tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20783385
Tiểu thuyết
21.09.2017
Khái Hưng
Tiêu sơn tráng sĩ



Hồi 5. Trên lầu Tiêu Lĩnh


Vừa ngồi yên chỗ, Phạm Thái hỏi Quang Ngọc:


- Có việc gì quan trọng thế? Hiền huynh?


- Việc nào đi việc ấy. Bây giờ hãy chén đã.


Lê Báo cười hỏi rỡn Phạm Thái:


- Sư ông giới tửu chứ?


Phạm Thái làm thinh, miệng lâm râm cầu nguyện, khiến Quang Ngọc cáu kỉnh


gắt:


- Thôi, xin thầy tu hãy tạm cất cái lòng mộ đạo của thầy đi cho chúng tôi nhờ.


Phạm Thái ung dung đáp:


- Ngu đệ đọc bài kinh sám hối để cầu nguyện Phật tổ xá cho anh em mình cái


tội sắp ăn thịt lợn.


Lê Báo cười:


- Chúng mình có sát sinh đâu mà sợ, còn như ăn thì ai không ăn. Không ăn,


sống sao được?


Quang Ngọc khen:


- Chú ba nói phải lắm. Vả Phật tổ khi xưa cũng ăn thịt kia mà. Trong thánh


kinh có chép rằng vì ăn thịt lợn rừng của một chú tiều phu kính dâng mà Phật tổ


hoá ở giữa đường.


Lê Báo reo mừng:


- ồ? Thế thì hay lắm nhỉ? Hôm nay không có thịt lợn rừng, anh em chúng ta ăn


thịt lợn nhà vậy Cũng là một cách kỷ niệm ngày Phật tổ hoá chứ sao.


Quang Ngọc cất tiếng cười vang. Còn Phạm Thái thì chàng có vẻ mặt buồn


rầu, nghĩ ngợi, tâm trí như để cả đâu đâu. Song tuy chàng làm ra không tưởng tới


ăn uống, mà chàng ăn rất khoẻ, uống rất nhiều có phần gấp rười hai người kia.


Khi ai nấy rượn ngà ngà say. Lê Báo thấy chàng vẫn ngồi ngây như người mất linh


hồn liền bảo Quang Ngọc:


- Phạm hiền huynh sao hôm nay nhạt nhẽo thế? Hay vì có em đây, nên không


được vui?


Quang Ngọc đáp:


- Phạm hiền đệ vẫn thế đấy, càng say càng lỳ. Chẳng thế đã không nổi danh là


Chiêu Lỳ?


Lê Báo cười hỏi:


- Chiêu là Phổ chiêu hay là cậu chiêu đấy?


Phạm Thái gật gù đáp:


- Cả hai.


- Cả hai.


Rồi chàng khoan thai ứng khẩu đọc:


Có ai muốn biết tuổi tên gì?


Vừa chẵn hai mươi, gọi chú Lỳ


Năm, bẩy bài thơ ngâm lếu láo,


Một vài câu kệ tụng a ê.


Tranh vờn sơn thủy màu nhem nhuốc.


bầu giốc hền khôn giọng bét be.


Miễn đươc ngày nào ngang dọc đã.


Sống thì nuôi lấy chết chôn đi.


Lê Báo khen lấy khen để. Quang Ngọc thì chau mày tỏ vẻ không bằng lòng mà


cự răng:


- Hay thì có hay, nhưng ý chưa được rồi rào lại kém khí phách anh hùng.


- Vậy xin đại huynh phủ chính cho. Hay hơn nữa xin hiền huynh, hiền đệ mỗi


người họa lại một bài cho bữa tiệc này thêm vui.


Lê Báo nhanh nhẫu đáp:


- O? Phải đấy?


Quang Ngọc mỉm cười:


- Vậy xin nhường chú ba họa lại. Còn Ngọc này thì đành thú thực rằng văn thơ


rất kém, địch sao nổi tài Chiêu Lỳ.


- Hiền huynh nhún nhường quá?


Nhưng Lê Báo đã cầm thìa gõ vào miệng bát, đọc luôn:


Anh Phạm làm như chẳng biết gì,


Hỏi anh, anh cứ giả ù lì.


Trông thì có vẻ nhà nhân đạo,


kỳ thực ra tuồng loại xú ê.


Thơ thánh ngâm nga không thiếu vận,


Rươu thần nốc cạn kể hàng be,


Đương trai sao đã lo khi chết


Còn tám mươi năm hãy sống đi.


Quang Ngọc cười ngất, nhưng Phạm Thái lặng lẽ rót đầy chén rượn mà nói


răng:


- Ba chữ "loại xú ê" thì phải phạt đủ tam bôi.


Lê Báo chữa thẹn:


- Phạt gì chớ phạt rượn thì ngu đệ không lo lắm. Nhưng vận "ê" của hiền


huynh cũng xét lại cho ngu đệ được nhờ.


Tuy nói vậy mà chàng cũng uống luôn ba hơi cạn ba chén rượn phạt.


Quang ngọc bảo Phạm Thái:


- Thơ Lê hiền đệ tuy không được hay, nhưng mà có hậu. Hai câu kết thực đã


làm cho bài thơ của Phạm hiền đệ bớt sai: "Còn tám mươi năm hãy sống đi" là là


phải lắm, chứ sao lại nói gỡ "chết côn đi" được?


Phạm Thái mỉm cười:


- Vậy xin phép hiền huynh trưởng cho chú ba sáu chén rượn nữa.


Lê Báo chau mày xua tay:


- Thưởng với phạt sao lại giống nhau thế được. Họa chăng có phạt Trần đại


huynh ba chén về tội không hoạ thơ thì còn có lý.


Phạm Thái hỏi Quang Ngọc:


- Vậy Trần đại huynh nghĩ sao? Chẳng laẽ lại trốn rượn phạt. Hay là thế này


này, câu chuyện tức cười mà hiền huynh chưa bao giờ chịu kể cho ngu đệ nghe,


nay nhân tiện có Lê hiền đệ đây, đại huynh đem thuật ra mà thế vào bài thơ là ổn.


Lê Báo vui mừng hỏi:


- Truyện gì mà bí mật thế, Phạm đại huynh?


- Truyện tu hành của một vị sư ông.


Quang Ngọc cười đáp:


- Xin hiền đệ đừng tưởng Quang Ngọc này không làm nổi thơ. Chẳng qua chí


ngu huynh còn để cả chổ khác, có tĩnh tâm mới làm được thơ hay, chứ làm bậy


làm bạ chỉ tổ bị phạt rượn?


Lê Báo thấy Quang Ngọc riễu mình thì tức giận nói bướng:


- Chẳng qua hiền huynh nói khoác. Có giởi cứ hoạ thơ đi đã nào?


Phạm Thái mỉm cười:


- Lại xin phạt Lê hiền đệ một chén rượn về tội xúc phạm huynh trưởng.


- Có phải nhị vị đại huynh về bè với nhau để công kích ta chăng?


Phạm Thái vẫn tươi cười:


- Lê hiền đệ có lẽ say rượn.


Thấy Lê Báo có tính lỗ mãng, Quang Ngọc liền giải hoà:


- Thôi xin hai hiền đệ, lỗi tại ngu huynh cả. Vậy cố nhiên là ngu huynh phải kể


câu truyện đã hứa.


Lê Báo hết giận, vỗ tay reo:


- Ư, có thế chứ? Nếu không, ta băt đấu võ liền, mà đấu võ thì ta chấp hai anh


một bên.


Quang Ngọc biết Lê Báo say lắm rồi, liền vui vẻ cười vang nói đùa:


- Lê hiền đệ nên để dành lực lượng với võ nghệ, có lẽ tối hôm nay phải dùng


đến. Bây giờ hãy xin lắng tai nghe câu truyện khôi hài của ngu huynh.


Lê Báo cười:


- Truyện khôi hài chắc là nhạt thếch.


Phạm Thái đỡ lời:


- Thì cứ để Trần đại huynh kể đã nào.


Quang Ngọc giốc cạn chén rượn đầy, rồi nói rằng:


- Ba năm trước đây, một khách chinh phu niên thiếu lang thang trên con đường


gió bụi. Chàng ta đi xa cửa xa nhà tìm chốn trú thân.


"Cha chàng vừa qua đời, mà lúc qua đời, chàng không gặp mặt, qua đời một


cách thảm khốc đầu bị rời mình nơi pháp trường...


Lê Báo ngắt lời:


- Thì cứ nói ngay là bị chém có giản dị hơn không!


Nhưng thấy Quang Ngọc ngồi yên, cặp mắt đỏ ngầu dữ tợn, đăm đăm nhìn nơi


chân trời xa tắp, thì chàng lấy làm sợ hãi im ngay. Bỗng Quang Ngọc cười sằng


sặc một hồi, rồi kể tiếp:


- Một buổi chiều, tâm hồn ngây ngất, chàng thiếu niên bỏ lỏng dây cương để


mặc ngựa theo con đường hẻm, cỏ rậm, muốn mang đi đâu tuỳ ý. Chàng đưa cặp


mắt mỏi mệt nhìn sắc trời tà đỏ ửng mà đoái tưởng lại thời oanh liệt theo cha tung


hoành trong hai trấn Đông, Bắc.


"Cái vỏ kiếm lách cách đập vào yên ngựa lại nhắc tới những bài ca chàng


thường hát để tự phấn khởi tâm hồn trong khi thất vọng. Chàng liền kìm cương.


Rút thanh kiếm báu giơ lên múa. Toan cất lời ca thì xa xa có tiếng chuông rời rạc,


buồn tẻ, như gieo vào lòng chàng sự hư vô chán nản. Chàng thong thả tra kiếm


vào vỏ rồi theo tìm nơi có tiếng chuông.


"Trời nhá nhem tối, thiếu niên tới chân một quả đồi. ở lưng chừng có một ngôi


chùa. Tiếng chuông đổ hồi từ trên cao gieo xuống, gieo vào lòng khách chính phu,


làm cho tắt hẳn ngọn lửa đương bùng bùng cháy.


"Thiếu niên xuống yên, buộc ngựa ở cửa tam quan. Chờ lâu vẫn không thấy có


người ra, mà gọi cửa cũng không ai thưa. Mãi sau, khi chàng quay đi mới có một


nhà sư ở gian phòng trai bước tới. Người ấy nói mình chỉ là sư bác, còn sư cụ thì


chơi vắng phương xa. Chàng liền nhờ sư bác cho ở trú một đêm, sáng hôm sau lại


xin đi sớm, nhưng sư bác nhất định không thuận, nói không có phép sư cụ thì


không thể tự tiện để khách thập phương ngủ trọ trong chùa được. Ngôn ngữ, cử


chỉ, nhất là sức vóc của nhà sư khiến chàng trẻ tuổi phải nghĩ thầm: "Quái? Sao đi


tu mà hỗn xược dữ tợn đến thế?"


"Chẳng muốn nói khó, chàng tuổi trẻ lẳng lặng xuống đồi, ra cửa tam quan.


Nhưng, ôi thôi? Con ngựa buộc đó đã biến đâu mất, mà lạ nữa, nghe xa xa có tiếng


ngựa phi nước đại về phía làng Nỗi duệ. Chàng biết dẻ trộm vừa tốn thoát. Bực tức


uất người, nhất là từ trên chùa lại ném xuống những tiếng cười mai mỉa. Chàng lộn


tiết chạy một mạch lên đồi, lại gần sư bác sừng xộ hỏi:


- "Sao ngươi biết ta mất ngựa lại cười?


- "Ta cười thì có can dự gì đến ai?


"Chàng tuổi trẻ mắm môi trợn mắt, giọng đe dọa:


- "Có can dự đến ta. Nếu ngươi không bảo cho ta biết đứa nào bắt trộm ngựa


của ta thì ta thề xin đưa linh hồn người lên Nát bàn ngay lập tức.


"Nhà sư cười ha hả đáp lại:


- "Mi làm như Nát bàn của nhà mi gần lắm? Dẫu sao, xuống địa ngục vẫn đễ


dàng hơn, vậy nếu mi muốn xuống thì cứ việc ỡm ờ đứng lại.


"Chẳng nói chẳng rằng, chàng tuổi trẻ tuốt ngay kiếm ra. Nhà sư ý chừng đã


phòng bị trước, cũng giơ ngay cây búa dấu sẵn trong vạy áo ra. Hai người đánh


nhau được một hồi, thì nhà sư biết sức không chống nổi quay đầu chạy. Chẳng


may chân vướng cỏ khô, vấp ngã bổ chửng. Chàng trẻ tuổi liền nhanh nhẹn dẫm


chân lên ngực hắn rồi dí mũi kiếm vào ngực hắn mà dọa rằng:


- "Ai lấy trộm ngựa ta?


"Bất giác nhà sư kêu rống lên. Tức thì ba chú tiểu lực lưỡng ở nhà trai chạy ra.


Chàng tuổi trẻ cả tiếng thét lớn:


- "Nếu chúng mày lại gần hay kêu cầu cứu thì trước hết tao hãy thí cho thày


chúng mày một mũi kiếm đã, rồi tao giết chết hết chúng mày như giết một đàn


ngoé.


"Bọn tiểu thất kinh quỳ cả xuống lạy van xin "công tử" xá cho sư bác. Còn lão


sư thì luôn mồm kêu: "Nam vô a di đà phật? Lạy ngài tha tội cho bần tăng, bần


tăng thứ hết, Nam vo a di đà phập? "


"Chàng tuổi trẻ lộn ruột vì mấy tiến Nam vo a di đà phập của lão ác tăng, đã


toan đưa lưỡi kiếm vào cổ hắn, nhưng nghĩ đến con ngựa bị mất trộm chàng lại


thôi


Lê Báo vui vẻ giốc cạn chén rượn rồi vỗ tay reo:


- ồ? Ngộ lắm nhỉ? Ngu để tưởng như trông thấy ở trước mắt một tráng sĩ dẫm


chân lên ngực một nhà sư, gần đấy, ba chú tiểu quỳ gối chắp tay van lơn. Thực là


một bức tranh linh hoạt của một họa sĩ đời Chiến quốc.


Phạm Thái thì lâm râm cầu nguyện, có vẻ cảm động xót thương. Mãi sau,


chàng mới ôn tồn bảo Quang Ngọc:


- Nếu trang thiếu niên kia không là hiền huynh thì ngu đệ xin bảo chàng ta là


một người lỗ mãng, dám quý con ngựa hơn mạng một nhà sư, dù là một nhà sư ăn


trộm.


Quang Ngọc cười đáp:


- Nhưng hằn ta có lấy trộm ngựa của chàng tuổi trẻ đâu?


- Vậy ai lấy?


- Không ai lấy cả. Nhà sư sợ hãi thú thật với chàng tuổi trẻ rằng giữa lúc chàng


lên chùa thì sư cụ đi ra cửa sau vòng ra tam quan thấy có con ngựa tốt, liền mượn


tạm vì có chút việc cần. Nhà sư lại mời chàng tuổi trẻ hãy vaò nghĩ trong phòng


quan cư để chờ một lát nữa sư cụ về.


"Chàng tuổi trẻ đoán rằng nhà sư muốn cạm bẫy mình để trả thù cho bỏ ghét,


nhưng đấng trượng phu ngang tàng há sợ chì? Vả chàng cũng muốn dò xét ngôi


chùa còn giấu diếm những sự bí mật ghê gớm gì nữa chăng, vì cứ ngắm cái cử chỉ


bất chíng của vị sự cụ mượn ngựa bắng một cách hơi khác thường để đi chơi đêm,


chàng cũng đoán biết rằng chùa này không phải là một nơi tu hàng của các bậc đồ


đệ tôn sùng đức Thích Ca.


"Chàng bèn theo sư bác vào phòng trai. Tức thì các chú tiểu xúm xít hầu hạ, kẻ


lấy thau, người pha nước. Nhưng chàng không dám uống nước, sợ trong đó có


thuốc mê. Và lúc nào chàng cũng nhăm nhăm cầm thanh kiếm tuốt trần ở tay để


phòng ngừa sự phản trắc.


"Chờ mãi tới cuối giờ Tuất cũng không thấy gì, chàng liền đóng cửa phòng tắt


đèn đi ngủ. Kỳ thực chàng vẫn thức, nằm nghe ngóng...


"Bỗng vào khoảng nửa đêm, nghe có tiếng ngựa hí. Chàng rón rén đứng dậy,


ghé mắt nhòm ra cửa, thấy dưới ánh trăng suông lờ mờ hiện ra hai cái bóng đen từ


chân đồi đi lên: một bóng nhà sư lực lưỡng to lớn và một bóng người thiếu nữ rất


yểu điệu, thướt tha..."


Lê Báo vỗ tay cười:


- Sư cụ hổ mang, tối rước gái về chủa rồi?


Phạm Thái buồn rầu chắp tay nói:


- Nam VÔ a di đà phật, nhưng rồi sau nữa, thưa hiền huynh?


Quang Ngọc kể tiếp:


- "Chàng tuổi trẻ toan cầm kiếm xông ra thì lại nghe có tiếng - tiếng sự cự -


hỏi một người thứ ba vừa đi tới:


- "Hắn ta ra sao?


"Tiếng trả lời của sư bác:


- "Bạch cụ, hắn ta nằm trong buồng quan cư. Xin cụ nên đề phòng, hắn ta giỏi


võ lắm kia đấy? "


"Hai người còn nói nhiều, chàng trẻ tuổi không nghe rõ, vì họ nói nhỏ, nhưng


ý chừng sư bác thuật lại cuộc đánh nhau vừa xảy ra, vì thấy người thiếu nữ khúc


khích cười có dáng chế nhạo. Bỗng sư cụ lớn tiếng:


- "Được? Để nó đấy, ta đây sẵn lòng đưa nó về cực lạc thế giới.


"Bấy giờ ba người đi ngay sát cửa phòng chàng thiếu niên. Sư bác thì thầm


bảo sư cụ:


- "Hắn ta ở trong này, nhưng chắc đương ngủ say.


"Thiếu nữ không biết thích chí điều gì, vỗ tay cười vang, cười ngã cả vào cánh


cửa phòng đến rầm một tiếng. Sư bác vội vàng xua tay bảo:


- "Se sẽ chứ? Háng ta thức dậy thì nguy bây giờ.


"Thiếu nữ vẫn cười:


- "Sư cụ sợ gì thằng nhãi ranh ấy, phải không bạch sư cụ?


"Sư cụ được gái khen, phỗng mũi:


- "Phải, ái khanh nói phải. Ngữ ấy vị tất đã chịu nổi nửa chùy này.


"Vừa nói vừa giơ ra một cái chùy đồng nặng. Sư cụ lại nói:


- "Nhưng ái khanh ạ, bây giờ ta hãy cùng nhau hưởng cuộc ái ân đã..."


"Thiếu nữ nũng nịu:


- "Không. Bao giờ sư cụ giết được tên hỗn xược ấy, em mới chịu nghe lời.


"Tức thì cánh cửa phòng mở toang, chàng trẻ xông ra, tay múa kiếm, miệng


thét:


- "Có ta đây?


"Sư cụ cũng khoa chùy lên đối địch. Trong khi ấy thì, lạ lùng xiết bao, thiếu


nữ nhân lúc bất ngờ rút ngay dao dấu ở trong bọc ra thí cho sư bác một nhát trúng


ngay cửa họng, nằm vật xuống đất chết tươi. Rồi nàng quay lại giúp sức chàng


tuổi trẻ Thấy nàng trong tay chỉ có một cây đoản đao, không đỡ nổi cái chùy nặng


của sư cụ, chàng tuổi trẻ vội kêu:


- "Cô lùi ra, cứ một mình tôi cũng đủ giết nổi thằng sư hổ mang này rồi.


"Nhân lúc chàng để ý đến thiếu nữ, giữ mình không được kín, nhà sư nhằm


trúng thanh kiếm chàng cầm, giáng xuống một chùy hết sức mạnh, khiến kiếm


văng ra. Tính mệnh chàng sắp bị nguy thì thiếu nữ đã múa tít lưỡi đoản đao xông


vào cứu viện. Cử chỉ hào hiệp ấy giúp chàng trẻ tuổi đủ thời giờ nhặt thanh kiếm


sấn lại đánh nhà sư Chàng tức vì đã bị nhà sư làm mất thể diện ở trước mặt má


hồng, nên chàng rán hết sức bình sinh, giở hết võ nghệ ra đối địch. Bởi thế, chẳng


bao lâu thiếu nữ nghe thấy chàng thét lên một tiếng rất lớn, rồi nhảy bổ vào đâm


nhà sư một nhát xiên từ ngực sang lưng".


Lê Báo cười the thé:


- Thế là cả sư cụ, lẫn sư bác cùng được lên Nát bàn chầu Phật.


Quang Ngọc cũng cười:


- Hoạ chăng xuống địa ngục chầu vua Diêm vương.


Phạm Thái mơ màng đăm đăm nhìn, hỏi:


- Còn người thiếu nữ?


Quang Ngọc thản nhiên đáp:


- Tức Nhị Nương.


Phạm Thái kinh ngạc:


- Nhị Nương?


- Phải, Nhị Nương. Mà người thiếu nữa là Nhị Nương thì có chi lạ.


Lê Báo ngơ ngác hỏi:


- Nhị Nương là ai?


- Rồi hiền đệ ắt biết.


- Vậy bây giờ ta hãy uống mỗi người hai chén rượn để chúc thọ Nhị Nương


đã?


- Lê hiền đệ nói rất phải.


Ba người cùng vui vẻ nâng chén. Lê Báo lại hỏi:


- Thế rồi sao nữa.


Quang Ngọc mỉm cười:


- Rồi chàng trẻ tuổi trở nên sư ông...


Phạm Thái nói tiếp:


- Đạo hiệu là Phổ T nh thiền sư, phải không bạch sư ông?


Trần quang Ngọc vẫn mỉm cười:


- ý thế, giết xong hai tên ác tăng, Nhị Nương cùng ngu hữu xục xạo đi tìm bọn


tiểu, thì chúng, - tất cả năm tên - đều ra quỳ xuống van lạy xin tha. Ngu hữu liền


sai chúng khiêng hai cái thây đem chôn ở phía bên kia đồi. Đoạn ai nấy lại đi ngủ,


tuy lúc đó gà đã bắt đầu gáy sáng.


"Từ hôm sau, Ngọc đã nghiễm nhiên dùng đạo hiệu của nhà sư đã tịch một


cách phi thường, nghĩa là hiệu Phổ T nh thiền sư. ở vùng này, nhiều người không


ngờ rằng có xẩy ra sự biến gì hết. Một ít người biết truyện thì lại làm ngơ, vì họ rất


ghét, rất sợ lão ác tăng kia, nên biết hắn bị giết, họ rất đỗi vui mừng. Bởi vậy, ngu


huynh đây, nhờ trời, nhờ phật tổ được yên lành mà tu đạo nhiệm mầu..."


Phạm Thái từ nãy vẫn theo đuổi ý nghĩ về Nhị Nương, tò mò hỏi:


- Thế còn Nhị Nương? Nàng không nói chuyện vì sao nàng lại để tên ác tăng


bắt về chùa? Hình như nàng cũng thông võ lược kia mà?


- Phải, nàng rất tinh thông võ nghệ. Cứ kể tay đôi đánh nhau, nhà sư hổ mang


kia cũng chưa dễ làm gì nổi, nhưng vì nhiều lẽ, nàng muốn dùng mưu giết tên ác


tăng một cách kín đáo, không để tiết lộ cho ai biết.


"Nguyên nàng là con gái quan binh bộ thượng thư Nguyễn Đình Giản. Khi


Nguyễn Huệ lên chiếm ngôi nhà Lê, quan thượng thư vì theo không kịp đức Chiêu


Thống, đành phải quay về ẩn núp ở vùng huyện Lập thạch, tỉnh Sơn Tây. Bắc bình


vương dụ mãi ngài ra làm quan không được, liền sai người đến Thanh Hoá bắt Nhị


Nương - khi ấy mới mười lăm tuổi - cho vào hậu cung, tưởng làm thế thì thương


con, thể nào ngài cũng phải ra hàng. Chẳng dè được tin, ngài rửng rưng như


không, cười gằn mà nói rằng:


- "Con ta không biết chết đi để làm nhục môn hộ nhà ta, ta chẳng vì tình phụ


tử nhỏ mọn mà bỏ đại nghĩa đâư'.


"Nguyễn Huệ biết không dụ nổi, mới dùng mẹo bắt sống đem về. Nguyễn


thượng thư không chịu khuất phục mà chết. Nhị Nương, bên thây cha không kêu


khóc nửa lời, chỉ thì thầm khấn thề với linh hồn cha rằng: "Thù này xin trả".


"Nhân xin được phép đi đưa đám cha, nàng thừa lúc bối rối trốn thoát, rồi đi


chu du khắp đó đây, tìm đến những chỗ quen thuộc để cầu học nghề võ. Ba, bốn


năm trời, nàng lẩn lút trong vùng quê các trấn Nghệ An, Thanh Hoá, Sơn Nam,


Kinh Bắc, cho đến hôm gặp nhà sư hổ mang, mê cái sắc đẹp của nàng, thả lời


chòng ghẹo. Nàng đã sắp ra tay cự địch, nhưng khốn nỗi một sự ngẫu nhiên lạ


lùng? Tên sư kia lại là người đồng hương với nàng: Sáu năm trước hắn trụ trì ở


chùa làng.


"Hắn dọa nếu không bằng lòng hắn, thì hắn tố cáo tung tích, nàng với quan


phân phủ Từ Sơn. Bất đắc d~ nàng phải giả ưng thuận, cùng định chờ đêm khuya


ra tay trừ khử tên cường bạo hoang dâm cho bỏ ghét..."


Ngừng một lát Quang Ngọc lại nói tiếp:


- Chính nàng cùng ngu huynh đã lập nên đảng Tiêu Sơn. Nàng đã giúp đảng


được nhiều việc lắm, ấy là không kể cái công cứu sống cho Ngọc đây.


Lê Báo cười sằng sặc:


- Thế mà hai người không yêu nhau thì cũng lạ?


Quang Ngọc buồn rầu đáp:


- Nói kính trọng nhau thì đúng hơn. Đương lúc theo đuổi công cuộc lớn lao,


còn bụng đâu nghĩ tới ái tình. vả lại xin nhị đệ hiểu cho rằng, mình tuy không thực


bụng tu hành, song đã nhờ cái áo cà sa để trốn tránh thì cũng không nên làm nhem


nhọ nó.


Phạm Thái mỉm nụ cười ngờ vực, ngồi im. Quang Ngọc lại nói:


- Nàng cũng bảo ngu hữu rằng khi nào việc lớn xong xuôi đã, hai người mới


cùng nhau đi chu du khắp nước Nam như Phạm Lãi, Tây Thi đời xưa chứ nay còn


ở thời kỳ nằm gai nếm mật, nghĩ chi tới hạnh phúc êm đềm của tình ái?... Lời vàng


ấy, ngu hữu đây đã khắc ở bên lòng, thề không bao giờ dám sai.


Lê Báo bông đùa một câu:


- Nghĩa là hai anh chị còn tạm là đôi bạn cầm kỳ để chờ ngày trở nên đôi bạn


cầm sắt chứ gì.


Quang Ngọc quắc mắt lườm, rồi giữ vẻ mặt trang nghiêm chàng nói:


- Thôi? Đã quá dài lời nói chuyện phiếm. Bây giờ rượn cạn, nhắm đã hầu tàn,


xin mời nhị hiền đệ đi nghỉ một giâc cho thực ngon, tối hôm nay ngu huynh cần


đến lòng can đảm đến hai chánh tay cứn cáp của nhị đệ lắm đấy.


Lời nói rắn rỏi như câu hô binh, khiến hai người vâng lời ngay.


 


Hồi 6. Quan quân


Chiều hôm ấy, trước trại lính phủ Từ Sơn, người lính, nón sơn, quần áo chẽn,


mỗi người cầm một cây tre dài bịt vải đứng xếp hàng chữ nhất. Khi đã tập một lúc


về đủ các miếng đâm trên, đánh dưới, phạt ngang thì người đội chọn từng cặp sức


tương đương cho ra dấu với nhau.


Biết rằng có viên phân suất đứng trên mặt thành nhìn xuống, thầy đội, làm ra


bộ ta đây giỏi võ, nắm tay người này, kéo chân kẻ khác hò hét, dạy bảo, mắng


nhiếc luôn miệng:


- Chú đứng tấn trống quá. Mũi roi chúc xuống thế này thì người ta khẽ bẩy


một cái cũng băng cả roi đi, còn đánh chác gì...


Viên phân suất từ trên thành đi xuống, lại gần đội cơ ban lời khen ngợi. Được


thể, đội ta càng lên mặt:


- Bẩm ông lớn, với năm mươi tên lính giỏi võ, tôi có thể chống nổi mấy trăm


quân Ô hợp, chẳng nói đâu xa, giá tối hôm qua năm người canh phòng trong tửu


quán đều là lính tôi luyện tập thì có đâu đến nỗi bị giặc giết như ngoé thế? Đấy,


ông lớn cứ tin lính trấn giỏi?


Phân suất hỏi:


- Ngày mai bản chức thân giải Thị Kim lên trấn lỵ, vậy anh tính nên cho bao


nhiêu lính hộ tống cũi tội nhân?


- Bẩm chỉ cho mười tên đi là chắc chắn lắm rồi - mười tên với tôi nữa là mười


một thì dẫu giặc mang trăm binh đến đánh giải vây cũng không lo.


Phân suất gật đầu, mỉm cười:


- Anh nên hết lòng làm việc quan. Thế nào ta cũng tự thăng thưởng cho... à?


Hai mươi tên lính mới mộ này đã biết gì chưa?


- Bẩm ông lớn, khá lắm rồi, xin ông lớn đứng coi.


Liền hô cho bọn lính tập các miếng trông rất đều và ngoạn mục. Phân xuất vẫy


tay cho bọn lính vào trại nghỉ, rồi hỏi đội cơ:


- Anh có dạy tập đoản côn, đoản đao đấy chứ?


- Bẩm, có cả. Cả bắn cung nữa. Còn bắn súng hỏa mai thì vì ở phủ này quan


hiệp trấn phát cho có năm cây, nên tôi đã chọn mười người giỏi nhất, nhanh nhẹn


nhất mà dạy tập thôi.


Phân suất mỉm cười:


- Ta cũng không tin gì ở hiệu quả súng hỏa mai. Trong tận Tiên đế đánh nhau


với Tôn Sĩ Nghị, bên địch có tới hàng nghìn cây súng còn bên ta chỉ dùng toàn dáo


dài, mã tấu, thế mà quân kia thua chạy không còn một mảnh giáp thì đủ biết đoản


binh vẫn lợi hại hơn trường binh nhiều.


- Bẩm ông lớn, nhưng giữ thành thì súng hỏa mai được cái lợi bắn xa lại trúng


hơn cung, nỏ nhiều. Còn như bấn cây súng thần công đặt bốn góc thành, thì thực là


vô ích, xoay xở đã chậm mà bắn lại không trúng. Chỉ được cái tiếng to để dương


oai với bên địch.


- Kể ra khi có quân giặc kéo đến hàng nghìn hàng vạn thì súng thần công cũng


có lợi: Bắn bừa vào đám đông người, thế nào chẵng trúng. Nhưng phủ này thì trừ


khi trấn Kinh Bắc có thất thủ, địch quân mới kéo binh đến vây. Mà nếu Kinh Bắc


đã thất thủ, thì Từ Sơn cũng chẳng cố thủ với ai được. Thành thử súng thần công


có đó cũng như không. Còn như súng hỏa mai thì một trận Ngọc hồi đủ chúng tỏ


rằng đó là những binh khí vô dụng.


- Bẩm, nghe đâu ông lớn cũng có dụ chiến trận ấy?


- Có Ta theo Tiên đế ngay sau trận Cẩm Thủy. Bấy giờ, ta ở trong toán nghĩa


quân của nhà Lê. Tiên đế vừa sang sông thì quân nhà Lê vỡ lở ngay. Ta cùng vài


bạn đồng chí đến xin hàng Tiền đế mà bấy lâu nay ta vẫn mộ tiếng anh hùng, ao


ước được gập long nhan, nhất từ ngày ta đem lòng khinh bỉ Chiêu Thống đã rước


quân ngoại quốc về giầy xéo người đồng bang. Thế là ta theo Tiên đế đến đánh


Phú Xuyên, đến vây Hà Hồi. Trận Hà Hồi cũng như trận Phú Xuyên không có chi


là đáng kể. Tiên đế đến, giặc trông thấy bóng cờ là đem hết quân lương, binh khí


ra hàng răm rắp, chẳng phải đánh chác gì.


- Bẩm, còn trận Ngọc Hồi? Nghe nói trận ấy đánh hăng hái lắm.


- Phải, hăng hái lắm là vì quân Tàu có rất nhiều súng hỏa mai.


Đôi cơ mỉm cười:


- Đó, ông lớn coi, súng hỏa mai vẫn lợi hại.


Phân suất cau mày:


- Ta đã bảo không ăn thua gì mà lại. Sáng tờ mờ ngày mồng năm, quân ta tiến


lên tới làng Ngọc Hồi, quân tàu bắn súng ra như mưa. Đến đây, anh mới nhận thấy


mưu lược Tiên đế. Ngài sai lấy những mảnh ván, ghép ba bốn mảnh vào làm một,


quấn một lần rơm ướt ở phía ngoài rồi truyền một toán quân kiêu dõng, cú hai


mươi người khiên một bức, mỗi người dắt một con dao nhọn, lại hai mươi người


cầm khí giới theo sau. Ta cũng tình nguyện nhập bọn này nên mới biết rất tường


tận Đạn bên địch bắn ra vẫn vun vút rào rào, nhưng chỉ trúng bồm bộp vào ván


quấn rơm chứ không thiệt một mạng người. Anh coi đó, súng có ích lợi gì đâu.


Khi đến gần cửa đốn toán quân ta liền bỏ ván xuống đất, rút dao ra, xong lại chém


giết, quân đi sau kéo ùa vào trợ lực, còn vua ta thì cười voi theo sau đốc chiến.


Quân Tàu địch không nổi, vút cả súng mà chạy tán loạn. Quân ta thừa thế đánh


tràn đi, lấy được đồn, giết quân Thanh, thây rải khắp đồng. Sau điểm binh khí bắt


được thì số súng hỏa mai có trên năm trăm cây.


Lúc đó, một tên lính lệ hầu trà chạy ra nói với phân suất:


- Bẩm, phủ đường cho ra mời đại nhân vào phòng khách xơi nước.


Phân suất lật đật theo tên lính đi vào nhà trong. Sau khi vui vẻ chào mời, hỏi


thăm qua loa về cách việc binh lương, phân phủ truyền cho hết cả người nhà ra


ngoài rồi thì thầm bảo phân suất:


- Về việc bắt được Lê hoàng phi họ Nguyễn, ngài có ý kiến gì không?


Phân suất ngẫm nghĩ, trả lời:


- Thưa ngài, không. Vả ta chỉ việc giải tù nhân lên trấn lỵ là xong.


Phân phủ mỉm cười:


- Thế là ngài thiển cận quá. Ngài nên biết tù nhân nào phải người tầm thường.


Nàng Nguyễn thị Kim này xưa kia được Chiêu Thống sủng ái vì có tấm nhan sắc


nghiêng nước nghiêng thành. Buổi sinh thời đức Tiên đế ta nóng đánh trấn Tuyên


Quang làm loạn biết đâu không phải vì ở đó có bực mỹ nữ ấy ẩn núp. Nhưng khi


ngài bắt được Duy Chí thì Lê hoàng phi lại trốn được. Nay viên ngọc quý ấy lọt


vào tay ta, mà ta không biết lợi dụng thì thực cũng uỗng.


- Vậy ý ngài tính ra sao?


- Tôi thiết tưởng chúng ta đã trải qua bao khó nhọc mới tới được chức này, tôi


thì nhờ có Bình phái hầu Ngô Thị Lang tiến cử, còn ngài thì nhờ sự xông pha mũi


tên hòn đạn tại trận tiền. Thế mà dịp này còn bằng mấy lời tiến cử cùng là những


sự hiểm nghèo ở nơi chiến địa, có thể nhảy ngay đến chức trấn thủ, hiệp trấn cũng


chưa biết chừng. Nhưng...


- Nhưng sao nữa, thưa ngài?


- Nhưng nếu chúng mình chỉ sơ ý một tí là làm cỗ sẵn cho kẻ khác ăn mà thôi.


Thí dụ bây giờ chúng mình nộp tù nhân lên trấn lỵ để quan trấn thủ áp giải về


kinh, thì thế nào họ chẳng nhận hão rằng chính họ đã bắt được Lê hoàng phi mà


bao nhiêu công trạng họ nghiễm nhiên toạ hưởng kỳ thành. Chi bằng một mặt ta


hãy bí mật giam Lê hoàng phi vào một nơi, một mặt ta sai một tên cận tính tức tốc


mang tờ sớ về kinh tâu rằng hai chúng ta đã lao tâm khổ tứ bày mưu lập mẹo trong


nửa năm trời mới bắt nổi Lê hoàng phi Nguyễn thị Kim. Việc này là việc rất quan


trọng nên có sớ về triều để hỏi xem phải giải Thị Kim tới trấn Lỵ hay về kinh đô,


như thế thì huân nghiệp của mình không ai làm mai một nổi.


Phân suất cả mừng:


- Ngài thực có mưu trí hơn người.


- Lại còn điều này nữa: Tạ đệ một bức mật thư lên thái sư, ca tụng cái nhan sắc


tuyệt thế của Lê hoàng phi. Thái sư vốn...


Phân suất cười:


- Tôi hiểu rồi. Vậy ngài nên thảo ngay sớ viết kíp thư đi mới được.


- Việc đó tôi xin cáng đáng, nhưng việc giải Lê hoàng phi ngài chưa tiết lộ


cho ai hay đấy?


- Tôi mới ngỏ với tên đội Nhất, nhưng hắn là tay tùy tòng trung thành của tôi,


tôi bảo được hắn giữ bí mật.


- Thế thì được rồi. Vả lại không cứ người ngoài mà ngay trong phủ cũng ít


người biết ràng ta bắt được hoàng phi, vì lúc giải nàng về đây, đêm đã khuya lắm.


Mà tôi lại giam nàng ở một cái buồng nhỏ trong tư thất, chẳng ai biết hết... Kể


nàng đẹp lắm đấy chứ, ngài nhỉ.


Hai người đương nói chuyện, bỗng một tên lính ở ngoài chạy vào có vẻ hấp


tấp, kinh hãi. Viên phân suất đứng dậy hỏi:


- Có việc gì thế bay?


Tên lính cất giọng run run nói:


- Bẩm... Yên Phụ đến báo có giặc.


Phân suất tỏ vẻ lo sợ, chau mày gắt:


- Sao nó không báo ở trấn ly? Đâu? gọi nó vào đây.


Một lát sau, tên lính đưa tối một người nhà quê hiền lành, thực thà, run như


cầy sấy và nói lắp bắp không ra tiếng, lí nhí không ra hơi.


Phân suất thét lớn hỏi:


- Mày ở đâu? ở đâu? ở làng nào? Sao hỏi lại không nói?


Tên kia chớp mắt luôn, đưa tay lên gãi mang tai, luống cuống đáp:


- Bẩm... Bẩm quan lớn, con người làng Yên Phụ ạ.


- Tín bài đâu?


Người nhà quê quay ra phía ngoài, vắt vạt áo nâu lên vai, rồi thong thả cởi hầu


bao lần mãi mới lấy ra được một cái bìa nhỏ bằng bàn tay và cuộn tròn. Trong khi


ấy phân suất thì thầm bảo phân phủ:


- Phải cẩn thận lắm mới được. Biết đâu nó không là một tên trong bọn cướp.


Phân phủ phì cười:


- Cướp? Thằng ốm đói kia mà là cướp được. Ngài đa nghi quá đỗi.


Người nhà quê cúi đầu, hai tay dâng tín bài, phân suất đỡ lấy ngắm nghía, xem


xét từng ly, từng tí, rồi khi áp ngón tay người kia thấy đúng vạch điểm chỉ, liền


giao trả cái thẻ mà nói rằng:


- Mày trình gì?


- Bẩm... Bẩm hai quan lớn, có một bọn cướp đông lắm đến đóng ở bến đò Kim


Lũ.


- Đông độ bao nhiêu?


- Bẩm con không đếm, nhưng đông lắm, mà hình như tên đầu đảng là một...


nhà sư


Phân suất kinh hãi:


- Một nhà sư?


- Bẩm... Vâng... Một nhà sư khỏe lắm.


Phân suất nói khẽ với phân phủ:


- Tôi nghe dân sự đồn đại rằng ở vùng bến đò Kim Lũ vốn có một tên cường


đạo mặc giả sư đến quấy nhiễu.


- Thế bây giờ ngài định sao?


- Để bọn nó hoành hành mãi vùng này, nhỡ đến tai Thái sư thì chúng mình


cũng khó lòng ngồi yên mà hưởng phú quý. Chi bằng ta đánh rát cho chúng nó


một trận để chúng nó lẩn đi địa hạt khác mà bóc lột. Hiện phủ ta có hơn hai trăm


lính, tôi đã luyện tập trong luôn mấy tháng nay cũng chỉ vì một mục đích ấy. Vậy


đêm nay xinh lưu lại năm tên giữ súng hỏa mai lòn bao nhiêu binh lính, tôi đem


theo hết để trị cho bọn giặc kia một mẽ. Phen này mà tóm được tên sư bí mật giả


mạo kia thì thực tiếng tăm chúng ta lừng lẫy.


Phân suất quay ra bảo người nhà quê:


- Mày dẫn đường cho quan quân, nghe!


Tên kia chừng hoàn hồn, trả lời trơn chu:


- Dạ, nhưng con sợ bọn giặc báo thù đốt nhà giết vợ con con mất. Bẩm chúng


nó ghê gớm lắm cơ, ở vùng chúng con ai cũng phải kiêng nể... Vì sáng hôm nay


chúng dốt nhà con, lại bắt mất trâu, mất lợn, gà của con mổ ăn thịt nên tình con


oan ức con mới liều đến kêu quan lớn, xin quan lớn thương tình... Chẳng nhẽ giữa


đời thái bình mà chúng nó cứ hiếp tróc, lấn áp, bóc lột mãi lương dân, chẳng coi


phép nước vào đâu như thế.


Phân phủ nghe người nhà quê nói lý, mà lại hơi xúc phạm tới oai quyền vua,


quan thì cả tiếng mắng át:


- Không được hỗn? Tên kia hãy xuống tại ngồi chờ lệnh.


Rồi bàn nhau với phân suất đi kiểm điểm cơ đội để tức khắc cất quân.


(còn tiếp)


Nguồn: Tiêu sơn tráng sĩ . Tiểu thuyết lịch sử của Khái Hưng. In lần đầu năm 1934, các NXB tái bản nhiều lần.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »