tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21264472
Tiểu thuyết
05.10.2017
Boleslaw Prus
Búp bê



Chương 11. Những ước mơ cũ và những quan hệ mới


Bà Meliton, vì trải qua một trường đời khắc nghiệt, nên đã học được cách xem thường tất cả những gì mà người khác coi là tập quán phải tuân theo.


            Hồi còn trẻ, người ta đã nói cho bà rõ, rằng một tiểu thư trẻ đẹp và tốt bụng thì dù không có tài sản vẫn lấy được chồng. Bà cũng từng tốt bụng và xinh đẹp, vậy mà chẳng lấy được chồng. Sau đó mọi người cũng nói rất nhiều, rằng một cô giáo, khi có học thức thì có thể chiếm được tình yêu của những người hâm mộ mình, chiếm được sự tôn trọng của chính cha mẹ mình. Bà từng là một cô giáo có học vấn, thậm chí rất được yêu mến, vậy mà những người hâm mộ chỉ làm bà khó chịu, còn bố mẹ bà thì từ sáng đến tối chỉ làm mỗi việc  bêu riếu bà. Sau này bà đọc quá nhiều tiểu thuyết tình yêu trong đó các tác giả tìm mọi cách chứng minh rằng các hoàng tử, bá tước, nam tước, trước khi yêu là những người cao thượng, thay vì hiến dâng trái tim mình, họ thường chỉ chìa tay ra cho các cô giáo nghèo bắt. Có lần bà Meliton cũng  hiến dâng trái tim mình cho một vị bá tước trẻ trung, cao thượng, song  đã không được chàng giang rộng cánh tay ra chào đón.


            Khi đã bước qua tuổi ba mươi của cuộc đời, bà Meliton lấy một ông gia sư ở tuổi xế trưa. Đó chính là ông Meliton, nên bà mới có cái họ ấy, nhưng với mục đích duy nhất là vực dậy  đạo đức một con người  bị thói nghiện ngập  làm cho gục ngã. Nhưng gã chồng mới của bà, sau lễ cưới lại uống rượu nhiều hơn, và chính  người định vực gã dậy về mặt đạo đức, đôi khi lại bị gã thượng cẳng chân hạ cẳng tay không thương tiếc.


            Khi gã chết, nghe đâu chết ngoài đường, bà Meliton, sau khi đưa chồng ra nghĩa địa và tin chắc rằng gã được mồ yên mả đẹp, đã mua một con chó, vì nghe mọi người phổ biến rộng rãi rằng chó là con vật có tình có nghĩa nhất trên đời. Đúng là nó sống có tình có nghĩa thật, song chỉ đến lúc chưa bị dại thôi, chứ sau đó nó đã cắn cô người hầu một miếng nên thân và chính bà Meliton cũng  phát sốt phát rét vì nó.


            Suốt nửa năm bà phải nằm bệnh viện, trong phòng cách ly, cô đơn và bị cả những người bạn gái, cha mẹ họ và các vị bá tước mà bà từng hiến dâng trái tim mình, lãng quên. Nhưng bà Meliton có nhiều thời gian để suy ngẫm sự đời. Cũng chính vì thế khi bà ra viện, với thân hình tiều tụy, khuôn mặt già nua, với những sợi tóc vừa bạc vừa thưa trên đầu, thiên hạ lại bắt đầu kháo nhau sôi nổi khắp nơi, rằng bệnh tật đã làm bà thay đổi đến mức chẳng thể nhận ra.


- Ta đã khôn ra nhiều, - bà Meliton trả lời mọi người.


Từ đó bà không còn là cô giáo nữa, mà bà giới thiệu các cô giáo; bà không nghĩ đến chuyện đi lấy chồng nữa mà mai mối cho bọn thanh niên. Bà không dâng trái tim mình cho bất cứ ai, nhưng lại biến căn phòng đang ở của mình thành điểm hẹn của những trái tim khao khát yêu đương. Vì mỗi người đều phải trả công cho tất cả những gì bà  làm nên bà có ít tiền tiêu và dần dần  sống bằng dịch vụ mai mối ấy.


Trong thời gian đầu của công việc mới, trông bà ủ dột, thậm chí vẻ mặt hơi tàn nhẫn.


- Các cha cố, - bà nói với những người tâm phúc - có nguồn thu từ những đám cưới tổ chức trong nhà thờ, còn tôi, tôi sống được nhờ các cuộc ăn hỏi. Các bá tước nhận tiền do giải quyết cho lũ ngựa ân ái với nhau, còn tôi - nhờ trung gian để mọi người quen nhau.


Nhưng rồi thời gian qua đi, bà thấy việc ăn nói mỗi lúc một khó khăn hơn, và đôi khi bà trở nên nghiêm túc hơn về mặt đạo đức khi phát hiện ra rằng lời ăn tiếng nói của mình phải phù hợp với dư luận chung thì mới hy vọng có thu nhập cao được.


Bà Meliton quen biết Vôkulxki từ lâu. Vốn là người thích các hoạt động xã hội và có thời gian theo dõi mọi thứ đến nơi đến chốn, bà nhanh chóng để ý thấy Vôkulxki quan tâm đặc biệt đến tiểu thư Izabela. Khi ngấm ngầm phát hiện ra điều này, bà đã nhún vai: cái gã nhà buôn tạp hóa kia, mê đắm thế chứ mê đắm nữa thì cũng làm sao mà lọt vào mắt xanh tiểu thư Izabela Oenxka được? Nếu gã mê  con gái một nhà buôn giàu có  hay con gái một ông chủ nhà máy thì bà còn mối mai cho. Đằng này!


Đến khi Vôkulxki từ Bungari về, đem theo  tài sản kếch xù, đến nỗi mọi người kể cho nhau nghe như một  phép màu, thì bà Meliton đích thân móc nối quan hệ với tiểu thư Izabela cho ông đồng thời chào hàng  dịch vụ của mình. Và mối quan hệ bất thành văn đã hình thành giữa hai người: Vôkulxki chi tiêu hào phóng, còn bà Meliton  cung cấp cho ông mọi thông tin liên quan đến gia đình nhà Oenxki và những người khác thuộc giới thượng lưu. Thông qua sự trung gian của bà Meliton, ông Vôkulxki thậm chí đã mua hối phiếu của ngài Oenxki cùng bộ đồ ăn bằng bạc của tiểu thư Izabela.


Nhân dịp đó bà Meliton  đến thăm Vôkulxki tại nhà riêng để chúc mừng thắng lợi.


- Cách xử sự của anh rất có tình có lý, - bà nói. - Thực ra bộ đồ ăn bằng bạc  chẳng đáng kể gì, nhưng mua hối phiếu của ngài Oenxki thì đúng là tuyệt tác! Tỏ rõ mặt anh hào thật.


Nghe những lời khen ngợi đó, Vôkulxki mở ngăn kéo bàn làm việc, lục tìm một lát và lấy ra tập hối phiếu.


- Cái này phải không? - ông nói, đoạn đưa chúng cho bà Meliton.


- Phải. Tôi đã mong muốn có những đồng tiền này biết bao!- bà vừa nói vừa thở dài.


Vôkulxki cầm cái gói bằng cả hai tay và xé tờ giấy bọc ngoài.


- Đáng mặt anh hào sao? - ông hỏi


Bà Meliton tò mò ngắm ông rồi vừa gật đầu vừa lẩm bẩm:


- Phí hoài cái thân ông.


- Tại sao lại vậy, thưa bà?


- Phí hoài cái thân ông, - bà ta nhắc lại. - Tôi cũng là phụ nữ nên tôi biết,  người ta chiếm được trái tim phụ nữ không phải bằng đức hy sinh, mà  bằng sức mạnh.


- Có thật thế không?


- Sức mạnh của vẻ đẹp,  sức khỏe và của đồng tiền…


- Cả sức mạnh của trí tuệ nữa… - Vôkulxki xen vào, với giọng điệu của bà Meliton.


- Sức mạnh của trí tuệ không mạnh bằng của nắm tay, - bà Meliton nói thêm, với nụ cười mỉa mai. - Tôi biết rõ hơn ai hết cái giới phụ nữ của tôi, thỉnh thoảng tôi đã có dịp xót thương cho nỗi ngây thơ của cánh đàn ông các anh.


- Đối với tôi thì bà không phải hạ mình làm việc đó.


- Ông nghĩ là sẽ không cần sao? - bà hỏi, nhìn thẳng vào mắt Vôkulxki.


- Bà bạn tốt bụng ơi, - Vôkulxki nói. - Nếu tiểu thư Izabela đúng là người như tôi thấy, thì đến lúc nào đó nàng sẽ đánh giá lại tôi. Còn nếu nàng không phải là người như vậy, tôi lúc nào cũng có đủ thời gian để mà thất vọng.


Hãy làm việc đó sớm hơn đi, thưa ông Vôkulxki, ông hãy làm việc đó sớm hơn đi, - vừa nói bà Meliton vừa cất mình khỏi ghế. - Bởi  ông hãy tin lời tôi, móc túi quẳng ra hàng ngàn rúp vẫn dễ hơn gỡ mình ra khỏi  ràng buộc vào một trái tim, nhất là khi một cái gì đó đã thành hình. Xin ông đừng quên sử dụng vốn của mình cho đúng chỗ, - bà nói thêm. - Một vài nghìn cũng rất đáng quý khi ông biết rằng nhiều khi để có số tiền đó ta phải đổ mồ hôi sôi nước mắt.


Vào tháng Năm tháng Sáu, những cuộc viếng thăm của bà Meliton trở nên thường xuyên hơn, đến nỗi lão Giexki cũng cảm thấy lo ngại và bắt đầu nghi ngờ hai người đang mưu tính chuyện gì. Lão đã không lầm.  “Âm mưu” đó nhằm vào tiểu thư Izabela. Bà Meliton cung cấp cho Vôkulxki mọi thông tin liên quan đến tiểu thư - chẳng hạn như bà ta báo tin: vào những ngày nào nữ bá tước cùng cô cháu gái của mình sẽ đi dạo  trong công viên Lazienki.


Trong những trường hợp như vậy bà Meliton lao ngay đến cửa hàng Vôkulxki, tự cho mình xứng đáng được hưởng đặc quyền dưới dạng phần thưởng bao gồm mấy thứ đồ dùng trị giá dăm mười rúp và nói chuyện với lão Giexki suốt cả ngày, nếu không cũng phải hàng giờ.


Đó là thời kỳ khá kỳ quặc trong cuộc đời Vôkulxki. Cứ được thông báo ngày hôm sau hai cô cháu tiểu thư Izabela có mặt trong công viên Lazienki là ông lập tức mất hết cả bình tĩnh. Ông thờ ơ với công việc làm ăn buôn bán, luôn cảm thấy bức bối trong người, luôn thấy như thời gian đứng yên tại chỗ và cái ngày hôm sau ấy sẽ chẳng bao giờ tới. Ban đêm ông có những giấc mơ  lạ lùng, lúc tỉnh, lúc mê, và ông thầm thì với chính mình:


“Rồi kết quả cuối cùng là gì? Chẳng là gì cả! Ôi, sao ta lại hèn hạ thế này!”


Nhưng khi sáng ra, ông sợ sệt nhìn qua cửa sổ, chỉ lo phải bắt gặp một bầu trời đầy mây, từ sáng đến trưa thời gian cứ dài lê thê, đến mức ông có thể gói gọn trong đó toàn bộ cuộc đời mình, một cuộc đời hôm nay đã bị đầu độc bởi  nỗi đắng cay không gì tả nổi.


“Liệu đây có thể là tình yêu được chăng? - ông tự hỏi mình với nỗi thất vọng, lo lắng tràn trề.


Trong lòng như có lửa đốt, nên chỉ vừa buổi trưa ông đã lệnh cho người hầu chuẩn bị xe ngựa để khởi hành. Chốc chốc ông lại có cảm giác  mình đi ngược chiều với xe ngựa của nữ bá tước từ công viên trở về hoặc chiếc xe của ông đi quá chậm mặc dù hai con ngựa  bị thúc liên hồi.


Xe vừa đỗ cạnh công viên, Vôkulxki liền vội nhảy xuống, chạy nhanh đến cái hồ nước nhỏ, nơi nữ bá tước thích dạo chơi và cho lũ thiên nga ăn. Ông thường đến đúng lúc, ngồi xuống ghế, trên trán lấm tấm mồ hôi. Ông ngồi bất động, mắt hướng về phía tòa lâu đài, cố quên đi thế giới xung quanh.


Sau cùng thì ở cuối con đường nhỏ trong công viên cũng hiện ra bóng dáng hai người phụ nữ, một áo đen, một áo xám . Vôkulxki thấy máu trong người  dồn cả lên đầu.


“Họ kia rồi! Liệu hai cô cháu có giữ ta lại, dù chỉ trong giây lát?


Ông rời ghế đứng dậy, cất bước đi trên con đường nhỏ trong công viên, ngược chiều với họ, như một kẻ mộng du, không dám thở mạnh. Phải rồi, chính là tiểu thư Izabela đang khoác tay nữ bá tước và hai người đang nói với nhau điều gì.


Vôkulxki ngắm nghía tiểu thư từ xa:


“Nào, có gì đặc biệt ở nàng đâu nhỉ? Cũng chỉ là một phụ nữ như bao người phụ nữ khác. Dường như mình đã điên cuồng chạy theo nàng một cách không cần thiết …”


Ông cúi chào, hai người phụ nữ chào đáp lễ. Ông bước đi, không ngoái đầu nhìn lại, cố không để lộ nỗi lòng mình. Cuối cùng ông không cưỡng nổi nỗi tò mò nên đã đưa mắt về phía sau: hai cô cháu tiểu thư khuất sau màu xanh cây lá.


“Ta phải quay lại, - ông nghĩ - phải nhìn  kỹ một lần nữa… Mà không, bất tiện lắm!”


Đúng lúc đó ông cảm thấy  mặt nước óng ánh của cái hồ nhỏ có sức hút kỳ lạ.


“Ôi nếu ta biết rằng cái chết chính là lãng quên… Nhưng nếu không như vậy thì sao? Không, trong tự nhiên chẳng có lòng thương. Liệu có thể đổ vào trái tim khốn khổ của con người mọi nỗi nhớ niềm thương mà vẫn không mang lại niềm an ủi rằng cái chết không là gì cả?”


Hầu như đúng vào thời điểm đó nữ bá tước  nói với tiểu thư Izabela:


- Càng ngày cô càng tin tưởng sâu sắc rằng tiền tài không đem đến hạnh phúc cho con người, Bela thân mến ạ. Ông Vôkulxki đã tạo cho mình con đường công danh sự nghiệp tuyệt vời, nhưng rồi để làm gì? Ông ta chẳng làm việc ở cửa hàng mà chỉ bần thần trong công viên Lazienki. Cháu có nhận thấy vẻ mặt rầu rĩ của ông ta không?


- Rầu rĩ ư? - tiểu thư nhắc lại. - Đối với cháu thì cảm giác đầu tiên là thấy ông ta buồn cười.


- Cô không nhận ra điều ấy, - nữ bá tước tỏ vẻ ngạc nhiên.


- Đúng ra là… không mấy dễ chịu, - tiểu thư Izabela sửa lại.


Vôkulxki không đủ can đảm rời công viên Lazienki. Ông đi vòng sang phía bên kia  hồ nước để từ xa ngắm nhìn chiếc váy  xám lấp ló giữa những hàng cây. Mãi sau ông mới nhận ra mình đang ngắm hai người mặc váy xám, người thứ ba mặc váy xanh, nhưng chẳng biết ai là tiểu thư Izabela.


“Mình trở thành kẻ đại  ngốc từ bao giờ thế này?” - ông tự hỏi.


Nhưng rồi ý nghĩ đó cũng chẳng giúp gì cho ông.


Một hôm, vào nửa đêm tháng Sáu, bà Melinton lại đánh tín hiệu cho Vôkulxki biết  vào giữa trưa ngày hôm sau tiểu thư Izabela cùng nữ bá tước và bà lớn sẽ có một cuộc dạo chơi trong công viên. Chi tiết nhỏ này rất có thể sẽ mang một ý nghĩa lớn lao nào đó.


Thực ra, từ sau buổi gặp mặt nhân lễ Phục sinh đáng nhớ ấy, đã mấy lần ông ghé thăm bà lớn và nhận ra bà lão là con người có tấm lòng. Như thường lệ, Vôkulxki chăm chú nghe bà cụ kể về quá khứ, nói chuyện với bà về ông bác của mình, thậm chí hai bên đã hẹn nhau sẽ khắc cho ông bác tấm bia. Trong quá trình trao đổi, không biết từ đâu mà câu chuyện lại đột nhiên lèo thêm tên tiểu thư Izabela vào, đến nỗi Vôkulxki chẳng giấu nổi tình cảm riêng tư. Nét mặt ông thay đổi, giọng nói ông lạc đi.


Bà lão đeo cặp kính gập mũi lên, nhìn trân trân vào mặt Vôkulxki và hỏi:


- Liệu ta có nhầm không, song hình như tiểu thư Oenxka không đến nỗi khiến cho cháu thờ ơ?


- Cháu hầu như không quen tiểu thư… Chỉ duy nhất một lần trong đời cháu hẹn với nàng, - Vôkulxki lúng túng giải thích.


Bà lớn ra chiều suy nghĩ và gật đầu.


- À…


Vôkulxki chia tay bà lớn, nhưng cái “à” đó của bà lão  đọng mãi trong trí nhớ ông . Dù sao ông cũng tin chắc rằng mình có thể trông cậy vào bà lão. Đây, chỉ chưa đầy một tuần sau cuộc chuyện trò đó, Vôkulxki được biết rằng bà cụ cùng nữ bá tước và tiểu thư Izabela sẽ có một cuộc dạo chơi trong công viên. Liệu bà cụ có biết  tại đó đã mấy lần hai người phụ nữ  gặp Vôkulxki? Chẳng lẽ bà cụ cũng muốn giúp một tay để họ xích lại gần nhau?


Vôkulxki đưa mắt nhìn đồng hồ: lúc đó là ba giờ chiều.


“Ngày mai, - ông nghĩ - còn hai tư tiếng đồng hồ nữa. Mà không, làm gì đến ngần ấy… Còn bao nhiêu tiếng nữa nhỉ?


Ông không  sao tính nổi bao nhiêu thời gian sẽ trôi qua kể từ ba giờ chiều nay đến một giờ chiều hôm sau. Một nỗi lo xâm chiếm lòng ông, khiến ông bỏ cả ăn trưa. Óc tưởng tượng thôi thúc ông tiến lên phía trước, nhưng lý trí tỉnh táo giữ ông  lại.


“Chúng ta sẽ thấy điều gì xảy ra ngày mai. Nhưng nếu trời đổ mưa hoặc một trong số ba người phụ nữ ấy bị ốm thì sao?”


Vôkulxki chạy ra đường, đi lang thang, chẳng có mục đích rõ ràng, miệng nhắc đi nhắc lại:


“Ngày mai chúng ta sẽ rõ, điều gì xảy ra… Mà biết đâu họ không giữ ta lại” Suy cho cùng, tiểu thư Izabela xinh xắn thật đấy, thậm chí cứ cho rằng nàng đặc biệt xinh xắn đi, thì nàng cũng chỉ là một tiểu thư, đâu phải  hiện tượng siêu nhiên . Hàng ngàn người đẹp như nàng cũng đang hiển diện trên thế giới, mà ta thì chẳng định sẽ dùng hai hàm răng để giữ váy nàng. Nàng sẽ đẩy ta ra ư? Được thôi! Như vậy ta sẽ có đà mạnh hơn để rơi vào vòng tay một người con gái khác…”


Chiều tối hôm đó Vôkulxki đến nhà hát, nhưng đã rời khỏi đó khi vở kịch mới  xong màn một. Ông lại lang thang trên các phố và cứ ghé vào đâu thì ở đó cái ý nghĩ về cuộc dạo chơi công viên ngày mai lại giày vò ông. Trong ông có một linh cảm  thoáng qua rằng ngày mai ông sẽ xích lại gần tiểu thư Izabela.


Đêm trôi qua để  một ngày mới đến. Đúng mười hai giờ trưa ông lệnh cho người hầu chuẩn bị xe ngựa sẵn sàng. Ông gửi tới cửa hàng mẩu giấy thông báo mình sẽ đến muộn rồi xé bao bì của một đôi găng tay. Cuối cùng thì anh hầu đã đến.


Vậy là xe ngựa đã sẵn sàng” - đôi mắt Vôluxki sáng lên.


Ông đưa tay với chiếc mũ.


- Thưa ông, ngài công tước đến! - anh  hầu thông báo.


Vôkulxki sa sầm mặt mũi.


- Mời vào.


Ngài công tước bước vào.


- Xin chào ông Vôluxki, - ngài nói- Hình như ông đang định đi đâu xa thì phải? Chắc đi thăm  kho hàng hoặc ra bến tàu hỏa. Dù bị mang tiếng bất lịch sự, tôi vẫn buộc phải ngồi vào xe  ông vì hôm nay tôi không đi xe. Nhưng tôi tin là ông sẽ tha thứ mọi điều vì tôi mang đến toàn những tin vui.


- Ngài công tước cứ nghỉ ngơi đã.


- Nghỉ ngơi thì lát nữa cũng vẫn kịp. Ông có hình dung được rằng, - công tước vừa nói vừa ngồi xuống ghế -  một khi đã không muốn để  những người anh em trong giới quý tộc của tôi được yên, tôi thúc giục họ đến nơi đến chốn, khiến họ phải hứa  sẽ từng nhóm mấy người đến chỗ tôi, dỏng tai nghe tôi nói về dự án thành lập công ty của ông. Vì vậy tôi đến đây  lôi ông đi ngay lập tức. Nói cho đúng hơn,  tôi đến để đi cùng ông và ta  đến chỗ tôi ngay.


Vôkulxki như người vừa rơi từ trên cao đập ngực xuống đất.


Nỗi lúng túng của ông không qua được mắt ngài công tước. Ngài nở nụ cười mãn nguyện vì đã đến thăm Vôkulxki và chuyển tới ông lời mời của những người cùng hội. Trong đầu ngài không mảy may gợn lên  ý nghĩ rằng đối với Vôkulxki, chuyến dạo chơi còn quan trọng hơn tất cả các vị công tước, bá tước và các công ty kia cộng lại.


- Vậy chúng ta sẵn sàng rồi chứ? - công tước vừa hỏi vừa đứng dậy khỏi ghế.


Thiếu chút nữa thì Vôkulxki đã nói thẳng rằng ông không đi, ông chẳng cần công ty công tiếc gì hết. Nhưng đúng lúc đó, một suy nghĩ  thoáng qua đầu ông:


“Cuộc dạo chơi là để cho ta, còn công ty là dành cho nàng”.


Ông đưa tay với chiếc mũ và lên xe đi cùng ngài công tước. Ông có cảm giác không phải chiếc xe ngựa đang lọc cọc trên đường lát đá mà đang lăn bánh trong óc ông.


“Người ta chiếm được trái tim phụ nữ không phải bằng đức hy sinh mà bằng sức mạnh, nhất là sức mạnh  đôi tay…” - ông nhớ lại lời nói của bà Meliton. Dưới ảnh hưởng của nó, ông muốn tóm cổ áo ngài công tước quẳng xuống đường. Nhưng ý nghĩ này cũng chỉ thoáng qua.


Ngài công tước ngắm nghía Vôluxki từ dưới đôi lông mi rậm và khi  thấy ông  mặt lúc đỏ lúc tái, ngài nghĩ bụng:


“Không ngờ mình đã đem đến cho ông Vôkulxki đáng kính này một cảm giác dễ chịu đến thế. Đúng rồi, cần phải mở rộng vòng tay tiếp đón những con người mới…”


Trong giới của mình ngài công tước được mệnh danh là người yêu nước nhiệt thành, đến mức sô-vanh, bên ngoài giới ngài nổi tiếng là một trong số những công dân mẫu mực. Ngài rất thích dùng tiếng Ba Lan, còn khi buộc phải dùng tiếng Pháp thì nội dung các cuộc chuyện trò cũng liên quan tới vấn đề công ích.


Ngài là nhà quý tộc từ đỉnh đầu đến gót chân, từ tâm hồn đến trái tim và ngấm vào  máu thịt. Ngài luôn tin rằng mỗi một xã hội đều do hai “chất liệu” tạo nên: đám đông bình thường và giai cấp được chọn lọc. Đám đông bình thường là sản phẩm của tự nhiên, thậm chí có thể có nguồn gốc từ khỉ, như cách lý giải bất chấp Kinh thánh của Đác-uyn. Còn  giai cấp được chọn lọc khởi đầu cao hơn và nếu không được Thượng đế trực tiếp sinh ra thì ít nhất cũng có họ hàng máu mủ với những anh hùng tầm cỡ Hécquyn, Prômêtê hoặc thần Ôrơphêusơ có tài dùng tiếng hát  thuần phục thú dữ và làm cho đồ vật có tâm hồn, cuộc sống riêng.


Công tước có người bạn thân ở Pháp, một vị bá tước bị dị ứng nghiêm trọng với nền dân chủ, song cũng luôn cười cợt nguồn gốc lơ lửng trên trời của giai cấp quý tộc. Vì vậy một  cuộc tranh luận đã nổ ra.


- Người bà con của tôi ơi, - ngài bá tước nói - tôi nghĩ rằng cậu không ý thức được đầy đủ về dòng dõi. Các dòng họ lớn là gì? Là những dòng họ có tổ tiên là tư lệnh quân đội,  nghị sĩ, tỉnh trưởng, ngày nay ta gọi là tướng soái, đại biểu quốc hội hay người đứng đầu một đơn vị hành chính quốc gia. Chúng ta  lạ gì các vị này, trong con người họ chẳng có chi đặc biệt. Họ cùng ăn, cùng uống, cùng chơi bài, cũng liếc ngược liếc xuôi lũ đàn bà, cũng vay nợ, giống như những người khác, khi nào chết thì xuống mồ, đôi khi còn ngu ngốc hơn cả những người  thường.


Trên mặt công tước xuất hiện những vết đỏ bệnh hoạn.


- Cậu đã gặp bao giờ chưa, hả người anh em, - công tước nói - một vị đại diện chính quyền hay tướng lĩnh nào có vẻ oai phong lẫm liệt như chúng ta vẫn  thấy trên những bức ảnh tổ tiên của chúng ta?


- Có gì lạ đâu, - bá tước cười như bị chạm đến lòng tự ái- Cánh họa sĩ bao giờ chẳng tô vẽ thêm cho đẹp, một vẻ đẹp mà người được vẽ cũng không dám nghĩ đến trong mơ. Sau đó, các nhà nghiên cứu nghệ thuật và các nhà sử học bồi thêm những huyền thoại không có thật vào. Tất cả đều là giả dối đó anh bạn ạ. Đó chỉ là trang phục, là những thứ sau cánh gà giúp người ta biến một anh chàng nghèo rớt mồng tơi thành hoàng tử  rồi biến một anh chàng nào khác thành bần cố nông. Trong thực tế cả hai anh chàng này chỉ là diễn viên quèn.


- Người anh em chỉ bôi bác là giỏi thôi, chứ không  tranh luận nghiêm chỉnh! - công tước giận dỗi bỏ đi. Ngài chạy nhanh về phòng mình, nằm vật xuống tràng kỷ, hai tay luồn sâu vào  tóc, khi nhìn lên trần nhà, ngài thấy bóng dáng những người cao lớn, dũng mãnh dịch chuyển vô mục đích trên đó. Đây đích thực là tổ tiên của ngài và của vị bá tước nọ. Có điều, bá tước đã tẩy sạch những hình ảnh này. Nhưng liệu trong ông vẫn còn tồn tại một sự pha trộn dòng máu?


Đối với đám đông những thường dân, công tước không những không khinh bỉ mà đôi khi còn biểu lộ thiện cảm,  thậm chí gặp gỡ và quan tâm đến nhu cầu của họ. Ngài tưởng tượng mình là một trong số các vị thần Prômetê có vinh dự nhận trách nhiệm mang ngọn lửa trời xuống mặt đất cho những con người nghèo khổ này. Vả lại Chúa đã lệnh cho ngài phải có tình cảm với những sinh linh nhỏ bé cho nên công tước bỗng đỏ mặt khi nghĩ rằng phần lớn những người cùng hội cùng thuyền với ngài  rồi sẽ phải đứng trước sự phán xử của Chúa vì đã không làm tròn bổn phận được giao.


Vậy là để không phải xấu hổ với bản thân mình, công tước đã tham gia, thậm chí đích thân tổ chức tại tư dinh nhiều cuộc họp, chi từ hai mươi nhăm đến một trăm rúp để mua cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước khác nhau, nhưng cao hơn tất cả mọi thứ đó - ngài luôn tỏ ra lo lắng, buồn phiền về tình cảnh bất hạnh của đất nước, vậy nên bài phát biểu nào của ngài cũng kết thúc bằng câu:


- Bởi vì, thưa các ngài, trước hết chúng ta phải nghĩ đến chuyện vực dậy đất nước bất hạnh của chúng ta…


Khi  nói điều này, ngài cảm thấy trút được gánh nặng khỏi trái tim mình, càng nhiều người nghe hoặc chi tiền mua cổ phiếu càng khiến ngài thấy thứ mà mình vừa trút bỏ thực sự là gánh nặng lớn hơn.


Việc tổ chức các cuộc hội họp, khuyến khích mọi người tích cực làm ăn và đau khổ, đau khổ hơn nữa, thương xót hơn nữa  đất nước bất hạnh của mình, theo ngài công tước,  là trách nhiệm công dân. Nhưng khi được hỏi ngài đã bao giờ trồng một cây xanh để lấy bóng mát  che chắn con người và đất đai khỏi  nắng nóng chưa hoặc ngài đã khi nào nhặt hòn đá trên đường ném đi để ngựa khỏi vấp chưa, hẳn ngài sẽ tròn mắt ngạc nhiên.


Công tước cảm nhận và suy nghĩ, mong muốn và đau khổ thay cho hàng triệu con người. Chỉ có điều ngài không bao giờ làm được một việc gì có ích. Đối với ngài, hình như thường xuyên lo lắng cho quốc gia sẽ  đem lại giá trị cao hơn hẳn việc lau sạch cái mũi bẩn của một đứa trẻ.


Vào tháng Sáu, bộ mặt thủ đô Varsava thay đổi hẳn. Những khách sạn trước đó vắng người nay trở nên tấp nập, cho dù giá cả  tăng. Trước cổng nhiều ngôi nhà xuất hiện những tờ thông báo:  “Phòng đầy đủ tiện nghi, thuê trong vòng vài tuần”. Tất cả các xe ngựa đều  kín chỗ. Mọi người chạy đi chạy lại tuồng như vội vã hơn. Trên đường phố, trong vườn nhà, ở nhà hát, nhà hàng, phòng triển lãm, cửa hàng, cửa hiệu trang phục phụ nữ, đâu cũng thấy bóng dáng những người mà ngày thường chắc  ít xuất hiện. Họ là những người đàn ông mập mạp, da rám nắng, đội mũ lưỡi trai màu tím than, đi giày rộng nhưng găng tay lại chật, mặc những bộ com lêdo một ông thợ may tỉnh lẻ may đo. Cùng đi với họ là đám phụ nữ không nổi bật về nhan sắc  hay mang dáng điệu sang trọng như dân thủ đô Varsava, cùng không ít bọn trẻ vụng về, cứ nhìn cái miệng há to là đủ biết chúng rất khỏe mạnh.


Một số người từ nhà quê lên, mang len ra chợ bán, số khác đi xem đua ngựa, lại có cả những người vừa đi vừa xem len vừa xem đua ngựa; có người đến đây gặp gỡ hàng xóm của mình. Gọi là hàng xóm nhưng  vốn dĩ họ ở cách nhau cả cây số. Cũng có người tìm đến thủ đô để hưởng nước bẩn và bụi bặm, còn khối kẻ vượt mấy ngày đường tới đây mà không hiểu vì sao.


Công tước cũng có một chuyến đi tương tự nhằm đưa Vôkulxki lại gần  đám thị dân.


Trong tư gia của mình, không gian hoạt động của công tước chiếm  diện tích khá rộng ở tầng hai. Một phần của nó, gồm phòng làm việc, thư viện và nơi hút thuốc, thường dùng làm nơi tổ chức các cuộc họp của cánh đàn ông, trong đó công tước giới thiệu các dự án, hoặc của mình, hoặc của người khác, liên quan đến những vấn đề công cộng. Các cuộc họp thường diễn ra vài lần trong năm. Cuộc họp mùa xuân gần đây nhất dành riêng để bàn về những chiếc ca nô chân vịt chạy trên sông Vitxoa. Những người dự họp chia thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất gồm  công tước và một số bạn bè thân cận của ngài, nhất định đòi hỏi đóng ngay những con tàu chân vịt, còn nhóm thứ hai, mang tư tưởng thị dân, về cơ bản thừa nhận vẻ đẹp của thiết kế, nhưng lại coi việc đưa nó vào sản xuất là quá sớm, cho nên nhất quyết không chi tiền. Còn nhóm thứ bagồm một kỹ thuật viên ít tên tuổi, người khẳng định rằng tàu chân vịt không thể chạy được trên sông Vitxoa, cùng người thứ hai là một nhà quý tộc nghễnh ngãng, khi nghe bất cứ ai cất lời liên quan đến hầu bao của mình, đều chỉ đáp một câu muôn thuở:


- Đề nghị nói to lên một chút, chẳng nghe thấy gì cả.


Công tước cùng ông Vôkulxki xuất hiện lúc một giờ, còn những người khác lần lượt có mặt mười lăm phút sau đó. Công tước chào hỏi từng người, vừa lịch sự vừa tràn đầy tin tưởng và giới thiệu Vôkulxki với họ, sau đó đánh dấu tên người có mặt trong danh sách khách mời bằng cây bút chì dài màu đỏ.


Một trong số những vị khách đầu tiên là ngài Oenxki. Ngài kéo ngay Vôkulxki về phía mình, hỏi đi hỏi lại về mục đích và ý nghĩa của cái hội mà ngài tham gia với cả trái tim mình nhưng không bao giờ  nhớ rõ nó sinh ra để làm gì. Trong khi đó,  tất cả những người khác lại ngắm nghía từ đầu đến chân vị khách không mời, thì thầm trao đổi những nhận xét về anh ta.


- Vẻ mặt bò mộng, - ngài hầu tước bụng phệ đưa mắt về phía Vôkulxki thầm thì. - Tóc trên đầu dựng đứng như lông lợn rừng, vai rộng, mắt long lanh… Người này không chỉ dừng lại ở chuyện săn bắn đâu! Tôi xin quỳ dưới chân bái phục!


- Còn khuôn mặt nữa chứ, thưa ngài,- bá tước xen vào với vẻ mặt của quỷ Mefistofeles trong thần thoại Hy Lạp - Vầng trán nữa, thưa ngài, bộ ria nữa, thưa ngài, giống hệt kiểu hàng ria nhỏ Tây Ban Nha đó, thưa ngài. Hoàn toàn, thưa ngài, hoàn toàn… Các nét, một chút, thưa ngài… chưa thật hoàn hảo, nhưng nhìn tổng thể, thưa ngài…


- Chúng ta phải xem trong công chuyện làm ăn anh ta là người thế , - bá tước cổ rụt góp chuyện.


- Hăng hái đấy, mạnh bạo đấy, tếch, - vị bá tước thứ hai lên tiếng như vừa từ hầm rượu chui lên. Ông ta ngồi cứng đơ  trên ghế, quần áo nhiều tầng nhiều lớp, đưa cặp mắt nhờ nhờ lên nhìn thẳng về phía trước, giống như gã người Anh trên tạp chí hài hước Journal Amusant của Pháp.


Công tước rời ghế đứng dậy, khịt khịt mũi, những người khác yên lặng, có thể nghe rõ phần còn lại trong câu chuyện của ngài hầu tước:


- Tất cả chúng ta chỉ nhìn vào rừng, trong khi ngay dưới chân chúng ta có thứ gì đó đang kêu lạo xạo. Xin hãy hình dung cảnh con chó săn khôn ngoan, cổ bị xích, đi cạnh đoàn ngựa, vẫn bóp chết được con thỏ xám dưới rãnh nước…


Nói xong câu này, hầu tước vỗ bàn tay vĩ đại của mình đánh bốp” lên đùi, làm thư ký và trợ lý của ngài giật bắn cả người.


Công tước khịt mũi lần thứ hai, khiến hầu tước lúng túng vội lấy tấm khăn lụa to tổ bố ra lau vầng trán đẫm mồ hôi của mình.


- Thưa các quý ông, - công tước cất tiếng - tôi mạnh dạn phiền đến các quý ông một việc chung rất… rất quan trọng, một công chuyện mà tất cả chúng ta đều cảm thấy có nhiệm vụ phải sẵn sàng coi như lợi ích chung. Tôi muốn nói đến những… lý tưởng của chúng ta… đó là…


Công tước tỏ ra lúng túng, nhưng trấn tĩnh lại ngay, đoạn nói tiếp:


- Đó là về công…công… à về kế hoạch,  đúng hơn là về dự án thành lập hội để tạo điều kiện  buôn bán…


- Lúa mì chắc, - có tiếng ai đó từ góc phòng đế vào.


- Đúng ra, - công tước kéo dài giọng - không phải  chuyện buôn lúa mì, mà là…


- Rượu trắng, - vẫn là giọng của người ở góc phòng, nhưng nói nhanh hơn.


- Cũng không phải!Đúng hơn là tạo điều kiện cho giao thương hàng hóa giữa Nga và nước ngoài, phải,hàng hóa… Còn thành phố  chúng ta rất cần phải trở thành trung tâm, đại loại như…


- Thế  hàng hóa loại nào? - ngài bá tước cổ rụt hỏi.


- Về khía cạnh chuyên môn, ngài Vôkulxki đây sẽ giải thích để chúng ta rõ hơn. Ngài Vôkulxki là con người… con người có chuyên môn, - công tước kết thúc bài phát biểu của mình. - Nhưng chúng ta cần  nhớ, thưa các vị, về trách nhiệm đặt lên vai mình, là lo lắng cho quyền lợi chung của  đất nước khốn khổ này…


- Lạy Chúa, tôi sẽ nộp mười ngàn rúp ngay bây giờ… - ngài hầu tước gầm lên.


- Để làm gì? - bá tước hỏi, cố làm điệu bộ cho giống người Anh chính cống.


- Thế nào cũng được!- hầu tước cao giọng trả lời. - Tôi đã nói: Tôi bỏ ra ở Varsava năm mươi ngàn rúp, vậy thì hãy để mười ngàn vào mục đích từ thiện, bởi ngài công tước yêu quý của chúng ta nói rất tuyệt… Lạy Chúa, tôi nói đây là từ cả lý trí lẫn trái tim!


- Xin lỗi, - Vôkulxki nói - nhưng đây không phải hội từ thiện mà là hội buôn bán bảo đảm sinh lời.


- Chính thế!- vị bá tước cổ rụt xen ngang.


- Tếch! - vị bá tước giống người Anh khẳng định. Ông có thói quen mở đầu mỗi câu nói của mình bằng một từ “tếch” chẳng có nghĩa gì.


- Khoản lãi từ mười ngàn rúp thì đáng kể gì? - hầu tước phản đối. - Để có khoản lợi đó, tôi thà khoác bị đứng dưới chân ảnh Đức mẹ ở cổng pháo đài Vilno còn hơn.


Bá tước cổ rụt không giữ được bình tĩnh nữa:


- Xin mời mọi người phát biểu đúng trọng tâm: Liệu có nên coi nhẹ những khoản lãi nhỏ không! Quan niệm như vậy là chúng ta chết đấy, xin thưa với các vị, - ngài vừa kêu gọi vừa gõ móng tay lên thành ghế tựa.


- Thưa bá tước, - công tước ngắt lời bằng giọng ngọt ngào - ngài Vôkulxki phát biểu.


- Tếch!- bá tước người Anh tỏ thái độ ủng hộ bằng cách động đậy người để phát ra tiếng sột soạt từ những trang phục nhiều tầng nhiều lớp.


- Vậy thì chúng tôi xin trân trọng kính mời ngài Vôkulxki, - một giọng  mới mẻ cất lên - giới thiệu rõ ràng, súc tích cái lợi ích chung mà vì nó chúng ta có mặt tại đây, trong  phòng khách sang trọng  thế này của ngài công tước.


Vôkulxki đưa mắt nhìn về phía người vừa đòi hỏi ông giải thích rõ ràng, súc tích vấn đề. Đó là vị luật sư tài giỏi, bạn thân và là cánh tay phải của ngài công tước. Ông ta thích nói hoa mỹ song song với động tác vung tay và lắng nghe những lời hoa mỹ của chính mình - những từ ngữ mà ông luôn tìm được vào thời điểm cần thiết.


- Có điều nên nói  như thế nào để  mọi người đều hiểu rõ, - ai đó lẩm bẩm trong góc phòng, nơi những người thuộc giới quý tộc, vốn không ưa gì các nhà tư bản có quyền thế, ngồi kín chỗ.


- Như các quý vị đã biết, - Vôkulxki mở đầu - Varsava là cầu nối thương mại quan trọng giữa Tây Âu và Đông Âu. Tại đây một phần hàng hóa của Pháp và Đức dành cho thị trường Nga được chuyển qua tay chúng ta. Lẽ ra chúng ta có thể kiếm chút lời lãi từ chuyện này, nếu nền thương mại của chúng ta…


- Không nằm trong tay bọn Do thái, - ai đó ngồi ở dãy bàn dành riêng cho thương nhân và các nhà công nghiệp ngập ngừng cắt ngang.


- Không, - Vôkulxki trả lời - Có thể có được lợi nhuận nếu ngành thương mại của chúng ta được điều hành nghiêm chỉnh.


- Với bọn Do thái thì không thể buôn bán nghiêm chỉnh…


- Nhưng hôm nay, - vị luật sư của công tước ngắt lời - ngài Vôkulxki kính mến sẽ tạo cho chúng ta khả năng đặt vốn của người Thiên chúa giáo vào vị trí đầu tư vốn của những người Do thái giáo…


- Chính ngài Vôkulxki đã dẫn dắt bọn Do thái vào buôn bán, - một nhân vật quan trọng trong giới thương gia  nói to đến nỗi nước bọt bắn  ra xung quanh.


Cả phòng họp bỗng nhiên yên lặng.


- Theo cách làm ăn của mình, tôi không sập cửa trước mặt bất cứ ai, - Vôkulxki nói tiếp - Tôi chỉ ra cho các vị con đường để Varsava sắp xếp lại chuyện làm ăn buôn bán với nước ngoài, đó là nửa đầu tiên trong dự án của tôi và là một nguồn lợi tạo vốn cho đất nước. Nguồn lợi thứ hai xuất phát từ việc bán hàng dệt với Nga. Bên đó có những mặt hàng giá rẻ mà ở ta mọi người đang tìm. Nếu một hội chuyên về vấn đề này ra đời thì mỗi năm  có thể có lãi từ mười lăm đến hai mươi phần trăm vốn đầu tư. Tôi dành vị trí số một cho mặt hàng vải…


- Thế thì  khác gì đào mồ chôn sâu nền công nghiệp của chúng ta, - nhân vật quan trọng trong giới thương gia lại lên tiếng.


- Tôi không quan tâm đến các ông chủ nhà máy, tôi chỉ nghĩ đến người tiêu dùng- Vôkulxki đáp.


Các thương gia và các nhà công nghiệp bắt đầu thì thầm trao đổi với nhau, rõ ràng tỏ thái độ không thiện cảm với Vôkulxki.


- Thì đây, chúng ta đã đến được với lợi ích chung! - công tước nói to, giọng xúc động. - Vấn đề nổi lên bây giờ là liệu  dự án của ngài Vôkulxki kính mến có phải  dấu hiệu đáng mừng cho đất nước chúng ta không? Thưa ngài chánh án, - công tước quay về phía ông luật sư vì bỗng nhiên cảm thấy có nhu cầu sử dụng ông này vào một hoàn cảnh hơi khó xử.


- Thưa ngài Vôkulxki kính mến, - luật sư phát biểu - với tính cách chu đáo, sâu sắc của mình, xin ngài giải thích cho chúng tôi rõ, liệu việc nhập khẩu mặt hàng vải đó từ xa về có gây thiệt hại ít nhiều cho các nhà máy của chúng ta ?


- Trước tiên, - Vôkulxki nói - cái gọi là “nhà máy của


chúng ta” không phải của chúng ta, mà của Đức


- Ô hô! - đại biểu nhóm thương gia kêu to.


Tôi sẵn sàng, - Vôkulxki nói - kể ngay ra đây các nhà


máy, trong đó cả bộ máy hành chính và những công nhân được trả lương cao nhất đều là người Đức, vốn bỏ ra cũng là vốn Đức, và hội đồng quản trị nằm trên đất Đức. Tại đó, công nhân chúng ta không có điều kiện nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, chỉ là người làm thuê với đồng lương chết đói, bị coi thường và bị Đức hóa đến trắng trợn.


- Điều này quan trọng đấy!- Bá tước cổ rụt chen ngang.


-  Tếch! - ông người Anh thầm thì.


 - Lạy Chúa, nghe những lời này tôi thấy xúc động


quá!- hầu tước kêu lên - Chưa bao giờ tôi nghĩ mình có thể thu thập được nhiều điều trong một cuộc chuyện trò tương tự. Tôi sẽ quay lại ngay…


            Hầu tước rời khỏi phòng, người cúi sát đất.


            - Có phải nêu cụ thể tên họ để các vị thấy rõ không? - Vôkulxki hỏi.


            Nhóm các thương gia và các nhà công nghiệp tỏ ra nhún nhường hiếm thấy khi  không đòi hỏi nêu tên họ chủ nhân các nhà máy Đức. Ngài luật sư nhanh chóng đứng dậy khỏi ghế,xoa hai tay vào nhau:


            - Tôi nghĩ  ta có thể cho qua vấn đề các nhà máy trong nước. Giờ ngài Vôkulxki kính mến có thể, với tính cách cứng rắn của mình, giải thích cho chúng ta rõ về những lợi tích cực mà dự án của mình mang lại…


            - Cho  đất nước khốn khổ của chúng ta, - công tước bổ sung


            - Thưa các quý vị, - Vôkulxki nói - khi một thước vải bông của tôi chỉ rẻ hơn giá hiện nay  hai xu thôi thì khi đó mỗi triệu mét vải bông mua ở đây nói chung có thể tiết kiệm được mười ngàn rúp.    - Mười ngàn rúp có nghĩa là gì vậy? - hầu tước hỏi sau khi  trở về phòng, ngồi vào chỗ cũ, nhưng chưa kịp bắt nhịp với bầu không khí chung.


            - Có ý nghĩa lớn lao lắm, vô cùng lớn! - bá tước cổ rụt kêu to. - Ít nhất một lần chúng ta học được cách quý trọng khoản lời lãi tính bằng xu…


            - Tếch! Một xu là mẹ một hào đấy!- vị bá tước có phong cách Ăng-lê bình luận.


            - Mười ngàn rúp, - Vôkulxki tiếp tục câu chuyện - đó là nền tảng của sự phồn vinh cho ít nhất hai chục gia đình bình thường.


            - Giọt nước trong biển cả, - một người trong đám thương gia làu bàu.


            - Nhưng cũng còn một lý do khác, - Vôkulxki nói - trong thực tế không chỉ liên quan đến các nhà tư bản. Tôi có một nguồn hàng trị giá từ ba đến bốn triệu rúp một năm…


            - Tôi xin quỳ sụp dưới chân! - ngài tử tước lại thầm thì.


            - Đây không phải là tài sản của tôi, - Vôkulxki ngắt lời - tài sản của tôi khiêm tốn hơn nhiều.


            - Tôi thích những người như thế này! - bá tước cổ rụt nói.


            - Tếch!- bá tước có phong cách Ăng-lêbổ sung.


            - Ba triệu rúp kia tạo nên khoản vốn vay của riêng tôi và đem lại cho tôi, với tư cách người trung gian, một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ, - Vôkulxki giải thích- Nhưng cũng phải nói trước rằng ở đâu vốn vay được cung cấp bằng tiền mặt thì tỷ lệ lãi có thể đạt từ mười lăm đến hai mươi phần trăm, thậm chí cao hơn. Những đồng tiền này quay vòng và thu lợi cho mình. Còn tôi dành chúng cho các vị sử dụng trực tiếp và để tăng thu nhập cho bản thân. Xin hết.


            - Tuyệt vời! - vị bá tước cổ rụt kêu to. - Nhưng liệu có thể cho biết thêm những chi tiết cụ thể hơn?


            - Tôi chỉ có thể thảo luận thêm với những người đồng sự của mình, - Vôkulxki trả lời.


            - Tôi xin được là một trong những cộng sự của ngài, - bá tước cổ rụt nói và chìa tay ra.


            - Tếch! - vị bá tước có phong cách Anh nói thêm, chìa hai ngón tay về phía Vôkulxki.


            - Thưa các ngài! - một người đàn ông cạo râu nhẵn nhụi thuộc nhóm quý tộc ghét tư bản lên tiếng - Các vị đây đang bàn chuyện buôn bán vải bông vốn chẳng liên quan chút nào đến chúng tôi. Nhưng thưa các quý vị, - ông ta nói tiếp với giọng như muốn khóc - chúng ta có lúa mì chất đầy kho, có nhiều rượu trắng để đầy các nhà hàng, loại rượu ngon mà bọn trung gian bóc lột chúng ta một cách, nói thế nào nhỉ,  không đáng phải như vậy…


            Nói xong ông ta đưa mắt nhìn một lượt khắp phòng. Nhóm quý tộc khinh thường các nhà tư bản  dành cho ông ta một tràng vỗ tay.


            Khuôn mặt công tước, rạng rỡ vì một niềm vui bí ẩn nào đó, lúc này càng ngời sáng nhờ sự chiếu rọi của một cảm hứng thật sự.


            - Nhưng thưa các quý vị, hôm nay chúng ta bàn về chuyện buôn bán vải bông, nhưng ngày mai, ngày kia, ai có thể cấm chúng ta họp bàn những vấn đề khác? Vậy tôi đề nghị…


            - Lạy Chúa, sao ngài công tước yêu quý của chúng ta có thể nói hay như vậy, - hầu tước kêu lên.


            - Chúng tôi xin nghe,xin nghe! - ông luật sư tỏ vẻ đồng tình với hầu tước, nhưng cũng thể hiện mạnh mẽ rằng mình đang tìm cách kiềm chế nhiệt tình quá mức của ngài công tước.


            - Vậy thì, thưa các quý vị, - công tước nói tiếp, vẫn với giọng xúc động - tôi đề nghị chúng ta tổ chức hai buổi họp tiếp theo: một bàn chuyện buôn  lúa mì, hai bàn chuyện buôn  rượu trắng.


            - Thế còn vốn vay cho nông dân? - ai đó trong giới quý tộc ghét tư bản hỏi.


            - Cuộc thứ ba sẽ bàn về vốn vay cho nông dân, - công tước nói - Cuộc thứ tư sẽ…


            Nói đến đó ngài bỗng nhiên dừng lại.


            - Cuộc họp thứ tư và thứ năm, - luật sư đỡ lời - sẽ dành để phân tích tình hình kinh tế nói chung…


            - Của cái đất nước khốn khổ này của chúng ta, - công tước kết  lời phát biểu của mình hầu như trong đầm đìa nước mắt.


            - Thưa các quý vị! - luật sư nói như gào lên trong lúc lấy khăn lau mũi với cử chỉ đầy xúc động - Chúng ta hãy bày tỏ lòng kính trọng đối với chủ tọa cuộc họp mặt hôm nay, một công dân tuyệt vời, một trong những con người cao thượng nhất…


            - Mười ngàn rúp, lạy Chúa! - hầu tước thốt lên.


            - Mới là đóng góp cho việc thành lập thôi, - luật sư nói nhanh để bổ sung cho câu nói của hầu tước.


            - Hoan hô! Công tước muôn năm!- mọi người hô to trong tiếng lao xao của bước chân và tiếng xô đẩy bàn ghế. Nhóm các nhà quý tộc không ưa tư bản cao giọng nhất.


            Công tước bắt đầu siết chặt tay từng vị khách trong khi không thể làm chủ được nỗi xúc động trong lòng, đến mức luật sư phải ra tay giúp sức bằng cách ôm hôn tất cả mọi người. Nhưng rồi chính ông này cũng xúc động không kém. Ông đã bật khóc, quên cả giữ gìn nghi lễ.


            Một vài người quây quanh Vôkulxki.


            - Tôi xin tham gia với mức đóng góp ban đầu là năm mươi ngàn rúp, - bá tước cổ rụt nói - còn sang năm… sẽ xem xét sau…


            - Ba mươi ngàn rúp, thưa ngài, ba mươi ngàn rúp… Xin mời ngài!  - vị bá tước mang vẻ mặt của quỷ Mefistofeles trong thần thoại Hy Lạp nói.


            - Và tôi cũng góp ba mươi ngàn. Tếch!- vị bá tước có tác phong Ăng-lê vừa gật gật đầu vừa nói.


            - Còn tôi, tôi xin bỏ vào đó hai… ba lần mức đóng góp của… ngài công tước. Lạy chúa!- hầu tước nói.


            Vài người thuộc nhóm thương gia cũng mon men đến gần Vôkulxki. Họ chỉ đứng yên, song cái nhìn thiện cảm của họ nói lên nhiều điều gấp trăm lần những lời lẽ tình cảm nhất.


            Sau đó  một chàng trai mang nét mặt buồn , râu quai nón thưa thớt, nhưng mức độ từng trải quá sớm đã lưu lại dấu vết không còn gì phải nghi ngờ tiến sát Vôkulxki. Vôkulxki đã gặp người này nhiều lần, và lần cuối  là gặp trên  phố khi anh ta đánh chiếc xe ngựa chạy rất nhanh.


            - Tôi là Marusievich, - chàng trai tiều tụy có nụ cười đáng yêu nói - Xin ông thứ lỗi cho sự mạo muội của tôi, nhất là cho lời đề nghị ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên này…


            - Xin được nghe anh.


Chàng thanh niên đưa tay đặt lên vai Vôkulxki và kéo ông lại gần cửa sổ rồi nói:


            - Tôi xin lật bài ngửa trước ông ngay, với những con người mà ông vừa gặp, ông sẽ không có thể làm gì khác được. Tôi không phải  người giàu có, nhưng tôi có bản năng tốt và  muốn tìm việc làm. Ông đang thành lập liên doanh, liệu tôi có thể làm việc dưới quyền ông được không?


            Vôkulxki chăm chú nhìn chàng thanh niên. Lời đề nghị ông vừa nghe  có lẽ không hợp với  vẻ bề ngoài tiều tụy của anh ta cũng như với cái nhìn thiếu tự tin từ con người này. Vôkulxki cảm thấy hơi khó chịu, mặc dù vậy vẫn hỏi:


            - Anh biết làm gì? Chuyên môn hẹp của anh là gì?


            - “Chuyên môn hẹp”, hẳn ông cũng thấy, tôi chưa chọn, nhưng tôi có những khả năng lớn lao và  có thể làm tốt bất cứ công việc gì.


            - Vậy anh hy vọng một mức lương như thế nào?


            - Một ngàn… hai ngàn rúp… - chàng thanh niên trả lời hơi lúng túng.


            Vôkulxki miễn cưỡng gật đầu.


            - Tôi cũng không chắc , - ông nói - liệu chúng tôi có vị trí nào phù hợp với những đòi hỏi của anh  không. Nhưng anh hãy ghé qua chỗ tôi vào một dịp nào đó…


Ở giữa phòng, ngài bá tước cổ rụt đã cất giọng:


- Vậy kính thưa quý ông, - ngài nói - về nguyên tắc, chúng ta đang xúc tiến việc thành lập liên doanh do ngài Vôkulxki đề xuất. Có vẻ như công chuyện làm ăn này sẽ rất tốt,  cho nên hiện nay ta phải bàn những chi tiết cụ thể và đăng ký kinh doanh. Vậy nên tôi xin mời tất cả các quý vị  mong muốn trở thành thành viên của liên doanh đến chỗ tôi vào ngày mai, chín giờ tối.


- Tôi sẽ đến chỗ ngài, bá tước yêu quý ạ, lạy Chúa! - vị hầu tước béo phệ đáp lời -  rất có thể tôi sẽ dẫn đến chỗ ngài thêm mấy người Litva, nhưng vẫn là quý tộc Ba Lan chúng ta. Có điều ngài phải nói cho tôi biết, tại sao chúng ta cần lập liên doanh buôn bán. Cứ để  đám thương gia làm có phải hơn không…


- Ít nhất cũng đừng để thiên hạ xì xầm  chúng ta chẳng làm gì ngoài chuyện tính toán để hưởng phần trăm, - bá tước trả lời hăng hái hẳn lên.


Công tước mời mọi người phát biểu.


- Vả lại, - ngài nói - chúng ta đã thấy hiện rõ hai liên doanh: một để buôn bán lúa mì và một buôn bán rượu trắng. Ai không muốn tham gia liên doanh thứ nhất có thể gia nhập liên doanh thứ hai.Ngoài ra chúng tôi trân trọng kính mời ngài Vôkulxki tham dự các cuộc thảo luận khác…


- Tếch! - bá tước có phong cách Ăng-lê xen ngang.


- Với tài năng của mình, mời ngài Vôkulxki  làm sáng tỏ các vấn đề, - luật sư bổ sung thêm


- Tôi không chắc  mình có thể giúp ích được gì cho các  vị, - Vôkulxki nói - Thực ra tôi cũng  có ít nhiều kinh nghiệm trong buôn bán lúa mì và rượu trắng, nhưng chuyện này diễn ra trong những hoàn cảnh đặc biệt. Cụ thể là với số lượng lớn và yêu cầu khẩn trương về mặt thời gian, còn giá cả không quan trọng. Tôi không nắm rõ việc buôn bán lúa mì ở đây lắm…


- Sẽ có chuyên gia, thưa ngài Vôkulxki, - ngài luật sư cắt ngang lời Vôkulxki - Họ sẽ cung cấp cho chúng ta những chi tiết cần thiết,  nhờ ngài sắp xếp lại, đồng thời làm sáng tỏ thêm, bằng tài năng xuất chúng của mình.


- Xin mời, xin mời! - hai vị bá tước nói to, và đám quý tộc ghét tư bản hưởng ứng còn ầm ĩ hơn.


(còn tiếp)


Nguồn: Búp bê. Tiểu thuyết của nhà văn Balan: Boleslaw Prus. Nguyễn Chí Thuật dịch từ nguyên bản tiếng Balan. NXB Phụ nữ, quý I-2017.


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »