tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21264417
Tiểu thuyết
05.10.2017
Boleslaw Prus
Búp bê



- Ôi trời, dòng họ là cái quái gì với tôi!- Franxơ cười nói. - Bố tôi đến đây bằng chiếc xe trượt có hai con chó kéo chứ gì đâu.


- Tôi không nói chuyện với ông! - Ian gầm lên.


- Tôi cũng có nói chuyện với ông đâu, tôi nói với Ignaxư đấy chứ, - Franxơ đáp. - Còn ông chú nhà chúng tôi - cậu ta tiếp tục câu chuyện - rõ ràng là một anh Đức chính cựa, đã bò ra khỏi quan tài để lấy cái áo ngủ mà mọi người quên không bỏ vào trong đó…


- Ông đang xỉ nhục tôi tại chính nhà tôi đấy! - Ian hét vào mặt em.


- Tôi có đến nhà ông đâu, tôi chỉ đến cửa hàng để  mua bán. Vixếch đâu, - Franxơ quay về phía cậu bán hàng - bán cho tao cái nút chai giá một xu! Gói nó vào tờ giấy cho cẩn thận nhé! Tạm biệt Ignaxư yêu quý, chiều tối ghé qua chỗ tôi chơi, có chai rượu, bọn mình nói chuyện với nhau nhiều hơn. Cũng có thể ông này sẽ đi cùng cậu, - anh ta nói thêm khi đã đứng ngoài phố, đưa tay chỉ về phía Ian khi ông anh đang tái mặt vì tức giận.


- Tôi sẽ không bao giờ đặt chân đến cửa nhà cái nhà thằng Đức đê tiện ấy! - Ian hét to.


Tuy nhiên đã không có gì ngăn cản chuyện hai chúng tôi có mặt ở nhà Franxơ buổi tối hôm đó.


Nhân tiện tôi cũng nói thêm là chẳng có tuần nào hai anh em nhà Minxen không cãi nhau và lại làm lành với nhau ít nhất hai lần. Có một điều rất đặc biệt, nguyên nhân những cuộc cãi cọ không bao giờ ảnh hưởng đến chuyện làm ăn bình thường. Tất nhiên, bất chấp những hiểu lầm nghiêm trọng, hai anh em vẫn trao cho nhau các tờ hóa đơn thanh toán, vẫn cho nhau vay tiền và trả cho nhau các khoản nợ. Lý do cãi nhau nằm trong tính cách.


Ian Minxen là người lãng mạn và đầy nhiệt huyết. Franxơ thầm lặng và độc địa. Ian cuồng tín dòng họ Napôlêông, trong khi Franxơ theo phái cộng hòa và là kẻ thù số một của Napôlêông đệ tam. Còn điểm cuối cùng này nữa, Franxơ thừa nhận gốc gác Đức của mình, trong khi đó Ian khẳng định trang nghiêm rằng dòng họ Minxen xuất thân từ dòng họ Mientux, tồn tại từ thời Ba Lan cổ đại, có thể trước thời các vua Jagiellon, mà cũng có thể từ thời các vua còn được bầu ra chứ không phải cha truyền con nối, đã định cư giữa những người Đức.


Chỉ cần uống một ly rượu vang vào là Ian Minxen đã có thể đấm ngực hoặc đập tay xuống bàn hay vỗ vai những người ngồi cạnh, hét to:


- Tôi cảm thấy rõ trong mình có dòng máu Ba Lan! Không người đàn bà Đức nào có thể đẻ ra tôi! Chưa kể là tôi có đầy đủ giấy tờ…


Anh ta đã cho những người thân tín xem các loại giấy chứng nhận từ cổ xưa, trong đó có một tờ liên quan đến một ông Môzelevxki nào đó, còn tờ thứ hai có tên Miller, người mang cấp bậc trung úy, tham gia cuộc khởi nghĩa do Kôschuskô lãnh đạo. Đến hôm nay tôi vẫn không sao hiểu được, liệu có mối quan hệ nào tồn tại giữa dòng họ Minxen và hai người có tên trên hay không,  dù tôi từng nghe giải thích không chỉ một lần.


Thậm chí xung quanh lễ cưới của Ian, hai anh em cũng cãi cọ nhau. Bởi  Ian muốn mặc áo xanh, đi giày vàng, đeo kiếm, trong khi đó Franxơ tuyên bố sẽ không cho phép ăn mặc kiểu phường chèo ấy trong lễ cưới, thậm chí sẽ đi tố cáo cảnh sát. Khi nghe được những lời này, Ian  thề rằng sẽ giết chết kẻ ton hót chính quyền một khi nhìn thấy hắn và anh ta đã có mặt trong bữa tiệc cưới với bộ trang phục của tổ tiên dòng họ Mientux nhà mình. Franxơ cũng có mặt trong lễ cưới, mặc dù chẳng nói với anh câu nào, lại nhảy như điên loạn với chị dâu và thiếu chút nữa thì  tự kết liễu đời mình vì uống quá nhiều rượu của ông anh.


Thậm chí cái chết của Franxơ vào năm 1856 vì bệnh mụn nhọt khắp người cũng gắn với những cuộc cãi cọ. Song trong ba ngày cuối cùng, hai anh em đã hai lần quỳ xuống và trang nghiêm phân chia tài sản. Franxơ đã chuyển toàn bộ tài sản của mình cho anh, còn Ian thì suốt mấy tuần liền bị ốm vì thương em, sau đó một nửa tài sản  thừa kế (khoảng hai mươi ngàn zlôty) được chuyển cho ba đứa trẻ mồ côi nào đó mà anh ta  chăm sóc cho đến lúc chết.


Đúng là một gia đình kỳ lạ!


Thế đấy, tôi lại đi lạc đề rồi: Tôi định viết về Vôkulxki, nhưng lại viết về anh em nhà Minxen. Nếu  không cảm thấy tỉnh táo như hiện tại, tôi có thể nghĩ là mình lắm lời quá mức, dấu hiệu tuổi già đang đến.


Tôi đã nói rằng trong cách xử sự của Vôkulxki có nhiều điều tôi không hiểu  và cứ mỗi lần như thế tôi rất muốn hỏi thẳng  cậu ta: Tất cả những cái đó để làm gì?


Thì đây, có một lần khi tôi về cửa hàng, gần như chiều tối nào chúng tôi cũng tập trung ở chỗ bà cụ, trên tầng hai. Nhóm này gồm  tôi , Ian và Franxơ Minxen. Thỉnh thoảng có cả Malgôgiata Pfeifơ. Malgôgiata và Ian ngồi trên khung cửa sổ, nắm tay nhau, nhìn trời, Franxơ uống bia bằng cốc vại, bà đan tất, còn tôi kể chuyện mấy năm bôn ba nước ngoài của mình. Cũng dễ hiểu, đề tài tôi  lặp đi lặp lại là nỗi nhớ quê hương đất nước trong lúc lang thang, cảnh thiếu thốn của đời lính hoặc các trận đánh. Trong những lúc như thế Franxơ thường uống một hơi mấy chén liền, Malgôgiata ôm ghì lấy Ian (chứ chưa bao giờ ôm tôi) còn bà cụ thì nhầm mũi đan liên tục. Khi tôi kể xong, Franxơ thở dài, duỗi người hết cỡ trên ghế xa lông. Malgôgiata ôm hôn Ian, Ian hôn lại Malgôgiata, còn bà cụ thì lắc đầu rồi nói bằng tiếng Đức:


- Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi! Thật khủng khiếp quá! Nhưng Ignaxư yêu quý này, con nói thật lòng cho ta biết đi, vậy con sang tận bên Hung làm gì mới được chứ?


- Thôi mà, bà thừa biết là anh ấy sang Hung để đánh nhau, - Ian sốt ruột ngắt lời bà.


Nhưng bà cụ vẫn lắc đầu ngạc nhiên và lầm bầm như nói với chính mình, vẫn bằng tiếng Đức:


- Cà phê lúc nào cũng ngon, bữa trưa thì đủ để mọi người no bụng. Vậy tại sao nó lại phải đi?


- Ôi, bà thì lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mỗi cà phê với bữa ăn trưa, - Ian bực mình.


Thậm chí khi tôi kể về những phút cuối cùng, về cái chết của Katzơ, bà cụ đã bật khóc, lần đầu tiên kể từ khi biết bà, tôi mới thấy bà khóc, nhưng ngay sau đó bà  lau nước mắt và trở lại với việc đan tất của mình, lại thầm thì:


- Lạ thật đấy! Cà phê lúc nào cũng ngon, bữa trưa thì đủ để mọi người no bụng. Vậy tại sao nó phải đi?


Cũng giống như hôm nay, hầu như giờ nào tôi cũng phải nói về Vôkulxki. Sau khi vợ chết, cậu ta có bánh mì ăn thoải mái, vậy  đi Bungari để làm gì? Cậu ta có hẳn một tài sản lớn, đủ để duy trì việc làm ăn của cửa hàng, vậy cậu ta còn phải mở rộng lung tung  mà làm gì? Với cửa hàng mới, cậu ta có nguồn thu nhập tuyệt vời, vậy thì cần gì phải thiết lập thêm cái liên doanh kia nữa?


Cậu ta thuê làm gì cái nhà to đùng ấy? Cậu ta mua xe, mua ngựa làm gì? Rồi cậu ta lân la đến với giới quý tộc làm chi để thành nông nỗi xa lánh giới thương gia, những người không bao giờ tha thứ cho cậu ta chuyện đó?


Và nhằm mục đích gì mà cậu ta chăm sóc anh chàng đánh xe ngựa Vưxôxki hay cậu em trai anh ta, một người thích du lịch bằng tàu hỏa? Cậu ta thành lập xưởng cho mấy người thợ nghèo làm chi? Thậm chí đến cả một cô gái làm cái nghề chẳng trong sạch gì cũng được cậu ta nâng đỡ là cớ làm sao? Cô gái này mặc dù đang sống với những người thợ may, vẫn có thể làm tổn hại đến uy tín  cậu ta cơ mà.


Nhưng cậu ta mới ma mãnh làm sao… Khi trên thị trường chứng khoán nghe người ta kháo nhau về việc Max Hodel ám sát hụt hoàng đế Vilhelm đệ nhất, tôi về cửa hàng, nhìn thẳng vào mắt cậu ta, nói:


- Xtanixlav này, cậu biết không, có một gã Hodel nào đó đã bắn hoàng đế Vilhelm…


Cậu ta làm như chẳng có chuyện gì xảy ra, trả lời tôi:


- Thằng điên.


- Nhưng, - tôi nói - người ta sẽ chặt đầu thằng điên ấy.


- Thế là đúng, - cậu ta nói - để nó không nhân giống được dòng họ của những thằng điên.


Cậu ta nói thế, chẳng thấy  thớ thịt nào trên mặt động đậy. Tôi đần người ra trước trạng thái lạnh lùng đáng sợ của cậu ta.


Xtanixlav yêu quý ơi, cậu ma lanh thật đấy, nhưng tôi cũng không phải hạng đầu óc ngu si đần độn đâu: Tôi biết nhiều hơn  cậu tưởng đấy, tôi chỉ thấy đau lòng vì cậu không tin tôi. Bởi lẽ, lời khuyên của người bạn chí cốt và của một anh lính cũ có thể bảo vệ cậu trước một việc làm ngu ngốc, nếu không phải là tránh khỏi một vết nhơ.


Nhưng thôi, tôi nói ra đây ý kiến của riêng mình mà làm gì, hãy để quá trình sự việc tự nói thay tôi.


Vào đầu tháng Năm, chúng tôi chuyển đến cửa hàng mới gồm năm phòng rộng. Trong phòng đầu tiên, nằm phía bên trái, để toàn vải của Nga: Vải sợi bông, vải sợi len, lụa và nhung. Một nửa phòng thứ hai cũng dùng để chứa các loại vải tương tự, còn nửa kia chất những đồ trang trí cho quần áo như mũ, cổ áo, cà vạt, ô. Trong căn phòng ở ngay mặt tiền có các mặt hàng tạp hóa cao cấp: đồ đồng, sản phẩm sứ, pha lê, ngà voi. Phòng tiếp theo, phía bên phải xếp đồ chơi hoặc sản phẩm bằng gỗ và kim loại, còn trong phòng cuối cùng phía bên phải là hàng hóa sản xuất từ cao su và da.


Sắp xếp như vậy, chẳng biết có hợp lý hay không, nhưng có Chúa chứng giám, tôi muốn mọi chuyện tốt đẹp nhất. Cuối cùng tôi  hỏi Xtanixlav Vôkulxki xem ý kiến cậu ta thế nào thì cậu ta, thay cho lời nhận xét và góp ý, chỉ nhún vai, cười mỉm, như muốn nói:


Chuyện đó liên quan gì đến tôi…”


Một con người kỳ lạ! Chắc trong đầu cậu ta sẽ xuất hiện một kế hoạch tuyệt vời, cậu ta sẽ hoàn thành những phác thảo cơ bản nhất chứ không quan tâm đến chi tiết. Cậu ta ra lệnh chuyển cửa hàng,  biến cửa hàng thành một mắt xích của hệ thống buôn bán vải của Nga và hàng tạp hóa  nước ngoài, cậu ta tổ chức toàn bộ công việc quản lý. Nhưng sau khi làm xong việc này, cậu ta không can thiệp gì thêm, chỉ lo thăm thú các ông to bà lớn hoặc đánh xe ngựa dạo công viên Lazienki, hoặc biến đi đâu đó, không để lại dấu vết gì. Mỗi ngày cậu ta xuất hiện ở cửa hàng vài tiếng đồng hồ là cùng. Nhưng chỉ có thân xác ở đây thôi chứ đầu óc để đâu đâu, quên quên nhớ nhớ, thẫn thờ như đang chờ đợi hoặc đang lo sợ điều gì.


Nhưng quả thật cậu ta có trái tim  vàng!


Mặc dù hơi ngượng, song tôi vẫn phải thừa nhận rằng tôi không sung sướng gì chuyện dời cửa hàng đến nơi mới. Tôi thích phục vụ ở những kho hàng theo mô hình Pari còn hơn  trong  quán chợ như cái cửa hàng cũ của chúng tôi. Nhưng tôi lại tiếc  căn phòng đã gắn bó suốt hai mươi nhăm năm trời. Bởi vì hợp đồng  có giá trị đến tháng Bảy nên tới giữa tháng Năm tôi vẫn ngồi trong căn phòng nhỏ của mình, nhìn chằm chằm vào các bức tường, vào song sắt cửa sổ, những thứ đã gợi cho tôi giây phút đáng nhớ nhất ở Zamôsơ, và tôi nhìn kỹ những đồ vật cũ kỹ của mình.


Trời đất, làm sao mình có thể động đến, có thể di chuyển tất cả những thứ này khỏi đây!” - tôi nghĩ bụng.


Mãi cho đến một ngày giữa tháng Năm (khi đó những thông tin về việc cải thiện quan hệ giữa Nga, Áo và Anh được truyền đi liên tiếp), Xtanixlav  đến chỗ tôi ngay trước lúc đóng cửa hàng và nói:


- Thế nào, lão, đã đến lúc phải chuyển tới ở chỗ mới rồi đấy.


Tôi có cảm giác  máu trong người  rỉ ra. Còn cậu ta thì tiếp tục dòng suy nghĩ của mình:


- Lão lại đây, tôi chỉ cho lão xem nơi ở mới mà tôi đã mua cho lão, cũng ngay trong ngôi nhà đó.


- Cậu mua nghĩa là thế nào? - tôi hỏi - chả gì thì tôi cũng phải thỏa thuận giá cả với chủ nhà.


- Trả tiền rồi! - cậu ta nói.


Cậu ta xốc nách tôi, dẫn qua cửa sau, đến một khoảng trống.


- Nhưng, - tôi nói - phòng này có người thuê rồi.


Thay vì trả lời tôi, cậu ta mở cửa phía bên kia của khoảng trống. Tôi bước vào, và xin thề danh dự, một căn phòng sang trọng hẳn hoi! Đồ gỗ được bọc  nhung, trên bàn có những tập album, trên bệ cửa sổ đặt các loại đồ sứ… Dưới một bức tường có cả thư viện sách.


- Của lão đấy, - Xtanixlav nói, đưa tay chỉ về phía một chồng sách bìa cứng - ba cuốn lịch sử về Napôlêông đệ nhất, một cuốn về cuộc đời nhà cách mạng Ý Garibalđi và về lãnh tụ khởi nghĩa Côxutsơ, lịch sử Hungari.


Tôi rất mừng về chồng sách, nhưng về căn phòng sang trọng đó, tôi phải thừa nhận nó gây cảm giác khó chịu. Xtanixlav nhận ra điều đó nên cười và bất ngờ mở  cánh cửa thứ hai.


Lạy Chúa tôi! Căn phòng thứ hai này chính là căn phòng trước kia của tôi, căn phòng mà tôi đã sống suốt hai mươi lăm năm ròng. Cửa sổ song sắt, rèm xanh lá cây, chiếc bàn màu đen của tôi nữa… Còn dưới bức tường đối diện có cái giường  sắt, khẩu súng hai nòng và hộp đựng cây đàn ghi ta.


- Thế này là thế nào? - tôi hỏi - vậy là mọi người đã chuyển đồ đạc cho tôi?


- Phải, - Xtanixlav trả lời - mọi người chuyển nhà cho lão, không thiếu một thứ gì, từ cái đinh đến cái chăn rách của con Ir.


Ai đó có thể thấy buồn cười, nhưng tôi lúc đó chỉ muốn trào nước mắt. Tôi nhìn khuôn mặt cương nghị của cậu ta, đôi mắt đượm buồn và hầu như tôi đã hình dung ra, là con người này có tài suy đoán và rất tế nhị. Nếu không cậu ta có thể không hành động như vậy. Nếu tôi nhắc nhở cậu ta về ý định của mình thì  đi một nhẽ… Đằng này cậu ta  đoán được tôi có thể nhớ cái trụ sở cũ của mình nên  đích thân chăm lo di chuyển cả những thứ chổi cùn rế rách của tôi.


Thật may mắn cho người phụ nữ nào được cậu ta cưới làm vợ (tôi đã nhắm cho cậu ta một đám…) nhưng có lẽ cậu ta sẽ không lấy. Chẳng biết những ý nghĩ kỳ quặc gì đang lởn vởn trong đầu cậu ta, nhưng riêng ý nghĩ về chuyện vợ con thì không. Thế mới đáng buồn! Biết bao nhiêu nhân vật quan trọng đã đến cửa hàng chúng tôi, lấy cớ mua sắm, nhưng thực ra  nhằm mục đích mối mai, nhưng rồi tất cả vẫn chỉ là con số không.


Có một bà tên là Sperlingova, nghe đâu có vốn khoảng một trăm ngàn tiền mặt và nhà cửa đàng hoàng. Chẳng có gì bà ấy không mua ở cửa hàng chúng tôi, nhưng tất cả chỉ là kiếm cớ gặp tôi để hỏi:


- Thế nào, ông Vôkulxki không vợ con gì sao?


- Không, thưa bà…


- Tiếc quá! - bà Sperlingova nói và thở dài. - Cửa hàng đẹp thế này, lại có tài sản lớn, nhưng rồi tất cả thế nào cũng đến lúc đội nón ra đi vì… thiếu bà chủ. Nếu ông Vôkulxki chọn cho mình một người phụ nữ nghiêm chỉnh, lại giàu có nữa thì  hẳn vốn liếng của ông ấy càng được củng cố vững chắc hơn.


- Lời dạy bảo của bà thật quý hóa quá! - tôi trả lời.


- Cảm ơn ông Giexki, - bà ta vừa nói vừa đặt lên két của tôi hai mươi lăm rúp. - Nhưng thỉnh thoảng ông cũng đừng nói với ông Vôkulxki là tôi gợi ý chuyện hôn nhân, không ông ấy lại nghĩ  có mụ đàn bà già rồi  còn tán tỉnh ông ấy. Cảm ơn ông Giexki.


- Tất nhiên là tôi sẽ không nói với cậu ta chuyện ấy.


Tôi nghĩ ngay rằng nếu tôi là Vôkulxki, tôi sẽ lập tức cưới người phụ nữ góa bụa nhưng giàu có này. Trông bà ấy vẫn còn thon thả làm sao, lạy Chúa!


Hay như ông thợ làm đồ da Smeterling. Lần nào đến chỗ chúng tôi để thanh toán tiền cũng nói:


- Tôi không hiểu nổi, tại sao ông Vôkulxki lại không lấy vợ! Một anh đàn ông bốc lửa, gáy to như  bò mộng. Sét có đánh xuống đầu tôi, tôi vẫn gả con gái cho ông ta, lại còn khoản hồi môn mỗi năm mười ngàn rúp tính ra hàng hóa. Không phải vậy sao?


Hay như ông hội đồng Vrônxki. Không giàu có, luôn thầm lặng, nhưng tuần nào cũng mua ở cửa hàng chúng tôi vài đôi găng tay và lần nào cũng nói:


- Trời đất, thế này thì Ba Lan lụn bại là phải rồi. Con người như ông Vôkulxki mà chẳng chịu vợ con gì cả. Ông ta cần gì của hồi môn, cho nên có thể lấy một cô gái trẻ, vừa quản lý gia đình, vừa chơi đàn dương cầm cho vui và biết ngoại ngữ.


Có đến cả chục ông bà mối mai đã đến cửa hàng chúng tôi. Một số bà mẹ hoặc ông bố dẫn hẳn con gái ở tuổi gả chồng đến. Bà mẹ, bà cô hoặc ông bố mua cái gì đó giá khoảng một rúp trong lúc cô gái lượn lờ quanh cửa hàng, đứng lên, ngồi xuống, quay phải, quay trái, cốt gây sự chú ý về thân hình mình. Sau đó còn đưa chân phải lên, rút chân trái xuống, chìa bàn tay ra… Tất cả chỉ nhằm  mục đích  tóm được Xtanixlav. Nhưng cậu ta, hoặc không có mặt ở cửa hàng, hoặc nếu có thì cũng chẳng thèm quan tâm đến hàng hóa, tỏ thái độ để mọi người hiểu:


- Đánh giá hàng hóa là chuyện của lão Giexki.


Ngoài những gia đình có con gái lớn đến tuổi gả chồng và các bà góa, cậu Xtanixlav khốn khổ của tôi chẳng được lòng những người khác. Điều đó đâu có gì lạ - cậu ta bị mang tiếng là có hành động chống lại tất cả các nhà sản xuất vải lụa, vải sợi bông trong nước, các thương gia mua bán loại hàng hóa này.


Một lần, vào ngày Chủ nhật (chuyện này rất ít khi xảy ra với tôi), tôi đến ăn sáng ở một cửa hàng. Một li rượu hồi, một khúc cá mòi, một đĩa xũp dạ dày bò, chai bia loại một phần tư lít - chà chà, sang trọng quá! Vậy mà tôi chỉ phải trả chưa đầy một rúp, nhưng số khói mà tôi phải ngửi và những lời tôi phải nghe có lẽ đủ cho mấy năm liền.


Trong căn phòng ngột ngạt, tối như phòng hun khói xúc xích, nơi người ta bưng cho khách món xúp dạ dày bò, có sáu người ngồi cạnh một chiếc bàn. Họ toàn  những người to béo, thích ăn nhiều, quần áo lịch sự, chắc là thương gia, dân sở tại, mà cũng có thể là ông chủ nhà máy. Trông ông nào cũng ra dáng là người có thu nhập từ ba đến năm ngàn rúp một năm.


Bởi  tôi không quen các vị này và chắc chắn họ cũng không biết tôi, cho nên tôi không thể kết tội họ là xúc phạm có chủ ý. Nhưng xin  quý vị hình dung cho, sao lại có sự trùng lặp thú vị thế, khi tôi bước vào thì cũng là lúc họ đang nói chuyện về Vôkulxki: Vì khói thuốc mù mịt nên tôi không  thấy người nói, chưa kể cũng không dám ngẩng mặt lên nhìn lộ liễu.


- Hắn ta làm nên sự nghiệp đấy! - một giọng khàn khàn cất lên - Hồi trẻ hắn cũng chỉ là chân phục vụ như chúng ta, vậy mà khi về già hắn không ngại ấp ủ tham vọng trở thành ông lớn.


- Các ông lớn ấy ngày nay, - ông bị bệnh hen xen vào - thì cũng chẳng hơn gì hắn. Ngày xưa làm gì có chuyện một vị bá tước hẳn hoi lại đi tiếp đón linh đình một anh nhà buôn, có được tài sản lớn nhờ lấy  vợ giàu. Nói ra thật tức cười!


- Cưới vợ chỉ là chuyện vặt, - người có giọng trầm ấm nói, mặt nhăn lại - cưới vợ giàu đâu có gì nhục. Nhưng mấy triệu kiếm được do cung cấp hậu cần trong chiến tranh xem ra có vẻ  khuất tất lắm.


- Nhưng nghe đâu không có gì  bốc mùi trộm cắp, - giọng người thứ ba cất lên nhỏ nhẹ.


- Nếu thế thì lấy đâu ra tiền triệu, - ông giọng trầm quát to. - Mà thế thì chúng ta thò mũi vào làm gì? Nhưng vì sao hắn mon men đến với giới quý tộc?


- Thiên hạ đồn, - thêm một giọng  người khác - rằng hắn muốn thành lập liên doanh liên kết gì đó gồm toàn các nhà quý tộc…


- Aha! Chắc định vặt lông họ rồi đánh bài chuồn, - ông bị  hen nói.


- Không, - ông giọng trầm bảo - hắn có dùng xà phòng hảo hạng cũng không thể nào tẩy sạch vết bẩn từ chuyện đi cung cấp hậu cần cho quân đội đánh nhau! Một anh đàn ông thủ đô Varsava sang Bungari kiếm tiền!


- Cậu em của ông, một kỹ sư đàng hoàng, còn bôn ba kiếm tiền xa hơn thì sao! - người đàn ông có giọng nói nhỏ nhẹ lại lên tiếng.


- Chắc rồi! - ông giọng trầm xen ngang. - Nhưng cậu ta có nhập vải sợi bông từ Maxkva về không? Vấn đề là ở chỗ hắn ta sẽ giết chết nền công nghiệp vải sợi trong nước!


- Ê hê! - có tiếng cười của ai đó, chắc là người cho đến lúc này chưa lên tiếng - chuyện đó không phụ thuộc vào một thương gia. Anh nhà buôn sinh ra để nhập hàng rẻ  và kiếm lời tốt nhất cho bản thân mình. Phải vậy không nào? Ê hê!


- Nói gì thì nói, tôi không đánh giá cao lòng yêu nước của hắn ta, - ông giọng trầm bình luận.


- Nhưng nghe đâu, - người có giọng nhỏ nhẹ nói - ông Vôkulxki này đã chứng minh lòng yêu nước của mình không chỉ bằng lời nói suông…


- Thế thì còn tồi tệ hơn, - ông giọng trầm ngắt lời bạn. - Chứng minh một cách lạnh lùng khi có mấy đồng rúp trong túi.


- Ôi! Lũ chúng ta lúc nào cũng đa nghi, nhìn thấy ai giàu có là muốn kết tội ngay: hoặc phản bội đất nước hoặc ăn cắp làm giàu! Chẳng hay ho gì rồi! - người có giọng nhỏ nhẹ không giữ được bình tĩnh.


- Ông làm gì mà bảo vệ hắn ghê thế? - ông giọng trầm chất vấn, kéo ghế lại gần người đối thoại với mình.


- Tôi bảo vệ anh ta vì tôi đã nghe kể ít nhiều về con người ấy, - người có giọng nhỏ nhẹ giải thích. - Chỗ tôi có anh đánh xe ngựa tên là Vưxôxki gì đó, suýt chết đói, thế mà nhờ có Vôkulxki, bây giờ đứng vững trên đôi chân của mình.


- Nhờ những đồng tiền kiếm được ở Bungari do đi làm hậu cần cho quân đội chứ gì! Một tấm lòng từ thiện!- Thiếu gì kẻ còn làm giàu nhờ chiếm dụng công quỹ nhà nước mà xã hội đóng góp nên. Rồi sao? Chẳng sao cả? Ê hê!- Nói gì thì nói, đây là con người đen tối, –- ông bị hen kết luận. - Lúc sang phải, khi sang trái, có cửa hàng không lo việc làm ăn lại đi nhập vải sợi bông của nước ngoài, lo hòa nhập với giới quý tộc.Vì cậu hầu bàn đúng lúc ấy mang thêm mấy chai bia  cho các vị đó, tôi tranh thủ rút lui khỏi phòng. Tôi không muốn tham dự vào câu chuyện , bởi quen Vôkulxki từ khi cậu ta còn nhỏ, cho nên tôi có thể nói ngắn gọn với những người cao giọng nói xấu cậu ta: “Các người thật hèn hạ!”


Người ta kháo nhau  những chuyện đó vào thời điểm tôi lo lắng nhất về tương lai của Vôkulxki, khi đi nằm cũng như khi tỉnh dậy, tôi đều bị dằn vặt bởi mấy câu hỏi: “Cậu ta đang làm gì? Cậu ta làm như thế nhằm mục đích gì? Và cậu ta được gì trong chuyện này?” Và tất cả những cái đó hôm nay người ta nói về cậu ấy trước mặt tôi, người hôm qua vừa chứng kiến cảnh Vưxôxki quỳ dưới chân Vôkulxki để cảm ơn cậu ta đã xin chuyển cho em trai mình về Xkiernievice và đã giúp đỡ hết lòng…


Vưxôxki là một con người chất phác và vô cùng trung thực. Anh ta đem đứa con trai mười tuổi đến, chỉ vào Vôkulxki bảo con:


- Piotrek, con hãy nhìn ông đi, bởi ông là ân nhân lớn nhất của gia đình ta. Nếu khi nào đó ông muốn con chặt cả hai tay vì ông thì con cũng phải chặt, nhưng như thế vẫn chưa trả hết ơn ông đâu…


Hay  cô gái trẻ được cậu ta giúp đỡ, đã viết thư từ nơi cô đang làm thợ may: “Con nhớ lại một trong những câu cầu nguyện từ hồi bé con đã thuộc, để bây giờ con cầu nguyện cho ông…”


Đó là những con người bình dị,  là những cô gái không được học hành gì. Họ toàn là những người không có thứ tình cảm quý tộc như chúng ta, không mặc áo đại cán trang nghiêm, không đi khắp thế gian để khoe mình đạo cao đức cả, điều mà bản thân chúng ta chẳng ai tin. Xtanixlav có lý khi cậu ta quan tâm đến thân phận những người nghèo khổ mặc dù… cậu ta có thể quan tâm bằng cách nào đó ít ầm ĩ hơn.


Ôi, các quan hệ mới của cậu ta làm tôi lo lắng quá!


Tôi nhớ  vào đầu tháng Năm, có một người dáng điệu bí hiểm, ăn mặc lòe loẹt, mắt kèm nhèm, bước vào cửa hàng, đặt lên bàn tôi tấm danh thiếp và nói với tôi bằng thứ tiếng Ba Lan sai be bét:


- Tôi yêu cầu bảo cho ông Vôkulxki là tôi sẽ bảy giờ hôm nay đến…


Chỉ cụt lủn có thế. Tôi cầm tờ danh thiếp lên đọc: “William Colins, giáo viên tiếng Anh”. Lại chuyện gì buồn cười thế này? Chẳng gì thì Vôkulxki cũng có học tiếng Anh đâu?


Tôi đã hiểu ra tất cả khi ngày hôm sau thông tin về vụ ám sát của Hodel  được truyền đi. Tôi  nghĩ lão Colins này là gián điệp Anh…


Nhưng một người quen khác, bà Meliton nào đó, đã dành cho chúng tôi vinh dự bằng những cuộc viếng thăm liên tục sau khi Xtanixlav đi Bun về. Đó là một phụ nữ gầy gò, nhỏ thó, nói như cối xay,  dường như bà ta nói để mà nói, nói hết những gì cần nói. Một lần vào cuối tháng Năm, bà ta ào đến:


- Ông Vôkulxki có đây không? Chắc chắn là không có rồi, tôi đã lường trước mà.Thế thì tôi nói chuyện với ông Giexki được không? Tôi đoán ra ngay… Cái hộp tuyệt đẹp này là hộp gì! Gỗ cây oliu, tôi sành cái này lắm. Ông hãy nói với ông Vôkulxki để ông ấy gửi cho tôi cái này nhé, ông ấy biết địa chỉ của tôi rồi , và nói  ngày mai, khoảng một giờ chiều có mặt ở công viên Lazienki…


- Công viên Lazienki nào, xin lỗi bà, - tôi hỏi và cảm thấy bực mình vì sự lắm lời quá đáng của bà ta.


- Ông đùa đấy à! Công viên Lazienki Hoàng gia chứ còn Lazienki nào nữa! - mụ ta trả lời tôi như thế.


Biết làm sao được! Vôkulxki đã gửi cho bà ta chiếc hộp bằng gỗ và cho người đánh xe đưa đi công viên Lazienki. Khi từ đó về, cậu ta  nói với tôi rằng ở Béclin sáu quốc gia sẽ nhóm họp bàn về việc kết thúc chiến tranh. Và đúng là đã có hội nghị đó.


Lần khác, nếu tôi nhớ không nhầm  là hôm mồng một tháng Sáu, bà Meliton lại tới.


- Ôi, - vừa vào bà ta đã kêu to -  bình hoa này mới đẹp làm sao! Chắc chắn là hàng sứ  Pháp, tôi biết loại này. Ông nhắn với ông Vôkulxki để ông ấy gửi cho tôi một chiếc và… (đến đây bà ta hạ giọng) nói thêm với ông ấy ngày kia khoảng một giờ…


Khi bà ta đi khỏi, tôi bảo với Lixiêxki:


- Anh hãy đánh cuộc với tôi đi, ngày kia thể nào chúng ta cũng sẽ có một tin tức chính trị quan trọng.


- Tức là mồng ba tháng Sáu? - anh ta vừa cười vừa nói.


Nhưng các bạn hãy hình dung vẻ mặt  chúng tôi khi thông tin về vụ án hoàng đế Vilhelm do Nobiling ra tay ở Béclin truyền đến… Tôi nghĩ mình sẽ ngã lăn xuống đất mà chết, Lixiêxki từ lúc đó thôi không đùa cợt với quá khứ của tôi, nhưng tệ hơn  cậu ta luôn hỏi tôi  thông tin liên quan đến chính trị…


Được tín nhiệm quá mức cũng là một kiểu bất hạnh. Bởi  từ khi Lixiêxki hay đề nghị tôi, với tư cách là “nguồn cung cấp thông tin”, cho biết  các sự kiện nóng bỏng, tôi lo đến nỗi mất ăn mất ngủ.


Ấy là chưa kể những gì đang xảy ra với cậu Xtanixlav khốn khổ của tôi, người đang duy trì quan hệ thường xuyên với ông Colins bí hiểm và bà Meliton lúc nào cũng sồn sồn những chuyện không đâu.


Lạy Chúa nhân từ! Xin người hãy quan tâm đến chúng con!


Khi đang đà hăng hái kể (nhưng đừng nghĩ là tôi buôn chuyện), tôi vẫn buộc phải nói thêm rằng trong cửa hàng chúng tôi đang hình thành một điều gì đó không thật lành mạnh. Ngoài tôi ra còn  bảy nhân viên bán hàng (chẳng biết ông Minxen đã khi nào dám mơ đến con số này chưa!), nhưng không có tinh thần thống nhất. Clâyin và Lixiêxki, với tư cách hai “ma cũ”, chỉ quan hệ với nhau,  cư xử với những đồng nghiệp còn lại theo kiểu mà tôi cũng chẳng biết nói thế nào: coi thường, kẻ cả. Còn ba nhân viên mới: một chuyên bán tạp hóa, một bán hàng kim loại, một bán các mặt hàng bằng cao su, cũng  chỉ quan hệ với nhau, cứng nhắc và ảm đạm. Con người thực sự trung thực là cậu Zenba, vì muốn đưa họ xích lại gần nhau, đã phải chạy ngược chạy xuôi, từ người cũ sang người mới, liên tục động viên cả hai bên, song cậu chàng đáng thương này, vì chẳng mát tay hòa giải, nên sau mỗi cố gắng xoa dịu, lại khiến những người vốn không ưa nhau càng vênh mặt với nhau hơn.


Cũng có thể mọi chuyện bắt nguồn từ cái kho hàng (hẳn là do  kho hàng vì nó có vai trò quan trọng hàng đầu). Nếu nó phát triển từ từ, mỗi năm chúng tôi chỉ cần tuyển một nhân viên mới, một người thôi giữa những người cũ, thì chắc  đã có sự hài hòa. Đằng này ngay một lúc lấy tận năm gã mới toanh, để anh nọ ngáng chân anh kia (bởi trong một thời gian ngắn không thể sắp xếp lại trật tự trong kho, cũng không xác định được phạm vi trách nhiệm cho từng người), cho nên lẽ tất nhiên là người nọ dè bỉu người kia. Nhưng thôi, chẳng lẽ tôi lại sa đà vào  phê phán những việc làm của chủ nhân, đặc biệt đó lại là con người có đầu óc hơn tất thảy chúng tôi cộng lại.


Có một điểm mà cả người mới lẫn người cũ đều có thể nhất trí với nhau,  trong chuyện này thì anh chàng Zenba giúp cho cả hai bên. Đó là chuyện châm chọc  nhân viên thứ bảy của cửa hàng: Henrich Slangbaum. Anh chàng Slangbaum này (tôi biết từ lâu rồi) theo Do thái giáo, nhưng là người nghiêm chỉnh. Trông nhỏ thó, đen đúa, cổ rụt, để râu, nói một cách ngắn gọn - khi anh ta ngồi cạnh bàn thì bán ba xu  cũng chẳng ai mua. Nhưng chỉ cần thấy một vị khách bước vào cửa hàng (Slangbaum bán vải sợi bông nhập từ Nga), thì, Chúa ơi, cứ gọi là nhanh như sóc, vừa leo lên lấy hàng ở các giá treo cao nhất bên phải, thoắt một cái đã thấy cạnh ngăn tủ thấp nhất ở giữa rồi trong nháy mắt lại xuất hiện đâu đó dưới trần nhà bên trái. Khi cậu ta mở cuộn vải để đo, tôi cứ nghĩ đây là con quỷ sáu tay. Khi cậu ta bắt đầu quẳng các loại vải cho khách xem, tôi tưởng đây không phải là con người mà là  đầu máy hơi nước. Cậu ta sinh ra để cộng trừ, còn khi giới thiệu hàng hóa, cậu ta đưa ra cho khách hàng những dự kiến số lượng, đoán trước sở thích, bằng một giọng nghiêm túc tới mức  tôi xin lấy danh dự của mình ra mà thề rằng Mrachevxki… phải dẫn khách đi sâu vào góc nhà để chọn hàng. Đáng tiếc, thân hình cậu ta  nhỏ bé, mặt mũi lại xấu xí nên chúng tôi phải bổ sung thêm một cậu nào đó, đầu óc có thể hơi đần độn nhưng đẹp mã một chút, làm trợ lý cho cậu ta khi phục vụ các bà các chị. Đành rằng khi cửa hàng có cậu nhân viên đẹp trai thì các bà các chị hay nán lại lâu hơn, làm mất thêm thời gian tiếp chuyện, nhưng  được cái họ ít nhăn nhó chê bai và ít cò kè  giá cả.


(Nhờ tiếp xúc thường xuyên với nhiều khách hàng  nữ - cầu Chúa bảo vệ chúng tôi trước những khách hàng này - mà tôi không đủ dũng khí  nghĩ đến chuyện vợ con. Đấng Sáng thế đã đúc khuôn ra loại kỳ quan mang tên  “phụ nữ”, nhưng chắc  Người không cân nhắc kỹ về thiệt hại mà các kỳ quan này sẽ gây ra cho giới thương gia).


Như đã nói, Slangbaum là một công dân nghiêm chỉnh với đầy đủ ý nghĩa của từ này. Mặc dù vậy mọi người rất không thích cậu ta, bởi thật không may cậu ta là người Do thái giáo.Nhìn chung, có thể nói rằng từ khoảng năm nay, tôi cho rằng nỗi chán ghét  người Do thái giáo mỗi ngày một tăng, thậm chí những người cách đây không lâu còn gọi họ là người Ba Lan Do thái giáo,  giờ chỉ gọi họ đơn giản là dân Do thái. Những người cách đây không lâu còn tỏ ra khâm phục lề lối làm việc, tính bền bỉ và năng lực thực sự của họ,  hôm nay chỉ nhìn thấy nơi họ sự bóc lột và lừa đảo.


Khi nghe thấy điều này, thỉnh thoảng tôi cứ nghĩ  nhân loại đang bị đổ xuống đầu một thứ hoàng hôn tinh thần giống đêm đen. Ban ngày mọi thứ nhìn đều đẹp đẽ, vui vẻ, tốt lành, nhưng đêm xuống thì trở nên xấu xí và nguy hiểm. Tôi nghĩ bụng như vậy thôi và  yên lặng, bởi  suy nghĩ của lão nhân viên già trong cửa hàng nào có ý nghĩa gì khi đem so sánh với lời nói của các nhà bình luận trứ danh, những người  chứng minh rằng những người Do thái mang dòng máu Thiên chúa giáo đang sử dụng bánh thánh kiểu Do thái nên cần phải hạn chế quyền lợi của họ. Còn đối với chúng ta, Katzơ ơi, cậu có nhớ không, khi đạn bay chiu chíu trên đầu, hình như chúng vọng lại như những câu khẩu hiệu khác?


Tình trạng này tác động đến Slangbaum theo cách riêng. Mới năm ngoái thôi, con người này còn mang họ Slangovxki nghe rất gần gũi với dân Ba Lan, vẫn còn tổ chức linh đình  lễ Phục sinh, lễ Giáng sinh, và chắc chắn một người theo Thiên chúa giáo cũng không ăn nhiều xúc xích như anh ta. Tôi nhớ có một lần trong cửa hàng bánh kẹo người ta hỏi anh ta:


- Anh không thích kem sao, anh Slangovxki?


Anh ta trả lời:


- Tôi chỉ thích xúc xích, nhưng phải là loại không tỏi. Tôi không chịu được mùi tỏi.


Sau khi từ Xibêri về cùng Vôkulxki và bác sĩ Suman, cậu ta lập tức xin vào làm ở cửa hàng của người Thiên chúa giáo, mặc dù  người Do thái tạo cho cậu ta những điều kiện tốt hơn. Cũng từ ngày đó, cậu ta liên tục làm việc cho người Thiên chúa giáo,mãi đến năm nay người ta mới từ chối sắp xếp chỗ làm cho cậu.


Hồi đầu tháng Năm, lần đầu tiên cậu ta đến chỗ Xtanixlav xin việc. Trông cậu ta rúm ró, đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu.


- Xtanixlav ơi, - cậu ta cất giọng nhún nhường - tôi sẽ  chết chìm trong khu vực người Do thái ở, nếu anh không chìa tay cho tôi nắm lấy.


- Tại sao không ngay lập tức đến chỗ tôi? - Xtanixlav hỏi.


- Tôi cứ ngần ngại mãi, chỉ sợ thiên hạ  bảo người Do thái mà phải loanh quanh kiếm việc. Nếu không vì lo cho mấy đứa con thì hôm nay tôi cũng không đến.


Xtanixlav nhún vai, ngay lập tức chấp nhận Slangbaum với mức lương ngàn rưởi rúp một năm.


Anh nhân viên mới hồ hởi bắt tay vào việc và nửa giờ sau Lixiêxki đã nháy mắt về phía Clâyin:


- Thế nào ông Clâyin, quỷ quái thật, tại sao ở đây mùi tỏi lại bốc lên?


Nhưng chỉ mười lăm phút sau, chẳng hiểu vì lý do gì, cậu ta  nói:


- Làm sao mà dân Do thái phải chen nhau ra đường Ngoại vi Kracốp này nhỉ! Quây quần với nhau ở phố Nalevek và Swientoierxka thì sợ bị dịch chết hết chăng?


Slangbaum lặng thinh, chỉ  đôi lông mày đỏ của anh ta giật giật.


May mà những lời châm chọc đó đến tai Vôkulxki. Cậu ta rời bàn đứng dậy, và bằng cái giọng mà thật lòng tôi cũng không thích,nói:


- Này anh Lixiêxki! Henrich Slangbaum là bạn tôi từ thuở hàn vi. Vậy anh có thể cho phép chúng tôi hôm nay vẫn là bạn bè của nhau được không, nhất là khi hoàn cảnh của tôi đã được cải thiện rất nhiều?


Lixiêxki lúng túng, cảm thấy công việc của mình  rơi vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Anh ta cúi người, lúng búng điều gì đó trong miệng, còn Vôkulxki khi đó đi lại gần Slangbaum, ôm lấy cậu ta và nói:


- Henrích thân mến, đừng chấp nhặt những chuyện vớ vẩn làm gì, bởi vì ở đây tất cả chúng ta đều chăm chút cho tình bạn. Tôi cũng xin tuyên bố với cậu rằng nếu có lúc nào đó cậu rời bỏ  cửa hàng này thì cậu rời bỏ nó cùng với tôi.


Thế là vị trí làm việc của Slangbaum ngay lập tức được xác định rõ. Ngày nay các nhân viên cửa hàng, khi có điều gì, có thể nói với tôi nhanh hơn là nói với Vôkulxki. Nhưng liệu có ai giỏi hơn cậu ta về việc tìm ra cách  ngăn chặn hiệu quả kiểu nói nửa vời, bằng mặt không bằng lòng, nhìn nhau ghen ghét? Mà tất cả những cái đó đã làm anh chàng Henrích Slangbaum khốn khổ. Sau này nói chuyện với tôi, cậu ta thở dài:


- Ôi, nếu  không sợ mấy đứa con sẽ mất gốc Do thái thì tôi đã bỏ đây mà về phố Nalevek lâu rồi…


- Tại sao lại thế hả anh Henrích? - tôi hỏi. - Anh thử lộ bí mật một lần xem nào?


- Đó là chuyện trước đây chứ bây giờ tôi sẽ không làm thế. Nay tôi đã hiểu ra rằng với tư cách là người Do thái, tôi chỉ đáng ghét đối với người Thiên chúa giáo, còn nếu nửa nạc nửa mỡ, tôi có thể gây khó chịu cho cả người Thiên chúa giáo lẫn bản thân người Do thái. Dù sao thì ta cũng phải sống với ai đó. Vả lại, - anh ta nói thêm - tôi có năm đứa con và một người cha giàu có mà sau này tôi có thể thừa hưởng…


Hay thật đấy. Ông bố Slangbaum là người cho vay nặng lãi, thế mà cậu con trai, để không phải ngửa tay xin bố một xu, phải chịu làm anh nhân viên bán hàng quèn cho cửa hàng của người khác.


Thỉnh thoảng, khi chỉ có hai người, tôi chuyện trò với Lixiêxki về anh chàng Do thái này.


- Tại sao các cậu lại cư xử với anh ta như vậy? - tôi hỏi - Chả gì thì cậu ta cũng sắp xếp nhà cửa theo kiểu   Thiên chúa giáo, thậm chí còn mua cây thông Noel cho lũ trẻ.


- Bởi vì, - Lixiêxki nói - anh ta luôn cho rằng ăn xúc xích với bánh thánh Do thái giáo  có lợi hơn là ăn riêng xúc xích.


- Cậu ta bị đày ở Xibêri, ít nhiều gì cũng sợ…


- Đi làm ăn thì có. Để làm ăn cậu ta đổi tên thành Slangovxki, bây giờ trở lại tên  Slangbaum, từ khi ông bố bị hen.


- Các cậu chỉ được cái độc địa, - tôi nói - chê người ta là cáo mượn lông công thì người ta trở về với họ tên cũ chứ sao.


- Để được thừa kế một trăm ngàn rúp của bố khi ông ấy qua đời, - Lixiêxki bình luận.


Bây giờ đến lượt tôi nhún vai, im lặng. Tên là Slangbaum cũng không tốt, tên là Slangovxki cũng không tốt, là người Do thái cũng không tốt, nửa nạc nửa mỡ cũng không tốt… Đêm xuống và trong suốt thời gian màn đêm ngự trị, mọi cái đều mang  màu xam xám, đáng nghi ngờ!


Khi có những chuyện như thế diễn ra, người chịu thiệt thòi nhiều nhất là Xtanixlav. Cậu ta không chỉ nhận Slangbaum vào cửa hàng mà còn phải cung cấp hàng hóa cho các thương gia Do thái và kết nạp mấy ông Do thái khác vào liên doanh của mình. Khi những người Ba Lan gào lên phản đối, đe dọa, cậu ta chẳng những không sợ mà còn gạt phăng đi, mặc cho mọi người đổ lửa lên đầu mình.


Không biết mọi chuyện sẽ kết thúc ra sao, hỡi Chúa nhân từ!


Mà thôi, tôi đi lạc đề rồi. Tôi quên không kể mấy chi tiết rất quan trọng. Tôi đang nghĩ đến Mrachevxki, con người có lần hoặc  ngăn cản kế hoạch của tôi, hoặc chủ định làm tôi lạc hướng.


Anh chàng này  buộc phải thôi việc ở chỗ chúng tôi vì đã nói xấu những người theo quan điểm xã hội chủ nghĩa trước mặt Vôkulxki. Nhưng sau đó, vì Xtanixlav động lòng trước những lời van xin nên ngay sau lễ Phục sinh đã cử cậu ta sang Maxkva, thậm chí còn tăng lương cho.


Suốt nhiều đêm tôi cứ nghĩ mãi về ý nghĩa của chuyến công tác - đi đày đó.


Nhưng khi Mrachevxki trở lại chỗ chúng tôi sau ba tuần lễ để chọn hàng, tôi lập tức hiểu ra kế hoạch của Xtanixlav.


Về dáng vẻ bên ngoài, anh chàng này chẳng thay đổi gì nhiều: luôn bảnh trai, nói liến thoắng, cũng có thể hơi nhợt nhạt. Cậu ta nói rằng cậu ta thích Maxkva, đặc biệt là phụ nữ ở đây, họ bốc lửa hơn, có ý thức về bản thân hơn, song cứng nhắc hơn phụ nữ nước ta. Tôi cũng thế, khi còn trẻ, tôi để ý thấy phụ nữ trước đây cứng nhắc hơn bây giờ nhiều.


Nhưng tất cả những cái đó chỉ là chuyện mào đầu. Bởi  anh chàng Mrachevxki này còn đem theo ba nhân vật rất đáng  ngờ mà anh ta gọi là những nhân viên thương mại cùng cả bọc to các loại tài liệu. Những người được gọi là “nhân viên thương mại” đó về lý thuyết sẽ đến xem xét cửa hàng  chúng tôi, song họ làm việc này theo cách bí mật không ai nhìn thấy. Họ đi lang thang suốt mấy ngày, tôi xin thề họ đã chuẩn bị nền tảng cho một cuộc cách mạng ở chỗ chúng tôi. Nhưng ngay khi nhận ra rằng tôi để mắt tới,  mỗi lần đến cửa hàng, họ lại giả vờ say rượu rồi nói chuyện với tôi duy nhất xoay quanh đề tài  phụ nữ, kiên quyết phủ nhận quan điểm của Mrachevxki, trước sau bảo vệ quan điểm của mình rằng phụ nữ Ba Lan mới hấp dẫn nhất trần đời, có điều họ rất giống gái Do thái.


Tôi  vờ tin tất cả những điều họ nói, nhờ những câu hỏi khéo léo, tôi nắm được rằng những người này có vẻ biết nhiều về khu vực xung quanh pháo đài mà Xa hoàng Nicôlai đệ nhất đã ra lệnh xây dựng sau cuộc khởi nghĩa Tháng Mười Một. Thì ra quyền lợi của họ là ở đó. Để chứng minh  những suy đoán của tôi  hoàn toàn có cơ sở, xin đưa ra bằng chứng “các nhân viên thương mại” kia đã thu hút sự chú ý của cảnh sát. Nhưng trong vòng mười ngày, họ chỉ có ba lần, chứ không hơn, phải lên đồn cảnh sát khu vực, như thế đủ biết họ có quan hệ mật thiết với cảnh sát thế nào. Chưa kể  chỉ đến một lúc thì về.


Khi tôi thông báo cho Vôkulxki biết  những nghi ngờ liên quan đến “các nhân viên thương mại”, Xtanixlav chỉ cười và nói:


- Chưa có gì đâu…


Từ chuyện này tôi rút ra kết luận hẳn Vôkulxki  phải tiến xa lắm trong quan hệ với những người theo chủ nghĩa hư vô.


Nhưng xin các vị hình dung nỗi ngạc nhiên của tôi sau khi  mời Clâyin và Mrachevxki đến nhà uống trà và đi đến kết luận rằng nếu nói về người mang xu hướng xã hội chủ nghĩa thì Mrachevxki còn trầm trọng hơn cả Clâyin… Cậu chàng Mrachevxki này chỉ vì nói xấu chủ nghĩa xã hội mà mất cả việc làm kia mà! Tôi ngạc nhiên quá, đến nỗi suốt cả buổi chiều không thể mở miệng được, chỉ có Clâyin mừng thầm trong bụng, còn Mrachevxki thì thao thao bất tuyệt.


Quả thật trong đời tôi chưa bao giờ  nghe những điều tương tự. Anh chàng này đã chứng minh cho tôi thấy, bằng cách trích dẫn người này người kia, toàn những tên tuổi lớn, rằng tất cả các nhà tư bản là một lũ trộm cắp, rằng đất ruộng phải thuộc về  người canh tác chúng, rằng  nhà máy xí nghiệp, hầm mỏ, máy móc phải là sở hữu chung, rằng chẳng có Chúa cũng chẳng có linh hồn mà các cha cố nghĩ ra để mê hoặc con người. Cậu ta còn nói thêm rằng nếu họ (tức cậu ta và ba “nhân viên thương mại” kia) làm được một cuộc cách mạng, thì từ thời điểm đó, tất cả chúng ta sẽ chỉ làm việc tám giờ mỗi ngày, dành thời gian còn lại vui chơi, tuy vậy ai cũng sẽ nhận lương hưu để yên tâm tuổi già và khi chết thì được chôn cất miễn phí. Cuối cùng, cậu ta kết luận rằng thiên đàng chỉ thật sự xuất hiện trên mặt đất khi mọi cái đều là của chung: ruộng đất, nhà cửa, máy móc, thậm chí cả vợ con.


Vì tôi độc thân (thậm chí mọi người gọi là lão già độc thân) cho nên, phải chân thành thừa nhận, ý tưởng chung vợ cũng hay hay. Có thể nói rằng tôi ít nhiều có cảm tình với chủ nghĩa xã hội và những người theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng vì sao  phải làm cách mạng khi mà không có cách mạng thì mọi người có thể  chung vợ.


Tôi nghĩ như vậy, nhưng chàng Mrachevxki này đã giúp tôi từ bỏ lý luận của mình, đồng thời ngăn cản tôi thực hiện những kế hoạch đã định.


Xin mở ngoặc nói thêm: Tôi thành thật mong muốn Xtanixlav lấy vợ, để không phải gặp gỡ, chuyện trò với ông Colins và bà Meliton nhiều đến thế, nếu có con nữa thì cậu ta có thể cắt đứt các mối quan hệ gây ra nghi ngờ. Bởi vì một con người như cậu ta, mang tính cách một anh lính hẳn hoi, lại đi quan hệ với những người, nói gì thì nói, chưa bao giờ có mặt trên chiến trường với vũ khí trong tay chống lại kẻ thù. Lính bộ binh Hung cũng như bộ binh các nước khác sẽ không bắn vào đối thủ đã hạ súng. Nhưng thời thế thay đổi rồi.


Như đã nói, tôi rất muốn Xtanixlav lấy vợ,  thậm chí tôi đã nhắm cho cậu ta một đám. Cô ấy thi thoảng cũng đến kho hàng của chúng tôi (và đến cửa hàng cũ). Một phụ nữ với vẻ đẹp lạ: tóc đen, mắt xám, các nét đẹp tuyệt vời, chiều cao vừa phải, cả chân lẫn tay đều đạt tỉ lệ hoàn hảo! Tôi nhìn cô xuống xe ngựa và  phải thú thật rằng cả người tôi nóng ran lên trước những gì  vừa chứng kiến. Phải chi Xtanixlav lấy được cô , , thân hình cân đối, khóe miệng xinh, khuôn ngực đầy đặn… Khi cô ấy bước vào cửa hàng trong bộ váy áo bó sát người, tôi nghĩ cô là tiên nữ vừa trên trời bay xuống…


Dường như cô ấy góa chồng, vì chưa bao giờ tôi nhìn thấy cô đi với chồng, chỉ có đứa con nhỏ tên  Helunia, xinh xắn như một cái kẹo. Cậu Xtanixlav nhà tôi, nếu cưới cô ta thì trước hết phải cắt đứt quan hệ với những người theo chủ nghĩa hư vô kia đi, vậy mới dành được nhiều thời gian chăm sóc vợ và con gái. Mà cô vợ xinh đẹp đócũng chẳng để cậu ta có nhiều thời giờ rỗi rãi đâu.


Tôi đã sắp xếp kế hoạch đâu vào đấy,  tôi nghĩ rất nhiều xem tiếp xúc với cô ta bằng cách nào, sau đó giới thiệu cho Xtanixlav, thì đùng một cái, quỷ thật,  cậu Mrachevxki lại lù lù dẫn xác từ Maxkva về. Mọi người thử hình dung nỗi bực tức của tôi khi mà ngay sau khi về nước, thằng cha ma mãnh láu cá này đã đến cửa hàng cùng  cô gái góa chồng nọ! Chưa kể  hắn lúc nào cũng kè kè, xun xoe trước mặt cô ta, mắt hấp ha hấp háy, đoán định được mọi suy nghĩ của cô ta về các mặt hàng cần mua . Rất may  tôi không bị béo phì và huyết áp cao, nếu không trước những câu tán tỉnh, ve vãn lộ liễu của hắn, chắc  tôi đã đứt mạch máu não mà chết.


Mấy tiếng đồng hồ sau, khi hắn quay lại cửa hàng, tôi giả bộ không để ý gì đến chuyện đã diễn ra, lấy hết bình tĩnh hỏi xem cô gái đi cùng hắn là ai.


- Lão cũng mê cô ta rồi chứ gì? - hắn nói - đó là rượu sâm banh chứ không phải  một phụ nữ bình thường, -  hắn bổ sung thêm, nháy mắt lung tung, không hề ngượng ngùng. - Nhưng lão có mê cũng chẳng để làm gì. Cô ta đang phát điên vì tôi đấy! Ôi, lão già ơi! Đẹp người đẹp cả nết… Nếu lão được ngắm cô ta trong trang phục dân tộc!


- Tôi cũng mường tượng được đấy thưa anh Mrachevxki, - tôi nghiêm giọng.


- Thì tôi có nói gì đâu! - cậu ta trả lời, hai tay xoa vào nhau theo cách  khiến cho người đối diện cảm thấy cậu ta đang khao khát  gần gũi xác thịt Tôi có nói gì đâu! Đạo đức lớn nhất của người đàn ông, lão Giexki ơi, là kín đáo, lão Giexki ạ, đặc biệt là về những mối quan hệ thầm kín.


Tôi ngắt lời hắn mà trong bụng cảm thấy nếu hắn còn nói nữa, tôi sẽ phải tỏ thái độ khinh bỉ ra mặt cái con người trẻ tuổi này. Ôi, thời đại mới, ôi, những con người mới! Bởi như tôi đây, nếu  có may mắn thu hút được sự chú ý của người phụ nữ kia thì  cũng chẳng dám nghĩ trong đầu mình về chuyện đó, nói gì đến kêu to cho cả thiên hạ nghe thấy, nhất là lại kêu to trong cái nhà kho như nhà kho của chúng tôi.


Nhưng khi Mrachevxki giảng giải thêm cho tôi nghe về lý luận “chung vợ” của cậu ta thì tôi nghĩ ngay: cả Xtanixlav lẫn Mrachevxki đều là những kẻ theo chủ nghĩa hư vô. Cho nên tốt nhất là anh thứ nhất hãy lấy vợ đi, còn anh thứ hai cứ sống với cái lý thuyết chung vợ của mình… Bởi sẽ đáng tiếc biết bao nếu người phụ nữ kia rơi vào tay Mrachevxki.


Cuối tháng Năm, Vôkulxki quyết định dành nhiều thời gian cho cửa hàng và nhà kho. Qua dịp này tôi nhận thấy rõ  thời thế đang thay đổi. Hồi tôi còn trẻ, các nhà buôn cũng tập trung công của cho cửa hàng, lo cả chuyện mời cha cố đến dự lễ khai trương, cầu nguyện, ban phước, vẩy nước thánh tại chỗ, đọc mấy câu bằng tiếng La tinh. Sau khi kết thúc buổi lễ, gồm cả việc vẩy nước thánh cho từng chiếc tủ, từng  hàng hóa, người ta đóng vào ngưỡng cửa cửa hàng một vòng sắt hình móng ngựa để thu hút khách hàng đến, mãi sau này mới thay thế bằng món ăn gồm một ly rượu, xúc xích và bia.


Còn hôm nay (không biết những người thuộc thế hệ lão Minxen sẽ nói  sao), trước tiên người ta hỏi chủ cửa hàng cần bao nhiêu nhân công nấu ăn, phục vụ, rồi bao nhiêu chai rượu sâm banh, rượu vang và bữa trưa sẽ  thế nào? Bữa trưa là “linh hồn” của buổi lễ, khi khách mời chẳng quan tâm đến chuyện ai đứng ra mời mà chỉ muốn biết trên bàn bày biện những gì.


Một ngày trước buổi lễ, bỗng nhiên có một ông thấp béo, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, cổ to đến nỗi lấp cả cổ áo, ào vào chỗ chúng tôi. Ông ta lấy ra từ trong túi chiếc áo khoác đã sờn cuốn sổ tay, đeo lên mắt cặp kính gập mũi bóng mỡ và cứ thế đi đi lại lại các phòng với bộ mặt khiến tôi chỉ biết lo sợ chứ chẳng thể làm gì hơn.


“Quỷ thật, cái gì thế này, - tôi nghĩ - chả nhẽ có người từ sở cảnh sát đến, hay viên thư ký của cơ quan quản lý bất động sản đến thống kê tài sản?”


Hai lần tôi tới gần ông ta, định lấy hết phép lịch sự ra để hỏi xem ông ta muốn gì? Nhưng lần đầu tiên thì ông ta lí nhí trong miệng: “Yêu cầu không ngăn cản công việc của tôi!”, còn lần thứ hai thì đẩy tôi thẳng thừng, không cần ý tứ.


Tôi càng ngạc nhiên hơn khi một số “quý ông” của tôi trong cửa hàng kính cẩn cúi chào con người kia rồi xoa hai tay vào nhau, hệt như nhân viên đứng trước giám đốc ngân hàng khi phải lý giải những chuyện tày đình.


“Nhưng, - tôi thầm nhủ - gã khốn khổ này chắc không phải là người bên công ty bảo hiểm. Bên ấy không để nhân viên ăn mặc lôi thôi thế này đâu…”


Mãi sau Lixiêxki mới thì thầm vào tai tôi, rằng ông này là người viết phóng sự nổi tiếng, đến nắm tình hình để viết bài về cửa hàng chúng tôi. Một luồng hơi ấm chạy quanh tim tôi khi  nghĩ rằng tôi có thể nhìn thấy họ tên mình trên mặt báo, nó mới chỉ một lần được đưa lên mặt  báo của cảnh sát khi tôi  báo  mất sổ hộ khẩu. Tôi chợt phát hiện ra ở con người ông nhà báo nọ, cái gì cũng to, đầu to, quyển sổ to, thậm chí miếng vá ở mũi giày bên trái cũng rất to.


Ông ta vẫn tiếp tục đi đi lại lại khắp các phòng, dáng điệu ngông nghênh như gà Ấn Độ, tay không ngừng ghi ghi chép chép. Cuối cùng mới cất tiếng:


- Trong suốt thời gian dài,  chỗ các vị không xảy ra vụ việc gì sao? Chẳng hạn như cháy nhỏ, trộm cắp, lừa đảo, cãi lộn?


- Lạy Chúa, không! - Tôi mạnh dạn chen ngang.


- Tiếc thật, - anh ta nói. - Khả năng quảng cáo tốt nhất cho cửa hàng chính là một sự kiện kiểu như có ai đó treo cổ tại chỗ…


Tôi sợ đứng tim sau khi phải nghe nguyện vọng đó.


- Hay là quý ông, - tôi  đánh bạo chen ngang, người cúi xuống rất thấp - làm ơn chọn giúp một vật nhỏ để chúng tôi chuyển đến gọi là…


- Vật hối lộ à? - ông ta hỏi, đoạn nhìn tôi với dáng điệu của nhà thiên văn Kôpecnich. - Chúng tôi có thói quen, - ông ta nói thêm - sẽ mua những gì mình thích, còn quà tặng, bất kể của ai, chúng tôi đều không nhận.


Ông ta đứng ngay giữa phòng đội chiếc mũ có nhiều vết bẩn lên đầu và bước ra, hai tay đút túi quần, trông như bộ trưởng. Khi ông ta sang đến  bên kia đường, tôi vẫn nhìn rõ miếng vá ở mũi giày bên trái.


Tôi trở lại với buổi lễ nâng cấp cửa hàng.


Phần chính của buổi lễ, tức là bữa tiệc, đã diễn ra tại đại sảnh của khách sạn Châu Âu. Đại sảnh được trang hoàng bằng rất nhiều hoa, các bàn to được xếp theo hình chữ U, có cả nhạc sống và vào lúc sáu giờ đã có khoảng một trăm năm mươi vị khách tề tựu. Thành phần khách mời mới phong phú làm sao! Thôi thì đủ cả các vị thương gia, chủ nhà máy ở thủ đô Varsava và vùng lân cận, rồi thậm chí từ Maxkva sang, từ Viên, Pari đến. Trong số khách khứa có hai vị bá tước, một công tước, còn các nhà quý tộc nói chung thì nhiều lắm. Đồ uống thì khỏi phải nói, quả thật tôi không biết  hoa lá trang trí phòng tiệc nhiều hay đồ uống các loại nhiều hơn.


Cuộc vui này tiêu tốn của chúng tôi khoảng ba ngàn rúp, nhưng điều nhìn thấy rõ hơn là số người đến dự và cảnh ăn uống tưng bừng. Khi bữa tiệc bỗng rơi vào phút yên lặng, công tước đứng dậy, nâng cốc chúc mừng Xtanixlav, nhạc nổi lên, tôi chẳng nhớ họ chơi bài gì, chỉ biết là rất hay, rồi một trăm năm mươi con người cùng hô “muôn năm”, mắt tôi ứa lệ.


Tôi chạy đến bên Xtanixlav, ghì lấy cậu ta, thầm thì:


- Cậu đã thấy mọi người yêu quý cậu nhường nào chưa?


- Họ yêu sâm banh đấy! - Xtanixlav đáp.


Tôi nhận ra  những tiếng hô “muôn năm” kia chẳng khiến cậu ta bận tâm. Thậm chí nét mặt cậu ta chẳng tươi tỉnh hơn chút nào khi một trong số khách (ông này chắc là nhà văn, vì nói dài lê thê và chẳng có ý nghĩa gì cụ thể) đã tuyên bố, mà tôi cũng không hiểu ông ta nhân danh cá nhân hay thay mặt cho Xtanixlav, rằng  đây là một ngày đẹp nhất  đời mình.


Tôi cũng để ý thấy Xtanixlav quanh quẩn nhiều hơn cả bên cạnh ngài Oenxki, con người nghe đâu trước khi phá sản vẫn tiếp tục quan hệ với các hoàng gia châu Âu. Vẫn là  đường lối chính trị bất hạnh đó!


Từ đầu bữa tiệc, mọi thứ diễn ra trong bầu không khí hết sức trang nghiêm. Nhưng càng về sau càng có những vị khách phát biểu dài dòng hơn, dường như chỉ nhằm mục đích tiêu hóa hết số rượu đã uống và số thức ăn đã nuốt. Những người phục vụ càng dọn đi nhiều chai không thì vẻ trang nghiêm của buổi tiệc càng giảm,  cuối cùng trở thành một cuộc huyên náo, đến mức dàn nhạc sống dẫu chơi to hết cỡ cũng  bị chìm nghỉm trong tiếng nói cười của thực khách.


Tôi tức tốinhư một con quỷ dữ và muốn hét vào mặt Mrachevxki. Song tôi chỉ kéo cậu ta ra khỏi bàn tiệc và thốt được mấy lời:


- Thế nào, tất cả những cái này để làm gì?- Sao lại để làm gì? - cậu ta hỏi lại, đoạn nhìn tôi bằng cặp mắt điên dại - Là vì tiểu thư Izabela Oenxka…


- Cậu điên à? Sao lại vì tiểu thư Oenxka?


- Thì các loại liên doanh… cái cửa hàng ấy… bữa tiệc này… Tất cả là vì nàng. Tôi cũng vì nàng mà bị bay khỏi cửa hàng. - Mrachevxki nói, đứng tựa người vào vai tôi, bởi tự mình cậu ta không đứng vững được nữa.


- Sao? - tôi nói khi nhìn thấy cậu ta đã say xỉn. - Cậu bị bay khỏi cửa hàng là vì nàng, cho nên cũng có thể vì nàng mà cậu được sang Maxkva?


- Có thể hiểu… hiểu như vậy. Nàng đã nói một lời,  chỉ một lời thôi, không hơn… và tôi được tăng thêm ba trăm rúp một năm. Nàng muốn gì là ông chủ nhà mình lập tức đáp ứng ngay.


- Thôi, cậu đi ngủ được rồi đấy! - tôi nói.


- Tất nhiên là tôi sẽ không đi ngủ. Tôi lại chỗ các bạn tôi… Họ đâu cả rồi nhỉ? Họ có cách xử lý tiểu thư. Nàng không thể sai khiến họ như sai khiến ông chủ nhà mình đâu… Các bạn chí thân của tôi đâu cả rồi? - cậu ta gào lên.


Tất nhiên tôi đã sai người dìu cậu ta lên gác. Nhưng tôi đoán cậu ta chỉ  vờ say để lừa tôi.


Đến nửa đêm thì đại sảnh trông giống như nhà xác hoặc một bệnh viện, mỗi lúc lại có thêm một người phải dìu lên gác hoặc đưa ra xe ngựa. Cuối cùng, khi gặp được bác sĩ Suman và thấy ông còn tỉnh táo, tôi mời ông lại chỗ tôi uống trà.


Bác sĩ Suman theo Do thái giáo, nhưng đây là con người đặc biệt. Lẽ ra ông đã được làm lễ chuyển đạo khi  yêu một cô gái Thiên chúa giáo, nhưng vì cô ta mất sớm nên ông lại thôi. Mọi người kể rằng ông đau khổ đến mức dùng thuốc độc tự tử, nhưng không chết vì được cấp cứu kịp thời. Hiện nay ông  bỏ hẳn nghề thầy thuốc, nhưng vẫn có một tài sản khấm khá nên chuyển sang nghiên cứu con người,  cụ thể là nghiên cứu sâu về tóc. Ông ta trông bé nhỏ, vàng vọt, cái nhìn lúc nào cũng đầy vẻ soi mói, nên ít ai có thể giấu ông điều gì. Vì ông và Xtanixlav quen nhau từ lâu lắm rồi, chắc hẳn ông chẳng lạ gì những bí mật của bạn mình.


Sau bữa tiệc khá ầm ĩ, tôi cảm thấy trong mình có một nỗi lo  khó tả nên muốn khai thác ông Suman vài chuyện. Nếu hôm nay ông bác sĩ này không nói gì với tôi về cậu Xtanixlav thì sẽ chẳng bao giờ tôi biết gì hơn về cậu ta.


Khi về đến phòng tôi,  người phục vụ mang ấm xamovar đặt lên bàn, tôi lên tiếng ngay:


- Bác sĩ này, ông hãy nói cho tôi biết, nhưng phải rất thật lòng nhé, ông nghĩ gì về cậu Xtanixlav?Bởi vì cậu ấy đang làm tôi hết sức lo lắng. Tôi thấy là từ một năm nay, cậu ấy chỉ toàn sa đà vào các vụ cãi vã. Chuyến đi Bungari hồi trước… cái kho hàng hôm nay… rồi liên doanh làm ăn… tậu xe ngựa. Tính nết cậu ấy thay đổi kỳ lạ.


- Tôi chả thấy sự thay đổi nào cả, - ông Suman đáp lời. - Cậu ta luôn là con người thích hành động, cái gì đã đến trong đầu hay trong tim là phải thực hiện ngay. Cậu ta quyết định đi học ở trường đại học tổng hợp là đi, quyết định đi gây dựng tài sản là đi. Vì vậy nếu nghĩ ra một điều gì ngu ngốc thì cậu ta cũng sẽ không lùi bước và làm điều ngu ngốc cực độ đó. Đó là tính cách  cậu ta.


- Với tất cả những điều đó, - tôi xen vào - tôi  thấy trong cách cư xử của cậu ấynhiều mâu thuẫn …


- Chẳng có gì lạ cả, - ông bác sĩ ngắt lời tôi. - Trong cậu ta có hai con người nhập làm một: con người lãng mạn từ những năm sáu mươi và con người thực chứng của thập kỷ bảy mươi. Những gì mà người ngoài nhìn thấy và cho là mâu thuẫn nhau, thì trong con người cậu ta lại là hoàn toàn thống nhất trước sau.


- Nhưng có phải cậu ta đang mắc vào những rắc rối mới? - tôi hỏi.


- Tôi không biết gì cả, - bác sĩ Suman trả lời.


Tôi yên lặng một lúc lâu, mãi sau mới hỏi:


- Nhưng kết quả là chuyện gì sẽ đến với cậu ấy?


Bác sĩ Suman dướn mày, hai bàn tay lồng vào nhau.


- Sẽ chẳng tốt đẹp gì, - ông nói - Những người như cậu ta hoặc uốn tất cả mọi thứ về phía mình hoặc sẽ bị những thứ đó làm cho vỡ đầu nếu gặp trở ngại lớn. Đến nay cậu ta đã thành công, nhưng… rõ ràng  trong cuộc đời không có ai chỉ toàn gặp may đâu.


- Vì vậy? - tôi hỏi.


- Vì vậy chúng ta có thể phải chứng kiến một bi kịch, - bác sĩ Suman kết thúc câu chuyện. Ông uống hết cốc trà chanh rồi ra về.


Cả đêm hôm đó tôi không sao ngủ được. Những lời cảnh báo khủng khiếp được nói ra vào ngày chiến thắng…


Ồ, Chúa chắc phải biết nhiều hơn bác sĩ Suman,  có lẽ Người sẽ không cho phép cậu Xtanixlav nhà mình làm điều ngu ngốc.


(còn tiếp)


Nguồn: Búp bê. Tiểu thuyết của nhà văn Balan: Boleslaw Prus. Nguyễn Chí Thuật dịch từ nguyên bản tiếng Balan. NXB Phụ nữ, quý I-2017.


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »