tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21098326
Truyện ngắn
01.09.2017
Triệu Xuân
Yêu rừng như yêu đời



May mắn, tôi là người được tham gia công trình Thuỷ điện Trị An trên sông Đồng Nai, từ lúc khảo sát, khởi công, thi công đến khi hoàn tất. Trong gần chục năm đó, tôi đã viết và in rất nhiều phóng sự, bút ký văn học trên các báo: Nhân Dân, Sài Gòn Giải phóng, Văn Nghệ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Đại đoàn kết, Lao động... và phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Tiếng nói nhân dân TP HCM. Nay, nhân Trại sáng tác Văn học của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Văn hoá Đồng Nai (Mã Đà), giữa lòng Chiến khu D, chúng tôi có chuyến du ngoạn quanh lòng hồ Trị An rộng 32.400 hecta. Tuyệt vời! Một ngàn hộ dân nuôi cá lồng bè trên hồ Trị An tạo nên khung cảnh thật thơ mộng, trù phú, nhưng cũng chất ngất chuyện đời... Hơn 75% số hộ này là Việt kiều đã chia tay với Biển Hồ ở Campuchia trở về Tổ quốc mình để sinh nhai, nhưng vô cùng khó khăn trong việc nhập hộ khẩu. Con em, không có hộ khẩu thì học hành nơi mô? Người già, người bệnh mà từ trần thì an táng thế nào?


“Biển hồ” Trị An với hàng chục tiểu đảo xanh quanh năm hôm nay thật tuyệt! Chỉ tiếc là việc khai thác du lịch cũng như nhiều phương diện khác tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Văn hoá Đồng Nai còn quá khiêm nhường! Chỉ riêng về du lịch, nếu các ban ngành trung ương và tỉnh có một Nhạc trưởng có tài, có thực quyền, thì hàng năm khu bảo tồn này sẽ mang lại doanh thu hàng trăm triệu USD! Chợt nhớ lần vợ chồng tôi du ngoạn trên hồ Windermere miền Tây Bắc Anh quốc: hồ Windermere nhỏ hơn Hồ Trị An rất nhiều, cảnh cũng không bằng, nhất là lại không có Di tích lịch sử... Rứa mà, hàng năm hồ Windermere thu hút hàng chục triệu du khách trên thế giới! Tôi tin rằng, rồi đây, Khu bảo tồn Thiên nhiên Văn hoá - Chiến khu D- Đồng Nai (KBTTNVHĐN) với hơn 200 ngàn hecta rừng và hồ Trị An rộng tới 32.400 hecta sẽ là thỏi nam châm khổng lổ thu hút khách du lịch toàn cầu... Lần du ngoạn hồ Trị An gần đây nhất của tôi, cách nay đúng 7 năm, tôi và anh chị em Nhóm Văn Chương Hồn Việt vui chơi trên một tiểu đảo giữa hồ, vốn là đảo nhỏ của nhà văn Trần Ngọc. Anh cho trồng trên đảo toàn cây ăn trái, nhiều nhất là xoài, thú vị vô cùng. Khi chia tay Trị An, chúng tôi mang theo những con cá lăng tự nhiên - rộng trong bao nilon có đủ oxy - trọng lượng trên 4 kg, về Sài Gòn làm món chả cá Lã Vọng. Nhớ đời!


Tôi trao đổi với Tiến sỹ Trần Văn, Giám đốc KBTTNVHĐN những kỷ niệm, những ấn tượng của mình về Trị An, về Mã Đà, về Cát Tiên, từ năm 2011 đã được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển (KDTSQ) thứ 580 của thế giới và là KDTSQ thứ 8 tại Việt Nam. Những điều tôi nói, miếng trầu làm đầu câu chuyện để ông Trần Văn có hứng kể về miền đất này… 


Ông Trần Văn sinh năm Canh Tý 1960, kể với Triệu Xuân: Xuân Mậu Thân, 1968, tôi mới 8 tuổi, lứa tuổi chỉ biết vui chơi, nghịch ngợm và lo học hành, làm theo lời cha mẹ dạy. Cha mẹ tôi gốc gác từ miền Bắc và Trung. Ông bà tôi từ khi còn nhỏ, theo người lớn đi làm phu cao su (phu contrat) vào miền Đông Nam Bộ. Rồi “đất lành chim đậu”, ông bà tôi định cư nơi đây. Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở Trảng Bom, cửa ngõ vào thành phố Biên Hòa và Sài Gòn. Nhà nghèo, đông con – tôi là con thứ sáu- nhưng cha mẹ tôi tận tâm nuôi dạy chúng tôi nên Người, sống theo đạo lý Nhân Nghĩa lễ Trí Tín. Ngay từ thuở ấu thơ, tôi đã noi theo người lớn yêu từng lá cây, ngọn cỏ, bông hoa trong vườn, chơi thân với con chó con mèo trong nhà…


Những năm Sáu mươi của thế kỷ XX, Trảng Bom quê tôi là miền quê yên ả. Sau Tết Mậu Thân, chiến sự lan rộng ra toàn miền Nam. Nhưng ở Trảng Bom, ngoài tiếng phi cơ lên xuống căn cứ không quân Biên Hòa hàng ngày đi ném bom, bắn phá phía núi rừng xa tít phía Tây Bắc, miền Đồng Nai Thượng; trong cái đầu non nớt của tôi, nhìn chung chiến tranh như còn ở đâu đó xa lắc. Cha mẹ tôi thường kể rằng ở phía Tây Bắc nhà mình là rừng núi Mã Đà, là miệt căn cứ Chiến Khu D của Giải phóng. Nhà tôi có vườn cây ăn trái, xung quanh có nhiều cây trồng lấy gỗ lâu niên.  Anh em tôi thường leo lên ngọn cây, hướng về phía tây Bắc…, nhưng chả thấy gì khác ngoài một miền xanh thẳm đến ngút tầm mắt. Rừng là vậy ư? Càng lớn, tôi càng tò mò muốn biết rừng là cái giống gì mà mỗi khi nói tới, cha tôi cùng những người bạn của ông luôn tỏ ra bí hiểm vô cùng… Và miền đất ấy, ngày cũng như đêm, hút lấy tâm trí chúng tôi, những đứa trẻ thỉnh thoảng được ăn thịt nai, thị hoẵng, kêu chung là thịt rừng. Gần nhà tôi ở, có ông Tư Lâm, chuyên nghề đi săn và khai thác cây quý trong rừng. Nhà ông trưng rất nhiều đầu bò tót, da cọp và nhất là gạc nai… Mỗi lần được thằng Hổ con ông Tư Lâm, bạn học cùng lớp, cho vô nhà chơi, tôi cứ dán mắt vào những thứ đó, chân không muốn rời. Hổ nói: Bảo vật của rừng đấy, mênh mông, vô tận! Lớn lên tao cũng theo nghề ba tao, đi săn, phiêu lưu hấp dẫn lắm!


Mãi đến năm 1974, kỳ nghỉ hè, tôi mới lén ba mẹ đạp xe cùng nhóm bạn mò đến thác Trị An. Sáng ấy, chúng tôi đi sớm, khoảng 9 giờ thì tới nơi. Cuối mùa khô, đứa nào đứa nấy mồ hôi nhễ nhại, cởi phăng quần áo xuống tắm tiên. Tiếng là thác, nhưng ở đây không có ngọn nước từ trên cao đổ xuống ấm ầm nước réo như trên xinê, mà là một bãi đá bị phong hóa, thủy hóa trơ từng mảng từng khối màu nâu đen, nâu thẫm, nước tuôn trắng xóa nhưng hiền khô quanh đá. Thằng Hổ tỏ ra hiểu rành rẽ vùng này. Nó bảo: Thác Trị An là bậc thang thứ bẩy của sông Đồng Nai. Mùa lũ, thác Trị An khủng khiếp vô cùng. Bên này là Đồng Nai, bên kia bờ là Đồng Nai Thượng. Ba tao nói: Đi từ đây về hướng Tây Bắc, phải cả vài tháng cũng chưa hết rừng. Biết bao loài thú quý, cây gỗ quý, cây thuốc quý đã và đang sống trong rừng Mã Đà, Cát Tiên từ hàng ngàn hàng vạn năm…


Tôi nghe nó như bị hớp hồn. Tôi hỏi:


-          Hổ có biết ngoài cây và thú, có người sống trong đó không?


-          Ba tao chứ ai! - thằng Hổ tự hào, giọng oang oang - và những người trong phường săn, trong đoàn khai thác rừng của ổng! Tất nhiên, còn những người Thượng, người bản địa của rừng. Lâu lâu, tao thấy họ mang lá thuốc và các loại lâm sản về bán ở chợ Trảng Bom…


-          Còn Việt Cộng? – Tôi nhìn nó, hạ giọng hỏi…


-          Chết à nghe… -Hổ nhìn quanh  rồi tiếp- cái đó tao hổng dám nói… Chết liền nghe! Ba tao nói: Mấy ổng giỏi lắm! VC kiên cường nằm gai nếm mật vì nghĩa lớn... A! Tao hổng nói nữa à nghe...


*


Đất nước hòa bình, thống nhất, tôi tròn 15 tuổi. Tính tò mò trong tôi càng lớn khi đầu óc đã bắt đầu tự phân tích, đánh giá những gì mắt thấy, tai nghe. Hàng ngày, tôi thấy sản vật từ rừng kìn kìn kéo về lềnh khênh trên chợ Trảng Bom, gỗ quý đầy ắp trong các xưởng cưa ở thị trấn. Từng đoàn xe lô bồi có rơmooc dài ngoẵng chở trên đó những cây gỗ dài tới hơn hai chục mét chạy ầm ầm qua thị trấn, ngang qua trường tôi đang học. Khao khát tìm hiểu rừng, tôi đọc sách, sách địa lý cũng như các loại truyện bày bán ở thị trấn về rừng, về các loài thú quý hiếm mà thế giới ghi trong sách đỏ. Tôi đọc những truyện đường rừng của nhà văn Lan Khai, nhà văn Lý Văn Sâm… Hay quá, hấp dẫn quá! Phiêu lưu vô cùng. Tôi khát khao một ngày nào đó được đến với rừng, ăn rừng, thở rừng, sống trong rừng…


Lấy bằng Tú tài xong, làm như có duyên tiền định, Trường Trung cấp Lâm nghiệp Trung ương 2 chuyển từ Bình Dương về đóng tại xã Trảng Bom, gần nhà tôi. Đó là tháng 9 năm 1978. Lập tức tôi nộp hồ sơ nhập trường.


Trường Trung cấp Lâm nghiệp Trung ương 2 xây dựng cơ ngơi tại Trảng Bom, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, (nay là Thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom. tỉnh Đồng Nai) trên diện tích 24 ha. Tôi nhập học và ngay lập tức phải lao vào xây dựng cơ sở vật chất trên một mảnh đất đầy bom đạn và cỏ Mỹ… Trường đào tạo cán bộ trung cấp lâm nghiệp theo các chuyên ngành: Kỹ thuật lâm nghiệp, Kế toán, Thống kê, Kế hoạch, Lao động tiền lương. Thầy, trò chúng tôi thường xuyên lên rừng đốn gỗ, tre nứa và cắt tranh về xây dựng nhà ở, lớp học; lo chất đốt, lo lương thực, thực phẩm… Thiếu gạo ăn, trường tổ chức tăng gia sản xuất ở đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Đông. Khi tôi sắp sửa tốt nghiệp thì một vài căn nhà xây, lợp ngói đỏ - nhà cấp 4 - mới mọc lên. Học tập và lao động xây dựng trường trong gian khó, thiếu đói, nhưng chúng tôi rất vui, rất tự hào. Những năm ấy cả nước nghèo đói, càng khó khăn, chúng tôi càng ráng vượt lên. Ai cũng vững tin ở ngày mai, ngày trở thành người giữ rừng, bảo vệ tài nguyên rừng, vốn quý của đất nước...


Tôi học giỏi vào loại nhất nhì trong khóa ấy, sau khi nhận bằng tốt nghiệp loại ưu, cùng vài người nữa, tôi được giữ lại làm giảng viên của trường. Tôi giảng dạy tại Khoa Kinh tế. Nhà văn  cứ hình dung một chàng trai tròn 20 tuổi, được bạn bè cho là bô trai, ăn nói lưu loát, tất sẽ được nhiều học trò gái cảm tình… Sự thật là thế. Vậy nhưng tôi chẳng còn tâm trí đâu lo đến chuyện yêu đương bồ bịch. Niềm đam mê rừng nay biến thành đam mê nghề nghiệp, tôi lao vào đọc sách, tự học để nâng cao vốn sống, tri thức về rừng.


Giảng dạy được hai năm, tôi có ý định xin chuyển công tác về một lâm trường. Lúc đó, các lâm trường trong tỉnh Đồng Nai đồng loạt ra đời nhằm khai thác rừng, trước mắt là khai thác trắng để xây dựng lòng hồ thủy điện Trị An. Cuối năm 1982, tôi trình bày nguyện vọng và may mắn được chấp thuận, tôi về lâm trường Hiếu Liêm. Sau này, lâm trường Hiếu Liêm trở thành một bộ phận của Khu Bảo tồn thiên nhiên-Văn hoá Đồng Nai. Vừa làm ở Hiếu Liêm, tôi học ngày học đêm chuyên ngành Kỹ thuật Lâm sinh. Được cấp trên tín nhiệm, tôi lần lượt kinh qua các chức vụ Phó Trưởng phòng Kế toán, Kế toán trưởng, rồi Phó Giám đốc, Bí thư Đảng ủy lâm trường.


Rồi gia đình bảo tôi cưới vợ. Tôi vốn là đứa con vâng lời cha mẹ. Tôi tìm hiểu và nhanh chóng thành hôn với người bạn đời hiện nay của mình. Năm 1987, chúng tôi thành hôn. Chúng tôi cưới nhau đã gần năm mà vợ tôi chưa cấn bầu. May thay, sau chuyến đi của vợ chồng tôi đến Long Hải, vợ tôi có thai, sinh bé trai đầu lòng. Chúng tôi đặt tên cháu là Trần Long Anh. Sau Trần Long Anh, vợ chồng tôi còn hai con gái nữa. Vợ tôi thừa hưởng nghề gia truyền của cha mẹ, có một tiệm kim hoàn tại chợ Trảng Bom. Nhờ vậy mà trong thời bao cấp, đời sống túng thiếu trăm bề, vợ tôi vẫn thay chồng lo cho ba đứa con ăn học đến nơi đến chốn… Đây chính là chỗ dựa vững chắc nhất để tôi toàn tâm toàn ý lo cho công việc tại Hiếu Liêm và sau đó là Cát Tiên.


Mười ba năm làm việc tại Hiếu Liêm qua mau; năm 1995, tôi được lãnh đạo tỉnh Đồng Nai điều về làm Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên. Như cá gặp nước, tôi về Cát Tiên với tâm trạng hưng phấn vô cùng. Cát Tiên là mảng rừng nguyên sinh hầu như vẹn nguyên còn sót lại sau hơn ba chục năm chiến tranh. Nhớ lại những cuốn sách dạy địa lý ngày trước, người Pháp khi thể hiện địa danh Biên Hòa, Thủ Dầu Một đã vẽ con cọp và một cái cây gì đó ở dưới tên hai tỉnh vừa nêu. Đến những năm cuối thập kỷ tám mươi thì cọp hầu như vắng bóng, nhưng rừng nguyên sinh và hàng trăm loài thú quý vẫn tồn tại. Tôi được giao bảo tồn và phát triển Rừng Quốc gia Cát Tiên nên vô cùng tự hào. Tôi hiểu được trọng trách của mình và những khó khăn hiểm nguy phải đối mặt…


Muốn giữ được rừng thì trước hết phải có người gác rừng trong sạch, toàn tâm toàn ý với nhiệm vụ. Nhưng, tìm đâu ra người Kiểm lâm Nhân dân “trong sạch, toàn tâm toàn ý với nhiệm vụ” – trong lúc thu nhập hàng tháng không đủ ăn cho một người, và các thế lực phá rừng thì…đông như quân Nguyên?!


Tôi bắt đầu bạc tóc từ thời điểm này. Mới 35 tuổi mà bạc đầu! Tuổi ba mươi lăm lực lưỡng, sinh lực tràn trề, thấy chị em người dân tộc Mạ ở trần, ngực rắn câng, mây mẩy sức xuân, lòng rạo rực vô cùng. Mỗi khi đi ngang qua Mạ Đà[1], bến nước của bà con dân tộc Mạ, tôi không muốn rời bước tí nào!


Tôi may mắn được ông Sư trưởng Đoàn 600 truyền cho nhiều kinh nghiệm xương máu về cách sống ở rừng sâu, về canh gác rừng. Ngay từ sau năm 1975, Đoàn 600 đã trú chân tại Cát Tiên nhằm thu hồi số anh em chiến sỹ ta bị lạc và bị thương trong chiến tranh, cùng với việc tiễu phỉ và giữ rừng. Năm 1977, trong một chuyến về thăm Đoàn 600, bác Lê Duẩn, thay vì đến bằng trực thăng đã quyết định đi bằng ô tô. Chính nhớ chuyến xuyên rừng ấy mà bác Lê Duẩn nhận ra rừng Cát Tiên còn nguyên vẹn. Về Hà Nội, ông chỉ đạo cho ngành lâm nghiệp tìm cách giữ vững và phát triển Cát Tiên thành Vườn Quốc gia…


Lâm tặc lộng hành ngày càng ngang ngược, sẵn sàng nổ súng tiêu diệt Kiểm lâm, tôi thuyết phục lãnh đạo tỉnh Đồng Nai: Nhanh chóng trang bị vũ khí cho Kiểm lâm, coi lực lượng Kiểm lâm là Công chức Nhà nước, có quyền lợi như lực lượng công an, quốc phòng. Việc này đòi hỏi phải do Trung ương ban hành, tỉnh đâu có quyền… nhưng trước mắt, tỉnh Đồng Nai trợ cấp thu nhập hàng tháng bằng một tháng lương cơ bản cho Kiểm lâm. May thay, những đề xuất của tôi được cả Tỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân Đồng Nai chấp thuận. Nhờ thế, cuộc chiến đấu thầm lặng giữa rừng sâu Cát Tiên ngày càng hiệu quả.


Nhớ lại những ngày đầu tiên đến Cát Tiên tôi không khỏi rùng mình. Thú thực với anh, tôi dạy ở trường Trung cấp Lâm nghiệp Trung ương Trảng Bom 2 năm; về Lâm trường Hiếu Liêm 13 năm nhưng, nhưng tôi chưa từng đến Cát Tiên! Địa bàn Vườn Quốc gia cát Tiên (VQGCT) cũng thuộc tỉnh Đồng Nai, nhưng thời ấy, đường đến VQGCT rất khó khăn, người dân gọi là con đường đau khổ. Đường không có, điện cũng không, thông tin liên lạc càng không có. Anh em kiểm lâm uống nước giếng thì bị phèn, nước sông nước suối thì sốt rét. Từ sốt rét rừng đến sơ gan cổ trướng, đến lúc ra nghĩa địa thật…gần! Các trạm kiểm lâm rất sâu và xa, mỗi trạm chỉ 5-6 người, thường xuyên có từ một đến hai người phải nằm viện vì bị sốt rét rừng… Người đi phép, người về nghỉ bù - do xa quá nên một tháng anh em thay nhau về thăm nhà, đi và về cũng hết ba bốn ngày - do vậy rất khó khăn, nguy hiểm. Người Kiểm lâm luôn cảm thấy cô quạnh giữa rừng sâu mênh mông. Rừng thì nhiều cây gỗ quý, thú rừng còn rất nhiều nên lâm tặc thường xuyên thâm nhập. Kiểm lâm phải đối đầu với Lâm tặc chẳng khác chi tứ bề thọ địch! Tính mạng anh em ngàn cân treo chỉ mành, muôn trùng khó khăn nguy hiểm.


Rất may là khi được quan tâm, động viên, lực lượng Kiểm lâm chúng tôi ai cũng cố gắng vượt qua khó khăn, chấp nhận hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ. Nhìn đội ngũ anh em Kiểm lâm, lòng tôi day dứt khôn cùng! Ai cũng "mặt xanh nanh vàng", quần áo tơi tả, nhìn mà thương xót, đau lòng lắm, đêm về nghĩ nát óc, mất ngủ, nhưng không biết phải làm sao. May mà lãnh đạo tỉnh Đồng Nai rất quan tâm đến công tác quản lý bảo vệ rừng, thường xuyên thăm hỏi động viên anh em Kiểm lâm.


Tôi kiên trì, thường xuyên báo cáo, thuyết phục với tỉnh, với bộ về hiện thực đời sống, môi trường làm việc của lực lượng Kiểm lâm. Anh em kiểm lâm ở các trạm giữa rừng sâu, xa nhà, xa đường giao thông, không điện nước, không thông tin…, ngày đêm đối mặt với biết bao gian khổ nguy hiểm: Từ lâm tặc cho đến thời tiết mưa lũ, khô hạn khắc nghiệt, thú dữ, bệnh tật, sốt rét rừng… nhất là phải thường xuyên sẵn sàng chiến đấu với lâm tặc. Phải làm sao giữ vững tấm lòng thanh sạch cho anh em để duy trì sức chiến đấu nhằm Giữ rừng tại gốc?!


Thự tế phũ phàng thay! Tại VQGCT cũng như toàn bộ lực lượng kiểm lâm ở các Khu rừng đặc dụng nói chung không được hưởng chế độ công chức mà chỉ là viên chức, trong khi kiểm lâm ở các địa phương không ở trong rừng, không đối đầu lâm tặc, chỉ ở phố huyện, tỉnh, lại được công nhận là công chức, lương bổng, chế độ chính sách cao hơn… Điều bất công đó ai cũng biết nhưng không sửa được vì người ta bảo đó là cơ chế chính sách hiện hành. Những quy định do con người làm ra, nay thấy nó không còn phù hợp, phản động, phản nhân văn, trì kéo sự phát triển, triệt tiêu động lực… thì phải nhanh chóng xóa bỏ chứ! Tại sao cứ vin vào cơ chế chính sách hiện hành mà tiếp tục hành hạ Kiểm lâm?


Tính mạng anh em kiểm lâm trong rừng thật sự bị coi rẻ vì nếu bị tai nạn, bị bệnh, khi đưa ra tới đường giao thông thì không kịp nữa! Nhiều người mất mạng oan uổng. Đời sống vật chất, tinh thần thiếu thốn vô cùng, các phúc lợi công cộng xã hội anh em không được thụ hưởng. So với lực lượng công an, bộ đội thì Kiểm lâm thiệt thòi hơn rất nhiều, thu nhập rất thấp, trách nhiệm không tương xứng với quyền hạn, bởi thường xuyên là "quyền rơm vạ đá".


Việc Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai chấp thuận cho Kiểm lâm VQGCT hưởng phụ cấp hàng tháng bằng một tháng lương cơ bản đã khích lệ anh em rất lớn. Nhưng chỉ được vài năm, đến cuối năm 1998, VQGCT chuyển giao về Bộ quản lý thì anh em bịt cắt, không còn khoản phụ cấp đó nữa.


Tôi làm giám đốc Cát Tiên được 3 năm, đến năm 1998, Chính phủ quyết định mở rộng VQGCT qua hai tỉnh Bình Phước và Lâm Đồng, đồng thời chuyển giao quyền quản lý về Bộ Lâm Nghiệp, sau là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Tôi tiếp tục được tín nhiệm làm giám đốc.


Gian khổ quá, mồi nhử của lâm tặc dai dẳng và quyến rũ quá, nên đã có một số người tha hóa, biến chất, thông đồng với lâm tặc. Suy cho cùng, đây cũng là chuyện ắt phải xảy ra theo quy luật! Tôi thấy đau lòng trước nhiều con người cụ thể, họ vốn rất có tấm lòng với rừng, vì đói quá mà bị mua chuộc, tha hóa, đi tới phản bội rừng...


Rất may là từ khi thực hiện chủ trương giữ rừng tại gốc, lấy Kiểm lâm là hạt nhân chủ lực, dựa vào đồng bào tại chỗ, nhờ sức mạnh quần chúng nhân dân, những kẻ thoái hóa, phản bội rừng lần lượt bị đưa ra ánh sáng, bị trừng trị theo pháp luật… Rừng nhờ vậy mà được gìn giữ, bảo vệ tương đối tốt.


Tôi đánh giá rất cao những cộng sự của tôi. Lòng tôi luôn tri ân trước sự hy sinh, cống hiến thầm lặng của họ. Tôi yêu quý môi trường thiên nhiên Cát Tiên vô cùng. VQGCT giàu có, đa dạng sinh học, là tài sản vô cùng quý báu của quốc gia, của dân tộc và của thế giới. Chúng tôi, nhân dân và lãnh đạo tỉnh, lực lượng Kiểm lâm đã chấp nhận gian khổ, hy sinh để gìn giữ cho hôm nay và cho thế hệ mai sau.


Sau khi Nhà máy thủy điện Trị An khánh thành, đi vào hoạt động, gần hai chục lâm trường của Đồng Nai nếu tiếp tục khai thác rừng thì chả mấy chốc mà rừng Đồng Nai trắng sạch sành sanh y hệt tỉnh Bình Dương lân cận! Có rất nhiều người tâm huyết với rừng, coi rừng là tài nguyên quý giá của quốc gia, đã lên tiếng. Phúc cho tỉnh, phúc lớn lắm, năm 1997, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai ra quyết định đóng cửa rừng!


Đóng cửa rừng thì hàng ngàn công nhân và gia đình họ đi đâu, về đâu?


Chính thời gian này, tôi tham mưu cho lãnh đạo tỉnh Đồng Nai sáp nhập các lâm trường thành lập Khu bảo tồn Thiên nhiên- Văn hoá Đồng Nai. Từ ý tưởng đến hiện thực mất quá nhiều thời gian. Mãi đến cuối năm 2003, Khu bảo tồn Thiên nhiên- Văn hoá Đồng Nai (KBTTNVHĐN) được thành lập. Bốn năm sau, năm 2007, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai gợi ý đưa tôi về làm giám đốc Khu bảo tồn. Tại Cát Tiên, thời điểm đó mọi việc đã đã đi vào nền nếp. Tôi nhận lời về làm Giám đốc KBTTNVHĐN cho tới ngày nay.


Trích băng ghi âm lời của ông Trần Văn giới thiệu về Khu bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai (KBTTNVHĐN):


Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai có vị trí đặc biệt quan trọng, nằm ở trung tâm của các tỉnh miền Đông Nam bộ, cách thành phố Biên Hòa 40km và thành phố Hồ Chí Minh 70km. KBTTNVHĐN trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai, nằm trong hệ thống rừng đặc dụng và di sản văn hóa Việt Nam. Tổng diện tích toàn khu 100.303,8 ha. Rừng và đất rừng 67.903,8  ha; Hồ Trị An 32.400,0 ha. Chúng tôi có nhiệm vụ: Tổ chức quản lý, bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái rừng, cảnh quan tự nhiên và các loài động vật, thực vật rừng, góp phần mở rộng nơi cư trú và cho các loài động vật hoang dã. Thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng; phòng trừ sâu bệnh hại rừng. Tổ chức ngăn chặn các hành vi xâm hại đến tài nguyên thiên nhiên. Quy hoạch, tổ chức bảo tồn và tái tạo các loài thủy sinh bản địa; thực hiện quản lý, khai thác, thu mua, tiêu thụ thủy sản một cách hợp lý và bền vững trên hồ Trị An; tổ chức các dịch vụ cung ứng vật tư, thiết bị, thức ăn nuôi trồng thủy sản. Quy hoạch, tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát việc nuôi trồng thủy sản trong hồ, các lồng bè, đăng chắn lưới trên vùng eo ngách, bán ngập trên nguyên tắc không gây ô nhiễm vùng nuôi, không ảnh hưởng đến lượng nước hồ Trị An. Tổ chức quản lý, bảo tồn, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Chúng tôi tham mưu cho tỉnh Đồng Nai đề nghị cấp có thẩm quyền xét công nhận các giá trị văn hóa, tự nhiên của Khu Bảo tồn. Tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái rừng; sinh thái hồ Trị An; du lịch sinh thái nông  thôn, du lịch cộng đồng, du lịch về nguồn nhằm phát huy các giá trị cảnh quan, môi trường và di tích lịch sử văn hóa. Hợp tác, liên kết với các tổ chức, các nhà khoa học trong nước, ngoài nước để thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực có liên quan. Tổ chức các dịch vụ liên quan đến nghiên cứu và đào tạo. Phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng và triển khai thực hiện các dự án phát triển vùng đệm, tổ chức ổn định dân cư trong vùng gắn với công tác quản lý, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và di tích lịch sử văn hóa. Tổ chức gieo ươm các loài cây lâm nghiệp, nông nghiệp, các loài thủy sản có giá trị, các loài cây cảnh phục vụ nhu cầu của Khu Bảo tồn và nhân dân trong khu vực; tổ chức các hoạt động sản xuất phụ trợ từ các nguồn lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ phục vụ sản xuất khác. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái và di tích lịch sử văn hóa. Tổ chức xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển Khu Bảo tồn.


Về thực vật, đã phát hiện và định danh được 1.552 loài, trong đó có 10 loài nằm trong danh sách các loài nguy cấp, quý hiếm; 28 loài có tên trong Sách đỏ thực vật Việt Nam.


Về động vật, đã phát hiện và định danh được 1.877 loài, trong đó có 86 loài nằm trong danh sách các loài nguy cấp, quý hiếm. Chim: 348 loài, 64 họ, 18 bộ; có 21 loài quý, hiếm. Lưỡng cư: 41 loài, 6 họ, 2 bộ, có 6 loài quý, hiếm. Thú: 85 loài, thuộc 27 họ và 10 bộ.


Đồng Nai là tỉnh công nghiệp phát triển, nhưng còn giữ được diện tích rừng tự nhiên liền mạch rộng hơn 150.000 ha, có hồ nước lớn và có cả di tích văn hóa lịch sử, gần các thành phố lớn trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam. Đây là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia, của dân tộc, có ý nghĩa to lớn cho sự sống, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, giáo dục tinh thần  yêu nước và đặc biệt là cho sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng một cách bền vững.


(Hết băng ghi âm).


Người viết: Anh tuổi Canh Tý, canh biếm vi cô, vậy có lúc nào anh cảm thấy cô đơn như một thân một mình giữa rừng sâu không?


Trần Văn: Tôi như người bắn không được phải đền đạn, hay nói cách khác tôi tham mưu thành lập KBTTNVHĐN, thì tôi phải về xây dựng cho đúng mục đích và mong muốn. Đồng hành với tôi là 3 Phó Giám đốc: Tiến sĩ Nguyễn Minh Tâm, Tô Bá Thanh, Nguyễn Hoàng Hảo, cùng các phòng ban KBTTNVHĐN. Mười năm không là dài cho sự chuyển đổi và phát triển một vùng sinh thái, nhưng nhờ rút nhiều kinh nghiệm từ VQGCT nên tôi và cộng sự đã nỗ lực bảo vệ, xây dựng KBT tương đối tốt. Rừng được giữ gìn, xây dựng và đang phát triển tốt, đa dạng sinh học được phục hồi phong phú. Các di tích văn hoá lịch sử được chỉnh trang, và đã bắt đầu phát huy hiệu quả.


Chúng tôi mong muốn được lãnh đạo tỉnh, bộ, ngành, trung ương nhìn nhận và đánh giá đúng tầm quan trọng của KBT trong sự nghiệp bảo tồn thiên nhiên và giáo dục truyền thống cách mạng; hun đúc tinh thần yêu nước mà ông cha ta đã gầy dựng thành truyền thống tốt đẹp. Các ngành, địa phương cùng phối hợp để các giá trị KBT được mọi người biết, hiểu, cùng nhau gìn giữ, xây dựng và thụ hưởng những giá trị vật chất, tinh thần mà KBT đang chứa đựng. Có như vậy KBT mới có thể tạo tích lũy thông qua các hoạt động dịch vụ, chủ động tạo nguồn thu nhằm tăng nguồn lực để góp phần bảo vệ, xây dựng KBT phát triển toàn diện và bền vững.


Người viết: Anh nghĩ gì khi nhìn ra các Khu bảo tồn thiên nhiên, Khu dự trữ Sinh quyển của nước ngoài?


Trần Văn: Ngày 29/6/2011, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển (KDTSQ) thứ 580 của thế giới và là KDTSQ thứ 8 tại Việt Nam.


Việc được UNESCO công nhận danh hiệu Khu DTSQ Đồng Nai là vinh dự và trách nhiệm to lớn mà Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Đồng Nai và các tỉnh kế cận, hướng tới mục tiêu “Bảo tồn để phát triển - phát triển để bảo tồn”.


 Các Khu bảo tồn của nước ngoài, đặc biệt là những nước phát triển, được xây dựng từ lâu và được đầu tư thỏa đáng về con người, về cơ sở vật chất và nhất là cơ chế quản lý, chế độ, chính sách, tạo ra tính chủ động để vận hành hiệu quả cao. Các khu bảo tồn, rừng đặc dụng Việt Nam hiện nay chưa được quản lý thống nhất, còn nhiều bất cập. Có khu thuộc Bộ quản lý, có khu thuộc tỉnh quản lý, có khu thuộc sở NN&PTNT quản lý, thậm chí có khu thuộc Chi cục kiểm lâm hoặc UBND huyện quản lý. Hoạt động các KBT liên quan nhiều địa phương, nhiều bộ ngành do vậy trong quá trình hoạt động, gặp rất nhiều khó khăn, hệ thống không thống nhất nên không có điều kiện giao lưu trao đổi kinh nghiệm, nhiều cấp quản lý khác nhau nên không thể thống nhất để đề xuất Chính phủ ban hành chính sách, chế độ đãi ngộ. Để khắc phục tồn tại, yếu kém trên, theo tôi, Chính phủ cần giao cho một cơ quan có đủ năng lực chuyên môn quản lý đầu mối các KBT, đồng thời điều tra đánh giá lại quy mô, chất lượng, giá trị đa dạng sinh học, đa dạng văn hoá và tầm quan trọng của từng KBT để từ đó có kế hoạch đầu tư con người, cơ sở vật chất và cơ chế vận hành. Để các KBT phát huy giá trị trong đời sống chính trị, kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng một cách thuận lợi và bền vững, cần giao quyền chủ rừng cho các BQL để mỗi BQL vận dụng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng mà mỗi KBT sẵn có. Bộ máy quản lý cần thống nhất trên quan điểm mở để tùy từng địa phương, từng KBT vận dụng linh hoạt và hiệu quả.


Uống với nhau những ly rượu mật nhân trong nhà khách KBTTNVHĐN, tôi và Trần Văn trò chuyện đã lâu. Chừng như ông còn muốn nói nhiều nữa về những khát khao cháy bỏng, yêu rừng như yêu cuộc đời mà ông dành cả tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết của mình dâng hiến… Thoắt đà 57 tuổi rồi, chả mấy nữa mà Trần Văn nghỉ hưu. Năm ngoái, 2016, tháng Tám, cũng vào dịp này, số phận giáng xuống ông và gia đình ông tấn bi kịch lớn: người con trai trưởng, con trai độc nhất của ông, du học từ Mỹ về, đang làm doanh nghiệp gia đình, đã chết vì đột quỵ… Cả tháng trời vợ chồng Trần Văn sống mà như vô hồn. Nhìn đâu Trần Văn cũng thấy hình ảnh con trai. Trần Long Anh cao hơn cha, to khỏe và đẹp trai hơn cha… Cháu bơi lội gỏi thế mà… sau bữa tiệc ở nhà bạn, cháu tắm đêm, rồi nằm luôn ở đáy hồ, cháu chết vì nước tràn ngập phổi!


Trần Văn: Nỗi đau mất con dày vò tôi mãi! Tôi biết là hết kiếp này tôi cũng không nguôi ân hận… Tôi không có điều kiện làm người cha tốt! Tôi thường xuyên xa nhà do đặc thù nghề nghiệp. 1987, cưới vợ xong, tháng trăng mật mà phải một hai tuần tôi mới về với vợ. Lúc ấy, các lâm trường làm gì có đường xá thuận lợi như bây giờ. Hơn một năm sau, vợ sinh con trai đầu lòng. Tôi đặt tên cháu là Trần Long Anh, mong cháu tuổi con Rồng, sau này tinh anh, thông thái...


Năm 1995 tôi được điều lên làm giám đốc Cát Tiên, càng xa nhà hơn! Thời đó, hơn 100 km đường rừng, đi lại vô cùng cực khổ, hai ba tuần tôi mới về thăm nhà. Không ít lần ba đứa con tôi nói lên ao ước: được Ba đưa, đón đi học như chúng bạn! Ước ao giản dị là thế mà tôi không thực hiện được vì tối khuya thứ Bẩy mới về tới nhà, sáng thứ hai phải đi sớm!


Con trai tôi du học ở Mỹ về, không làm việc Nhà nước mà ở nhà giúp Mẹ kinh doanh. Cháu mất vào ngày 13 tháng 8 năm 2016, nhằm ngày 11 tháng 7 năm Bính Thân. Cháu Long Anh rất đẹp trai, khỏe mạnh, chưa lập gia đình…


Sau ngày con trai qua đời, tôi chìm đắm trong nỗi đau, tưởng chừng gục ngã luôn. Thế rồi, tôi choàng tỉnh, nói với vợ: Em à, số phận an bày như vậy rồi, ta phải vượt qua nỗi đau này. Phải vượt qua để sống cho tốt thì con trai mới thanh thản miền cực lạc, em à…


Những lúc đau buồn nhất, tôi thường nghĩ đến những người còn gặp hoàn cảnh, gánh chịu khó khăn gấp bội mình, để tự động viên nhằm vượt qua số phận, sống cho ý nghĩa. Tôi nghĩ nhiều về cái gọi là số phận đã an bày cho từng kiếp người. Dẫu sao, cuộc sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi chúng ta vượt thoát số phận trớ trêu, cố gắng hoàn thành sứ mạng làm Người của mình. Hiện thực vẫn xảy ra nhiều điều không công bằng, không văn minh và thậm chí không đúng đạo lý, đòi hỏi trách nhiệm, lòng nhân và lòng dũng cảm của chúng ta nhằm làm cho cuộc đời đáng sống, tươi đẹp hơn...


Những lúc rảnh, tôi mê đọc sách văn học, nhất là tiểu thuyết. Văn học làm tâm hồn tôi thanh thản và thanh lọc… Thời học sinh, tôi mê rừng nên đọc nhiều truyện đường rừng. Sau, tôi tha thiết yêu rừng, tha thiết với cuộc đời của những người giữ rừng nên tìm đọc nhiều tiểu thuyết tâm lý xã hội, những tiểu thuyết đậm chất hiện thực phê phán nhằm tôn vinh lòng nhân ái và nghĩa cử của con người. Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu, tôi vẫn cười mãi nhân vật Sài, ngẫm nghĩ tôi vẫn còn hạnh phúc hơn anh Sài nhiều…


Bữa trước, sau khi đi hồ Trị An về, nhà văn có hỏi tôi về chuyện sinh nhai của một ngàn hộ dân nuôi trồng thủy sản và sinh sống trong hồ. Thật là nan giải. Tôi cùng anh em trong KBT đã tìm mọi cách kiến nghị, thuyết phục cấp có thẩm quyền trong việc nhập hộ khẩu, tạo điều kiện cho bà con mình từ Biển hồ Campuchia trở về đây an tâm sinh sống, phát triển sản xuất. Một phần lớn số hộ đã được giải quyết. Thế nhưng, còn nhiều khó khăn lắm! Nào là y tế, giáo dục, dịch vụ, nào là thu mua kịp thời nguồn thủy sản cung ứng cho các thị trường. Đặc biệt, chuyện an ninh trật tự, giữ gìn cuộc sống, môi trường thanh bình bền vững cho dân. Gần đây, đã xuất hiện nạn giang hồ khống chế các hộ dân nhằm ép giá, tranh mua thủy sản… Biết bao quy định, chính sách, luật lệ do con người đặt ra nhưng lại bất cập với nhân tình thế thái… Tôi ước ao sao cho bà con mình được ngẩng cao đầu mà sống, mà làm giàu. Khi người dân được trân trọng thì lòng thanh thản và luôn luôn hướng thiện. Lúc đó, từng người dân sẽ tự giác bảo vệ gìn giữ Khu Dự trữ Sinh quyển quý giá này! Lực lượng Kiểm lâm có tài Thánh mà không có dân giúp đỡ thì lâm tặc vẫn lộng hành!


Nhà văn hỏi tôi về chuyện riêng tư… Anh biết đấy, một người như tôi, bằng sự quen biết của mình, tôi có thể dễ dàng lo cho các con vào làm một vị trí thuận lợi trong cơ quan Nhà nước. Nhưng tôi lại không làm vậy. Các con tôi không cháu nào làm việc trong cơ quan Nhà nước. Hiện các con tôi đều làm doanh nghiệp tư nhân. So với người làm cơ quan Nhà nước thì các con tôi cực hơn nhiều, làm hơn 10 tiếng một ngày. Sở dĩ tôi quyết định như vậy vì tôi muốn các con tôi phải tự lực tự cường, tự vươn lên, không ỷ lại và nhất là không ăn bám ngân quỹ quốc gia. Không biết tôi quyết định như vậy có đúng không, nhưng trước mắt các con tôi rất hào hứng trong công việc và cuộc sống, chưa từng có ý than phiền về quyết định này; mặc dù bạn bè của con tôi có nhiều người làm việc ở những vị trí "béo bở", rất hoành tráng bởi những nguồn thu nhập “ngoài luồng”. Tôi thanh thản vì các con tôi ngoan, hiểu tính cha mẹ. Tôi tự hào và luôn thầm cảm ơn sự đồng cảm của vợ và các con mình. Chính nhờ vậy mà tôi có thể toàn tâm toàn ý gắn bó với rừng, yêu rừng như yêu cuộc đời này!


Thành phố Hồ Chí Minh, 01-09-2017


Triệu Xuân


 







[1] Mạ là dân tộc Mạ. Đà, hoặc Dak (đắc) tùy theo cách phát âm của mỗi tộc người, nghĩa là nước. Mạ Đà là bến nước của dân tộc Mạ. Bà con dân tộc thườngc dựng nhà sống quần tụ ở nơi có nước.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nước mắt “Hoa hậu làng” - Đỗ Xuân Thu 20.11.2017
Người đàn bà nghe nhạc đêm - Lưu Thị Mười 19.11.2017
Như vạt rêu ngoài suối - Kiều Duy Khánh 05.11.2017
Nhà số “100Big” - Y Mùi 17.10.2017
Nơi bão đi qua - Trịnh Bích Ngân 17.10.2017
Mụ Tân - Y Mùi 12.10.2017
Người tử tế - Y Mùi 12.10.2017
Vương quốc mộng mơ - Nguyễn Trường 23.09.2017
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
xem thêm »