tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20782348
Lý luận phê bình văn học
25.09.2017
Trần Mạnh Hảo
Đừng múc cạn nỗi buồn, tập thơ hay hiếm có!



Viết về tập thơ của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh. NXB Hội Nhà văn, 2008


Vừa qua, có một nhà thơ trẻ gọi cho tôi: “Chú ơi, chú đã viết bài khen thơ hai nữ thi sĩ Nam Kỳ là Cát Du và Đinh Thị Thu Vân, còn một tài năng thơ quê Long An là Nguyễn Thị Ánh Huỳnh sao chú bỏ quên không viết bài khen ngợi?”. Tôi trả lời: “Chú mới chỉ đọc được chừng hơn chục bài của Ánh Huỳnh in trên báo mạng, khi nào chị ấy in tập thơ, có thể chú sẽ viết”. Nhà thơ trẻ kia ngạc nhiên quá, trách tôi thờ ơ với thời cuộc văn học, rồi ngay lập tức, anh cho người xe ôm chuyển đến nhà tôi tập thơ “Đừng múc cạn nỗi buồn” (NXB Hội Nhà Văn 2008, 50 bài) của nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh. Tôi đã đọc ngấu nghiến tập thơ này, rất thích và viết bài ngay.


Đọc xong tập thơ của Ánh Huỳnh, tôi rất buồn vì nước ta nhìn chung, hầu như thiếu nhà phê bình có con mắt xanh, toàn là một thứ bốc thơm nhau vô tội vạ. Ánh Huỳnh làm thơ tự do, ít khi có vần. Thơ chị hầu như bài nào cũng có tứ hàm súc, ẩn chứa tư tưởng sâu xa, có nhiều câu hay đến giật mình như khi chị viết về mùa thu, hay đến mức ít có thi sĩ nào viết về mùa thu hay thế: “Thương lá vàng làm con ở mùa thu”.


Hầu như tôi chưa từng được đọc một tập thơ nào trong vòng 40 năm nay lại cuốn hút như “Đừng múc cạn nỗi buồn”. 50 bài thơ trong tập toàn từ khá tới hay, hầu như không có bài dở. Xin trích bài thơ đầu tiên của tập:


TỪ GIẤC NGỦ SINH RA


Có phải trời theo gió leo vào mũi con


Đất hóa thành cơm chui vào bụng con


Sông nước mượn cơn khát chảy vào máu thịt con


Nên khi con nhắm mắt


Vẫn nhìn rõ bầu trời


Khi con ngủ say


Vẫn sờ được tay vào sông vào bể


Con là hạt ủ mầm trong lòng mẹ


Con là chồi vươn tự khoảng trời cha


Cái con nhìn thấy khi thức


Nhỏ hơn nhiều lần từ giấc ngủ sinh ra!


Ánh Huỳnh gói tư tưởng mình vào cảm xúc để nó bừng lên ở hai câu cuối, rất thăng hoa: “Cái con nhìn thấy khi thức/ Nhỏ hơn nhiều lần từ giấc ngủ sinh ra”.Chao ôi, con có thể đi hết cái thế giới của thực tại, của ý thức, nhưng con không bao giờ đi hết được thế giới trong giấc mơ của mình. Hình như chúng ta được sinh ra từ giấc mơ của Chúa Trời, từ giấc mơ của cha mẹ? Ánh Huỳnh, thi sĩ thoát thực tại và được sinh ra từ giấc mơ thi ca.


Chúng tôi xin trích nguyên một bài thơ cuối cùng của tập “Đừng múc cạn nỗi buồn”:


KIẾP TRƯỚC MÙ TĂM


Đôi khi khùng


em ước


treo cổ lên cọng cỏ


như một giọt sương


sướng nhá


em long lanh


tan ra


cho chồng con kiếm tìm chơi


lại hoảng


vì trước khi hóa giọt sương


em chưa rửa chén


làm người


thật khó bốc hơi


chuồn khỏi thế giới này


em, con bé lá vàng mặc quần áo đất


chơi trốn tìm với gió


rên rỉ hồn thu


ú… u...


có khi tỉnh queo


kiếp trước mù tăm


tai em thành hang dế


ai kêu trong đầu mình


những tiếng ngàn xưa


rích...rích...


buồn quá


đành phải vui


ai đang hát


yêu đi yêu đi


nhạt miệng kinh khủng


thử lấy tay nắm tóc


tự kéo mình lên khỏi thế giới


để làm gì


em không biết!


Ánh Huỳnh viết bài thơ này rất hiện đại, có phần đùa chơi, thậm chí nhí nhảnh con cá cảnh, nhưng quả tình sâu sắc, khiến người đọc buồn vui giật thót. Bài thơ này là phong cách đặc biệt Ánh Huỳnh, không hề giống ai, và không ai bắt chước được lối thơ có vẻ cà rỡn này của chị. Siêu! Dường như chị bị đời sống thường ngày dồn tới chân tường, muốn thét mà không thể thét, muốn la mà không thể la, muốn khóc mà không thể khóc, muốn chết quách cho xong mà không thể chết: một cái tức cười nghèn nghẹn, đùa tếu mà đau thương mới thốt ra giọng điệu thơ này: “buồn quá/ phải đành vui”. Chị than: “Làm người/ thật khó bốc hơi”. Nhưng nhà thơ ạ, chị đã bốc hơi thành thi ca và phả sương mù vào làm cay khóe mắt người đọc. Tư tưởng của bài thơ là tư tưởng mù tăm - một khóe cười rơm rớm nhân sinh.


Thơ Ánh Huỳnh có cấu tứ rất chặt, lối cấu tứ của ngẫu nhiên hứng khởi không phải cấu tứ của ý thức. Dường như mạch thơ đã nằm sẵn trong tâm hồn chị, như nham thạch trong đất ứ đầy phụt lên núi lửa, nên rất khó trích, đành để nguyên cả bài thơ giữa tập này để bạn đọc thưởng lãm:


BÌM BỊP KÊU THƯƠNG


ai bịp mày chim ơi


mà bìm bịp suốt đời


hay sông Vàm Cỏ bỏ mày


đi lấy vợ


hay Đồng Tháp Mười bỏ mày


đi lấy chồng


bìm bịp


tiếng chim kêu


làm góa cả buổi chiều


cho chị ngủ nốt đêm Cần Đước


kêu thương chi cho đau lòng nhau


bật máu cây trạng nguyên


đốt cháy tán bàng


cứ bíp bịp hoài


chị không về Sài Gòn đặng


sợ chồng ghen


có ai lại lấy tiếng chim bìm bịp làm chồng?


thôi chị phải bỏ đi


không dám ngủ trọn một đêm với tiếng kêu thương


tiếng chim có bùa ngải


bìm bịp bìm bịp…


tiếng kêu vò xé cả trời


nghe chim


có thể chết người


như không!


Ánh Huỳnh có lẽ là nhà thơ viết hay nhất về chim bìm bịp. Bài thơ như một tác phẩm thi ca kỳ lạ, chặn hết lối của nhà bình thơ, không còn cách gì khen chê được nữa. Đọc bài thơ mà mắt rơm rớm. Cái rơm rớm hơn mọi lời bình. Ôi chao là những câu thơ rớm máu:


ai bịp mày chim ơi


mà bìm bịp suốt đời


hay sông Vàm Cỏ bỏ mày


đi lấy vợ


hay Đồng Tháp Mười bỏ mày


đi lấy chồng


bìm bịp


tiếng chim kêu


làm góa cả buổi chiều


cho chị ngủ nốt đêm Cần Đước


kêu thương chi cho đau lòng nhau


bật máu cây trạng nguyên


đốt cháy tán bàng.


Hình như Ánh Huỳnh có nuôi một con chim bìm bịp trong hồn. Một hôm nó bay ra và đậu lên trong giấy. Và trang giấy chợt bật khóc nghẹn ngào. Tác giả bài thơ sợ tiếng chim kêu ma ám quá, sợ chồng ghen, đành bỏ chạy khỏi đêm Cần Đước:


cứ bịp bịp hoài


chị không về Sài Gòn đặng


sợ chồng ghen


có ai lại lấy tiếng chim bìm bịp làm chồng?


thôi chị phải bỏ đi


không dám ngủ trọn một đêm với tiếng kêu thương


tiếng chim có bùa ngải...


Không hẳn tiếng chim bắt hồn mà thơ chị có bùa ngải. Hình như cả tập thơ này đều ám ảnh bởi tiếng chim bìm bịp kêu thảm khốc, khiến nhà thơ mất hết hồn vía, sợ chồng ghen! Thế này, ai mà là chồng nữ sĩ phải chấp nhận sự lãng mạng này: cái gì đã lọt vào mắt và thơ chị, cái đó bị Ánh Huỳnh hóa, bị thi ca hóa, bị cuồng si hóa. Nghe tiếng chim kêu trong đêm mà phải bỏ chạy về Sài Gòn thì trên đời này, chỉ có nữ thi sĩ quê Cần Đước Long An thôi! Sợ vãi!


Trong thơ mình, chủ thể xưng ngôi thứ hai là chị, xưng là vợ, xưng là em, xưng là mẹ… có thể là chính tác giả mà có khi không phải là tác giả. Ngôi thứ nhất trong thơ chị, chìm đi, nhòe đi, nửa hư nửa thực hiện ra hình ảnh một người đàn bà sống cam phận, gần như một nô lệ tại gia, trong cảnh chồng chúa vợ tôi, có ông chồng (ông xã, ba sắp nhỏ) ghen trời thần đất lở. Tiếng thơ chị cũng là tiếng kêu than đòi quyền sống của người đàn bà, nói gọn lại là đòi nữ quyền, đòi quyền được đối xử dịu dàng, đả đảo mọi sự thô bạo. Chưa có nhà thơ nữ nào trong đời như chị, thèm sự dịu dàng như bóng đêm thèm ban mai. Cả thế giới này, chẳng lẽ không ai đem đến cho chị sự dịu dàng hay sao mà lời thơ chị lại nghẹn ngào dường này, như một kẻ ăn mày sự dịu dàng của cả loài người. Xin bạn đọc đừng làm bay mất sự dịu dàng khi đọc bài thơ “Dịu dàng ơi” của Ánh Huỳnh:


DỊU DÀNG ƠI


Dịu dàng quá dịu dàng không chịu nổi


(Olga Bergon)


Se sẽ thôi ba của sắp nhỏ ơi


Vì ngoài kia hoa quỳnh đang nở


Tươi tỉnh lên ba của sắp nhỏ ơi


Vì ngoài thềm ánh trăng đang tỏ tình với hoa lài


Rạo rực lên ba sắp nhỏ ơi


Vì ngoài đại dương lưỡi sóng đang liếm cát


Thảnh thơi lên ba của sắp nhỏ ơi


Vì trên mái nhà ta trời dịu dàng đang ôm đất


Từ từ thôi ba của sắp nhỏ ơi


Vì ngoài sông phù sa đang hoài thai...


Ôi sự dịu dàng


Có thể biến sư tử thành nai


Thiếu sự dịu dàng


Con nai trong nhà ta có khi thành sư tử


Tôi được hưởng sự dịu dàng trong giấc ngủ


Của người đàn ông ảo không rõ mặt


Ba của sắp nhỏ ơi


Đừng ghen với kẻ hào hoa cuối cùng đang đợi để galăng tôi


Kẻ đó có tên là Đất


Để chết rồi tôi được dịu dàng ôm…


Ánh Huỳnh làm chúng ta bất ngờ vô cùng ở câu kết: “Để chết rồi tôi được dịu dàng ôm”. Hóa ra sự dịu dàng của mẹ đất là sự dịu dàng đời đời sẽ được ôm ấp người phụ nữ bất hạnh; sự dịu dàng của nỗi tủi thân ôm phận người ngủ say dưới nấm cỏ. Nói cho cùng, đất và cỏ mới chính là tình nhân vĩnh hằng, là người chồng muôn thuở của thi ca chị. Cám ơn người đàn ông ảo nào đó đã đi về trong giấc mơ để ban tặng nữ thi sĩ món quà của Chúa Trời là sự dịu dàng vô tận trong cuộc đời thô bạo, bỗ bã hố hầm này.


Người đàn bà trong thơ Ánh Huỳnh hi vọng sinh ra để được “sướng muốn chết”:


SƯỚNG MUỐN CHẾT


Anh bảo em:


- Má mày lấy tao sướng muốn chết!


- Không lấy tao chắc giờ này bán vé số!


Ngày ấy không gặp anh


Em vẫn là con chim manh manh


Lẻ loi đậu tít cành chanh


Lấy chồng như lấy mảnh sành đứt tay…


Lấy chồng sướng muốn chết


Làm mẹ ba đứa nhỏ sướng muốn chết


Thành bà nội được làm ôsin sướng muốn chết


Sướng muốn chết khoảng trời xanh sau bếp


Mưa cho suối chảy trong nhà


Có khi trời xuống la đà nồi niêu


Sướng muốn chết mùi dạ lan hương ngạt thở


Ăn ở với cà với dưa


Đẻ ra mắm muối mà chưa biết tình


Sướng muốn chết đàn ông dạy vợ


Thương lá vàng làm con ở mùa thu


Đám mây muốn chết thành mưa


Tự dưng chim hót tưởng chưa có chồng…


Có cảm tưởng như Hồ Xuân Hương tủi phận hóa thân thành Ánh Huỳnh khiến ngòi bút chị bỗng cay đắng vô vàn, tủi phận vô vàn: “Ăn ở với cà với dưa/ Đẻ ra mắm muối mà chưa biết tình”. Tiếng kêu đòi quyền làm một người đàn bà đích thực luôn dằn vặt, vò xé tâm hồn nữ sĩ. Chị là “lá vàng làm con ở mùa thu”! Cái đẹp của tàn tạ, của héo úa vẫn có lúc le lói trong thơ chị thành niềm lạc quan, dù là lạc quan tếu, đọc lên mà xót xa, mà mủi lòng:


“Đám mây muốn chết thành mưa


Tự dưng chim hót tưởng chưa có chồng…”


Nhờ nữ sĩ, ta mới biết đám mây chết hóa thành mưa; và chia vui với chị, dù trong cái bếp khói um, tiếng chim vẫn lọt vào rủ rê chị về cái thuở “chưa có chồng”, cái thuở chị được quyền ngoại tình với cả trời đất, như trong bài thơ lục bát rất Nam Kỳ, rất Ánh Huỳnh, rất hay như sau:


NGƯỜI ĐÀN BÀ VIỄN CHINH


Có ai đang đi ngoài kia


Vào đây chút để tôi chia muộn phiền


Bàng hoàng cơn gió nổi điên


Xé tan tành đám mây thiền trời xanh


Tôi ngồi dưới mái nhà tranh


Mà tâm hồn chạy loanh quanh ngoài đường


Chồng tôi bảo tôi đáng thương


Chuyện nhà lo ít muôn phương lo nhiều


Tôi không nói cũng lắm điều


Hồn tôi như một con diều đứt dây


Tại trời xanh hút lòng cây


Giấc mơ cũng bị trời gây phiền hà


Lại còn chim bướm còn hoa


Lá vàng dụ dỗ tôi ra khỏi mình


Hồn tôi là cuộc viễn chinh


Người chung thủy thích ngoại tình thiên nhiên.


Xin chào người đàn bà viễn chinh, người đàn bà phải lòng với tất cả, “ngoại tình với thiên nhiên”. May mà cái thế giới ảo trong tâm hồn người đàn bà này vẫn còn nguyên cả thiên nhiên trinh bạch, còn nguyên chàng gió, còn nguyên trời xanh cứu rỗi. Ta tìm thấy một tuyên ngôn thơ tuyệt vời của nữ sĩ:


“Hồn tôi như một con diều đứt dây”


Chỉ có gió mới ghen với con diều đứt dây này mà thôi. Không một người thực tại nào đuổi bắt được tâm hồn “đứt dây” của chị, dù người ấy là “ba sắp nhỏ” đi chăng nữa.


Không phải trai hay ông râu xồm râu quặm nào rủ rê nổi người đàn bà này bỏ bếp núc, bỏ chồng con đi bụi, mà chính chàng “Sở Khanh” có tên là “lá vàng” dám lẻn đến rủ rê tâm hồn chị đi ngoại tình với mùa thu. Đây cũng là một tuyên ngôn thơ thú vị của Ánh Huỳnh:


“Lá vàng dụ dỗ tôi ra khỏi mình”


Một câu thơ hay tuyệt. Trời ơi, chỉ một chiếc lá vàng rơi đã “dụ dỗ” được chị ra khỏi hồn mình phiêu du với anh gió, với chị mây. Hình như thân xác ta càng bị kẻ khác dồn vào bế tắc cùng đường thì tâm hồn ta càng tìm mọi cách tự giải thoát mình ra khỏi hoàn cảnh, càng thích phiêu du với trăng sao sông nước. Cám ơn Trời Phật, cám ơn Chúa đã ban cho ta linh hồn biết bay nhảy khắp vũ trụ, biết tìm thấy sự an ủi của tha nhân, dù là tha nhân ảo như thơ Ánh Huỳnh đã tìm được tri âm tri kỷ lá vàng.


Người đàn bà trong thơ Ánh Huỳnh đã tìm ra hạnh phúc ngay trong nỗi bất hạnh hôn nhân. Bài thơ “Trăng sừng bò” là bài thơ tình hay một cách hóm hỉnh, cái hay của tiếc nuối thời con gái, chấp nhận tàn phai vì chồng con, hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Xin trích cả bài:


TRĂNG SỪNG BÒ


Anh bảo em:


ngước mắt lên dòm buổi tối trên đầu


trăng sừng bò nằm trên nhà ta


ôi trăng sừng bò


anh đã yêu em bởi vầng trăng vểnh ngược


con bò đi chơi


chỉ để lại cặp sừng


em


nghênh đêm


anh ơi


ngày xưa ta chớm đôi mươi


anh với tay lên trời


bẻ trăng sừng bò xuống


cho các con anh bú


giờ chỉ còn trăng


không phải sừng bò!


Bài thơ là một niềm vui sống nơi người đàn bà của chịu đựng, của bếp núc, của chén bát nồi niêu, nhọ nồi khói bếp. Thật bất ngờ câu thơ:


anh với tay lên trời


bẻ trăng sừng bò xuống


cho các con anh bú


Người đàn bà đã mang vầng trăng sừng bò thiếu nữ trên ngực mình, đặng dâng hiến cho chồng con, làm thiên chức phụ nữ. Cái dáng “anh” trong bài thơ thật ngạo nghễ, thật phi thường: “bẻ trăng sừng bò xuống/ cho các con anh bú”.Ôi chao, người đàn bà cao lớn như vũ trụ, như thiên nhiên, dùng vú trăng nuôi nấng các hài đồng. Để mấy chục năm người đàn bà ngó xuống: “giờ chỉ còn trăng/ không phải sừng bò”. Cám ơn những người mẹ đã nuôi lớn cả loài người bằng cả tâm hồn mình từng cong vút hai sừng bò sự sống. Thơ Ánh Huỳnh đã chạm vào trái tim những kẻ từng bú sữa sừng bò của bà mẹ trẻ ngày xưa, trong đó có người đang bình tán thơ chị.


Thơ Ánh Huỳnh trong tập này, hầu như bài nào cũng khá, cũng hay, không thể trích ra cả tập để khen được. Chúng tôi đành trích câu để bình phẩm hầu độc giả:


Người đàn bà trong thơ Ánh Huỳnh có thứ vũ khí vô song, như một trái bom thu nhỏ bằng hạt sương, mạnh hơn bom nguyên tử. Ấy chính là nước mắt. Nữ thi sĩ dặn con:


khi yêu


có nước mắt dẫn đường


Có thể nói, con đường nước mắt đã dẫn Ánh Huỳnh tới thi ca. Chừng như kẻ ác không biết khóc? Khóc là dấu hiệu của nhân tính, của trái tim yêu đạt đến tột cùng. Hình như cả Phật và Chúa đã đi theo con đường này để đến với nhân loại? Chị dặn con hãy tin vào giọt nước mắt và đi theo nó đến cuộc đời này. Câu thơ hay một cách kinh ngạc. Hình như con đường của dân tộc ta đang đi cũng là con đường nước mắt, con đường đau thương mà thi ca Ánh Huỳnh đã trải qua. Chị lại viết thật hay về nước mắt, chao ôi chết rồi nằm trong mồ sao lệ vẫn còn tuôn:


Mẹ giấu nước mắt vào thơ


Cám ơn giọt lệ bơ vơ làm người


Cám ơn khóc núp trong cười


Cám ơn nước mắt chết rồi còn tuôn…


Tôi yêu “giọt lệ bơ vơ làm người” này biết bao nhiêu cho vừa. Hèn gì Xuân Diệu từng viết: “Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung” (Có lần anh Huy Cận bảo tôi, hai câu thơ này của Cận cho Diệu trong bài "Lệ"). Từ “giọt lệ bơ vơ” đến trái đất bơ vơ chừng như chỉ cách một câu thơ của Ánh Huỳnh và Xuân Diệu? Người đọc nhờ thi ca mà tìm được cái bơ vơ của bản thể vũ trụ. Chính vì bơ vơ quá, anh phải tìm em mà núp. Chúng ta chừng như đang bơ vơ giữa sa mạc cuộc đời. Cần phải níu vào nhau mà tồn tại. Bơ vơ à ơi hỡi bơ vơ…


Thơ Ánh Huỳnh đầy những phát hiện sâu sắc. Mẹ sinh ra con, đồng thời mẹ cũng sinh lại chính tuổi thơ mình. Con là tâm hồn mẹ, tuổi thơ mẹ được tái sinh. Xin đọc ba câu thơ rất hay của Ánh Huỳnh ca ngợi con mình đã sinh ra tâm hồn mình:


Cám ơn con


Mẹ đã sinh ra thân xác con


Nay con chợt sinh ra tâm hồn mẹ!


Con chợt sinh ra tâm hồn mẹ! Câu thơ nhân ái vô cùng và hay khôn xiết không chỉ bởi tính triết học của nó. Triết học trong thơ Ánh Huỳnh là triết học thơ ngây, triết học của xúc cảm! Nhờ câu thơ này, tôi mới phát hiện ra rằng tâm hồn ta cần con trẻ, cần sự bi bô hài nhi để được sinh ra mãi mãi. Chả thế mà Chúa đã phán: “Này ta bảo cùng Phê rô: nếu ai không hóa thành con trẻ thì nước trời không thuộc về kẻ ấy”. Tâm hồn ta tồn tại trong kẻ khác, bằng kẻ khác. Hãy làm cho tâm hồn mình hóa hài nhi, thưa bạn, bạn đã đạt được Niết Bàn hay thiên đường. Tôi chưa tìm thấy một câu thơ nào trên đời như câu thơ viết về mối quan hệ mẹ con hay như Ánh Huỳnh đã viết: mẹ sinh ra thân xác con, con sinh lại tâm hồn cho mẹ.


Nhưng tâm hồn cũng như thân xác, cần được nuôi bằng thực phẩm riêng của nó. Thân xác phải ăn, phải uống, phải hít thở mới tồn tại. Người chồng bảo người vợ trong thơ Ánh Huỳnh sao không lo cái hầu bao, chỉ lo cái tào lao vớ vẩn. Nhưng những món tào lao, món vẩn vơ, món không đâu, món ấm ớ nửa hư nửa thực kia mới chính là thực phẩm của tâm hồn. Xin hãy đọc khổ thơ sau của tác giả để cảm nhận cùng chị, rằng để có một tình yêu, một tâm hồn mơ mộng lãng mạn, đặng cân bằng với thực tế phũ phàng hầu như không phải là chuyện dễ:


Một đời nô lệ hầu bao


Một đời bỏ cái tào lao theo chồng…


Bỏ đóm đóm miệt vườn về phố


Ngất ngây hương lúa thơm tào lao


Suýt chết đuối đáy hầu bao


Nhờ đom đóm miệt vườn cứu thoát


Nhờ tiếng chim hót quên mất mình là ai


Như chết đuối sông sâu níu được vạt lục bình


Nổi lên mới biết còn mình


Cái không ăn được là tình đó anh.


Xin cám ơn những món không ăn được kia, những miệt vườn đom đóm, những vạt lục bình bâng quơ, những sớm mai chim hót, những bờ bao hương lúa xôn xao trong thi ca, trong cuộc đời đã cứu rỗi tâm hồn ta.


Ánh Huỳnh thường thấy những buổi chiều liêu trai bị thực tại hắt đổ đi như đổ một bát nước. Câu thơ rất hội họa, rất điện ảnh này đang cầu cứu chúng ta hốt lại những buổi chiều thi ca bị thói vô cảm đổ sông đổ biển:


Đám mây màu bã mía


Đã hắt chiều


Đổ đi!


Chao ôi là những đám mây màu bã mía, những đám mây bị gió vắt kiệt cùng đã hắt chiều đổ đi. Ai đã đổ chiều vào đêm, đổ anh vào em cho cái hôn bão táp, cái hôn bốc lửa:


Nhớ tối nào


anh hôn em


bầm dập cả trăng non


Cái hôn “bầm dập cả trăng non” làm nảy đom đóm mắt, làm nhòe nát cả trời khuya tưởng còn quằn quại câu thơ, vết thương yêu tưởng nuốt mất môi người:


ước gì trời rét


để em được gói đôi môi mình


vào chiếc khăn len.


Môi đã bị thương vì cái hôn thi ca, muốn được gói vào khăn len gửi tình xa rét mướt. Thi ca, chừng như đã vượt qua mọi giới hạn thực tại để tới miền đất hứa của mình là tưởng tượng, là vô biên. Và người đàn bà trong thơ Ánh Huỳnh chết rồi còn thấy rét, còn cần chiếc chăn của tình yêu có tên là nấm cỏ đắp lên cho ấm thi ca, cho ấm hồn người:


Mai sau


Em ngủ giấc muôn đời


Chỉ còn sóng


Thuỷ chung


Anh đắp lên mồ em


Từng sóng cỏ...


Những câu thơ tỏ tình với gió của Ánh Huỳnh sao buồn thương thế, ám ảnh thế, mênh mông thế:


Thế rồi gió cướp em đi


Bóc em như bóc hành khi điên cuồng


Gió ngoan thì thổi ngoài đường


Sao vô phòng ngủ gió lường gạt em?


Nhà thơ bị cơn gió tình si lường gạt rủ rê hoài: đi đi, thoát khỏi cái thế giới tẻ nhạt và buồn đau này để đến với bao la, đến với cái không bờ bến của hư vô, của cõi địa đàng thăm thẳm xa xưa vẫn nằm trong mộng tưởng. Nàng thơ rủ cả thế giới chưa trưởng thành này đi làm vua, những ông vua xách dép, vua cởi truồng, vua bị mẹ rượt mếu máo khóc ù ơ:


Nào các anh hai, anh ba...


theo em đi làm vua


ta trở về thời con nít


một thế giới chưa trưởng thành


ai cũng thích làm vua!


Thơ Ánh Huỳnh tồn tại trong nỗi buồn; xin độc giả đừng múc cạn nỗi buồn trong chiếc giếng cô đơn của nữ thi sĩ:


xin anh


đừng múc cạn nỗi buồn


trong đôi mắt em


để em còn là giếng nước.


Xin đọc những câu thơ rất hay, rất thi sĩ này của Ánh Huỳnh mà chia sẻ với những buổi chiều góa bụa hoàng hôn, những buổi chiều tâm hồn chị trải lá vàng cho thi ca se sẽ dấu chân chim:


ôi những buổi chiều


không có hôm qua


em vẫn còn anh


mà goá những buổi chiều


chiều hôm nay ơi


anh ơi


nhẹ chân thôi


chúng ta đang dẫm lên


xác những buổi chiều


Linh hồn những chiều đã bị thi ca bắt mất. Xin hãy nghiêng mình mặc niệm cho “xác những buổi chiều” của chị được yên nghỉ dưới hoàng hôn thi tứ…


Tôi tin rằng thi phẩm kỳ lạ “Đừng múc cạn nỗi buồn” của nhà thơ Ánh Huỳnh sẽ còn mãi trong tình yêu thi ca bạn đọc. Tiếc thay, tập thơ đã ra đời 9 năm, hôm nay tôi mới được đọc. Tôi sẽ mang “những buồi chiều không có hôm qua” của nữ nhà thơ đi vào cõi lặng, để chiêm nghiệm và để yêu tiếng Việt của chúng ta đến trọn đời.,.


Sài Gòn, ngày 01-9-2017


T.M.H.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »