tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20783366
Tiểu thuyết
05.10.2017
Boleslaw Prus
Búp bê



Lúc đó đã gần năm giờ chiều, những người dự họp bắt đầu giải tán. Đúng lúc ấy, Vôkulxki chợt nhận ra  từ phía một phòng gần đó ngài Oenxki đang đi lại phía mình, cùng với chàng thanh niên ông đã  thấy cạnh tiểu thư Izabela trong ngày lạc quyên và trong bữa tiệc ở nhà nữ bá tước. Cả hai người đều dừng lại cạnh Vôkulxki.


- Ông Vôkulxki, - ngài Oenxki nói - xin ông cho phép được giới thiệu Julian Okhôxki, người cháu họ của tôi, trông hơi dân dã một chút, nhưng mà…


- Từ lâu tôi đã rất muốn làm quen và chuyện trò với ngài, - anh chàng Ôkhôxki vừa nói vừa siết chặt tay Vôkulxki.


Vôkulxki lặng lẽ ngắm  Ôkhôxki: Chàng trai trẻ chưa đầy ba mươi này quả thật mang một dáng vẻ bề ngoài không bình thường. Đường nét của anh ta làm người ta liên tưởng đến Napôlêông đệ nhất, nhưng lại được che phủ bởi đám mây nhỏ mộng mơ.


- Ngài đi về phía nào ạ? - chàng cất tiếng hỏi Vôkulxki - Tôi xin được đưa ngài về.


- Phiền anh quá…


- Tôi có khá nhiều thời gian, - chàng thanh niên trả lời.


Anh ta muốn gì ở mình vậy? - Vôkulxki nghĩ trong đầu, nhưng lại nói to:


- Có thể đi về phía công viên Lazienki…


- Tất nhiên là được, - Ôkhôxki nói - Tôi chỉ chạy lại đằng kia tạm biệt nữ công tước rồi sẽ theo ngài ngay.


Chàng thanh niên vừa đi khỏi là tay luật sư đã vồ lấy Vôkulxki.


- Tôi xin chúc mừng ngài về thắng lợi trọn vẹn ngày hôm nay, - luật sư thầm thì - Công tước  mê mệt ngài, còn hai vị bá tước và một vị nam tước cũng ngưỡng mộ ngài không kém. Trông họ dân dã vậy thôi, nhưng cái tâm thì không chê vào đâu được. Họ muốn làm một điều gì đó, thậm chí họ có đầu óc và học thức, tuy nhiên, hơi thiếu nghị lực! Căn bệnh của ý chí, thưa ngài, cả một tầng lớp mắc Họ sở hữu tất thảy: tiền bạc, chức tước, sự kính trọng, thậm chí có duyên với phụ nữ, vậy nên chẳng còn mong muốn gì hơn. Nhưng thiếu cái lò xo kia, thưa ngài Vôkulxki, họ buộc phải trở thành công cụ trong tay những người khác nhiều tham vọng hơn Còn chúng ta, thưa ngài Vôkulxki, còn nhiều thứ mong muốn, - và ông hạ giọng - may mắn lớn nhất là họ gặp được những người như chúng ta


Vì Vôkulxki im lặng nên luật sư bắt đầu tự coi ông ta là nhà ngoại giao có nghề và trong lòng cảm thấy ân hận vì đã chân thành quá mức.


Mà suy cho cùng, - ông luật sư vừa nghĩ vừa nhìn trộm Vôkulxki - cứ cho là hắn kể với công tước câu chuyện vừa rồi đi thì đã làm sao? Mình sẽ nói là mình chỉ muốn thăm dò con người này


Ồ, lão luật sư định phóng đại về những tham vọng gì nhỉ? - Vôkulxki thầm hỏi.


Ông chia tay công tước, hứa sẽ có mặt đầy đủ trong các cuộc họp tiếp theo rồi bước ra đường, lệnh cho xe ngựa về trước.


Không hiểu cái anh chàng Ôkhôxki kia muốn gì ở mình? - Vôkulxki cứ nghi nghi hoặc hoặc. - Chắc  là chuyện có liên quan đến tiểu thư Izabela rồi… Cậu ta có ý định cảnh cáo mình cũng nên Đúng là thằng ngốc! Nếu nàng yêu hắn thì không cần phải nhiều lời, ta sẽ tự nguyện rút lui. Nhưng nếu nàng không yêu hắn, tốt nhất là hắn đừng nghĩ đến chuyện tách ta khỏi nàng. Có vẻ như ta sẽ làm chuyện ngu ngốc nhất trần đời, chắc chắn vì tiểu thư Izabela. Mong sao tai họa đừng đổ lên đầu hắn, phí đời một người trẻ tuổi


Cạnh cổng công viên có tiếng chân người bước vội. Vôkulxki quay lại và bắt gặp Ôkhôxki.


- Ngài chờ có lâu không? Tôi xin lỗi! - chàng trai nói.


- Ta đi về phía trong công viên Lazienki nhé? - Vôkulxki hỏi.


- Vâng tất nhiên rồi.


Họ bước đi trong yên lặng một lúc lâu. Chàng trai có vẻ tư lự. Vôkulxki cảm thấy hơi bực mình.


Ông quyết định chủ động nắm lấy sừng con bò mộng.


- Anh là người bà con của gia đình ngài Oenxki à? - Vôkulxki hỏi không cần rào đón.


- Chỉ một chút thôi, - chàng trai trả lời - Mẹ tôi thì còn mang họ Oenxki, - anh ta hài hước nói - chứ đến cha tôi thì đã mang họ Ôkhôxki. Quan hệ huyết thống này đã lỏng lẻo lắm rồi. Nếu ngài Tômas, người mà tôi coi như ông bác về đằng mẹ,  không đứng trước nguy cơ phá sản thì cho đến hôm nay tôi cũng chẳng biết là ai.


- Tiểu thư Izabela là một phụ nữ lịch lãm, đáng yêu, - Vôkulxki nói, nhìn thẳng về phía trước.


- Lịch lãm đáng yêu ư?- Ôkhôxki nhắc lại. - Ông hãy nói: Nàng là thiên thần! Khi  chuyện trò với nàng, tôi có cảm tưởng rằng nàng đủ khả năng làm căng tròn cuộc đời tôi. Chỉ duy nhất ở cạnh nàng tôi mới cảm nhận bình yên và  quên đi  nỗi nhớ đang hành hạ mình. Nhưng rồi sao! Tôi không thể ngồi cạnh nàng suốt cả ngày trong phòng khách sang trọng và nàng thì không thể cùng tôi trong phòng thí nghiệm


Vôkulxki đứng sững lại ngay trên đường đi.


- Anh nghiên cứu về vật lý hay hóa học? - ông ngạc nhiên hỏi.


- Ồ, tôi chẳng chuyên về một cái gì hết! Ôkhôxki trả lời. - Vật lý, hóa học, công nghệ … Tôi tốt nghiệp khoa Tự nhiên của Đại học Tổng hợp và khoa Cơ khí của Đại học Bách khoa. Tôi chuyên sâu về mọi thứ; tôi đọc sách báo, làm việc từ sáng sớm tới khuya, nhưng tôi lại chẳng làm gì hết. Tôi có chút ít thành công trong việc cải tiến kính hiển vi, thiết kế máy phát điện, chế tạo  được một loại đèn…


Vôkulxki đi từ ngạc nhiên này đến bất ngờ khác.


- Vậy chính anh là Ôkhôxki, nhà sáng chế phải không?


- Chính tôi, - chàng thanh niên trả lời. - Phải, nhưng điều đó thì có nghĩa lý gì? Cộng lại là con số không. Khi tôi chợt nghĩ rằng ở tuổi hai mươi tám mà mình chỉ làm được vẻn vẹn có ngần ấy thứ, trong tôi trỗi dậy nỗi thất vọng tràn trề. Tôi muốn đập phá lung tung các vật dụng trong phòng thí nghiệm và chìm đắm trong cuộc sống nơi phòng khách sang trọng, nơi những sức mạnh vô hình lôi cuốn tôi, hoặc - một phát súng vào đầu cho xong chuyện… Ngọn lửa Ôkhôxki hay đèn điện Ôkhôxki… Tất cả đều ngu ngốc! Nhưng chạy trốn khỏi tuổi thơ đến một nơi nào đó hay chui vào ngọn đèn  đều là những chuyện khủng khiếp cả. Sắp nửa cuộc đời rồi mà chưa tìm ra một dấu vết nào của con đường mình muốn bước đi - còn gì đáng thất vọng hơn!


Chàng thanh niên bỗng im lặng. Vì đã đến vườn bách thảo nên chàng bỏ mũ ra. Vôkulxki quan sát chàng chăm chú hơn nên đã phát hiện thêm nhiều điều mới lạ. Chàng trai này,  dù trông khá lịch sự, song lại hoàn toàn không phải là con người lịch lãm, thậm chí chẳng hề có ý thức chăm chút  dáng vẻ bên ngoài. Tóc chàng rối tung, cà vạt lệch hẳn sang một bên, trên áo ghi lê có một chiếc cúc chưa cài. Có thể dễ dàng suy luận rằng ai đó đang cố gắng chăm lo cho chuyện ăn mặc của chàng, nhưng bản thân chàng lại rất xao nhãng việc này, song chính sự cẩu thả được thể hiện kỳ lạ trong những hình thức mang tính quý tộc, lại tạo cho chàng vẻ đẹp dân dã. Mỗi cử chỉ, động tác của chàng đều là vô tình, phó mặc, vậy mà đẹp. Vẻ đẹp chứa đựng ngay trong cách nhìn, cách nghĩ, thậm chí trong cách đánh rơi mũ của chàng.


Họ đi lên một gò đất, từ trên đó có thể nhìn thấy chiếc giếng gọi là Giếng Tròn, thực ra đó là phần còn lại của Đền Cứu Rỗi, nơi gặp gỡ của lớp trẻ yêu nước kỷ niệm ngày Hiến pháp mồng Ba tháng Năm. Từ bốn phía đều có đám đông những người dạo chơi, nhưng Ôkhôxki chẳng hề e ngại. Chàng dùng tay cầm mũ chỉ xuống một chiếc ghế và nói:


- Tôi đọc nhiều sách nói rằng người hạnh phúc là người mang nhiều cảm hứng lớn lao. Dối trá! Như tôi đây, mặc dù mang những mong muốn không phải bình thường, vậy mà chúng biến tôi thành kẻ nực cười, cả những người thân thiết nhất cũng lánh xa tôi. Ngài hãy nhìn lên chiếc ghế này! Tại đây, hôm đầu tháng Sáu, vào khoảng mười giờ tối, tôi ngồi chơi với cô em họ và nữ bá tước Florentina. Ánh trăng chiếu sáng và hình như vẫn còn nghe thấy tiếng chim hót. Tôi đang mơ mộng thì bỗng nhiên nghe thấy tiếng cô em họ:


Này anh, anh có nắm rõ thiên văn học không?”


“Chút ít thôi”.


“Vậy anh hãy nói cho em biết, kia là ngôi sao gì?”


“Anh không biết” - tôi trả lời. - Nhưng có một điều chắc chắn là sẽ không bao giờ chúng ta lên được  đó. Con người bị cột chặt vào mặt đất giống như con hà bám chặt vào tảng đá. Đúng lúc đó - Ôkhôxki tiếp tục câu chuyện - trong tôi trỗi dậy  lý tưởng, hay gọi là sự điên khùng trước đó của tôi. Tôi quên khuấy cô em họ xinh đẹp và bắt đầu nghĩ đến những máy móc biết bay. Bởi vì khi nghĩ thì phải đi lại nên tôi rời khỏi ghế, bỏ lại cô em họ ở đấy, không nói một lời chia tay. Hôm sau tiểu thư Florentina gọi tôi là kẻ thô lỗ, ngài Oenxki coi tôi là anh chàng dân dã, còn cô em họ thì suốt một tuần sau chẳng hề hé răng nói lấy một lời. Tôi cũng muốn nghĩ ra nhiều thứ, nhưng quả thật chẳng nghĩ được gì, hoàn toàn không nghĩ ra được, cho dù tôi đã thề rằng sau khi từ gò đất này đi xuống dưới giếng trong đầu tôi sẽ hình thành bản phác thảo về một chiếc máy bay. Có phải đây là những điều ngu ngốc không nhỉ?


“Vậy  họ đã bên nhau tại đây dưới ánh trăng và trong tiếng chim hót? - Vôkulxki nghĩ thầm, cảm thấy đau nhức trong tim. - Tiểu thư Izabela đã yêu anh chàng Ôkhôxki, còn nếu nàng không yêu thì chỉ vì anh ta có những ý nghĩ lập dị mà thôi… Nàng nghĩ như vậy là đúng, cậu ta đẹp đấy nhưng cũng không bình thường…”


- Lẽ dĩ nhiên, - anh chàng Ôkhôxki tiếp tục câu chuyện - tôi chưa nhắc một lời nào về chuyện này với bà dì tôi, người lần nào cài ghim lên áo tôi cũng bảo: “Julian yêu quý của dì, hãy cố gắng làm hài lòng Izabela, bởi chính nàng là người phù hợp nhất để cháu lấy làm vợ. Nàng vừa thông minh vừa xinh đẹp, chỉ có nàng là người duy nhất chữa cho cháu khỏi căn bệnh tưởng…” Còn tôi lại nghĩ: Vợ con gì nàng? Nếu nàng có thể trở thành người giúp việc cho tôi thì đó mới là một nửa sự bất hạnh. Nhưng làm gì có chuyện nàng rời bỏ phòng khách sang trọng để đến với phòng thí nghiệm bừa bộn của tôi! Nàng nói có lý, đó mới chính là môi trường của nàng, giống như con chim cần có bầu trời, con cá cần có hồ nước. Ôi! Buổi tối mới đẹp làm sao! - chàng nói thêm sau một lát im lặng - Chưa bao giờ tôi thấy hứng khởi như hôm nay. Nhưng ngài làm sao thế hả ngài Vôkulxki?


- Tôi hơi mệt, - Vôkulxki trả lời khô khốc - Hay là chúng ta ngồi xuống một lát, chỗ này chẳng hạn…


Họ ngồi xuống một gò đất, ngay sát công viên Lazienki. Ôkhôxki dựa cằm lên hai đầu gối, đắm mình trong suy tư, còn Vôkulxki thì nhìn chàng với cảm giác vừa khâm phục vừa căm ghét.


“Hắn ngu ngốc hay  quá giỏi giang? Mà hắn kể cho mình nghe tất cả những chuyện này để làm gì? - Vôkulxki nghĩ thầm.


Nhưng dù sao ông cũng phải thừa nhận cuộc hàn huyên của Ôkhôxki chân thành và vô tư, giống hệt các cử động  cũng như toàn bộ con người anh ta. Hai người gặp nhau lần đầu tiên và Ôkhôxki đã trò chuyện với ông như thể họ quen nhau từ những ngày thơ bé.


Ta kết thúc với cậu ta được rồi, - Vôkulxki tự nhủ, và ông hỏi thẳng sau khi  hít một hơi thật sâu:


- Vậy anh cưới nàng chứ, anh Ôkhôxki?


- Trừ khi tôi bị điên, - chàng trai vừa làu bàu vừa nhún vai.


- Sao lại thế? Dù sao  cô em họ của anh cũng


khiến anh có cảm tình?


- Thậm chí tôi rất có cảm tình, nhưng đó chưa phải là tất cả. Tôi chỉ cưới nàng một khi chắc chắn rằng trong khoa học tôi không còn gì để vươn tới nữa…


            Trong tim Vôkulxki, ngoài nỗi căm ghét và khâm phục  có một niềm vui lóe lên. Trong lúc đó, Ôkhôxki lau vầng trán đẫm mồ hôi như vừa thức dậy từ một cơn mê. Chàng nhìn Vôkulxki và bỗng nhiên nói:


            - Nhưng mà… nhưng mà… Thậm chí tôi đã quên mất tôi đang có chuyện quan trọng phải nói với ngài.


            “Cậu ta cần gì?” - Vôkulxki nghĩ, trong bụng vừa khâm phục cái nhìn thông minh của tình địch vừa ngạc nhiên trước sự đổi giọng của anh ta. Hình như có một người khác đang mượn cái miệng của anh ta để nói  những điều cần nói.


            - Tôi muốn hỏi ngài một câu, mà không, hai câu, rất chân tình, có thể chân tình đến mức gây đau đớn, - Ôkhôxki nói - Liệu như vậy có xúc phạm ngài không?


            - Tôi xin nghe, - Vôkulxki trả lời.


            Ngay cả khi đứng trên bệ hành hình có lẽ ông cũng không phải chịu đựng  cảm giác kinh khủng như điều ông đang chờ đợi lúc này. Ông tin chắc rằng chuyện anh ta sắp nói liên quan đến tiểu thư Izabela, và chính tại đây số phận  ông sẽ được định đoạt.


            - Ngài từng là nhà thiên nhiên học phải không ạ? - Ôkhôxki hỏi.


            - Phải.


            - Xin nói thêm: Nhà thiên nhiên học đầy nhiệt huyết. Tôi biết ngài đã đi qua những đoạn dường như thế nào,vì vậy từ rất lâu tôi vô cùng kính trọng ngài. Nói thế cũng chưa đủ đâu, phải bổ sung thêm… Từ một năm nay, câu chuyện về những khó khăn mà ngài từng vật lộn cùng đã cho tôi thêm nghị lực. Tôi tự nhủ: Ít ra mình sẽ làm được như con người này, thậm chí hơn thế, bởi mình không gặp những rào cản lớn, cho nên mình sẽ tiến xa hơn ông ta…


            Vôkulxki vừa nghe vừa nghĩ hoặc anh ta đang mơ mộng hoặc anh ta đang nói chuyện với một người điên.


            - Làm sao anh biết được những chuyện này? - ông hỏi thẳng Ôkhôxki.


            - Bác sĩ Szuman kể.


            - À, Szuman kể. Nhưng tất cả những cái đó để làm gì?


            - Tôi sẽ nói ngay bây giờ, - Ôkhôxki nói - Ngài từng là nhà thiên nhiên học đầy nhiệt huyết nên ngài quy mọi khoa học về thiên nhiên. Xin ngài cho biết, ở tuổi nào thì trong ngài nhiệt tình đối với ngành khoa học này nguội hẳn?


            Vôkulxki cảm thấy như có người dùng lưỡi rìu bổ vào đầu mình. Câu hỏi bất ngờ này khó chịu đến mức suốt hồi lâu ông không chỉ không trả lời được mà còn không sao tập trung suy nghĩ được.


            Ôkhôxki nhắc lại câu hỏi, nhìn xoáy sâu vào người đang đồng hành với mình.


            - Vào năm nào ư?- Vôkulxki nói - Năm ngoái. Hiện nay tôi đang bước sang tuổi bốn mươi sáu.


            - Nghĩa là tôi còn khoảng mười lăm năm nữa mới đến ngày mất hẳn nhiệt tình. Điều này lại giúp tôi có thêm nghị lực, - anh ta nói như với chính mình.


            Lát sau Ôkhôxki nói thêm:


            - Đó là câu hỏi thứ nhất, còn giờ đến câu hỏi thứ hai, nhưng xin ngài đừng giận. Vào tuổi nào thì người đàn ông thờ ơ với phụ nữ?


            Đúng là cú đấm thứ hai. Đã có lúc Vôkulxki muốn túm lấy cổ áo cậu ta rồi dùng hai tay bóp cho lè lưỡi ra. Nhưng  ông trấn tĩnh lại,  trả lời với nụ cười yếu ớt.


            - Tôi nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ phụ nữ khiến chúng ta thờ ơ. Mà chúng ta ngày càng có cảm tưởng là họ cao giá hơn.


            - Không tốt rồi! - Ôkhôxki thầm thì - À mà chúng ta sẽ biết, giữa ta với họ, ai mạnh hơn.


            - Phụ nữ đấy, thưa anh Ôkhôxki.


            - Điều đó còn phụ thuộc vào chuyện họ mạnh mẽ hơn đối với ai, - chàng trai nói xong rồi lại chìm trong suy tưởng.


            Và anh ta lại bắt đầu nói như với chính mình.


            - Phụ nữ quan trọng. Tôi đã từng yêu, khoan , bao nhiêu lần rồi nhỉ? Bốn… sáu… à bảy lần, phải, bảy lần rồi . Chuyện này  tốn nhiều thời gian và gây biết bao dằn vặt. Cái sự yêu đương ngu ngốc! Ta làm quen, rồi  yêu đương, rồi  đau khổ … Sau đó ta chán chường, và năm lần tôi bị phản bội.  Phải , hai lần tôi chán chường, và năm lần  bị phản bội. Sau đó ta tìm được một người phụ nữ mới, hoàn hảo hơn những người trước - sau đó cô ta làm những chuyện tương tự như những phụ nữ ít hoàn hảo trước… Ôi, hèn hạ thay cái giống vật này, những ả đàn bà! Họ mua vui cho chúng ta, dù bộ óc của họ còn nhiều hạn chế, thậm chí không đủ khả năng để hiểu… Đúng là hổ báo cũng có thể vui chơi với con người… Hèn hạ thật nhưng lại đáng yêu. Nhưng thôi, chẳng có gì quan trọng! Còn chuyện khác. Một khi lý tưởng đã ngự trị con người thì nó không rời bỏ anh ta và không bao giờ phản bội anh ta…


            Chàng đặt tay lên vai Vôkulxki, nhìn thẳng vào mắt ông bằng ánh mắt sắc nhọn và dò hỏi.


- Có khi nào ngài nghĩ đến những cỗ máy biết bay không? Không phải là điều khiển khinh khí cầu, những quả bóng bay nhẹ hơn không khí, vì đó là một trò hề, mà là chuyến bay của một cỗ máy nặng nề, chứa đầy các thứ trong bụng, bay trên những đám mây như  chú bọ dừa? Ông có biết sau khi một phát minh như thế được công bố, thế giới sẽ có bước ngoặt gì không? Không cần xây dựng pháo đài, quân đội, không cần biên giới… Các dân tộc sẽ biến mất, nhưng thay vào đó, trong các công trình mọc ra trên không sẽ xuất hiện những sinh linh giống như các thiên thần hoặc các vị thần linh thời trung cổ. Chúng ta sẽ chế ngự được gió, được hơi ấm, ánh sáng, sấm sét… Vậy ngài có nghĩ rằng đã đến lúc tự bản thân chúng ta có thể giải phóng mình khỏi xiềng xích của lực hấp dẫn không? Đó là một lý tưởng  nằm trong tinh thần thời đại. Những người khác đang nghiên cứu về lý tưởng này. Nó mới chỉ  hé mở  thôi mà đã hấp dẫn tôi từ chân tới đầu! Còn bà dì tôi và những lời khuyên của bà, với những quy định về đạo đức của bà thì sao? Tôi cưới vợ để làm gì, phụ nữ với tôi chẳng có nghĩa lý gì! Ngay cả những chiếc kính hiển vi, những bóng đèn điện… cũng không cần nữa. Hoặc tôi điên, hoặc tôi chắp cánh cho nhân loại bay cao…


            - Ngay cả trong trường hợp anh chắp cánh được cho nhân loại rồi thì  điều gì sẽ tới nào? - Vôkulxki hỏi.


            - Danh dự, điều chưa một con người nào đạt tới được - Ôkhôxki trả lời - Danh dự sẽ là phu nhân của tôi, là người phụ nữ của tôi. Chúc ngài mạnh khỏe, tôi phải đi đây.


            Anh ta siết chặt tay Vôkulxki, chạy từ trên gò đất xuống và mất hút giữa hai hàng cây.


            “Anh chàng này điên khùng hay là bậc thiên tài? - Vôkulxki tự nhủ, trong lòng cảm thấy chính mình đang bị kích động  tột bậc - Nhưng nếu cậu ta là một bậc thiên tài thật?


            Ông đứng dậy, đi sâu vào vườn bách thảo, giữa những người đang dạo chơi. Ông có cảm tưởng rằng phía trên  gò đất nơi ông vừa bước xuống kia đang bốc lên một mối đe dọa linh thiêng.


            Trong vườn bách thảo đông người đến mức gây cảm giác chật chội. Trên mỗi con đường nhỏ, những dòng người, chen chúc nhau, hay ít nhất là từng hàng người đi dạo. Chiếc ghế nào cũng như  oằn xuống vì sức nặng của những người ngồi trên. Người ta cản ông trên đường đi, giẫm bừa lên giày, huých khuỷu tay. Tiếng nói cười âm vang tứ phía. Dọc theo đại lộ Ujazdowskie, dưới hàng tường bao của vườn Belwederski, dưới những hàng rào  gỗ từ phía bệnh viện, trên những con phố nhỏ bình thường rất vắng người qua lại, thậm chí trên các lối nhỏ đã dựng rào chắn, đâu đâu cũng toàn người là người và râm ran tiếng nói cười vui vẻ. Bầu trời càng tối sẫm bao nhiêu thì dưới mặt đất càng dày đặc bước chân người và huyên náo bấy nhiêu.


            “Ta bắt đầu thấy thiếu chỗ đứng cho ta trên thế giới này rồi!” - Vôkulxki thì thầm.


            Ông đi tắt vào công viên Lazienki, tại đây ông  tìm được cho mình một chỗ ngồi khá yên tĩnh, tách biệt với chốn ồn ã đằng kia. Trên bầu trời, mấy ngôi sao  nhấp nháy. Qua không trung, từ phía Đại lộ, tiếng ồn  phát ra từ đám đông những người đi bộ thỉnh thoảng vẫn vọng lại. Hơi ẩm từ mặt ao bốc lên. Thỉnh thoảng trên đầu ông, một con bọ dừa ồn ã hay một chú dơi lặng lẽ bay qua. Sâu trong công viên một con chim đang cất tiếng kêu thảm thiết gọi bạn, nhưng mãi chẳng có tiếng trả lời. Trên mặt nước ao vang lên tiếng mái chèo khua và tiếng cười rộ của mấy người phụ nữ.


            Ngay trước mặt mình, ông nhìn thấy một đôi trai gái đang chụm đầu vào nhau, thủ thỉ. Họ nhường đường cho ông và biến nhanh vào bóng tối của bụi cây gần đấy. Trong ông trỗi dậy một nỗi niềm khó tả, vừa thương vừa khinh bỉ.


            “Họ là những người tình hạnh phúc, - ông nghĩ thầm - Họ thầm thì với nhau rồi vội vàng chạy trốn như những kẻ vụng trộm. Thế giới này được sắp xếp mới tuyệt vời làm sao, nhỉ? Mình rất muốn biết, nếu thế giới này  do quỷ Lucypen lãnh đạo thì có tốt hơn không?  Nếu  tên cướp nào đó  ra vẻ nhường đường rồi thủ tiêu mình ngay trong cái góc tối này ?


            Ông chẳng hình dung nổi sẽ dễ chịu thế nào khi cái lạnh của con dao nhọn lan vào trái tim  nóng hổi của mình.


            “Nhưng thật may mắn, - ông thở dài - hôm nay không ai được quyền giết hại người khác, mà chỉ có quyền giết chính mình. Có điều, phải giết ngay và giết đẹp. Thế đấy!”       Nghĩ đến phương thức trốn chạy không chê vào đâu được ấy, Vôkulxki thấy trong lòng thanh thản hơn. Ông chìm dần vào bầu không khí trang nghiêm và có cảm giác cái thời điểm khiến ông phải kiểm tra lại lòng tự trọng của mình hay nói chung, phải cân đối lại toàn bộ cuộc đời mình, đang đến.


            “Nếu mình là vị quan tòa tối cao, - ông nghĩ - và nếu mọi người hỏi mình, ai đáng giá hơn trong mắt tiểu thư Izabela, Ôkhôxki hay Vôkulxki, mình buộc phải thừa nhận: Người đó là Ôkhôxki. Cậu ta trẻ hơn mình mười tám tuổi (mười tám tuổi chứ không ít đâu!) và lại đẹp tựa thiên thần.Mới hai mươi tám mà đã tốt nghiệp hai trường đại học (ở tuổi đó mình mới bắt tay vào chuyện học hành), có tận ba phát minh giá trị (mình chẳng có cái nào!). Nhưng điều quan trọng trước hết là trong con người đó chứa đựng một lý tưởng lớn lao.  Máy bay ư, lạ thật! Nhưng rõ ràng cậu ta đã tìm cho ý tưởng sáng chế máy bay một điểm xuất phát vừa mang tính thiên tài vừa rất có cơ sở: Máy bay nhất định phải nặng hơn, chứ không như khinh khí cầu nhẹ hơn không khí, bởi  những gì bay được theo đúng nguyên lý, từ ruồi muỗi  tới chim ưng, đều nặng hơn không khí. Cậu ta có xuất phát điểm đúng nguyên lý, lại sáng tạo, điều đã được chứng minh bằng chiếc kính hiển vi và cái đèn điện, nên ai mà biết được cậu ta sẽ thành công hay không khi thiết kế và chế tạo máy bay? Nếu thế  cậu ta sẽ là con người vĩ đại của nhân loại, hơn cả Niutơn và Napôlêông cộng lại. Mình trở thành đối thủ cạnh tranh của cậu ta ư?Nếu nảy sinh vấn đề: Ai trong số hai ta phải tự nguyện rút lui khỏi cuộc đua thì liệu ta có phải đắn đo, cân nhắc không? Thật  kinh khủng khi  buộc phải nói rằng ta xin lấy sự thấp kém của mình  làm vật hy sinh cho một con người mà thực tế cũng chỉ như ta, tức là không vĩnh cửu, cũng không tránh khỏi bệnh tật và những  nhầm lẫn bình thường, và trước hết - cũng ngây thơ như ta… Bởi  dù sao  cậu ta vẫn như một đứa trẻ con, nhất là trong cách nói chuyện…”


            Đúng là sự sắp đặt kỳ lạ. Khi  còn là một nhân viên bán hàng, làm việc cho tư nhân, ông luôn mơ đến một cỗ máy bay lượn bất chấp những nguyên lý vật lý, một cỗ máy tự nó có khả năng chuyển động. Nhưng khi vào học dự bị đại học, ông đã nhận ra rằng một cỗ máy như thế là bất khả, lúc đó mong muốn cháy bỏng nhất, cũng là rẻ tiền nhất của ông là tìm ra cách điều khiển khinh khí cầu. Tất cả những gì đối với Vôkulxki mới chỉ là bóng dáng mộng mơ, là những con đường ngoằn ngoèo  vô đích thì ở Ôkhôxki đã mang hình hài khả thi.


            “Số phận mới cay nghiệt làm sao! - Vôkulxki cay đắng nghĩ - Hai con người cùng được ban cho cảm hứng, chỉ có điều một người sinh trước đó mười tám năm, một người sống trong nghèo khó, người kia đủ đầy, một người không thể bước lên nổi tầng một của ngọn tháp tri thức, người thứ hainhẹ nhàng vượt qua hai tầng một lúc trên ngọn tháp đó… Người thứ hai ấy không bị bão táp chính trị xô đẩy trên đường đi như mình, và chẳng giống như mình, anh ta không bị tình yêu ngăn trở, bởi anh ta quan niệm tình yêu chỉ như một trò chơi; còn với ta, sáu năm trời vừa qua là  quãng thời gian lang thang trên sa mạc, tình cảm với nàng là cả bầu trời, là cứu rỗi… Thậm chí còn hơn thế nữa! Vậy là cậu ta đứng lên trên ta - trong tư thế  chiến thắng trên mọi mặt trận, dù ta cũng  ấp ôm những tình cảm tương tự, cũng có cùng một ý thức về địa vị, và công sức bỏ ra chắc chắn không thể ít hơn…”


            Vôkulxki hiểu biết con người rất rõ và luôn so sánh mình với mọi người. Nhưng ở bất cứ nơi đâu ông cũng thấy mình giỏi giang hơn người một chút. Phải chăng với tư cách một anh bán hàng, nhưng ban đêm vùi đầu vào đèn sách với danh nghĩa sinh viên, khi đi từ nghèo khổ đến tri thức, từ anh lính trong cảnh mưa bom bão đạn hay  kẻ đi đày ngồi trong túp lều đất vẫn say mê học hành - ông luôn mang trong lòng lý tưởng vượt thời đại mình đi lên trước. Những người khác chỉ lo sống qua ngày, cốt sao cho đầy bụng và đầy túi.


            “Phải chăng đến hôm nay ta không còn lý tưởng mà vì nó ta từng lao động cật lực suốt cả năm trời,  đã kiếm được cả một tài sản lớn,  đã giúp đỡ mọi người và bắt họ  kính trọng ta?”


            “Phải, nhưng tình yêu là tình cảm riêng tư; người mê mải chạy theo rốt cuộc chỉ là chú cá bị dập vùi sau  trận cuồng phong trên biển. Khi một phụ nữ biến mất, nhưng trong ta vẫn còn nỗi nhớ nàng, thì ta sẽ là gì? Là một tên tư bản tầm thường chỉ biết đánh bài giải sầu. Trong khi ấy, Ôkhôxki  lại mang lý tưởng lớn thúc giục anh ta tiến lên phía trước, chỉ trừ trường hợp trí tuệ anh ta tắt ngấm”


            “Được rồi, nhưng nếu không làm gì nên chuyện, thay vì chế tạo ra cỗ máy biết bay, anh ta phải vào nhà thương điên thì sao? Trong khi đó, ta lại làm nên chuyện, còn các loại kính hiển vi, dây điện, đèn điện của anh ta chẳng giá trị bằng mấy trăm con người được ta tạo cho công ăn việc làm và một đời sung túc. Từ đâu sự nhún nhường kiểu Thiên chúa giáo ấy sinh ra trong ta? Ai sẽ là người làm được nhiều việc hơn, điều này chưa thể biết. Chỉ biết rằng hiện nay ta là con người hành động còn cậu ta vẫn là kẻ mộng mơ. Chúng ta hãy chờ một năm sau…”


            Một năm! Vôkulxki bỗng rùng mình. Ông có cảm tưởng rằng ở cuối con đường mang tên “một năm” ấy ông chỉ thấy vực sâu thăm thẳm, có khả năng thu mọi thứ vào lòng mình nhưng lại không chứa nổi bất cứ điều gì dù nhỏ nhất.


            “Vậy là chẳng có  gì, chẳng có bất cứ thứ gì!”


            Theo phản xạ, ông nhìn ra xung quanh. Ông ở giữa công viên Lazienki, trên một con đường nhỏ mà sự ồn ào ngoài phố không lọt đến nơi. Thậm chí những bụi cây đứng sát sạt nhau cũng chỉ đứng trong yên lặng.


            - Mấy giờ rồi thưa ngài? - một giọng khàn khàn cất lên bên tai ông.


- Mấy giờ à?


Vôkulxki đưa tay dụi mắt. Trước mặt ông, trong bóng tối, là một người ăn mặc rách rưới.


- Khi người ta hỏi lịch sự thì cũng nên trả lời cho lịch sự, - người vừa hỏi giờ nói, tiến sát Vôkulxki hơn.


- Cứ giết ta đi rồi sẽ biết, - Vôkulxki trả lời.


Con người ăn mặc rách rưới kia lùi lại. Phía bên trái đường,mấy bóng người xuất hiện.


- Một lũ  ngốc! - Vôkulxki nói rồi đi thẳng. - Ta đeo chiếc đồng hồ bằng vàng và mang mấy trăm rúp tiền mặt. Ta không có ý định tự vệ, vậy mà…


Mấy bóng đen ẩn hiện giữa các bụi cây và một người nói thấp giọng:


- Loại người này, mẹ kiếp, chắc phải thụt xuống một nơi thấp kém mà thiên hạ không thể đặt thấp hơn.


- Lũ súc sinh! Lũ đớn hèn!- Vôkulxki hét to, như một người không còn tỉnh táo.


Chỉ có những bước chân chạy trốn đáp lời ông.


Vôkulxki cố gắng tập hợp suy nghĩ của mình.


“Ta đang ở đâu thế này?Ôi, trong công viên Lazienki rồi sao, nhưng cụ thể là ở chỗ nào? Cần phải đi theo hướng ngược lại”


Ông quay người mấy lần mà vẫn không biết cần đi đâu. Tim ông bắt đầu đập mạnh, những giọt mồ hôi lạnh  tuôn trên trán. Lần đầu tiên trong đời ông thấy sợ bóng đêm và sợ lạc lối…


Trong suốt mấy phút ông đi như chạy mà chẳng có mục đích gì; hầu như chạy một hơi, những ý nghĩ lạ lùng cứ quay cuồng trong đầu. Cuối cùng ông cũng thấy hàng tường bao, xa hơn chút nữa là một tòa nhà.


“Đây rồi,  ki-ốt bán cam!”


Sau đó ông đến một cây cầu nhỏ, tựa lưng vào thành cầu nghỉ ngơi và nghĩ:


“Vậy là ta đã đến được với điều đó rồi sao? Đối thủ thật nguy hiểm… thần kinh của ta bị phá tan…  Dường như ngay trong ngày hôm nay ta đã có thể viết màn cuối vở hài kịch rồi!”


Con đường thẳng dẫn ông đến bờ ao, sau đến lâu đài nằm trong công viên. Suốt hai mươi phút ông đi bộ trên đại lộ Ujazđôvskie, sau đó mới ngồi vào chiếc xe ngựa lúc đó đang chạy tới. Mười lăm phút sau ông  trở về ngôi nhà của mình.


Nhìn lên ánh đèn sáng và phố xá nhộn nhịp, ông bỗng thấy vui trong lòng. Thậm chí ông mỉm cười, thầm thì với chính mình:


“Sao, lại là ảo ảnh chăng? Một anh chàng Ôkhôxki nào đó… ý định tự tử! Ồ, toàn những chuyện ngu ngốc!Mình đã có mặt giữa đám quý tộc ấy, còn chuyện gì tiếp theo - cứ chờ xem…”


Khi ông bước chân vào phòng, người giúp việc đưa cho ông một bức thư viết tay trên giấy thường của bà Meliton.


- Hôm nay bà ta đến đây tận hai lần, - anh hầu nói - Một lần vào lúc năm giờ và lần thứ hai vào lúc tám giờ.


(còn tiếp)


Nguồn: Búp bê. Tiểu thuyết của nhà văn Balan: Boleslaw Prus. Nguyễn Chí Thuật dịch từ nguyên bản tiếng Balan. NXB Phụ nữ, quý I-2017.


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »