tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20783374
Tiểu thuyết
05.10.2017
Boleslaw Prus
Búp bê



Chương 10. Nhật ký của nhân viên kỳ cựu


Khi đó chúng tôi đã có cửa hàng mới: năm cái cửa sổ mặt tiền, hai kho chứa hàng, bảy nhân viên bán hàng và một cậu bảo vệ đứng ngay ở cửa. Chúng tôi còn có thêm chiếc xe ngựa, sáng loáng như giày vừa đánh xi, một đôi ngựa lông màu hạt dẻ, một anh đánh xe và một anh phục vụ mặc đồng phục theo quy định hẳn hoi. Mọi công việc  được hoàn tất vào những ngày đầu tháng Năm, khi Anh, Áo và Thổ Nhĩ Kỳ đã trang bị đến tận răng cho binh lính của mình.


- Này Xtanixlav thân mến ơi, - tôi nói với Vôkulxki - tất cả các thương gia sẽ cười vào mũi chúng ta rằng vào thời buổi chẳng có gì là chắc chắn  thế này mà  lại đi đầu tư  khoản tiền lớn vào những chuyện không đâu.


- Lão Ignaxư yêu quý ơi, - Vôkulxki trả lời - còn chúng ta, chúng ta sẽ cười mỉa  lại các thương gia đó khi nào mà thời buối làm ăn chắc chắn đến. Bây giờ mới chính là cơ hội làm ăn tốt.


- Nhưng chiến tranh ở châu Âu, - tôi nói - đang treo lơ lửng trước mặt. Trong hoàn cảnh như vậy thì chúng ta phá sản là cái chắc.


- Lão cứ mang chiến tranh ra đùa với tôi, - Xtanixalv trả lời. - Toàn bộ sự ầm ĩ xung quanh những cái đó sẽ chấm dứt sau vài tháng nữa, trong khi ấy chúng ta sẽ tiến xa so với tất cả các đối thủ cạnh tranh.


Và quả là chiến tranh đã không xảy ra. Trong cửa hàng  chúng tôi lúc nào cũng nhộn nhịp như trong những ngày lễ hội. Hàng hóa chở đến chở đi quanh cửa hàng luôn tấp nập, chẳng khác gì quang cảnh ở một nhà máy xay, tiền vào két như nước chảy vào chỗ trũng. Những người không biết Xtanixlav sẽ bảo cậu ta là thiên tài, nhưng vì  là người hiểu rõ cậu ta hơn ai hết nên tôi hay tự hỏi: Tất cả những cái này để làm gì? Tại sao cậu ta lại làm việc đó?


Thật ra  mọi người cũng hay hỏi tôi những câu tương tự. Chẳng lẽ tôi già nua đến mức giống như người sắp chết nên không hiểu được cả tinh thần thời đại lẫn xu hướng của những người trẻ hơn mình chăng?  Ồ, không, mọi chuyện đâu đã đến nỗi tồi tệ như vậy…


Tôi nhớ khi Lutvich Napôlêông (sau này là hoàng đế Napôlêông đệ tam) trốn khỏi nhà tù vào năm 1846, cả châu Âu sôi lên sùng sục. Chẳng ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng tất cả những người được coi là có lý trí sáng suốt đều ngấm ngầm chuẩn bị cho một điều gì đó, còn ông chú Rachếch (cái ông Rachếch đã cưới cô ruột tôi) thì cứ nhắc đi nhắc lại:


- Chú đã nói rồi. Bônapactơ sẽ mất hút và đi nấu bia cho người khác uống thôi! Khốn khổ nhất là chú không thể làm gì hơn trong tình cảnh này.


Năm 1846 và 1847 trôi qua trong cảnh hỗn loạn. Càng ngày càng có nhiều tờ báo mới ra đời, song những người có máu mặt thì chả thấy đâu. Đôi khi tôi nghĩ: Phải chăng đã đến lúc nên ngẩng cao đầu lên mà xét xem  thế giới rộng lớn kia để biết đích thực nó như thế nào? Nhưng khi trong tôi tràn ngập những nghi ngờ,lo lắng, sau khi đóng cửa hàng, tôi lại đến chỗ chú Rachếch, kể cho chú nghe chuyện tôi đang có nỗi dằn vặt và xin chú một lời khuyên, với tư cách người thay vị trí cha tôi.


- Cháu biết không, - chú nói, nắm tay đập đập vào cái đầu gối đang đau của mình - chú khuyên cháu chân thành như cha. Nếu cháu muốn, chú nói với cháu thật lòng, cháu hãy đi, nếu cháu không muốn, chú cũng nói với cháu thật lòng, hãy ở lại.


Mãi đến tháng Hai năm 1848, khi Lutvich Napôlêông về đến Pari, vào một đêm nọ, tôi mơ thấy ông bố đã quá cố của mình, trông ông vẫn như khi nằm trong quan tài mà tôi nhìn thấy. Bộ đại cán ông mặc cúc cài kín đến tận cổ, tai đeo khuyên, ria mép màu đen (ông Đômanxki đã làm thế để bố tôi khỏi phải có mặt trước tòa án của Chúa). Bố tôi đứng ngay trước cửa phòng tôi, chỉ nói  mấy lời ngắn gọn:


- Này con trai bé bỏng của ta,  hãy nhớ kỹ những gì cha dạy!


Càng mơ nhiều càng phải tin Chúa” - tôi nghĩ đến điều đó suốt mấy ngày liền. Đến mức tôi thấy chán cả cửa hàng. Thậm chí tôi không muốn cầu nguyện trước ảnh bà Malgoxia Pfeifer mới mất và cảm thấy bức bối khi phải làm việc trên phố Podval. Tôi lại đến chỗ chú Rachếch để xin lời khuyên.


Tôi nhớ khi đó chú đang nằm trên giường, đắp chăn lông chim của cô tôi và uống nước lá nóng cho ra mồ hôi. Khi tôi nói xong tất cả những chuyện của mình, chú bảo:


- Cháu biết không, chú khuyên cháu như một người cha. Nếu cháu muốn,  hãy đi đi, nếu cháu không muốn, cứ ở lại nhà. Nhưng chú, nếu không vì đôi chân khốn khổ khốn nạn này thì  đã đi nước ngoài lâu rồi. Mà cũng vì cô cháu, chú nói để cháu biết - đến đoạn này thì chú tôi hạ thấp giọng - cô cháu cũng hay thò cái lưỡi cay độc ra lắm, chú nói thật với cháu, chú muốn nghe tiếng gầm của đại bác ở nước Áo hơn là nghe cô ấy nói. Mấy  thứ thuốc bôi bôi xoa xoa ấy thì giúp ích gì. Chưa kể cô nói chuyện nghe bực cả mình… Mà cháu có tiền không? - lát sau chú hỏi.


- Thế nào cháu cũng tìm được vài trăm zlôty.


Chú Rachếch bảo tôi đóng cửa phòng lại (khi đó cô tôi không có nhà), rồi chú thò tay xuống gối lấy ra một chiếc chìa khóa.


- Nào, - chú nói - cháu hãy mở cái hòm bọc da này đi. Ở bên phải có một  hộp nhỏ, trong hộp có chiếc túi vải. Đưa chú cái túi đó.


Tôi lấy ra cái túi dày dày, nằng nặng. Chú Rachếch cầm lên tay và thở dài, vừa thở vừa đếm cho tôi mười đồng năm zlôty.


- Cháu cầm lấy, - chú nói - để đi đường. Nếu phải đi thì cháu đi ngay đi. Lẽ ra chú phải đưa cho cháu nhiều hơn, nhưng biết đâu cũng có lúc chú sẽ đi. Vả lại cũng cần giữ lại một chút cho cô cháu để khi chú có mệnh hệ nào thì cô ấy còn kiếm người khác…


Hai chú cháu chia tay nhau, cả hai đều đầm đìa nước mắt. Chú tôi thậm chí khóc rung cả giường. Ông quay mặt về phía ngọn nến, thầm thì:


- Cho chú nhìn cháu lần nữa nào… Bởi vì, chú nói thật với cháu, từ cuộc hỗn quân hỗn quan đó, không phải ai cũng trở về. Còn chú thì không phải là con người của ngày hôm nay nữa rồi, những thứ trong người, chú nói thật với cháu, như là đi mượn cả.


Tôi quay lại cửa hàng và mặc dù đã muộn, vẫn nói chuyện với Ian Minxen, cảm ơn ông về sự quan tâm giúp đỡ. Bởi vì từ cả năm nay chúng tôi thường xuyên trao đổi về chuyện này, ông luôn khuyến khích tôi đi đánh nhau với quân Đức, nên tôi có cảm giác rằng ý định ra đi của tôi khiến ông vui mừng. Nhưng tôi lại thấy ông Minxen có vẻ buồn. Ngày hôm sau ông thanh toán cho tôi tất cả các khoản tiền tôi được hưởng, thậm chí còn thưởng thêm các khoản khác và hứa giữ gìn các thứ đồ dùng cùng cái hòm gỗ, đề phòng khả năng tôi sẽ quay lại đây làm việc. Nhưng tinh thần chiến đấu vốn có của ông bỗng nhiên xẹp xuống nên không thấy ông nhắc lại lần nào cái câu trước kia ông hay nói:


- Hây, ta thà không có cái cửa hàng này chứ với bọn Đức thì phải chơi nhau cho đã!


Vào khoảng mười giờ đêm, khi tôi mặc chiếc áo lông mỏng, đi giày ấm, ôm hôn tạm biệt ông và đặt tay vào tay nắm cửa đi ra khỏi căn phòng mà suốt mấy năm  đã sống cùng ông thì có điều gì đó rất kỳ lạ  xảy ra với ông Ian. Ông bật dậy khỏi ghế, hai tay bắt chéo qua ngực và hét:


- Đồ con lợn, mày đi đâu, hả?


Sau đó ông nằm vật ra giường  tôi, khóc nấc lên như một đứa trẻ. Tôi bỏ chạy. Trên cái hành lang sáng mờ mờ, ai đó đã chặn tôi lại. Tôi giật bắn người. Thì ra đó là Auguxtơ Katzơ, ăn mặc phong phanh như chuẩn bị đi dạo chơi giữa tháng Ba.


- Cậu làm gì ở đây, hả Auguxtơ? - tôi hỏi.


- Tớ chờ cậu.


Tôi tưởng cậu ta muốn tiễn tôi  nên chúng tôi cùng yên lặng bước  về phía quảng trường Giưbovxki. Katzơ chẳng mấy khi cất lời. Cái xe ngựa kiểu Do thái mà tôi sẽ đi đã sẵn sàng. Tôi ôm hôn Katzơ, cậu ta ôm hôn lại tôi. Tôi ngồi vào xe, cậu ta cũng ngồi vào.


- Chúng ta cùng đi, - cậu ta nói.


Sau đó, khi chúng tôi đi qua phố Tình Yêu, cậu ta nói thêm:


- Ghế đã cứng, đường lại xóc, không sao ngủ được.


“Chuyến đi của chúng mình kéo dài quá mức dự định, bởi đến đầu tháng Mười năm 1849, cậu có nhớ không hả Katzơ, người bạn không thể nào quên của tôi? Cậu có nhớ những chuyến hành quân dài ngày trong nắng rát, khi chúng mình phải uống nước từ vũng bẩn, hay cậu có nhớ  cuộc hành quân qua bãi lầy mà bọn mình đã làm ướt cả vũ khí, đạn dược, rồi những đêm ngủ trong rừng, trên cánh đồng, thằng nọ rúc đầu vào ba lô của thằng kia, tranh thủ kéo trộm áo của nhau thay cho chăn đắp? Cậu có nhớ món khoai tây đánh nhuyễn rưới tí mỡ mà bốn đứa đã nấu bí mật trước cả đơn vị không? Kể từ lúc đó, đã bao lần ăn khoai tây, nhưng chưa có lần nào tớ thấy ngon như vậy. Cho đến hôm nay tớ như vẫn còn nhớ rõ mùi vị của nó, nhớ cái hơi ấm bay ra từ nắp vung nồi và nhớ  cậu, Katzơ, cậu đã tranh thủ cầu nguyện, cậu đã ăn khoai tây và ngồi hút thuốc bằng tẩu cạnh bếp lửa hồng”.


- Này Katzơ, nếu ở trên trời không có đơn vị lục quân nào của Hungari và khoai tây nghiền nhuyễn thì cậu vội vàng lên đó làm gì?


- Mà cậu có nhớ trận đánh tổng hợp mà chúng ta cứ tiếc rẻ khi nghỉ ngơi sau một trận đánh du kích không? Còn tớ, chắc khi nằm dưới mồ rồi, hẳn  vẫn không sao quên được,  nếu có khi nào  Chúa hỏi: Con sống trên đời làm gì?, tớ sẽ trả lời là chỉ để có được một ngày như vậy. Chỉ có cậu là người duy nhất hiểu tớ Katzơ ạ, vì chỉ hai thằng mình nhìn thấy điều đó. Còn hiện nay, hình như chẳng có ai…


Trước đó một ngày rưỡi cả sư đoàn mình tập trung ở một làng nhỏ Hungari, tên làng tớ quên mất rồi. Chúng mình liên hoan thật vui. Rượu vang nhiều đến mức có thể tắm được, còn thịt lợn và ớt thì  ê hề, đến mức người ta chỉ cho chúng vào miệng khi không có gì ngon hơn. Lại còn nhạc và gái nữa chứ! Các cô Di gan chơi đàn tuyệt vời, đến mức các cô gái Hung chả là gì hết. Bọn họ chỉ có khoảng hai chục người mà náo loạn cả lên, đến mức những người nông dân bị vạ lây và họ tức giận chơi lại cả lính Hung.


Có trời mới biết được cuộc vui đó sẽ kết thúc  thế nào nếu trong lúc không khí náo loạn  lên đến đỉnh cao ấy không có một nhà quý tộc đến kịp thời trên chiếc xe  bốn ngựa kéo đang sùi bọt mép. Mấy phút sau, trong đơn vị lan truyền thông tin về các đội quân Áo đóng ở gần đó. Còi báo động lập lại trật tự nổi lên, cảnh hỗn loạn được khống chế, các cô gái Hung biến mất, còn trong các hàng quân người nọ rỉ tai người kia về một trận đánh tổng hợp.


- Cuối cùng thời điểm phải đến đã đến! - cậu đã nói với tớ như vậy.


Đêm đó bọn mình tiến lên phía trước được mấy dặm đường và trong ngày hôm sau lại thêm vài dặm nữa. Mới đầu cứ vài tiếng, sau đó tiếng một, lại có những tốp chạy tiếp sức tới. Đó là dấu hiệu chứng tỏ ở khu vực gần đó có sở chỉ huy của ta và một điều quan trọng sẽ đến.


Đêm hôm ấy chúng mình ngủ trên đồng trống trơn, thậm chí vũ khí không dựng cùng một chỗ. Nhưng từ sáng sớm chúng mình đã lên đường: Đại đội pháo binh cùng hai khẩu súng đại bác hạng nhẹ đi trước, sau đến đại đội bọn mình, lại một đại đội pháo và xe kín mui chở vũ khí, còn quân hộ tống nối đuôi nhau hành quân. Các đội liên lạc bây giờ cứ nửa giờ lại báo cáo tin tức một lần.


Khi mặt trời vừa lên, chúng mình nhìn thấy trong sân có những dấu vết đầu tiên của kẻ thù: một ít rơm rạ, những đống củi đang cháy dở, những ngôi nhà bị dỡ ra làm chất đốt. Sau đó chúng mình gặp mỗi lúc một nhiều hơn những người chạy trốn: một vị quý tộc cùng với gia đình, những nhà tu hành thuộc nhiều tôn giáo khác nhau và cuối cùng - những người nông dân và những người Di gan. Trên khuôn mặt ai cũng lộ rõ vẻ sợ hãi, hầu như ai cũng kêu ca, than thở điều gì đó bằng tiếng Hung, người nọ đưa tay chỉ vào người kia.


Khoảng gần bảy giờ thì ở phía tây nam vang lên một tiếng nổ lớn. Suốt dọc hàng quân có tiếng xầm xì:


- Ồ, bắt đầu rồi đấy.


- Không, mới chỉ là tín hiệu.


Có hai tiếng nổ lớn nữa vang lên, sau đó lại hai tiếng nữa. Đại đội đi trước bọn mình dừng lại, hai khẩu pháo và hai chiếc xe kín mui chở đạn phóng lên phía trước, mấy lính bộ binh lao lên chiếm lĩnh một gò đất. Chúng mình dừng lại - sự yên lặng bao trùm trong chốc lát, đến mức có thể nghe thấy tiếng giậm chân của con ngựa lông trắng của người trợ lý đang đuổi theo chúng mình. Nó chạy nhanh đến đơn vị lục quân Hung, miệng thở hổn hển, mình rạp xuống như sắp chạm đất.


Trong lúc đó, có đến mấy chục khẩu pháo cất tiếng, khi xa khi gần, từng tiếng nổ của chúng có thể phân biệt được.


- Chúng đang rút ngắn cự li lại đó, - viên thiếu tá già của bọn mình nói:


- Phải có tới mười lăm khẩu, - Katzơ làu bàu, bình thường cậu ta ít nói, nhưng trong những hoàn cảnh nhất định thì lại trở nên mau mồm mau miệng. - Còn chúng ta đang kéo theo mười hai khẩu, thế nào chẳng có bữa tiệc pháo vui vẻ ra trò!


Ngài thiếu tá ngồi trên ngựa đã quay mặt về phía chúng tôi, mỉm cười dưới bộ ria trông rất kiểu cách. Tôi hiểu điều đó  nghĩa là gì sau khi nghe rõ cả một loạt tiếng nổ tiếp theo, giống như có người chơi đàn oóc trong nhà thờ.


- Phải trên hai mươi khẩu, - tôi nói với Katzơ.


- Bọn con lừa! - một viên chỉ huy khác, cấp bậc đại úy, bật cười và thúc ngựa lên trước.


Chúng tôi đứng trên gò đất, nơi có thể nhìn rõ các đại đội đang hành quân phía sau. Đội quân này được xác định bằng lớp bụi màu vàng đang cuộn lên dọc theo dải đất dài khoảng vài ba ngàn mét.


- Một quân số khủng khiếp, - tôi thầm thì. - Chứa vào đâu cho hết!


Một hồi kèn nổi lên,  đại đội tôi được chia làm bốn trung đội, chuẩn bị hành quân theo bốn hàng nối tiếp nhau. Các trung đội đầu tiên đi trước, còn chúng tôi đi sau. Tôi ngoảnh đầu lại, nhìn thấy là nếu tính từ đơn vị chủ lực thì vẫn còn hai đại đội nữa, đã rời hành lang, chạy qua cánh đồng, một bên tay phải, một bên tay trái chúng tôi. Chỉ mươi phút sau họ đã tiến ngang với chúng tôi, sau đó họ được nghỉ mười lăm phút. Còn chúng tôi và ba trung đội khác cứ thế đều bước.


Trong khi đó những tiếng nổ rền nghe mỗi lúc một rõ hơn, hai tiếng một, ba tiếng một, âm vang đồng thời. Tệ hại hơn là sau đó còn có tiếng vọng lại như kiểu bị kìm nén trong chốc lát, giống như tiếng sấm rền.


- Biết bao nhiêu là đạn hả anh em? - tôi hỏi bằng tiếng Đức viên hạ sĩ quan đi ngay sau mình.


- Có lẽ phải đến một trăm chứ không ít, - anh ta trả lời, đầu lắc lắc. Nhưng  anh ta nói thêm - Bắn khá đấy chứ, những tiếng nổ như được phát ra đồng thời.


Chúng tôi bị đẩy ra khỏi hành lang chính, nơi mà mấy phút sau có hai đơn vị kỵ binh của Hung cùng bốn khẩu pháo và xe đạn đi kèm  dùng làm đường hành quân. Những người đi cùng tôi trong hàng bắt đầu đưa tay lên làm dấu Thánh: Nhân danh Cha, Con và…” Nhưng có một người trong đám kỵ binh  lấy bi đông ra uống nước.


Bên trái chúng tôi lại vang lên một tiếng nổ lớn, những tiếng nổ riêng rẽ không còn phân biệt được nữa. Bỗng nhiên có tiếng kêu trong hàng quân phía trước:


- Bộ binh!Bộ binh!


Theo phản xạ, tôi vớ lấy khẩu súng, chuẩn bị tư thế sẵn sàng vì nghĩ bọn Áo đã xuất hiện. Nhưng phía trước chúng tôi, ngoài một ngọn đồi và mấy bụi cây thưa thớt, chẳng thấy có gì khác. Tuy nhiên trên nền những tiếng nổ mà lúc đó không còn là mối quan tâm của chúng tôi nữa, tôi nghe thấy tiếng ào ào như mưa rơi mau hạt, chỉ có điều là mạnh hơn rất nhiều.


- Đánh nhau rồi! - có tiếng ai đó kêu ở phía trước, giọng kéo dài.


Tôi cảm thấy tim mình ngừng đập trong chốc lát, không phải vì sợ mà là để trả lời cho hai tiếng đánh nhau  mà từ thời thơ bé đã gây cho tôi  ấn tượng rất kỳ lạ.


Trong đội ngũ chúng tôi, mặc dù đang lúc hành quân, đã có sự thay đổi, nhộn nhịp hơn, sôi động hơn. Người ta mang rượu vang ra mời nhau, người ta kiểm tra lại vũ khí, nói với nhau rằng cùng lắm thì cũng chỉ nửa giờ nữa là xung trận. Nhưng sôi nổi nhất vẫn là những câu chuyện tiếu lâm về quân Áo, đội quân chẳng lập được chiến công gì đáng kể trong thời gian gần đây. Ai đó còn bắt đầu huýt sáo, người khác hát khẽ, vẻ mặt nghiêm trang của các sĩ quan cũng biến mất dần, nhường chỗ cho những câu đùa hoàn toàn manh tính bạn bè. Không khí nghiêm trang chỉ trở lại khi có lệnh: Nghiêm, trật tự!“ để chấn chỉnh đội ngũ.


Chúng tôi yên lặng, sửa lại hàng ngũ cho ngay ngắn hơn. Trời trong veo, đây đó có một hai đám mây mỏng manh, nhỏ bé và hầu như đứng yên. Trên những bụi cây chúng tôi đi qua, lá cây không hề động đậy. Trên cánh đồng cỏ mới lên xanh, một con họa mi sợ quá im tiếng hót. Chỉ nghe rõ ràng nhất những bước chân nặng nề của đội quân đông đảo, tiếng thở gấp gáp của đoàn người, thỉnh thoảng có tiếng va nhau của vũ khí hay vang lên giọng nói sang sảng của viên thiếu tá đang đi phía trước khi ông ra lệnh gì đó cho các sĩ quan dưới quyền. Còn ở đằng kia, phía bên trái, đại bác vẫn gầm và đạn súng trường bắn hàng loạt như mưa. Làm gì có ai không nghe được cơn giông ấy giữa bầu trời trong, ngay cả những người thiếu thính giác âm nhạc, phải không Katzơ? Cậu có nhớ chúng ta đã có những cảm giác kỳ lạ như thế nào trong tim không? Không phải nỗi sợ hãi, mà là cái gì đó vừa tiếc lại vừa tò mò.


Các đại đội hành quân hai bên cánh cứ dần dần rời xa chúng ta,  cuối cùng cánh quân bên phải biến mất sau mấy quả đồi, còn cánh quân bên trái thì bỏ xa đến vài ngàn mét, chìm sâu vào  thung lũng mênh mông, chỉ còn nhìn thấy lưỡi lê lấp lánh như một cơn sóng lớn. Các đơn vị bộ binh và pháo binh Hung cũng tách dần ra, cả đơn vị dự bị cũng đi đâu mất, chỉ còn lại một mình đại đội chúng tôi, từ một ngọn đồi đi xuống để lại lên một ngọn đồi khác cao hơn. Thỉng thoảng từ mặt trận, từ phía sau hay phía cạnh sườn, có một kỵ binh mang lệnh ghi trên mảnh giấy hay truyền miệng đến cho viên thiếu tá. Thật  kỳ lạ khi chẳng thấy ông ta lúng túng tý nào trước ngần ấy mệnh lệnh!


Cuối cùng, khi ấy vào khoảng chín giờ, chúng tôi lên tới quả đồi cuối cùng có những bụi cây rậm rạp. Có lệnh mới: Các trung đội, trước hành quân theo đội hình nối đuôi nhau, giờ phải đứng cạnh nhau. Nhưng khi chúng tôi lên đến đỉnh đồi, chỉ huy lại ra lệnh cho cúi người và hạ thấp vũ khí để cuối cùng giống như đi bằng đầu gối.


Khi ấy (cậu còn nhớ không, hả Katzơ?), cậu Kratôkhvin, người quỳ trước chúng ta, đã rúc đầu vào giữa hai cây thông mới mọc và thầm thì:


- Các cậu nhìn kìa! Dưới chân đồi phía nam, xa xa phía chân trời có một thung lũng trải dài, còn trong lòng nó thì như đang cuộn chảy một dòng sông khói trắng rộng vài trăm bước chân, dài đến mấy dặm đường.


- Thành hàng một! - viên sĩ quan già hô.


Từ hai phía của dòng sông kỳ lạ đó có thể nhìn thấy mấy đám mây đen và mươi đám mây trắng bay là là mặt đất.


- Đây là pháo nổ, còn đằng kia là các làng mạc đang bốc cháy, - viên sĩ quan giải thích.


Nhưng nhìn kỹ hơn, có thể  thấy nơi này nơi kia, ở cả hai bên bờ dải khói dài, những vết màu đen ở bên trái, màu trắng ở bên phải. Trông chúng như những con nhím khổng lồ có bộ lông lóng lánh.


- Đây là các đại đoàn của ta, còn đây là các đại đoàn quân Áo, - một hạ sĩ quan nói. - Đấy, đấy! - ông ta nói thêm - chính ban tham mưu có khi không nhìn rõ.


Từ dòng sông khói dài mấy dặm đó liên tục vọng đến chỗ chúng tôi tiếng nổ của súng trường, còn từ những đám mây trắng - tiếng gầm gào của đạn pháo.


- Phì - lúc đó cậu đã nói đấy, Katzơ ạ - trận đánh là như thế này ư?Vậy mà mình đã sợ.


- Cứ chờ đấy,- viên hạ sĩ quan lẩm bẩm.


- Chuẩn bị vũ khí! - mệnh lệnh phát ra, truyền đi trong hàng quân. Chúng tôi quỳ xuống, bắt đầu lấy đạn ra. Tiếng lách cách của kim loại va nhau vang lên. Chúng tôi cho đạn vào súng và sự yên tĩnh trở lại như cũ.


Đối diện với chúng tôi, có thể là cách khoảng một cây số, có hai quả đồi, ở giữa là  khoảng trống. Tôi phát hiện ra rằng cái nền vàng vàng của nó có những cái biển màu trắng, nhìn kỹ thì chúng tạo ra một đường trắng, sau là cả một vệt trắng. Đồng thời từ  thung lũng nằm cách chỗ chúng tôi khoảng vài trăm bước chân về phía bên trái xuất hiện những người lính quần áo màu tím than, không bao lâu sau họ tập hợp lại thành một hàng màu xanh tím than. Đúng lúc đó, ở phía bên phải chúng tôi vang lên tiếng gầm của đạn pháo và trên đầu đơn vị quân phục trắng của Áo nổi lên một đám mây trắng bạc. Nghỉ một lát, lại có tiếng nổ, trên đầu lính Áo quân phục trắng lại có đám mây trắng bạc. Nửa phút sau - lại có tiếng nổ và một đám mây xuất hiện.


- Lạy Chúa! - viên hạ sĩ quan già kêu lên bằng tiếng Đức - quân ta bắn cừ quá. Không hiểu tướng Bem của Ba Lan,  có phép thần hay sao mà bắn giỏi vậy.


Từ lúc đó từ phía chúng tôi đạn cứ bắn hết loạt này đến loạt khác, tới mức mặt đất như rung lên và đám mây trắng ở khoảng trống  giữa hai quả đồi  mỗi lúc một to dần. Trên quả đồi phía xa nổi lên đám khói lớn và một quả đạn đỏ đang bay về phía đơn vị pháo của chúng tôi. Đám khói thứ nhất thứ hai thứ ba.


- Những con quỷ thông minh! - viên hạ sĩ quan làu bàu.


- Toàn đại đội! Xung phong! - viên thiếu tá chỉ huy chúng tôi hét lạc cả giọng.


- Tiểu đội! Xung phong! Trung đội! Xung phong! - các sĩ quan hạ lệnh bằng những giọng điệu khác nhau.


Chúng tôi lại được chuẩn bị theo phương án mới. Bốn trung đội ở giữa  chuyển xuống cuối hàng quân, bốn trung đội từ cuối chuyển lên đầu, bên phải và bên trái. Chúng tôi xốc lại ba lô, cầm vũ khí theo kiểu ai thấy thế nào cho tiện thì làm.


- Từ trên đồi các cánh  quân thành các gọng kìm đánh xuống! - Cậu đã nói thế đấy, Katzơ.


Đúng lúc đó, đạn bay ngay trên đầu chúng tôi và nổ phía sau, tiếng nổ chát chúa.


Khi đó trong đầu tôi đã thoáng qua một suy nghĩ rất đặc biệt. Phải chăng các trận đánh là những vở hài kịch mà quân đội tổ chức biểu diễn cho các quốc gia thưởng thức chứ chẳng làm hại ai? Bởi vì những gì mà tôi đang chứng kiến, nhìn có vẻ tuyệt vời, chứ đâu lấy gì làm khủng khiếp.


Chúng tôi xuống một khoảng không bằng phẳng. Một anh lính Hung chạy đến đơn vị pháo  chúng tôi thông báo rằng một khẩu pháo hỏng đã chữa xong. Đúng lúc đó có một quả đạn rơi ngay bên trái chúng tôi, nhưng không nổ, chỉ cày xuống đất.


- Chúng bắt đầu nhằm vào chúng ta rồi, - viên hạ sĩ quan già nói.


Quả đạn thứ hai nổ ngay trên đầu chúng tôi, một mảnh vỏ của nó rơi ngay dưới chân Kratôkhvin. Cậu ta tái mặt nhưng rồi lại cười được ngay.


- Ô hô hô - có tiếng cười vang trong hàng quân


Trong các trung đội hành quân phía trước chúng tôi khoảng một trăm bước chân, chếch về bên trái, tự nhiên thấy lộn xộn. Khi đoàn quân đi lên phía trước một đoạn, chúng tôi nhìn thấy hai người: một nằm úp mặt xuống đất, thẳng dẵng như  sợi dây, người thứ hai ngồi bệt xuống, hai tay ôm bụng. Tôi ngửi thấy mùi khét của thuốc súng. Katzơ nói nhỏ điều gì đó bên tai tôi, nhưng tôi không nghe rõ. Nhưng tôi lại thấy tai phải bị ù, giống như trong đó đang có mấy giọt nước to.


Viên hạ sĩ quan đi bên phải hàng quân. Chúng tôi tiến ngay sau ông ta. Đơn vị chúng tôi phát triển thành hai hàng dài. Cách chúng tôi vài trăm bước chân có một đám khói cuộn lên. Có tiếng kèn nổi lên, tôi không hiểu  tín hiệu đó lắm nhưng lại nghe rất rõ tiếng viu víu trên đầu và bên tai trái. Trước tôi mấy bước chân có tiếng vật gì đập xuống đất, đất cát bắn tung tóe vào mặt, vào ngực tôi. Người đứng cạnh tôi bóp cò súng, hai người đứng sau tôi gần như tựa súng vào vai tôi và người nọ tiếp người kia cứ thế bắn. Tai tôi điếc đặc. Tôi cũng bắn. Tôi nạp đạn, bắn tiếp. Trước tôi tự nhiên có cả súng và mũ của ai đó đều bị tung lên, nhưng vì xung quanh bao phủ lớp khói dày đặc nên tôi chẳng nhìn thấy gì hơn. Tôi chỉ thấy  Katzơ, trong khi bắn liên tục, trông như người bị lên cơn, hai khóe môi sùi bọt trắng xóa. Tai tôi mỗi lúc một ù nặng, đến nỗi  chẳng nghe được tiếng pháo nổ xa và tiếng súng trường bắn gần.


Cuôi cùng khói trở nên dày đặc, khó chịu tới mức tôi phải tìm đủ mọi cách để thoát ra khỏi phạm vi bao trùm của nó. Tôi đi giật lùi, lúc đầu còn từ từ, sau đó thì chạy, và lấy làm ngạc nhiên là những người khác cũng hành động tương tự như mình. Thay cho đội quân hai hàng thẳng tiến lúc trước,  giờ còn lại một đám người chạy trốn hỗn loạn. “Quỷ quái thật, tại sao họ chạy trốn?” - tôi nghĩ và chạy nhanh hơn. Đây không phải những bước chạy bình thường nữa mà là phi nước đại. Chúng tôi dừng lại ở lưng chừng đồi, ở vị trí này chúng tôi mới phát hiện ra một đại đội khác đã chiếm giữ khoảng trống bằng phẳng nơi chúng tôi vừa ở đó, còn  trên đỉnh đồi  pháo đang bắn xuống.


- Đội dự bị vào trận! Xung phong, lũ mất dạy! Chúng mày chỉ chăn lợn, bạn với mấy con chó là giỏi thôi! - mấy viên sĩ quan mặt đen nhẻm vì khói điên tiết quát mắng, sắp xếp chúng tôi trở lại hàng ngũ, dùng gọng kiếm nện vào người bất cứ ai đứng gần họ.


Không thấy viên thiếu tá đâu trong đám sĩ quan ấy.


- Bọn họ đi đâu vậy? - tôi hỏi viên hạ sĩ quan.


- À, cứ chạy lung tung thế, - ông ta trả lời, vẻ mặt ảm đạm.


Tôi không dám nghĩ rằng họ đã chết.


Từ trên đồi có hai lính đánh xe ngựa lao xuống. Mỗi người cưỡi một con ngựa đeo hai gói hàng hai bên sườn. Mấy viên hạ sĩ quan chạy ra đón họ, ngay sau đó họ quay trở lại, mang theo những  hòm đựng đạn. Tôi lấy tám viên vì thiếu đúng từng ấy trong băng đạn của mình và  cảm thấy vô cùng ngạc nhiên: Làm thế nào mà mình lại đánh mất?


- Cậu biết không, - Katzơ nói với tôi - hơn mười một giờ rồi đấy.


- Còn cậu có biết là tớ chẳng nghe thấy gì không? - tôi trả lời.


- Cậu ngốc thật . Chẳng gì thì cậu vẫn nghe được những gì tớ nói.


- Ừ, nhưng tớ không nghe thấy tiếng pháo nổ. Tất nhiên khi nào thật tập trung thì tớ vẫn nghe thấy… - tôi nói thêm.


Tiếng gầm của pháo và tiếng nổ của súng trường hòa vào làm một tạo thành tiếng ầm ĩ kéo dài, không làm đinh tai nhức óc nhưng làm đần người ra. Trong tôi nảy sinh  nỗi chán chường.


Trước mặt chúng tôi, có lẽ khoảng nửa cây số, có  đám khói cuộn lên và cơn gió bất chợt làm nó tản ra. Khi đó, trong chốc lát có thể nhìn rõ một hàng dài những đôi chân hoặc những chiếc mũ bên cạnh  rừng lưỡi lê sáng loáng. Phía trên hàng quân đó và phía trên hàng quân của chúng tôi, đạn vẫn nổ do có cuộc đọ súng giữa pháo binh Hung bắn từ phía sau chúng tôi và pháo binh Áo trả lời từ những quả đồi đối diện.


Dòng sông khói trắng kéo dài suốt dọc thung lũng, càng xuôi xuống phía nam khói càng cuộn lên mạnh hơn, mỗi lúc một thêm dày đặc hơn. Nơi quân Áo chiếm lĩnh độ cao, khói trắng dày đặc về phía trái, nơi quân Hung đóng quân, khói bốc mạnh về bên phải. Nói chung thì dải khói trắng nghiêng hơn về bên phải, vì có vẻ quân ta đã đẩy lùi phần nào quân Áo. Khắp vùng đất bằng phẳng là  làn sương mỏng màu xanh nhàn nhạt.


Có một chuyện lạ: Tiếng nổ, dù bây giờ mạnh hơn nhiều so với ban đầu, không gây cho tôi bất cứ ấn tượng đặc biệt nào. Để nghe được rõ, tôi phải chú ý lắng tai. Trong khi đó tôi lại nghe thấy rất rõ tiếng lắp đạn vào súng hoặc tiếng lên nòng.


Một viên trợ lý chạy đến, một loạt kèn nổi lên, các sĩ quan bắt đầu thay nhau diễn thuyết.


- Hỡi các chàng trai! - viên trung úy trực tiếp chỉ huy chúng tôi hét như sắp vỡ họng. Chúng ta đã bỏ chạy, vì bọn Đức đông hơn chúng ta, còn bây giờ chúng ta tấn công vào sườn chúng nó, đấy, vào cái hàng quân kia kìa, anh em có nhìn thấy không? Ngay sau đây chúng ta sẽ được đại đội ba và lực lượng dự bị hỗ trợ… Nước Hung muôn năm!


- Nhưng tôi muốn sống cơ, - Kratôkhvin lẩm bẩm.


- Quay sang phải, tiến lên!


Chúng tôi đi như thế trong mấy phút, sau đó quay bên trái nửa vòng và bắt đầu đi xuống đất bằng, cố gắng đến sườn bên phải của hàng quân đang đánh nhau phía trước.


Xung quanh vẫn là vùng lô nhô trước mặt, qua lớp sương mỏng, có thể nhìn thấy cánh đồng um tùm cỏ dại, sau cánh đồng là một khu rừng nhỏ.


Tự nhiên giữa những lùm cỏ dại đó tôi phát hiện ra một vài, sau đó là hơn chục đám khói nho nhỏ, giống như cánh đồng được điểm tô bằng những cái tẩu thuốc,  cùng lúc đó trên đầu chúng tôi có tiếng đạn bay viu víu. Tôi nghĩ những âm thanh phát ra do đạn bay mà các nhà thơ  hết lời ca ngợi té ra cũng không nên thơ đến thế, trong thực tế chúng thô kệch, khô khốc hơn nhiều. Có thể cảm nhận được nỗi bực tức của thứ đồ vật vô tri vô giác.


Đội quân đang xếp hàng một của chúng tôi tự nhiên đứt đoạn, chạy tán loạn về phía đồng cỏ. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục hành quân, cứ như những viên đạn bắn ra chỉ vòng qua đầu chứ không tìm tới mình.


Đúng lúc đó viên hạ sĩ quan già, đang đi bên phải hàng quân, hét to, bỏ súng, giang cả hai tay ra và lảo đảo như người say rượu. Trong mấy tích tắc tôi  nhìn thấy khuôn mặt ông ta: từ thái dương bên trái, lưỡi trai của cái mũ sắt bị vỡ một miếng và có một vệt đỏ trên trán. Chúng tôi vẫn tiếp tục đi bên phải hàng quân có một hạ sĩ quan khác thế chỗ, đây là một  gã trẻ tuổi tóc vàng.


Chúng tôi đã đuổi kịp hàng quân đang giáp trận và  thấy một khoảng trống giữa những đám khói ngăn cách chúng tôi với bộ binh Áo. Phía sau đội quân đó vẫn thấp thoáng một hàng dài những lính quân phục trắng. Đội quân đó cứ một, hai giây lại cao lên thấp xuống, còn rừng chân của nó thì loang loáng như đang duyệt binh.


Chúng dừng lại. Trên đầu chúng sáng loáng một dải kim loại, và khi dải kim loại này trải ngang ra thì tôi nhìn thấy  hàng trăm khẩu súng trường đang ngắm bắn về phía chúng tôi, óng ánh như những cây kim trên mẩu giấy. Sau đó khói bốc lên, có tiếng lách cách như tiếng dây xích sắt kéo qua các thanh sắt, còn trên đầu và xung quanh chúng tôi là  cơn mưa đạn.


- Dừng lại, bắn!


Tôi bắn lung tung, càng nhanh càng tốt, cốt sao tạo ra làn khói che khuất mình. Mặc dù có tiếng nổ inh tai, tôi vẫn nghe sau mình có tiếng gậy đập vào người; ai đó ngã phía sau tôi, trước khi ngã đã chạm người vào ba lô  tôi. Trong tôi trỗi dậy cả nỗi tức giận lẫn tuyệt vọng, tôi có cảm tưởng mình sẽ chết nếu  không giết chết tên địch vô hình trước mặt. Tôi nạp đạn, bắn theo phản xạ, trong đầu chẳng nhớ gì, chỉ hạ súng hơi thấp xuống và nghĩ một cách sảng khoái hoang dại rằng những viên đạn của mình sẽ bay trước tiên. Tôi không nhìn xuống chân, cũng chẳng nhìn sang bên cạnh, tôi sợ phải nhìn thấy ai đó đang nằm dưới đất.


Đúng lúc ấy có một cái gì đó  bất ngờ xảy ra. Ở gần khu vực chúng tôi đang đánh nhau bỗng vang lên tiếng trống và tiếng nhạc phát ra từ loại nhạc cụ hơi. Mà lại ngay sau lưng chúng tôi. Ai đó hét to: “Xung phong!” và tôi cũng không biết tiếng hét xung phong tương tự đã phát ra từ bao nhiêu lồng ngực, giống như tiếng kêu hay tiếng rống. Hàng quân bắt đầu chuyển động, lúc đầu chậm chạp, sau nhanh dần, cuối cùng là chạy. Tiếng súng hầu như lặng hẳn, chỉ những khẩu đơn lẻ thỉnh thoảng lên tiếng thưa thớt. Tôi phấn chấn ưỡn ngực cho chạm vào thứ gì đó, mọi người xô đẩy tôi từ bốn phía nên tôi cũng xô đẩy mọi người.


Đánh bỏ mẹ bọn Đức đi! - Katzơ hét lạc cả giọng,  xông lên phía trước. Nhưng vì không thể lách qua đám đông nên đành phải nâng súng cao lên và báng súng chạm vào ba lô  mấy người đứng trước.


Cuối cùng tình trạng chen chúc  lên tới đỉnh điểm, khiến tôi cảm thấy sắp vỡ ngực và nghẹt thở. Tôi bị nâng lên cao rồi thả xuống, sau đó  nhận ra là mình không đứng trên mặt đất mà ngồi trên vai một người. Anh ta còn nắm khư khư lấy chân tôi. Đúng lúc đó đoàn người đang sôi lên sùng sục lại tiến lên phía trước, còn tôi  bị rơi xuống đất. Tay trái tôi trượt trong vũng máu.


Bên cạnh tôi là một sĩ quan Áo còn trẻ, nằm nghiêng sang một bên, trên mặt hiện rõ những nét  quý tộc. Anh ta nhìn tôi bằng cặp mắt đen chứa đựng nỗi buồn khôn tả, thầm thì với tôi bằng  giọng khàn khàn:


- Không nên giẫm lên như thế! Người Đức cũng là con người…


Anh ta luồn tay xuống một bên sườn, rên rỉ nghe rất thảm hại.


Tôi chạy theo đoàn quân. Đồng đội của tôi đã lên đến đỉnh đồi, nơi pháo binh Áo trước đây chiếm giữ. Khi leo lên cho kịp đồng đội, tôi  nhìn thấy một khẩu pháo bị đổ kềnh, khẩu thứ hai vẫn còn cả ngựa đang bị quân ta vây quanh.


Tôi được chứng kiến cảnh tượng thật đặc biệt. Mấy người quân ta nắm lấy hai bánh xe của khẩu pháo, những người khác kéo gã đánh xe xuống khỏi yên. Katzơ lấy lưỡi lê đâm  một con trong cặp ngựa đầu, còn gã người Áo lại định dùng thanh sắt thông nòng pháo quật vào đầu cậu ta. Tôi nắm lấy cổ áo gã đánh xe, bằng một động tác gọn gàng quật hắn ngã xuống đất. Katzơ còn định cho thằng cha ấy một lưỡi lê.


- Cậu làm gì vậy hả thằng điên? - tôi quát lên, định giật lấy khẩu súng của Katzơ.


Khi đó cậu ta tức giận lao vào người tôi, nhưng viên sĩ quan đứng cạnh đã ngăn lại.


- Ai khiến ông chọc ngoáy vào chuyện này? - Katzơ hét vào mặt viên sĩ quan, nhưng ngay sau đó cậu ta như bừng tỉnh.


Hai khẩu pháo bị chiếm làm chiến lợi phẩm. Số còn lại do lính Hung chịu trách nhiệm. Cách chúng tôi khá xa quân ta hoặc đứng thành đám đông hoặc lẻ tẻ  bắn đuổi  quân Áo đang rút chạy. Thỉnh thoảng lại có một quả đạn của kẻ thù bắn lạc kêu viu víu trên đầu chúng tôi rồi cày xuống đất, làm tung lên một đám bụi. Đội kèn ra hiệu tập trung.


Khoảng bốn giờ chiều đại đoàn của chúng tôi được tập hợp lại, trận đánh kết thúc. Chỉ có ở chân trời phía tây thỉnh thoảng vẫn vọng lại tiếng pháo nổ lẻ tẻ, giống như tiếng sấm còn sót lại sau khi trận cuồng phong đi qua.


Một giờ sau, trên cả mặt trận rộng lớn, ở những điểm khác nhau, các ban nhạc của đại đoàn nổi nhạc khải hoàn. Một viên trợ lý phóng ngựa đến chỗ chúng tôi đem theo lời chúc mừng của cấp trên. Các tay kèn và trống đánh tín hiệu: Cầu nguyện. Chúng tôi bỏ mũ, nâng cao cờ to và cờ đuôi nheo, toàn quân, vũ khí chống cạnh chân, cùng cảm ơn Chúa đã phù hộ cho dân tộc Hung chiến thắng.


Khói tan dần. Ở bất cứ nơi nào mà tầm mắt với tới được, chúng tôi đều nhìn thấy những thứ giống như những mẩu giấy màu trắng và xanh tím than, vứt tứ tung trên những vạt cỏ bị xéo nát. Trên đồng vẫn còn mươi cỗ xe chạy vòng quanh và có những người nhặt các mẩu trắng, xanh đó cho lên xe. Những thứ khác vứt lại đó.


- Họ cũng có mục đích gì đó để sinh ra trên đời! - Katzơ tựa người lên súng thở dài, nỗi buồn man mác lại ngự trị trong lòng cậu ta.


Có lẽ đó là thắng lợi cuối cùng trong đời lính của chúng tôi. Từ thời điểm ấy những lá cờ có ba dòng sông chỉ tung bay trước mặt kẻ thù hơn là sau lưng chúng.


Sau khi biết như vậy, tôi và Katzơ đã quẳng kiếm xuống đất (cả hai sau đó đều trở thành sĩ quan), nói rằng từ nay nếu có bắn nữa thì chỉ bắn vào đầu mình. Riêng tôi, vì nhớ lại  bên Pháp còn có Napôlêông,  đã động viên Katzơ và cả hai bí mật trốn sang pháo đài Cômôrnô, trên bờ sông Đanuýp.


Suốt cả tháng chúng tôi dài cổ ngóng trông phép màu: từ Hung, từ Pháp, thậm chí từ trên trời rơi xuống. Nhưng cuối cùng pháo đài đã đầu hàng.


Tôi nhớ hôm đó Katzơ cứ quanh quẩn xung quanh kho đạn,  trên khuôn mặt có những biểu hiện giống như khi muốn dùng lưỡi lê đâm chết tên lính Áo đánh xe ngựa kéo pháo. Mấy người chúng tôi cùng xúm lại ôm lấy cậu ta, đưa ra khỏi pháo đài.


- Chẳng biết thế này là thế nào, - một trong số bạn của Katzơ thầm thì - thay vì nay đây mai đó với chúng tôi, cậu định lên thiên đàng một mình chắc? Ôi, Katzơ, lính bộ binh Hung đâu phải toàn những thằng hèn. Họ biết giữ lời hứa, thậm chí là lời hứa choảng nhau với bọn Đức.


Thế là nhóm năm đứa chúng tôi tách  khỏi quân đội, đập tan mấy khẩu súng dài, ăn mặc giả nông dân, giấu súng ngắn dưới áo quần và lên đường nhằm hướng Thổ Nhĩ Kỳ thẳng tiến. Tướng Haynau chỉ huy quân đội Áo đã cho cả người lẫn chó theo dấu  chúng tôi.


Hành trình của chúng tôi kéo dài trong ba tuần, vượt qua những chặng đường dài mà vẫn chưa nhìn thấy đích phía trước, vẫn phải băng qua những cánh đồng mênh mông. Dưới chân chúng tôi là bùn dày, trên đầu chúng tôi là mưa thu, sau lưng chúng tôi là đội quân truy đuổi, trước mặt chúng tôi - một cuộc đi đày không hẹn ngày về. Đó là tất cả những gì đang đồng hành cùng chúng tôi. Vậy mà chúng tôi vẫn vui.


Cậu Sapary lúc nào cũng nói rằng ông Côxutsơ, lãnh tụ khởi nghĩa của người Hung, nhất định sẽ nghĩ ra cái gì đó chứ chẳng chịu ngồi yên, còn Xtein thì tin chắc rằng Thổ Nhĩ Kỳ sẽ lên tiếng ủng hộ chúng tôi, Liptak than thở về chỗ ngủ và các món ăn nóng, còn tôi thì cam đoan rằng ai chứ Napôlêông nhất định sẽ không bỏ rơi chúng tôi. Mưa làm quần áo chúng tôi nhão ra như bơ. Chúng tôi lội bì bõm trong bùn sâu quá mắt cá chân, quần cứ ngắn dần, còn khi đi giày thì tai nghe phát ra tiếng kêu như chơi nhạc cụ. Dân chúng những nơi chúng tôi đi qua không dám bán sữa, thậm chí nông dân ở một làng nọ còn vác cả lưỡi hái và cào cỏ ra đuổi chúng tôi. Mặc dù vậy niềm vui vẫn đồng hành với chúng tôi và anh chàng Liptak, mỗi khi đi cạnh tôi, cứ tinh nghịch làm bùn bắn tung tóe, vừa thở hổn hển vừa hô:


- Hungari muôn năm! Chúng ta sẽ ngủ ngon nhưng phải chi có ly rượu vang ngâm từ quả mận mà uống để ngủ cho say nhỉ!


Trong nhóm mấy người lúc nào cũng vui vẻ nhưng rách rưới đến nỗi quạ nhìn thấy cũng bỏ chạy ấy, chỉ có Katzơ là nét mặt lúc nào cũng ủ rũ. Cậu ta hay ngồi nghỉ nhất và rất nhanh buồn. Đôi môi cậu ta phồng rộp lên, trong mắt có những tia nhợt nhạt.


- Tớ sợ  cậu ta sẽ bị bệnh viêm đường hô hấp và bệnh phổi, - có lần Sapary  nói với tôi như vậy.


Một ngày nọ, tôi cũng không nhớ chính xác nữa, gần sông Xava, chúng tôi tìm được một vùng dân cư thưa thớt, chỉ có mấy nóc nhà tranh, nhưng người dân thì hiếu khách lắm. Họ đón tiếp chúng tôi rất ân cần. Chiều đã xuống, chúng tôi đang buồn chán tới mức bẳn tính, nhưng nhờ có ngọn lửa hồng và chai vang mận mà những ý nghĩ vui nhộn đã trở về.


- Tớ xin thề, - Sapary nói - là chậm nhất  cũng chỉ đến tháng Ba thôi là lãnh tụ Côxutsơ sẽ gọi chúng ta vào hàng ngũ quân đội của ông. Bọn mình ngu ngốc quá, đi đập gẫy mấy khẩu súng dài.


- Cũng có thể trong tháng Mười hai này quân của Turêch rục rịch, - Xtein nói thêm. - Chỉ cần khắc phục được những tổn thất…


- Thôi đi các cậu! - Liptak rên rỉ, trở mình liên tục - tốt nhất là đi nằm ngủ cho khỏe, nếu không thì cả  Côxútsơ lẫn Turêch, chẳng vị nào đánh thức chúng mình dậy được.


- Chắc chắn là không đánh thức được rồi, - Katzơ làu bàu.


Cậu ta ngồi trên chiếc ghế đặt cạnh bếp lò, mắt nhìn chăm chăm vào ngọn lửa đang cháy, nét mặt buồn rầu.


- Katzơ này, chẳng bao lâu nữa cậu sẽ không còn tin vào lẽ công bằng của Chúa, - Sapary nói, đôi lông mày nhíu lại.


- Sẽ chẳng có lẽ công bằng nào cho những kẻ không biết hy sinh với khẩu súng trên tay đâu! - Katzơ hét to - Các cậu đã ngu ngốc, tớ đi theo các cậu lại càng ngu ngốc hơn! - Một anh Thổ hay ông Pháp nào đó túm gáy các cậu lôi đi chắc? Tại sao các cậu không biết nắm gáy họ lôi đi?


- Cậu ta đang lên cơn sốt đấy, - Xtein thầm thì. - Chúng ta sẽ khó xử với cậu ta khi đi đường…


- Đất nước Hungari! Không còn nước Hung nữa rồi! - Katzơ làu bàu -  Bình đẳng, chưa bao giờ có bình đẳng cả! Công bằng, sẽ chẳng bao giờ có công bằng! Con lợn cũng đầm trong bùn. Con người cũng lội bì bõm trong bùn… Nhưng con người làm việc đó với trái tim trong lồng ngực! Thưa ông Minxên, ông rất tốt với tôi, nhưng tôi sẽ không bao giờ cắt xà phòng thành bánh nhỏ ở cửa hàng ông nữa.


Tôi đoán rằng Katzơ đang bị ốm nặng. Tôi lại gần cậu ta, kéo về chỗ nằm và bảo:


- Lại đây, Auguxtơ, lại đây!


- Tớ sẽ đi đâu bây giờ? - cậu ta trả lời, tự nhiên có vẻ rất tỉnh táo. Sau đó cậu ta nói thêm:


- Người ta đuổi tôi ra khỏi nước Hung, mà tôi thì không có ý định đến với bọn Đức .


Nhưng cuối cùng Katzơ cũng ngoan ngoãn nằm xuống. Lửa trong lò đã tắt. Chúng tôi uống nốt số rượu vang còn lại và nằm thành một hàng, súng lục cầm sẵn trong tay. Gió lùa qua các khe hở của ngôi nhà tranh, tạo thành tiếng rên rỉ như cả nước Hung đang than khóc, khiến cho giấc ngủ  chúng tôi trở thành  cơn ác mộng. Tôi mơ thấy mình là một cậu bé trong ngày lễ Giáng sinh. Trên bàn, cây thông Noel được trang trí nghèo nàn như cuộc sống nghèo khổ của chúng tôi, còn quanh tôi: bố, cô, chú Rachếch và ông Đomanxki. Mọi người cùng hát một bài Thánh ca, nhưng hoàn toàn lạc điệu:


Chúa ra đời - mọi sức mạnh khác run rẩy trước Người.


Tôi tỉnh dậy, cố nuốt vào lòng nỗi xót xa về tuổi thơ  mình. Có ai đó cào vào vai tôi.


Thì ra đó là ông nông dân, chủ  ngôi nhà tranh chúng tôi đang trú nhờ. Ông dựng tôi dậy, chỉ tay về phía Katzơ, nói giọng hoảng hốt:


- Các anh xem đi, anh chỉ huy ơi… Anh kia có chuyện gì ấy…


Ông ta lấy một đoạn củi trong lò, thổi cho cháy thành ngọn lửa. Tôi nhìn kỹ. Katzơ nằm co quắp trong ổ, khẩu súng cầm tay vừa bắn đạn ra. Những tàn lửa bay lung tung trước mặt tôi, tôi có cảm tưởng mình đã ngất đi. Tôi tỉnh lại trong cái thùng xe ngựa mà chúng tôi  dùng để đi đến bờ sông Xava, một nhánh của sông Đanuýp, biên giới giữa Áo và Thổ Nhĩ Kỳ. Bình minh lên báo hiệu một ngày trời đẹp. Từ dưới sông,  luồng hơi nước bốc lên. Tôi lau mặt, điểm lại trong đầu các sự kiện đã qua… Trên xe chúng tôi có bốn người, kể cả anh đánh xe là năm. Lẽ ra phải sáu chứ! Tôi đưa mắt tìm Katzơ nhưng không thấy cậu ta đâu. Tôi không hỏi ai về cậu ta. Cổ tôi nghẹn lại vì sắp khóc và tôi nghĩ rằng mình sẽ  nghẹt thở. Liptak đang mơ màng ngủ, Xtein đưa tay chùi mắt, còn Sapary thì đưa mắt nhìn sang một bên, suốt dọc đường huýt sáo một giai điệu quen thuộc, chỉ có điều là nhầm lẫn lung tung.


Ôi, Katzơ, người anh em của tôi, cậu đã làm chuyện gì thế hả? Đôi khi tớ có cảm tưởng  ở trên cao ấy cậu đã tìm thấy cả lục quân Hung, cả cái trung đội đã bị tiêu diệt của cậu. Thỉnh thoảng tớ như vẫn nghe thấy tiếng trống rộn ràng, tiếng bước chân trong cuộc hành quân và tiếng ra lệnh: “Khoác súng lên vai!”. Khi đó tớ hay nghĩ là cậu, Katzơ ơi, đang đi đổi gác trước cổng thiên đàng. Vị chúa của người Hung sẽ thật không sáng suốt khi  chẳng nhận ra tài năng của cậu!


Nhưng tôi dài dòng quá rồi, xin Chúa thứ lỗi! Tôi đã nghĩ đến Vôkulxki mà lại viết về mình và về Katzơ. Bây giờ tôi xin trở lại câu chuyện chính.


Chỉ vài ngày sau khi Katzơ mất, chúng tôi  vào đến đất Thổ, và suốt hai năm sau đó, khi chỉ còn lại một thân một mình, tôi  lang thang khắp châu Âu. Tôi  ở Ý, ở Pháp, ở Đức, thậm chí ở Anh, nhưng dù ở đâu thì cái nghèo cũng nhằng nhẵng theo tôi mà nỗi nhớ đất nước luôn dằn vặt, cắn xé tôi. Đôi khi tôi có cảm tưởng  mình giống như người mất trí khi phải nghe hàng loạt những câu nói không phải bằng tiếng mẹ đẻ và nhìn thấy những khuôn mặt chẳng hề thân quen, những bộ quần áo không phải của dân tộc mình, đứng trên mảnh đất không phải của mình. Nhiều khi tôi muốn đánh đổi tất cả chỉ để được nhìn thấy một rừng thông, mấy mái nhà lợp rạ. Nhiều khi, giống như một đứa trẻ, tôi gọi to trong mơ: Tôi muốn về nước cơ! Và tỉnh dậy với đôi mắt đẫm lệ, tôi mặc quần áo thật nhanh,  chạy ra ngoài phố, bởi tôi có cảm giác con phố mình đang nhìn thấy nhất định là ở thành cổ Varsava hay là con phố Podvale quen thuộc.


Có lẽ tôi đã chết vì buồn chán, thất vọng nếu như  không thường xuyên nghe tin về Luđvich Napôlêông, người đã trở thành tổng thống, song vẫn nghĩ đến một nhà nước quân chủ. Tôi dễ dàng chịu đựng cảnh nghèo, quên đi nỗi khổ của mình khi  được tin về những thắng lợi của một con người có nhiệm vụ thực hiện di chúc của Napôlêông đệ nhất và mang trên mình sứ mệnh lập lại trật tự trên thế giới này.


Napôlêông đệ nhất, tuy trong thực tế,  không toại nguyện, song ông đã để lại một người con trai. Điều đó quý lắm. Ai mà xây dựng được cả  thủ đô Kracốp trong một sớm một chiều!


Cuối cùng, vì không thể chịu đựng thêm, tháng Mười hai năm 1851, sau nhiều ngày đi dọc theo Galixia, tôi đã đến vùng giáp ranh giữa công quốc Ba Lan và phần đất do người Nga chiếm giữ, đứng trong một ngôi nhà ở Tômasúp. Trong tôi lúc ấy chỉ có một ý nghĩ:


“Phải chăng cũng chính từ nơi này ta đã bị đẩy đi?


Tôi không bao giờ quên được  niềm vui được tận hưởng khi  nghe nói mình sẽ lên đường đi Zamôsơ. Thực ra thì trên chặng đường đó, tôi đã đi bộ nhiều hơn đi xe ngựa, song chính cái đó lại tạo cho tôi một niềm vui lớn.


Nhưng té ra tôi đến Zamôsơ để vào ngồi trong nhà tù của người Nga, không rõ vì tội gì. May nhờ tài bổ củi, tôi có cơ hội hàng ngày được ra ngoài tiếp xúc với không khí trong lành. Từ nhà tù tôi viết thư cho Ian Minxen và hình như  đã nhận được thư trả lời, thậm chí có cả tiền gửi kèm, nhưng cụ thể nhận như thế nào, số tiền là bao nhiêu thì tôi không nhớ rõ.


Nhưng tôi có cảm giác  Ian Minxen còn làm một việc khác nữa mà  đến khi chết ông không bao giờ nhắc tới, thậm chí chẳng bao giờ muốn động chạm trong các cuộc chuyện trò. Chả là ông đã tìm đến tất cả các vị tướng từng tham gia chiến dịch ở Hung, giải thích cho họ thấy họ có trách nhiệm giúp người bạn ông đang trong hoạn nạn. Và đúng là họ đã cứu được tôi, cho nên vào tháng Hai năm 1853 tôi  có thể trở về Varsava. Người ta thậm chí còn trả lại cho tôi chứng nhận cấp bậc sĩ quan, vật lưu niệm duy nhất mà tôi mang từ Hung về, ngoài hai vết thương trên người, một ở ngực và một ở chân. Danh hiệu sĩ quan cũng có cái hay của nó, vì nhờ có tý chức vụ mà tôi được các sĩ quan quân đội mời bữa trưa khá thịnh soạn, trong đó mọi người liên tục cạn chén chúc mừng bộ binh Hung. Từ đó đến nay, tôi luôn nói rằng mối quan hệ bền chặt, lâu dài nhất là các mối quan hệ được thiết lập trong chiến hào.


Tôi vừa rời khỏi căn phòng của mình, còn đang bơ vơ chưa biết phải đi đâu, làm gì thì có một người Do thái không hề quen biết xuất hiện trước mặt, đưa cho tôi một bức thư với bọc tiền. Tôi mở thư ra đọc:


“Ignaxư yêu quý của tôi! Tôi gửi cho cậu hai trăm zlôty tiền đi đường, có gì thì sau này chúng ta sẽ tính toán với nhau. Cậu hãy đến thẳng cửa hàng của tôi trên đường Ngoại vi Kracôp, chứ không phải đường Podvale bây giờ, thằng Franxơ mất dạy, danh nghĩa là em trai tôi, đang ở. Nó là thằng mất dạy, đến chó cũng chẳng muốn đưa chân cho nó bắt. Hôn cậu. Ian Minxen. Varsava ngày 16 tháng Hai năm 1953.


À mà này! Lão Rachếch, cái ông đã cưới bà cô của cậu ấy, cậu biết không, đã mất rồi, cả bà cô cũng thế, có điều là bà cô mất trước. Họ  để lại cho cậu một ít đồ đạc và mấy ngàn zlôty. Mọi thứ đều đang ở chỗ tôi, ổn cả, chỉ có điều cái áo choàng của bà cô bị mối xông một ít, vì mụ Kaxia trời đánh nhà tôi quên không cho thuốc chống mối vào. Franxơ gửi cậu những cái hôn. Varsava ngày 18 tháng Hai năm 1853”.


Chính cậu Do thái mang thư và tiền đến ấy đã dẫn tôi về nhà mình, giao cho tôi một bọc to gồm đồ lót, quần áo và giày dép. Cậu ta cho tôi ăn xúp thịt ngỗng, sau đó là món ngỗng nướng, tôi ăn no đến nỗi khi đến Lublin bụng vẫn còn căng. Cuối cùng cậu ta đưa  tôi một chai mật ong hảo hạng, dẫn tôi đến chiếc xe ngựa đang sẵn sàng khởi hành, thái độ hết sức chu đáo, nhưng lại không muốn nghe đến bất cứ lời đề nghị trả ơn nào.


- Thật xấu hổ nếu tôi đi lấy tiền của một người vừa bôn ba nước ngoài về như ông, - cậu ta cứ khăng khăng như vậy trước mỗi lời van nài của tôi.


Mãi đến khi tôi sắp ngồi lên xe để đi thì cậu ta kéo tôi sang một bên và sau khi nhìn quanh xem có ai nghe trộm không, mới thầm thì:


- Ông có tiền xu của Hung không? Nếu có tôi xin mua lại. Tôi trả giá cao đàng hoàng. Tôi cần mấy đồng xu đó để tặng con gái tôi. Sau năm mới dương lịch này nó đi lấy chồng…


- Tôi không có tiền xu đâu, - tôi trả lời.


- Ông nói thế nào chứ, ông vừa đi đánh nhau ở Hung về mà lại không có mấy đồng xu! - cậu ta tỏ ra hết sức ngạc nhiên.


Khi tôi đã đặt một chân lên xe, cậu Do thái ấy lại kéo tôi sang một bên.


- Hay ông có mấy thứ đồ vặt gì có giá trị một chút không? Chẳng hạn như nhẫn, đồng hồ, vòng đeo tay?Tôi xin thề là sẽ thanh toán sòng phẳng, bởi tôi mua cho con gái…


- Tôi không có mà, người anh em, tôi thề danh dự đấy.


- Ông không có thật à? - anh ta nhắc lại, hai mắt mở to. - Vậy ông lang thang bên Hung làm gì?


Chúng tôi lên đường, còn anh chàng Do thái vẫn đứng đó, hai tay ôm lấy cằm, lắc đầu nhìn chúng tôi thương hại.


Xe ngựa được thuê riêng cho tôi. Nhưng khi vừa tới đầu một con phố thì người đánh xe đã gặp cậu em trai đang có việc cần giải quyết ở Kraxnưxtav.


- Ông cho phép cậu ta đi cùng nhé, - anh đánh xe bỏ mũ khỏi đầu và nói với tôi. - Khi nào gặp đoạn đường xấu, cậu ta sẽ xuống chạy bộ.


Người đi nhờ liền lên xe. Trước khi đến cổng thành, một bà Do thái khoác cái bọc to tướng trên vai đã chặn xe lại và nói chuyện với người đánh xe, giọng the thé. Thì ra đây là bà cô ruột cậu ta, đang định đi Faixlavixe thăm đứa cháu bị ốm.


- Ông lớn cho phép bà cô tôi lên xe đi một đoạn… Bà ấy nhẹ thôi mà! - anh chàng đánh xe lại khẩn khoản.


Sau khi ra khỏi cổng thành, ở những điểm khác nhau trên đường nhựa, chúng tôi gặp thêm ba người bà con nữa của anh đánh xe, mỗi người đều có lý do để lên xe, còn anh ta thì mời lên vì một lý do chung là đi đường càng đông càng vui. Thế là họ đẩy tôi ngồi ngay trên trục dưới của xe, rồi họ giẫm lung tung lên chân tôi,  tra tấn tôi bằng  mùi thuốc lào rẻ tiền vô cùng khó chịu. Nhưng khổ nhất là bọn họ nói to, hơi một tý lại gào lên như những kẻ điên. Tuy vậy tôi sẽ không đánh đổi cái góc xe ngựa chật chội đóđể lấy một chỗ tiện nghi nhất trong chiếc xe ngựa có mui ở Pari hay trên một toa tàu lịch sự ở Anh. Bởi  tôi đang ở trong lòng đất nước.


Suốt bốn ngày đường, tôi có cảm giác rằng mình đang ở trong một  nhà thờ Do thái di động. Cứ sau mỗi đoạn đường lại có thêm một hành khách lên xe thế chỗ cho người vừa xuống. Khi gần đến Lublin thì một cái bọc to đùng và nặng đã dịch đến tận vai tôi. Chẳng hiểu phép màu nào  cứu tôi khỏi chết ngạt. Đến gần Kurôv thì chúng tôi phải dừng lại mấy tiếng đồng hồ trên đường nhựa vì cái hòm của ai đó thất lạc. Anh chàng đánh xe phải bỏ xe lại, cưỡi ngựa quay lại một  quán ăn. Suốt dọc đường còn lại tôi cảm thấy chiếc chăn đắp trên chân mình nặng như có mấy người ngồi lên.


Đến ngày thứ năm, trước lúc mặt trời lên, chúng tôi đã đứng trên đất Praga, bên bờ sông Vitxoa, một quận của thủ đô Varsava. Nhưng vì xe ngựa đông như nêm, cầu bắc tạm thì yếu, nên phải đến khoảng mười giờ trưa chúng tôi mới vào được thành phố Varsava. Tôi phải nói thêm rằng tất cả những người đồng hành của tôi đã biến mất như ête trước khi tới phố Bednarxka, chỉ để lại cho tôi một thứ mùi nằng nặng. Nhưng khi thanh toán tiền xe, tôi có ý nhắc đến họ thì anh chàng đánh xe trợn mắt nhìn tôi:


- Hành khách nào cơ? - anh ta tỏ ra ngạc nhiên. - Chỉ có mình ông lớn là khách thôi, còn những người kia - tầm gửi hết. Khi chúng ta đứng trên góc phố, một vị quan chức còn gửi lên xe hai người quen và bỏ túi mấy zlôty tiền cảm ơn của họ. Ông lớn nghĩ họ là khách đi xe của tôi ư?


- Vậy là không có thêm bất cứ hành khách nào? - tôi nói - Quỷ quái thật! Thế mà lại có mấy con bọ chó cắn tôi gần chết!


- Có thể do trời ẩm quá! Tôi cũng không biết nữa, - anh chàng đánh xe trả lời.


Bằng cách đó, tôi đành phải tin rằng trên xe chẳng có ai ngoài tôi, cho nên chỉ  mình tôi phải trả tiền xe cho cả chặng đường dài, và điều đó làm  anh chàng đánh xe ít nhiều cảm động, đến mức sau đó khi hỏi tôi sẽ ở đâu, anh ta hứa sẽ mang đến cho tôi, hai tuần một lần, một ít thuốc lào buôn lậu.


- Thậm chí ngay bây giờ, - anh ta thầm thì - tôi đang có trong xe đến mấy chục cân. Hay là lấy cho ông lớn một ít.


- Quỷ tha ma bắt nhà anh đi! - tôi vừa làu bàu vừa cầm vội  bọc hành lý của mình. - Chỉ  thiếu nước đó thôi để tôi bị tóm ngay vì tội buôn lậu đấy.


Tôi vừa chạy nhanh qua mấy phố và kịp quan sát cái thành phố mà sau những ngày ở Pari, tôi có cảm tưởng rằng nó bẩn hơn và chật chội hơn, con người ảm đạm hơn. Cửa hàng của Ian Minxen trên đường Ngoại vi Kracôp không đến nỗi khó tìm như tôi nghĩ. Khi nhìn thấy những cảnh tượng và tấm biển quen thuộc, tim tôi bắt đầu đập mạnh, đến mức  phải dừng lại nghỉ một lát.


Tôi ngước mắt nhìn cửa hàng, hầu như tất cả vẫn như hồi còn ở đường Podvale. Ngoài cửa treo một thanh kiếm trong  vỏ bằng tôn, một chiếc trống (có thể vẫn là cái trống hồi bé tôi  nhìn thấy), trên cửa sổ bày mấy cái đĩa, một con ngựa và anh chàng Côdắc nhảy nhót. Ai đó hé cửa ra và tôi nhìn sâu vào bên trong, thấy treo lủng lẳng dưới trần nào là thuốc nhuộm đựng trong bong bóng, nút chai đựng trong túi lưới, thậm chí có cả con cá sấu nhồi bông. Sau bàn, cạnh cửa sổ, Ian Minxen ngồi trên chiếc ghế bành cũ, kéo dây cho anh chàng Côdắc nhảy nhót lung tung.


Tôi bước vào phòng, người run bần bật và đứng ngay trước mặt Ian. Khi nhìn thấy tôi (anh chàng này đã bắt đầu phệ ra), Ian nặng nề đứng dậy khỏi ghế, chớp chớp mắt. Bỗng dưng anh quát to về phía câu nhân viên đang làm trong cửa hàng:


- Vixếch đâu! Chạy ngay xuống bảo cô Malgogiata là đám cưới sẽ được tổ chức ngay sau lễ Phục sinh.


Sau đó anh đưa cả hai tay về phía tôi và hai người ôm hôn nhau cạnh bàn hồi lâu, không nói câu nào.


- Mà cậu cừ đấy, choảng nhau hẳn với bọn Đức cơ à? Tôi biết, tôi biết hết, - anh nói nhỏ vào tai tôi - Ngồi xuống đi! - Ian nói thêm, chỉ tay về phía một chiếc ghế. - Kadích đâu! Chạy ngay xuống chỗ bà! Cậu Giexki đã về!


Tôi ngồi xuống ghế, chúng tôi lại chẳng nói với nhau câu nào. Ian chỉ lắc đầu với vẻ đau khổ, mắt nhìn xuống. Cả hai chúng tôi nghĩ về Katzơ và về những niềm hy vọng nay đối với chúng tôi đã trở thành thất vọng. Cuối cùng Ian Minxen đưa tay lau mũi, động tác mạnh đến mức phát ra tiếng sột soạt nghe rõ mồn một và quay về phía cửa sổ, giọng thầm thì:


- Thế nào, ở đó ra sao?


Cậu Vixếch quay về, đứng thở hổn hển. Tôi thấy trên áo cậu ta  mấy vết mỡ lóng lánh.


- Mày đến đó chưa? - Ian Mixen hỏi


- Dạ, con đã đến. Cô Malgôgiata bảo tốt thôi.


- Cậu cưới vợ à? - Tôi hỏi Ian.


- Phì! tớ biết làm sao được! - Ian trả lời.


- À, thế còn bà, sức khỏe thế nào?


- Thì vẫn thế mà. Bà chỉ ốm khi người ta đánh vỡ cái bình đựng cà phê của bà.


- Còn Franxơ?


- Đừng nói đến cái thằng mất dạy ấy nữa, - Ian Mixen nói, cả người rung lên. - Hôm qua tôi đã thề sẽ không bước chân đến cửa nhà nó…


- Cậu ta đã làm gì nghiêm trọng à? - tôi hỏi.


- Cái thằng người Đức đê tiện ấy lúc nào cũng mỉa mai Napôlêông… Nó bảo ông ta nuốt lời hứa, rằng ông ta chỉ là anh chàng hát rong, chỉ đáng để mấy con đại bàng ỉa lên mũi. Không! - Ian Mixen nói - loại người này tôi không thể đội trời chung…


Suốt trong thời gian chúng tôi nói chuyện với nhau, hai cậu nhỏ và một nhân viên bán hàng tiếp khách, thậm chí tôi không để ý đến họ. Bỗng nhiên cửa sau mở và từ sau mấy cái tủ, một bà cụ hiện ra, váy vàng trên người, bình sứ trên tay. Bà hỏi ngay bằng tiếng Đức:


- Chào con, con trai của ta, cà phê đã sẵn sàng đây rồi.


Tôi chạy lại, cúi xuống hôn đôi bàn tay khô khốc của bà, xúc động quá, không thốt được ra một lời nào.


- Ignaxư, lạy Chúa, Ignaxư! Con đi đâu lâu thế hả Ignaxư yêu quý của bà? - bà nói, ôm lấy tôi.


- Ôi, bà biết thừa là cậu ấy đi đánh nhau còn gì nữa. Giờ bà lại hỏi cậu ấy đi đâu! - Ian ngắt lời bà.


- Lạy Chúa, vậy con chưa uống cà phê phải không?


- Dĩ nhiên là cậu ấy chưa uống rồi, - Ian trả lời thay tôi.


- Chúa ơi, mười giờ trưa rồi còn gì.


Bà rót cho tôi một cốc vại cà phê, đưa cho tôi ba cái bánh mì tròn và biến mất như thường lệ.


Lúc này cửa chính mới mở ra, Franxơ Minxen ào vào, kéo theo một tiếng động mạnh. Cậu ta còn béo hơn và hồng hào hơn cả ông anh.


- Ôi Ignaxư, thế nào, có khỏe không? - cậu ta nói to,  sà vào vòng tay tôi.


- Đừng ôm hôn cái thằng mất dạy, nỗi xấu hổ của dòng họ Minxen nhà tôi đấy! - Ian bảo với tôi.


(còn tiếp)


Nguồn: Búp bê. Tiểu thuyết của nhà văn Balan: Boleslaw Prus. Nguyễn Chí Thuật dịch từ nguyên bản tiếng Balan. NXB Phụ nữ, quý I-2017.


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »