã, bởi vì mỗi chuyến thăm và lưu lại ở nước ngoài có thể phải trả giá bằng chuyện mất ghế tổng thống của mình), hoàng đế mời chúng tôi – tức là nhóm phóng viên nước ngoài có mặt nhân dịp hội nghị thượng đỉnh những người đứng đầu các quốc gia châu Phi – tới dự bữa sáng thân mật. Thông tin và giấy mời được chuyển đến cho chúng tôi tại Africa Hall, nơi chúng tôi phải trải qua những ngày đêm chờ đợi vô vọng, sốt ruột, đau đầu để bắt liên lạc với thủ đô của mình. Anh chàng người địa phương chịu trách nhiệm đỡ đầu chúng tôi – chính là Teferra Gebrewold, dân Amhara cao lớn, như thường lệ, câm như hến và kín như bưng. Nhưng lúc này anh tỏ ra xúc động, linh hoạt. Người ta nhận thấy rằng cứ mỗi lần nhắc đến hoàng đế Hajle Sellasje, anh ta đều cúi đầu trang nghiêm. – Tuyệt quá! – anh Ivo Svarzini, người Malta, về lý thuyết đang làm việc cho hãng tin MIB khi đó không còn tồn tại, nhưng trong thực tế là làm cho bộ phận trinh sát của tập đoàn dầu lửa Italia ENI, nói. – Chúng ta có thể nhân dịp nay bày tỏ với hoàng đế nỗi bất bình về cách thức tổ chức thông tin liên lạc kém cỏi ở đây.


Tôi phải nói thêm rằng giới phóng viên nước ngoài hiện thâm nhập mọi ngõ ngách của thế giới bao gồm những người khuyển nho và cứng rắn, những người đã nhìn thấy tất cả, trải qua tất cả, những người, để hoàn thành công việc nghề nghiệp của mình, buộc phải đấu tranh không ngừng với hàng loạt khó khăn, cản trở. Về họ, rất nhiều người không hề có chút khái niệm nào, vì thế chẳng có gì khiến họ xúc động hay mảy may rung cảm, còn một khi đã bị dồn đến trạng thái kiệt quệ hay tức giận, dĩ nhiên họ sẵn sàng kêu ca đến hoàng đế về những điều kiện làm việc tồi tệ và sự giúp đỡ không một chút hiệu quả của chính quyền sở tại. Nhưng thậm chí những người như vậy đôi khi cũng biết cân nhắc về cách cư xử của mình. Và thời điểm đó đã xuất hiện khi Svarzini phát biểu, chúng tôi nhận thấy Teferra tái mặt đi, đầu cúi gằm và bắt đầu lẩm bẩm những câu không rõ nghĩa, phải mãi sau chúng tôi mới khớp chúng lại và hiểu ra rằng nếu chúng tôi nói chuyện này ra thì hoàng đế sẽ chặt đầu anh ta. Anh nhắc đi nhắc lại điều đó. Trong nhóm phóng viên xuất hiện sự chia rẽ. Tôi ủng hộ quan điểm bỏ qua mọi chuyện. Nhiều người theo cách suy nghĩ của tôi, nên cuối cùng chúng tôi quyết định là trong cuộc tiếp xúc với hoàng đế, chúng tôi sẽ không động chạm gì đến việc tổ chức thông tin liên lạc trong thời gian diễn ra hội nghị thượng đỉnh nữa. Teferra lắng nghe cuộc tranh luận từ đầu đến cuối và kết luận cuối cùng chắc chắn khiến anh ta hết sức vui mừng. Nhưng cũng như bất cứ anh chàng người Amhara nào khác, bản chất Teferra không thay đổi: anh ta hoài nghi mọi điều, không tin bất cứ ai – mà đặc tính này được thể hiện rõ nhất trong quan hệ với người nước ngoài – cho nên anh ta vẫn rời phòng họp của chúng tôi trong tâm trạng chán chường, thất vọng. Và đây, ngày hôm sau chúng tôi rời phòng tiếp khách của hoàng đế với tấm dây chuyền bằng bạc có biểu tượng hoàng gia. Viên quan phụ trách nghi lễ dẫn chúng tôi đi qua một hành lang dài, đến cửa chính. Dưới chân tường tôi nhìn thấy Teferra đang đứng trong tư thế giống như bị can chuẩn bị tiếp nhận lời tuyên phạt của tòa. Mồ hôi đọng thành từng giọt to trên mặt. – Teferra! – Svarini vui vẻ gọi to – chúng tôi khen anh hết lời trước mặt đức vua mà. (Anh ta nói đúng sự thật). Anh sẽ được thăng chức đấy! – Và anh vỗ nhẹ lên đôi vai vẫn còn run run của Teferra.


Sau này cho đến khi Teferra còn sống, cứ mỗi lần đến Addis Abeba, tôi lại ghé thăm anh. Ngay cả sau khi hoàng đế bị lật đổ, anh ta vẫn tiếp tục hoạt động một thời gian, bởi vì – cũng thật may mắn cho anh – anh bị đuổi khỏi hoàng cung mấy tháng trước khi sự trị vì của Hajle Sellasje kết thúc. Nhưng anh quen tất cả những người thuộc loại cận thần của hoàng đế. Không những thế, đối với một số người anh còn gắn bó máu thịt là khác. Cũng như tất cả những người Amhara luôn đặt lên hàng đầu máu hiệp sĩ, anh biết cách thể hiện lòng biết ơn và tìm mọi cách để trả ơn việc các phóng viên nước ngoài chúng tôi đã cứu anh khỏi mất đầu. Ngay sau khi hoàng đế Etiopia bị phế truất, tôi đã gặp Teferra trong khách sạn “Ras”, tại phòng ở của tôi. Thành phố khi đó đang trong những ngày đầu cách mạng đầy phấn khích. Các đoàn biểu tình, tuần hành đông người tham gia, bước đi thành hàng dài dặc, rầm rộ dọc theo đường phố. Người thì ủng hộ chính phủ quân sự, kẻ đòi chính phủ này phải từ chức, cũng có các đoàn biểu tình yêu cầu cải cách nông nghiệp và cũng có đoàn đòi phải đưa ê kíp cũ ra tòa xét xử, có đám đông kêu gọi chia tài sản của hoàng đế cho dân nghèo. Ngay từ sáng sớm, trên các đường phố đã đông nghịt những đám người cuồng nhiệt, nên xô xát, xung đột đã xảy ra, gạch đá bay lung tung từ bên này sang bên kia. Đúng lúc đó, trong căn phòng của mình ở khách sạn, tôi nói với Teferra rằng tôi muốn tìm lại các cận thần của hoàng đế. Anh ta hết sức ngạc nhiên, nhưng lại sẵn sàng đồng ý gánh lấy một phần trách nhiệm trong việc này. Các cuộc gặp gỡ bí hiểm của chúng tôi bắt đầu. Chúng tôi tạo thành một cặp bài trùng những nhà sưu tập muốn lấy lại các bức tranh đã được lệnh phá hủy để mở cuộc triển lãm về nghệ thuật trị vì của một thời đã qua.


Đúng vào khoảng thời gian đó, cơn cuồng phong fetasza đã nổ ra, để sau đó mở rộng quy mô đến mức chưa từng có trên thế giới, còn nạn nhân của nó là tất cả chúng tôi – những người đang sống, không phân biệt màu da, tuổi tác, giới tính hay địa vị. Fetasza là một từ tiếng Amhara, có nghĩa là xét lại. Bỗng nhiên mọi người bắt đầu chiến dịch xét lại nhau. Từ sáng đến tối, thậm chí suốt cả ngày đêm, khắp nơi, không có ngoại lệ, tất cả tiến hành xét lại. Cách mạng chia người ta thành nhiều loại khác nhau và cuộc chiến bắt đầu. Không có chướng ngại vật, không có chiến hào, cũng không có chiến tuyến rõ ràng, vì thế mà mỗi người chúng ta bắt gặp có thể là kẻ thù của ta. Bầu không khí chứa đựng đầy rẫy các nguy cơ này càng được đẩy lên mức ngột ngạt hơn khi mối ngờ vực người khác đã lên đến mức bệnh hoạn trong mỗi người Amhara, nay được tiếp thêm sức sống, kể cả mối nghi ngờ đối với người Amhara thứ hai. Nguyên tắc của tộc người này là không bao giờ được phép tin vào bụng dạ, vào lời nói, vào sự giúp đỡ của người khác, bởi vì mục đích của con người là đen tối, là mang tính bội bạc, mỗi người là một kẻ ngấm ngầm nuôi ý đồ phản loạn. Triết lý của những người Amhara là bi quan, chán nản, cho nên cái nhìn của họ một mặt buồn rầu, nhưng mặt khác đầy cảnh giác, luôn ngó nghiêng, nét mặt họ lúc nào cũng nghiêm nghị, đường nét căng thẳng, ít khi thấy họ cười.


Tất cả bọn họ đều mang vũ khí, nói đúng hơn là họ yêu vũ khí. Những người giàu cất giữ trong nhà cả một kho súng và duy trì quân đội riêng của mình. Trong nhà các sĩ quan cũng có thể nhìn thấy cả kho súng đạn: súng máy, các bộ sưu tập súng ngắn, các hòm lựu đạn. Mấy năm trước, súng ngắn có thể mua trong các cửa hàng, dễ như mua bất cứ loại hàng hóa nào khác – chỉ cần có tiền thôi chứ không ai hỏi mua làm gì. Loại súng plebs được xem là vừa tồi vừa quá cũ. Nhưng tất cả vẫn như một bảo tàng vũ khí được mang trên vai. Phần lớn những đồ cổ này bây giờ không tiện dụng vì không ai sản xuất đạn nữa. Vì thế trên thị trường súng đạn, đôi khi có những loại đạn dùng cho súng đó còn đắt hơn cả súng máy, đạn trên thị trường trở thành ngoại tệ quý, người ta tìm kiếm nó nhiều hơn tìm mua đôla. Vì đôla thì có ích gì? Đôla chỉ là tờ giấy, còn đạn lại có thể cứu mạng mình. Nhờ những viên đạn mà khẩu súng của ta có ý nghĩa, còn chúng ta thì được trọng vọng hơn.


Cuộc sống con người – giá trị của nó ra sao? Con người thứ hai tồn tại chỉ cốt để cản đường chúng ta mà thôi. Cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì nhiều, tốt nhất là loại bỏ kẻ thù của ta trước khi nó kịp nhằm vào ta mà ra những đòn hiểm. Đêm nào cũng có bắn nhau loạn xạ (vào ban ngày cũng có), sau đó trên các đường phố ngổn ngang xác người. – Negus này – tôi nói với lái xe của tôi – bắn nhau nhiều quá. Như thế không tốt đâu.  Nhưng cậu ta lặng thinh, cậu ta không trả lời câu nào, nên tôi không biết cậu ta nghĩ gì. Dân ở đây được rèn luyện  thành thạo theo hướng hỏi một tý là rút súng ra bắn bỏ.


Bắn giết nhau.


Có thể làm khác được chăng, có thể tránh được những cái đó không? Nhưng bọn họ đâu có nghĩ theo cách này, suy nghĩ của họ không đi theo hướng sống, chỉ đi theo hướng chết. Đầu tiên họ nói chuyện một cách hòa bình, sau bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, cãi cọ và cuối cùng nghe thấy tiếng súng nổ. Từ đâu phát sinh ra ngần ấy mâu thuẫn, ngần ấy sự hung hãn, ngần ấy mối hận thù? Mà tất cả không cân nhắc, đắn đo, kiềm chế, chỉ một hai lao đầu xuống vực.


Cho nên, để làm chủ tình hình và giải giáp vũ khí phe đối lập, chính quyền nghĩ ra hình thức fetasza rộng khắp. Chúng tôi liên tục, không ngừng không nghỉ, bị khám xét. Trên đường phố, trong ô tô, trước sân nhà (và cả ở trong nhà), trước cửa hàng, trước nhà bưu điện, trước cửa vào phòng làm việc, cửa vào tòa soạn, vào nhà thờ, vào rạp chiếu phim. Rồi trước nhà băng, nhà hàng, ở chợ, trong công viên. Ai cũng có quyền khám xét chúng tôi, bởi vì chúng tôi cũng chẳng biết ai là người được giao quyền, ai không, cho nên tốt nhất không hỏi, bởi vì sau khi hỏi tình thế có thể tồi tệ hơn, vậy thì tốt nhất nên ngoan ngoãn phục tùng. Luôn có ai đó khám xét chúng tôi, đó là những người ăn mặc lôi thôi, rách rưới, lăm lăm chiếc gậy trong tay, chẳng nói chẳng rằng, chỉ giữ chúng tôi lại, giơ tay ra hiệu là chúng tôi phải giơ tay lên như thế - có nghĩa là chấp nhận tư thế để kiểm tra và lúc đó họ bắt đầu lôi tất cả mọi thứ trong cặp, trong túi quần, túi áo, họ ngắm nghía, tỏ vẻ ngạc nhiên, nhăn trán lại, gật đầu, rồi họ bàn bạc với nhau, sau đó sờ nắn hai vai, bụng, chân, giầy của chúng tôi, và sao? Và chẳng thấy gì – chúng tôi có thể tiếp tục đi, cho đến lần tiếp theo lại phải đứng nghiêm, giơ hai tay lên để khám xét. Có điều là lần tiếp theo đó có thể chỉ cách chỗ cũ mấy bước chân và khi ấy mọi chuyện lặp lại y nguyên, từ đầu đến cuối, bởi vì các fetasza không tổng hợp một lần là xong các cuộc khám xét để kết luận có phạm tội hay vô tội, cho nên chúng tôi buộc phải, cứ mấy bước một lần, mấy phút một lần, từ đầu, bắt đầu, chứng minh mình trong sạch, không vi phạm, không có tội. Fetasza trên đường đi là thứ mệt mỏi nhất, khi chúng tôi di chuyển bằng xe buýt. Hàng chục lần dừng lại, tất cả xuống xe, toàn bộ hành lý bị mở tung ra, bới tung lên, lộn tùng phèo, bỏ ra, xếp vào. Bản thân chúng tôi cũng bị sờ lần, nắn bóp, ấn chỗ này, thọc tay vào chỗ kia. Sau đó trên xe buýt còn thêm một lần giẫm đạp lên hành lý khiến nó bẹp chỗ này, phồng chỗ kia, còn ở lần fetasza tiếp theo thì nó lại lăn long lóc, bị đá bằng chân, nào quần áo, nào giỏ, nào cà chua, nồi niêu tanh bành cả ra đường, trông như một cái chợ cóc hỗn loạn, bừa bãi, rồi lại lục lọi, dày vò, moi ra, bỏ vào. Các cuộc kiểm tra, lục soát làm cho các chuyến đi thành ra nặng nề, ngán ngẩm đến mức nhiều khi mới đi được nửa đường chúng tôi đã muốn quay về. Nhưng về thế nào đây, về để bị bỏ lại giữa đồng không mông quạnh, giữa những đỉnh núi cao chót vót rồi làm mồi ngon cho bọn cướp hay sao? Nhiều khi các fetasza được thực hiện trên cả một khu vực rộng lớn và khi đó thì vấn đề trở nên nghiêm trọng rồi. Các cuộc lục soát này do quân đội thực hiện để tìm nơi cất giấu vũ khí, các nhà in bí mật, truy lùng những kẻ chống đối. Trong thời gian diễn ra chiến dịch loại này, có thể nghe thấy súng nổ liên tiếp, sau đó thấy có những xác chết. Nếu ai đó sơ ý – mặc dù chẳng tội tình gì – gặp phải chiến dịch – cũng dễ mờ đời. Anh ta phải đi chầm chậm, hai tay giơ lên cao, qua hết họng súng này đến họng súng kia và chờ đợi phán xử. Nhưng chúng tôi thường gặp các cuộc lục soát tài tử, lâu dần cũng thấy quen. Rất nhiều người tiến hành lục soát người khác theo kiểu „tư nhân“, cũng là bắt bớ, sờ nắn nhưng được thực hiện đơn lẻ, chỉ do một người làm, mà là làm ngoài kế hoạch chung. Chúng tôi đang đi ngoài phố, tự nhiên một gã lạ hoắc lạ huơ nào đó giữ chúng tôi lại và tự giơ hai tay lên cao. Không có cách nào khác, chúng tôi cũng phải giơ tay lên cao – nghĩa là chấp nhận đứng vào vị trí người bị khám xét. Người lạ mặt kia sờ mó, lục lọi, ấn ấn mấy nơi và gật đầu ra hiệu là chúng tôi được tự do. Rõ ràng trước đó hắn nghi chúng tôi là kẻ thù, còn bây giờ đã hết nghi nên chúng tôi được yên thân. Chúng tôi có thể đi tiếp và quên đi cái „chuyện vặt“ vừa xảy ra. Trong khách sạn tôi ở có một anh nhân viên đóng mở cửa cũng rất thích kiểm tra tôi. Thỉnh thoảng tôi vội quá nên bước nhanh vào sảnh để lên tầng vào phòng mình, anh ta liền chạy theo tôi và trước khi tôi kịp xoay chìa khóa cửa, anh ta đã lẻn vào đứng giữa phòng và bắt đầu vụ khám xét tôi. Fetasza nhiều và thường xuyên diễn ra đến nỗi tôi nằm ngủ cũng mơ thấy nó. Tôi mơ thấy những bàn tay bẩn thỉu, đen đúa, hăng hái sờ mó, nhảy múa, lục lọi trên khắp cơ thể tôi, rồi nắm lấy cuống họng tôi, đến mức sợ quá, tôi tỉnh dậy, khắp người đầm đìa mồ hôi, không sao chợp mắt trở lại được, đành cứ nằm vậy trên giường cho tới sáng.


Nhưng rồi bất chấp các cuộc lục soát, những bất tiện hàng ngày, tôi vẫn đến các ngôi nhà mà mọi người mở cửa mời tôi và Teferra vào để nghe các giọng nói, các lời kể về hoàng đế. Có điều là những giọng nói ấy cứ như vọng về từ một thế giới hoàn toàn khác.


 


A.M – M.:


 


Với tư cách là người phụ trách chính việc ba lần đóng mở cửa, tôi là anh đóng cửa quan trọng nhất trong số những người được phân công đóng mở cửa trong Đại sảnh. Phòng này có ba lần cửa nên có ba người chuyên đóng mở, nhưng vì tôi ở vị trí đầu tiên, tức vị trí quan trọng vì mỗi lần ra vào hoàng đế đều đi qua lần cửa do tôi đóng mở. Khi đức vua đáng kính rời phòng khách, tôi mở cửa cho người ra. Toàn bộ kỹ năng của tôi là làm sao mở cửa vào thời điểm thích hợp nhất. Khi tôi mở cửa sớm quá, có thể hành động này sẽ gây ấn tượng không hay, thậm chí đáng bị trừng phạt, rằng tôi muốn mời đức vua ra nhanh để tôi còn đóng cửa. Còn khi tôi mở cửa quá chậm thì đức vua đáng kính sẽ phải kiềm chế bước chân của mình, phải đi chậm lại, như vậy cũng có thể coi là phạm thượng vì sự oai phong của một vị hoàng đế đòi hỏi đi lại thư thái, hài hòa, không gặp bất cứ sự cản trở, trục trặc nào.


G.S –D.:


Trong khoảng thời gian giữa chín giờ và mười giờ sáng, chúa thượng của chúng tôi dành riêng thời giờ vàng ngọc cho các cuộc gia phong, vì thế khoảng thời gian này được gọi là giờ phong tước. Hoàng đế bước vào Đại sảnh trong khi mọi người đã tề tựu đông đủ để chờ người. Những người được phong tước xếp thành hàng ngay ngắn, cúi mình một cách nhún nhường. Chúa thượng ngồi xuống ngai vàng và sau khi người đã ngồi ngay ngắn thì nhiệm vụ của tôi là đặt ngay cái gối dưới chân người. Động tác này phải được thực hiện rất nhanh gọn, sao cho không có thời điểm hai chân hoàng đế khả kính lơ lửng trong không khí. Chúng ta đều biết hoàng đế khả kính không có ưu thế về chiều cao, song địa vị cao sang của người lại đòi hỏi phải làm sao tầm cao của mình, kể cả về ý nghĩa vật lý học, luôn được những người dưới quyền thừa nhận, cho nên các ngai vàng của hoàng đế thường có chân cao và phần để ngồi cũng được tôn cao lên, đặc biệt là những ngai vàng để lại từ thời vua Menelik, một người đàn ông cao lớn khác thường. Thế là nảy sinh mâu thuẫn giữa sự bắt buộc phải làm cho ngai vàng uy nghiêm bằng chiều cao và vóc dáng hạn chế của hoàng đế đương trị vì, thứ mâu thuẫn oái ăm đập ngay vào mắt mọi người và gây nên sự khó xử chính ở khu vực để chân khi không ai có thể chấp nhận chuyện để giữ oai phong của hoàng đế mà chân người lại lơ lửng, đung đưa như chân trẻ con ngồi trên ghế cao! Chính vì vậy mà chiếc gối là giải pháp tế nhị, đồng thời là lối thoát vô cùng quan trọng. Và tôi trở thành viên quan chịu trách nhiệm về gối kê chân cho đức vua đáng kính suốt hai mươi sáu năm trời. Tôi luôn có mặt bên người, đồng hành cùng người trong các chuyến thăm nước ngoài và chính ra – tôi phải nói điều này với niềm tự hào chính đáng – hoàng đế đáng kính của chúng tôi không thể đi đâu một bước nếu thiếu tôi, một khi sự oai phong của người đòi hỏi luôn phải ngồi trên ngai vàng, mà đã ngồi trên ngai vàng thì người không thể thiếu gối kê chân, mà người chịu trách nhiệm về chiếc gối kê chân lại chính là tôi. Về lĩnh vực này, tôi nắm rất vững một điểm liên quan đến lễ tân ngoại giao, thậm chí tôi có kiến thức rất sâu về độ cao của những chiếc ngai vàng cụ thể, và kiến thức này cho phép tôi lựa chọn rất nhanh chiếc gối có kích cỡ hợp với chiếc ngai vàng mà hoàng đế sẽ ngồi để không xảy ra tình huống xấu là sự khập khiễng, tức là tạo ra khoảng trống giữa gối và đôi giầy của đức vua. Trong kho của tôi có tổng cộng năm mươi hai chiếc gối kích cỡ khác nhau, độ dày mỏng khác nhau, làm từ các loại vật liệu khác nhau và màu sắc khác nhau. Tôi tự mình chăm lo những điều kiện bảo quản cần thiết để chúng không bị các chú rệp chui vào - ở nước tôi rệp vẫn luôn là vấn nạn – bởi vì hậu quả của sự cẩu thả này có thể kết thúc bằng một vụ xì–căng–đan không ai mong muốn.


T.L.:


Người anh em thân mến của tôi ơi, giờ gia phong là khoảng thời gian khiến cho cả hoàng cung phải rùng mình đấy. Đối với một số người, đó là sự rùng mình do sung sướng, do quá đỗi vui mừng, nhưng với những người khác thì sao, rùng mình vì sợ hãi, vì tai họa, bởi vì trong một giờ đồng hồ này đức vua khả kính không chỉ khen ngợi, úy lạo, gia phong mà còn quở trách, bãi chức, giáng chức. Mà tôi nói sai rồi! Trong thực tế làm gì có sự phân chia thành vui mừng và sợ hãi: niềm vui và nỗi lo đồng thời xâm chiếm tâm hồn của mỗi người khi được triệu đến Đại sảnh, bởi vì người ấy không biết cái gì đang chờ mình ở đó. Sự anh minh của hoàng đế cũng chính là ở chỗ không ai biết số phận mình ra sao, đời mình đến ngày nào là kết thúc. Sự phập phù, mập mờ trong ý đồ của hoàng đế luôn khiến cả hoàng cung xì xầm, nghi nghi hoặc hoặc, đoán già đoán non. Quan lại chia thành phe cánh, bè phái, gây ra các cuộc chiến ngầm không khoan nhượng, làm suy yếu và hủy diệt lẫn nhau. Hoàng đế khả kính của chúng tôi chỉ mong có thế. Mong có sự đối trọng để người yên ổn ở giữa. Nếu có phe phái nào tỏ ra thắng thế thì ngay sau đó người ban phát lòng tốt cho phe đối lập và trạng thái cân bằng có tác dụng làm tê liệt những kẻ lộng quyền lại được thiết lập trở lại. Đức vua đáng kính của chúng tôi ấn các phím đàn – khi phím trắng, lúc phím đen – và từ chiếc đàn dương cầm ấy phát ra một giai điệu hài hòa, du dương, êm ái cho lỗ tai người nghe. Và tất cả đám quan lại dưới quyền phục tùng động tác ấn phím đó, bởi vì lý do tồn tại duy nhất của họ là tài điều khiển của hoàng đế, còn một khi người dừng việc tung hứng này lại thì ngay ngày hôm đó họ sẽ biến khỏi cung điện, không để lại bất cứ dấu vết nào. Vâng, tự thân họ chỉ là một kẻ vô danh. Họ hiển diện trước dân chúng chừng nào ánh hào quang tỏa ra từ ngai vàng còn chiếu lên người họ. Hoàng đế Hajle Sellasje, theo hiến pháp, là sự lựa chọn của Thượng đế và từ địa vị cao sang đó, người không thể gắn với bất cứ phe phái nào, cho dù lúc này lúc khác người có thể nghiêng về phái này thấp hơn ngả về phe kia, nhưng nếu một trong các phe phái dưới quyền tỏ ra hứng khởi quá mức thì hoàng đế quở trách, thậm chí có thể phê phán gay gắt. Điều này đặc biệt liên quan đến phe phái được hoàng đế chỉ định làm nhiệm vụ giữ nghiêm phép nước. Nhưng lời lẽ của hoàng đế luôn nhẹ nhàng, êm ái, nhân từ và luôn hướng tới mục tiêu an ủi dân chúng, chính vì thế mà họ không bao giờ phải nghe từ cửa miệng người những lời gay gắt. Nhưng rõ ràng không thể lãnh đạo hoàng gia chỉ bằng sự nhân từ, phải có ai đó dập tắt sự đối lập và quan tâm đến quyền lợi tối thượng của hoàng đế, của hoàng cung, của quốc gia. Và thế là các phe phái được giao trọng trách, vì không hiểu được những ý đồ tinh tế của hoàng đế, đã liên tiếp phạm sai lầm – mà đúng hơn là những sai lầm được gọi nôm na là mang tính truyền thần. Muốn được hoàng đế thừa nhận, họ hăng hái quá mức trong việc thiết lập trật tự tuyệt đối, trong khi đó hoàng đế chỉ cần trật tự cơ bản, nghĩa là có trật tự, nhưng bên lề của nó là hơi lộn xộn một chút để lòng nhân từ và năng lực thấu hiểu lòng dân của hoàng đế còn có cơ hội thể hiện. Cũng chính vì vậy mà khi phe phái cậy quyền bắt đầu nhảy vào địa hạt này, nó lập tức gặp phải cái nhìn quở trách của đức vua. Trong hoàng cung thực ra có ba phái cơ bản – phái quý tộc, phái quan liêu và phái của những người được gọi là thân cận. Phái quý tộc bảo thủ đến cực đoan, bao gồm những đại địa chủ, chủ yếu tập hợp trong hội đồng hoàng gia, còn lãnh tụ của nó là hoàng thân Kassa, đã bị xử bắn. Phái quan liêu, phái có xu hướng cải cách nhất, cũng là phái có đầu óc nhất vì một số đại biểu học vấn cao có chân trong nhiều bộ và các cơ quan đầu não của hoàng gia. Cuối cùng là phái những nhân vật thân cận, có lẽ đây là một đặc trưng của chính quyền nhà nước chúng tôi, do đích thân hoàng đế bổ nhiệm. Đức vua đáng kính, một người có tư tưởng ủng hộ nhà nước hùng mạnh, tập quyền, đã phải tiến hành cuộc chiến dai dẳng và khéo léo với phái quý tộc, phe phái muốn nắm quyền ở các tỉnh và chỉ muốn có một hoàng đế yếu ớt, chậm chạp. Nhưng hoàng đế lại không thể “tay bo” với phái quý tộc này được cho nên người liên tục phải bổ nhiệm các nhân vật thân cận vào những vị trí thiết yếu quanh mình. Đây là những lần phong tước mang đậm tính cá nhân, còn những người có may mắn đó thường được chọn từ dân thường, trẻ khỏe, sắc sảo, nhưng thuộc tầng lớp tận cùng của xã hội, nghĩa là một người nào đó không dính dáng gì đến nguồn gốc quý tộc, được chọn theo kiểu ăn may trong đám đông mà hoàng đế có dịp tiếp xúc. Những con người do hoàng đế đích thân bổ nhiệm này, do được lôi thẳng từ một tỉnh nghèo khó và cùng cực lên các sảnh lớn lộng lẫy của cung điện tráng lệ nên tất nhiên họ luôn gặp phải sự ghen ghét thường tình và sự thù địch từ phía các nhà quý tộc đã ngồi ấm chỗ ở đây, nhưng do nhanh chóng được thưởng thức vị ngon, vẻ đẹp của sự tráng lệ nơi đô hội và vẻ đẹp của quyền lực, họ phục vụ hoàng đế với một nhiệt tình không tả nổi, thậm chí đến mức say mê, vì họ biết rõ rằng họ được hiển diện tại đây và không ít lần làm được những việc liên quan đến danh dự quốc gia chính là do tấm lòng bao la rộng lớn của vị hoàng đế đáng kính kia. Chính hoàng đế đã tin tưởng họ mà đặt họ vào các vị trí đòi hỏi phải có lòng tin lớn nhất. Bộ nghiên bút, cảnh sát chính trị hoàng gia, hội đồng quản trị hoàng cung là các cơ quan do những người như thế này được bổ nhiệm nắm giữ. Họ phát hiện ra tất cả mọi âm mưu bí mật và kế hoạch chống đối, loại bỏ thói ngạo mạn và độc địa của phe đối lập. Anh nhà báo ơi, anh thử nghĩ mà xem, hoàng đế không chỉ đích thân quyết định tất cả mọi chức vụ, mà trước đây người còn đích thân thông báo đến từng người đấy. Chính người, chỉ có người thôi! Người sắp xếp các chức vụ cao nhất, nhưng quan tâm cả đến những chức vụ trung bình và thấp, người chỉ định trưởng cơ quan bưu điện, hiệu trưởng các trường học, trưởng đồn cảnh sát, tất cả các nhân viên bình thường nhất, các nhà kinh tế, quản đốc các xưởng sản xuất bia, giám đốc bệnh viện, khách sạn, tôi nhắc lại lần nữa – tất tần tật, người, đích thân người, bổ nhiệm. Bọn họ được triệu đến Đại sảnh vào giờ phong tước, tại đây họ đứng thành hàng dài dặc – bởi đông lắm, nhiều lắm! – nghiêm trang chờ đức vua đến. Sau đó từng người một tiến sát ngai vàng, xúc động lắng nghe lệnh truyền và kính cẩn nghiêng mình nhận tước phong của hoàng đế, từng người hôn nhẹ lên tay vị cứu tinh của mình và vừa đi giật lùi vừa cúi chào lui gót. Thậm chí những chức quan nhỏ nhất, tẹp nhẹp nhất cũng có dấu ấn của hoàng đế, là vì nguồn gốc quyền lực không phải là quốc gia chung chung hay một cơ quan nào khác, mà là đích thân đấng tối thượng. Ôi, thật là một thứ quyền lợi cao cả làm sao! Bởi vì từ cái giây phút được ở cạnh người, khi người công bố lệnh gia phong và làm dấu thánh cho ấy, giữa con người với con người nảy sinh một mối quan hệ ràng buộc, mà từ mối quan hệ ràng buộc đó chỉ có thể phát sinh một nguyên tắc duy nhất do đức vua đáng kính chi phối theo hướng nâng lên hay dìm xuống – tức là nguyên tắc trung thành. Anh bạn thân mến ạ, có thể thành lập cả một thư viện từ những cuốn sách ghi lại điều mà suốt nhiều năm tháng mọi người kể xấu vào tai đức vua xung quanh nhân vật gần gũi người nhất là quan nghiên bút Walde Giyorgis. Đây là một người lật lọng, háo danh, hiếu thắng và tham nhũng vào bậc nhất mà hoàng cung từng biết đến. Bản thân hành động đưa chuyện về con người này có thể gây nên những hậu quả khôn lường, đe dọa đến tính mạng người nói. Vậy mà mọi người vẫn đưa chuyện đến tai đức vua. Điều đó chứng tỏ sự việc phải ở mức nghiêm trọng như thế nào. Nhưng đôi tai hoàng đế hình như đã điếc đặc. Walde Giyorgis có thể làm tất cả những gì ông ta thích và sự lộng hành của ông ta thì không có giới hạn nào cả. Nhưng rồi có một lần, do mù quáng cũng có mà do ngạo mạn không coi ai ra gì cũng có, ông ta tham dự cuộc họp của phái âm mưu phản loạn. Điều này đã được bộ phận tình báo của hoàng cung nói đến tai đức vua. Đức vua khả kính kiên nhẫn chờ xem tự ông Walde Giyorgis có nói ra tội lỗi của mình không, song ông đã không mảy may động chạm đến sự việc xảy ra, nghĩa là  - nói cách khác – ông ta đã vi phạm nguyên tắc trung thành. Ngày hôm sau, đức vua bắt đầu giờ phong tước của mình bằng vụ việc liên quan đến nghiên bút, tức thư ký riêng, con người hầu như đã chia sẻ quyền lực với đức vua khả kính, Walde Giyorgis, con người đã từ vị trí thứ hai trong quốc gia, thoắt cái đã rơi xuống địa vị một quan lại hạng quèn ở một tỉnh phía nam xa lắc xa lơ. Sau khi nghe quyết định giáng chức – chúng ta hãy hình dung xem vào thời điểm đó sự bất ngờ và nỗi lo lắng đang dày vò tâm can ông ta thế nào – theo đúng nghi lễ, ông ta hôn lên tay vị cứu tinh và cứ thế đi giật lùi, vừa đi vừa cúi chào, vĩnh viễn rời khỏi cái cung điện ông ta từng bao năm gắn bó. Hay chúng ta hãy lấy con người hoàng thân Imru làm ví dụ. Đây có thể là một cá nhân kiệt xuất nhất trong thành phần tinh tú nhất của hoàng cung, con người xứng đáng được đặt vào chức vụ và địa vị cao quý nhất. Nhưng rồi sao – như tôi đã đề cập - một khi đức vua nhân từ không áp dụng nguyên tắc năng lực mà luôn luôn theo đuổi nguyên tắc duy nhất là nguyên tắc trung thành, mọi chuyện sẽ khác. Chuyện là thế này. Chẳng hiểu từ đâu ra và chẳng hiểu tại sao hoàng thân Imru bắt đầu nổi máu cải cách, chẳng hỏi hoàng đế một câu xem người có đồng ý hay không, tự tiện chia cho nông dân một phần đất ruộng của mình. Vậy là – giấu giếm hoàng đế và tự mình hành động – bằng cách rất rõ ràng và mang tính thách thức đức vua – hoàng thân đã vi phạm nguyên tắc trung thành. Và đây, đức vua nhân từ, người đã chuẩn bị cho hoàng thân một vị trí cao cả và đầy trọng trách, đã buộc phải đẩy hoàng thân ra khỏi đất nước và giữ chân ông ta nơi đất khách quê người trong suốt hai mươi năm. Ở đây tôi phải nhấn mạnh thêm là đức vua khả kính của chúng tôi không phải là người phản đối cải cách, mà ngược lại – người luôn rất thiện chí với tiến bộ và sự cải cách, nhưng việc hoàng thân đã làm, thứ nhất là tạo ra nguy cơ tự do quá trớn và vô chính phủ, thứ hai là có thể gây ấn tượng rằng trong hoàng gia còn tồn tại những người khác – ngoài hoàng đế ra – cũng rất nhân từ.


Vì thế nếu một vị bộ trưởng nào khéo léo và thông minh, khi muốn tiến hành một cải cách dù rất nhỏ trong lĩnh vực của mình, đều phải lái vấn đề, phải đệ trình với đức vua, phải lý giải, soi sáng thế nào đó để nêu bật được một ý không ai phủ nhận, không ai chối cãi được rằng chính đức vua nhân từ mới là người khởi xướng, là tác giả đích thực, là người phát ngôn công cuộc cải cách đó, cho dù trong thực tế đức vua khả kính của chúng tôi hoàn toàn không nắm được vấn đề gì đang đề cập ở đây. Nhưng rõ ràng là không phải vị bộ trưởng nào cũng có đầu óc! Nhiều trường hợp họ là những người trẻ tuổi ít kinh nghiệm, không hiểu biết truyền thống cung đình, cũng có những người bị chi phối quá mức bởi tham vọng cá nhân, lại muốn được nhân dân thừa nhận nữa – cứ làm như sự thừa nhận của hoàng đế chưa phải là cái có ý nghĩa lớn lao đáng để họ hành động! – nên họ tự mình cố gắng cải cách các chi tiết này nọ. Họ cứ làm như bản thân mình không biết rằng bằng cách đó họ đang vi phạm nguyên tắc trung thành và tự đào mồ chôn không chỉ chính mình mà cả cuộc cải cách mà chỉ cần không có hoàng đế làm tác giả thì chẳng bao giờ nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Tôi xin nói thẳng ra là hoàng đế nhân từ của chúng tôi thích các vị bộ trưởng tồi. Mà người thích thế là vì hoàng đế của chúng tôi rất thích sự tương phản có lợi cho mình. Làm sao người ta có thể có sự tương phản nghiêng về mình được khi xung quanh người là các bộ trưởng tài giỏi? Dân chúng sẽ không còn định hướng nổi xem mình nên tìm đến ai mà cầu cứu, có thể dựa vào lòng tốt và sự sáng suốt của ai. Tất cả mọi người đều tốt bụng và tài giỏi mà. Nếu vậy thì một sự hỗn loạn, mất trật tự sẽ nảy sinh trong cả hoàng gia! Thay vì một mặt trời sẽ có năm chục vầng dương cùng chiếu sáng và mỗi vầng dương ấy tự mình tuân thủ sức hút của một hành tinh do mình lựa chọn hoàn toàn theo sở thích cá nhân. Ồ không, ông bạn thân mến ơi, không thể làm lây lan trong dân chúng sự tự do chết người này. Mặt trời chỉ có thể có một, đó là trật tự của tự nhiên, còn tất cả mọi lý thuyết khác đều là quan điểm tôn giáo vô trách nhiệm và nhằm chống lại Chúa. Nhưng anh bạn có thể tin rằng đức vua khả kính của chúng tôi đã tương phản trên thế thắng và tương phản bằng lòng nhân từ, cho nên dân chúng đã không nhầm lẫn chuyện ai là vầng dương, ai là bóng tối.


(còn tiếp)


Dịch giả Nguyễn Chí Thuật gửi www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »