tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20563413
Thơ
21.08.2017
Hoài Anh
Tuyển tập Thơ Hoài Anh (1)


Nhà văn Triệu Xuân: Năm 2008, khi đưa bản thảo tập thơ Hòa mạng cho tôi biên tập để xuất bản tại NXB Văn học, nhà văn Hoài Anh cho biết: Hòa mạng là tập 3 trong Tuyển tập Thơ Hoài Anh. Ông đã tự tuyển chọn thơ của mình, phần còn lại dự định sẽ xuất bản thành hai tập 1 và 2, mỗi tập 250 trang.

Trước khi qua đời năm 2011, nhà văn Hoài Anh đã giao toàn bộ Di cảo của mình cho Nguyễn Tý. Nay, sau 6 năm kể từ khi nhà văn Hoài Anh từ trần, Tuyển tập Thơ Hoài Anh được NXB Hội Nhà văn cấp Giấy phép, Nguyễn Tý biên soạn, con trai tác giả đầu tư in ấn. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


Từ một đêm tháng Năm


Kỷ nguyên mới mở ra khép đêm dài nô lệ


19.5 thành sinh nhật của niềm mơ


Nghĩ đến Bác, gánh nghìn cân bỗng nhẹ


Ai cũng mong Bác đỡ mối âu lo


 


Gió mơn râu Người, từng mơn triệu lá cây xanh


Mây dừng ngắm Người, từng ngắm những công trường ngói đỏ


Dòng gang lượn dưới chân Người chúc thọ


Núi than chồng quà dâng Bác thêm cao.


 


Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên quyết định san bằng cứ điểm:


Chiến công kết bó hoa mừng thọ của đàn con.


Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh nắm tay nhau hứa hẹn:


“Trước ngày sinh nhật Bác, ta có mặt ở Sài Gòn”


 


Đường Thống Nhất từ nét chì Bác vạch


Hoàn thành khi sinh nhật Bác đến tuần


Nam Bắc từ đây nối liền huyết mạch


Hẳn Bác thỏa lòng yên giấc trường xuân


 


Từ bệ phóng tháng năm vút lên bao kỳ tích


Bao vỉa tiềm năng phơi dọc lộ trình.


Từng mốc lớn dẫn ta đi tới đích


Mãi mãi quay vòng, cái đẹp nảy sinh...


 


Ngày sinh Người thành ngày sinh thế hệ Hồ Chí Minh


Thời đại Hồ Chí Minh đánh dấu vào vô tận


Từ một đêm tháng năm, gió hoa cau rắc phấn


Mái tranh nghèo lốm đốm giọt trăng mơ.


 


 


Làng Chùa, 1890-1895


 


Đêm tháng năm chập chờn trên cánh vạc


Bay qua đầm le lói vũng ngầu đen


Tiếng mõ làng Chùa điểm canh rời rạc


Và hương cau dìu dặt đón hương sen


 


Gió vô tình vặn hàng tre rên xiết


Mây thản nhiên trôi lấp bóng trăng đầy


Như thường lệ, thời gian đi mải miết


Quên ngoái nhìn cảnh đói rách nơi đây


 


Đêm ấp ủ điều chi trong đôi cánh nhung mềm mại


Niềm dự cảm nào hé giữa đỉnh non Chung


Ai biết từ đây ra đời một con người thần thoại


Ánh sao băng rạch sáng đến vô cùng


 


Cậu bé Cung lọt lòng trong túp tranh nhỏ bé


Cùng một lúc với nụ sen tách khẽ


Tiếng khóc chào đời chung tiếng khóc non sông


Người cứu tinh đến giữa sắc nâu sồng.


 


Chẳng cần chín con rồng phun nước tắm


Chẳng cần thiên thần có cánh đến chào thăm


Lời ru Người là câu vè hát dặm


Dòng sữa mẹ nghèo cà nhút quanh năm.


Cánh tay mẹ như dòng sông Lam mềm mại


Quàng ôm non Hồng vầng trán nhú bình minh


Tiếng khung dệt gieo vào đêm nhẫn nại


Hòa tiếng hát đò đưa nước non là nghĩa là tình


 


Đồng Én cậu Cung mê mải đâm diều


Dán thêm hai đuôi tạo thế diều lên mạnh


Diều no gió như đại bàng vút cánh


Một đà bay hứa hẹn sải tầm xa...


 


 


 


Huế, 1895-1909


 


Theo cha vào Huế, học trường tiểu học Đông Ba


Bên ngã tư Âm Hồn vùi xác người hồi kinh thành thất thủ


Lâu đài nguy nga, túp tranh tạm bợ


Hai cảnh đời trái ngược cùng soi mặt nước sông Hương


Ao gấm nón kinh san sát trên đường


Trơ thân tượng võ văn chầu lăng miếu


Nhìn núi Ngự Bình đang tròn bỗng méo


Cờ Ngọ môn vàng ủng gió hoàng hôn


Thao thức đêm thâu muốn hỏi quốc hồn


Trang sử Nước thắp bên đèn quạnh quẽ


 


Nhớ lời cha: “Quan trường là nô lệ


                        trong đám nô lệ, càng nô lệ”


Nghe chung quanh sôi nổi chuyện trò


Lọt vào tai tiếng “Bác ái”, “Tự do”


Khung trời mới mở bừng trong khối óc


Như tiếng chuông bỗng reo mái cổng trường Quốc học


Nhắc nhở dân mình sống tủi cực lao đao


Gia Hội đường khuya lầm lũi gánh chè rao


Phu Cửa Rào dưới làn roi sức dần kiệt quệ...


Mũ đập bẹp chóp,


Người làm thông ngôn cho cuộc biểu tình chống thuế


Pháp nổ súng cầu Trường Tiền loang máu điểm con đường...


 


Trường Dục Thanh, 1910


 


Bên sông Cà Ty, Dục Thanh khiêm tốn mái trường


Mái ngói âm dương nối từ đường thảo bạt


Bóng Người in giếng nước trong ngọt mát


Cây khế vươn bên khóm huệ, trúc đào.


 


Cầu thang bắc lên gác Ngọa du sào[1]


Đi văng gỗ bên chiếc giường bằng sắt


Yên thư nhỏ sách chồng cao chất ngất


Người thức đêm đọc sách tới canh ba


Bàn gỗ mun đen cùng các thầy nhấm nháp chén trà


Ấm “Lục Ẩm” tỏa mùi hương hiền triết


Thầy Thành dạy học trò biết yêu tiếng Việt


Dậy trước bình minh tập thể dục chuyên cần


 


Đình Đức Nghĩa thầy trò xem hát bội đêm xuân


Động Làng Thiềng nghỉ ăn trưa


            đọc Lục Vân Tiên kể chuyện người trung với nước


Bờ biển Thương Chánh ra khơi


            cùng dân chài ăn cá nục tươi nấu me nêm thêm hành ớt


Bến Cồn Chà hỏi bà con cách nhìn sao nhìn núi


            tìm phương hướng trên mặt biển mông mênh


 


Đồi ông Hoàng dõi bóng thuyền mất hút giữa xa xanh


Gió thổi mặn mòi mắm cá tôm Phan Thiết


            Ôi! Phan Thiết! Phan Thiết!


Quyện mãi hồn Người trong giờ giã biệt...


 


 


Bến Nhà Rồng, 1911


 


Tàu hồng hộc thở


phun khói nhọ trời


nhọ mây, nhọ đất, nhọ cảnh,


                                    nhọ người


khuân vác còng lưng dưới nắng


Đầu lút xuống, lầm lũi từng mảng trắng


Những kiện hàng biết đi


Ở đây chỉ có những hình khối lầm lì


thép


      đá


         xi măng


                    gỗ hòm chất đống


Mặt trời nhìn với cái nhìn bất động


 


Giữa lúc này xuất hiện một Con Người


Nhìn tất cả với cái nhìn xúc động


Ngoài kia sóng và gió lao xao


Tranh nhau kể về những chân trời xa lạ


Cánh hải âu lượn vòng thong thả


Đất nước cầm tù đàn chim gọi tự do


 


Đôi mắt lệ nhòa


như qua nước phản chiếu ánh cầu vồng bảy sắc


Thấy những tướng Cần Vương ngựa phóng vào thế giặc


Ngã xuống sau làn khói đại bác mờ mờ


Những chí sĩ lên đường vượt biển Đông du


Sẩy bước Phù Tang, dở cười dở khóc


Những chiến sĩ ngồi nhớ thời ngang dọc


Đánh chìm đời trong cốc rượu nồng men


Trang binh thư ngả xuống cạnh bàn đèn


Trí dũng vướng trong vòng vây tóc xõa


Những thanh niên vũng phù hoa sa đọa


Tiệm nhảy quầng đèn hỏa táng thiêu thân


Phách hồng lâu buông tiếng tiếng chậm dần:


Nhịp xênh gõ đưa quan tài hạ huyệt


 


Không thể dấn đời chầm chậm vào cõi chết


 


Trang sách bụi mở ra không tiếng đáp lời


Rời Phan Thiết vào Sài Gòn học trường bá nghệ


Từ cỗ máy, Anh Ba nhận ra thời thế


Chuyển xoay theo động cơ khoa học văn minh


Sài Gòn giấu Anh trong tấm áo thợ của mình


Giúp Anh thấy trước những người chủ ngày mai đất nước


Muốn đuổi giặc phải hiểu giặc thật sâu


Cảnh nước Pháp trên phim khiến óc Anh lóe sáng


Phút Anh quyết định


                        không sang Đông


                                    mà phải sang Tây


Kim la bàn Cách mạng bắt đầu quay hướng đúng


 


Còi giục rồi


Chân vịt nặng nề quay


Tiếng nước xé sau bánh lái


mỏ neo cáu kỉnh rít lên


Dây xích thả rào rào thống khoái


Tàu hổn hển no vì những sinh mệnh Việt Nam những tài
                         nguyên Việt Nam về làm giàu cho “Mẫu quốc”


 


“Đô đốc La-tút-sơ Tơ-rê-vin”, mày có ngờ đâu


Mày đã chứa dưới hầm một sinh mệnh Việt Nam vô giá


Một tài nguyên vô tận cho Cách mạng Việt Nam


Một quả bom găm giữa lòng chế độ bóc lột gian tham


Trên boong tàu, Anh Ba vẫy tay


                                  chào Bến Nhà Rồng


                                                 chào đồng bào


                 chào Tổ quốc.


 


Pác Bó, 1941


 


Dòng suối uốn mình bên tảng đá lô nhô


Từng đám cải xoong bập bềnh ngọn lả


Cây phiắc bón[2] mọc cheo leo mướt lá


Cá rầm xanh đáy vực lững lờ bơi


 


Trở về nước sau ba mươi năm phiêu bạt quê người


Tình dân ủ ấm lòng hang Pác Bó


Nền lởm chởm ván ghép thành giường ngủ


Nước mưa rỉ theo khe đá thấm vào đây


Khí núi mịt mùng


            gợi lưới siêu hình tư bản chăng dày


Thiếu cẩm nang Mác-Lênin, khó thoát trận đồ ma quái


Nhớ buổi đọc Luận cương, tìm thấy con đường giải phóng


                                                dân tộc và toàn nhân loại


Nước mắt Người rơi trên trang chữ anh minh


Bác nhìn đất nước mình thấy hình Mác lung linh


Râu tóc lòa xòa lẫn vào hỗn mang đá dựng


Thạch nhũ mềm dưới đường dao cảm hứng


Nét tinh anh tượng Mác rỡ ràng lên


Trời đất lầm cát bụi bao phen


Tâm hồn Lê-nin trong ngần suối mát


Tay Bác trỏ: Đây suối Lê-nin kia núi Mác


Đất vô danh tên một buổi lừng danh


 


Hoa voòng vỉ lập lòe ánh lửa trước hang


Dây leo lá xanh tím quấn quít bàn đá phẳng


Lán Khuổi Nậm họp Trung ương áo chàm xen áo trắng


Mặt trận Việt Minh: nguồn nước dấy cao trào


“Cúng Hồ” nâng gậy trúc đọc “Bài ca du kích”


Suối Thác họa:


                                    Ào ào ào


Du kích quân


            Cứu quốc quân


                                                AØo aøo aøo


 


Ngôi nhà 48 Hàng Ngang, 1945


 


Đêm lút chìm trong ngôi nhà cổ Hàng Ngang


Tiếng lá trở mình mái rêu thầm thĩ


Tiếng sấu chín rụng vào ý nghĩ


Mùa thu xanh một tiếng còi tàu...


 


Cụ già ngồi đêm trắng chòm râu


Mắt lấp lánh lướt trên bàn máy


Chữ lách tách chim vui chuyền nhảy


Mặt giấy như còn chi chít vết chân...


 


Bà u già lên săn sóc ân cần


Cụ mỉm cười bảo không có gì cần giúp đỡ


Lời thăm hỏi đánh tan niềm bỡ ngỡ


Tấm lòng bà cởi mở chuyện riêng tây.


 


Nỗi cha trút hơi bốn vách ngục dày


Nỗi chồng đi phu đồn điền bón xác


Nỗi mình đem thân tôi đòi cửa khác


Nỗi con vừa chết đói tháng ba...


 


Ngọn lửa đèn khuya run rẩy lời bà


Niềm căm hờn như cháy cùng lửa ấy


Đốt trụi hết lớp vỏ ngoài che đậy


Trò “khai hóa, văn minh” lũ giặc Pháp gian tà...


 


Ngày nào sóng cộn chân tàu đưa Bác đi xa


Tuyết trắng ngõ Công-poăng... đêm Pa-ri gió trở


Những ngày Luân Đôn sương mù như quá khứ


Cột đèn lạnh lom đom góc phố hoàng hôn


Những bến châu Phi rực rỡ... nhưng đời buồn


Đời người da đen...


 


những mảng đêm lầm lũi đi trong nắng sáng


Người bộ hành trường kỳ Cách mạng


Ai đếm được những chặng đường lặn lội Bác đi...


...Cần Giuộc, Hương Sơn, Yên Bái, Nam Kỳ


Những tiếng hát mất đầu trên máy chém


Người gục ngã cánh đồng trưa nắng sém


 


Người vụn xương vách đá lở trong hầm...


Đi khắp phương trời, bao cảnh thương tâm


Đau hơn hết cảnh đồng bào đói khổ...


Tất cả dần dần hiện lên thành chữ


Trong im lặng vô cùng, ngòi sột soạt đưa nhanh...


 


Như cây đàn ngừng đánh còn thổn thức âm thanh


Giữa nhà, bà vẫn nghẹn ngào đứng sững


Bà có hay đâu mình đứng làm nhân chứng.


Bàn ăn này thành tòa án nghiêm trang


Trên bục cao lịch sử, Bác ngồi nghe thời đại âm vang


Giữa đêm nhân gian đang tranh giành thiện, ác


Từ yêu sách gửi Véc-xây không tiếng đáp


“Bản án thực dân” viết hôm nào, nay được xử công khai


Bút nặng máu xương chồng chất tháng năm dài...


Đêm nay... Đêm mùa thu đẹp quá


Tổ Quốc và trăng sao đều thức cả


Bác thao thức ngàn xưa và rạo rực ngày mai


Ôi bàn tay vết lao khổ hằn chai


Nắn nót từng dòng khai sinh nước Việt


 


Ai có ngờ đâu cụ già áo nâu hở ngực


Vừa buông bút còn long lanh nét mực


Nghỉ ung dung, nhả khói thuốc mờ bay


Như cụ lão nông vừa xong một đường cày...


Những đường cày rạch sâu vào thế kỷ


Giống Độc lập, tự do, trong máu bùn ngâm kỹ


Gieo nở triệu mùa no ấm gối nhau


Ngọn lửa vui mừng nhảy nhót đêm thâu


Chừng hiểu được công việc mình trọng đại


Cứ muốn sáng đến tột cùng, sáng mãi


Soi phút diệu kỳ lịch sử hoài thai...


 


Chiều Ba Đình, tháng chín, mồng hai


Bà ngỡ ngàng nhìn lên đài cao vút gió


Người đứng trên kia có phải cụ già hôm nọ


Trong bản Tuyên ngôn như có lẫn lời bà


Có cả cuộc đời tủi cực đi qua


Từ tiếng khóc òa lời ca chiến thắng...


Mắt bà lóa giữa bao nhiêu nắng


Mơ thấy cha, chồng, con về sum họp bên mình


Trong bóng rợp HỒ CHÍ MINH.


 


 


Bắc Bộ phủ, 1945, 1947


Ngã ba Tân Trào có cây đa ba thân


Rễ già buông chòm râu cổ thụ


Phe phẩy trưa hè bóng rợp đàn trâu


Cây đợi ai?


                          Và Lê Gia Định đợi ai?


 


Kìa, ông ké già áo chàm Thổ nón nan to


Tay chống thanh nứa tươi, râu choàng khăn mặt


Trong lá rậm vẫn ngời lên đôi mắt


Bao nhiêu năm nhìn Nước giữa song tù;


Bác đã về


Lê Gia Định theo Bác trèo lên đỉnh đèo Re...


 


Ngày tháng Tám, Tháp Rùa chào lãnh tụ


Lê Gia Định lại theo Bác về Bắc bộ phủ


Bác ký lệnh chống giặc mù buổi sáng


Lớp văn hóa cơ quan vào giảng buổi chiều


Ôi! người cha nửa đời xa đất nước thương yêu


hỏi anh em một câu... sao đến khó


“Bờ biển Việt Nam dài bao nhiêu cây số?”


Hẳn tấm bản đồ treo nơi đất lạ xa xôi


Bác từng đưa tay theo đường cong mấy vạn lần rồi


Cả mảnh đất Việt Nam như còn đượm mồ hôi Bác.


 


Anh nhớ tiếng ho từng đêm gió giật


Dưới ánh điện mờ, Bác đánh máy luôn tay


Chữ nảy lên dưới ngón tay gầy


như hạt giống đã nở thành lúa gạo


Như viên đạn bắn vỡ đầu quân tàn bạo


Bác chợp mắt rồi lại thức trong đêm


Bao nhiêu điều cần nữa phải ghi thêm


Khi quá mệt ngủ dựa thành trường kỷ


 


Bữa cơm rau muống vắt chanh đậm vị


Quả ớt vườn vẫn đỏ một lòng son


Tầng dưới nhà, trên mâm gỗ róc sơn.


Mấy bác cháu chia nhau phần chiếu hẹp


Đêm phòng khách nền đá hoa vân đẹp,


Bác rón chân khỏi động giấc đàn con...


Và giờ đây trong giờ phút sống còn


Lê Gia Định ở lại dinh ngăn giặc


Vẫn thấy Bác qua hành lang nhẹ bước...


 


Dinh Bác nơi trú ngụ của lòng ta


nơi mỗi vật đều đi vào kỷ niệm


Quyết không để giặc nghênh ngang tới chiếm


 


Ôi! trái tim dân tộc là đây


Tường còn in dáng Bác hoa gầy


Tiếng ho khan...


                          nơi Bác ở giờ đây có lạnh?


 


Lê Gia Định nghe cửa ngoài nghiến xích xe tăng


Chạy tới quả bom, nghiến chặt hàm răng


Cả tòa nhà rùng mình như núi chuyển


Bọn giặc dừng chân, bưng mặt kinh hoàng


Trong vôi bụi, bóng anh sừng sững


Lê Gia Định chết như một pho tượng đứng.


 


 


 


Bác Hồ ở chùa Thầy năm 1947


 


Bác Hồ dừng chân trên Nguyệt Tiên Kiều


Ngắm chùa cổ lồng trong mây Phật Tích


Có đá có cây, cảnh nghìn năm u tịch


Hợp niềm mơ trăng xưa hạc cũ với xuân này(1)


Động Bồi Am hơi thu về sớm biết


Đất bao la được đón trước vầng trăng


Nước Long Trì bóng thủy đình gợn nét


Vằng vặc soi hồ ngọc mảnh lòng băng


 


Sao giống cảnh Pắc-bó tiền khởi nghĩa


Non xa xa nước xa xa, trời đất có tình


Cũng sớm ra suối tối vào hang, rau măng cháo bẹ


Máy chữ dạo đàn bàn đá chông chênh


Chòm râu Người hiền óng ánh nắng mai


Chốn lý tưởng của tâm hồn rộng mở:


Khom trúc động bóng chim về đậu cửa


Hoa soi nghiên, nền giấy chững bừng hoa


Tảng đá hoa cương vân mây huyền ảo


Đợi sẵn bàn cờ năm tháng thung dung


Nhưng đất nước đang chuyển rung gót xâm lăng ngược ngạo


Gió vọng từ xa đại bác đùng đùng


Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm. Quyết đánh!


Rời Hà Nội ra đi, Bác tạm gác chùa Thầy


Không dẫm vết chân thoát trần Từ Đạo Hạnh


Người Thầy của toàn dân tính nước cờ thắng Pháp mai đây


 


Nhìn gốc đại đông phơi cành gân guốc


Lá lìa cây, nhường nhựa, nước nuôi thân


Nhớbao đứa con quên mình vì thanh xuân Tổ quốc


Hoa chưa về, hương đã thoảng quanh sân…


Dấu Bảo Gia phơi trắng lạnh xương thù


Cuốn sử đá ghi hào hùng thuở trước


Ngọn bút ai viết tiếp sử bây giờ?


 


Thềm đá nghiêng mình đón Người bậc bậc


Gió níu trăng chờ, nhưng không thể dừng chân


Tiếng những chiến trường ào ào trong gió bấc


Cùng Người lên đường mưu hạnh phúc toàn dân


 


Thôi chào nhé, gốc xương rồng cổ thụ


Đỉnh mây vờn ngạo nghễ gió sương bay


Hẹn trở lại, cả trời đất chỉ dân ta là chủ


Cờ thành hoa về đỏ máo chùa Thầy


Chuông đồng bỗng ngân một âm trầm rung động


Tiễn cánh bằng, đại ngàn Việt Bắc chờ kia


Nói cách mạng mở theo bước chân Người xa rộng


Phút ra đi nhìn thấy trước ngày về


 


Trăng vẫn chờ đây, hoa vẫn chờ đây


Người bạn lớn của thiên nhiên chung tâm hồn vũ trụ


Non vẫn chờ đây


Nước vẫn chờ đây.


 


Việt Bắc, 1953


 


Như tất cả mọi lần


Đồng chí công vụ chống cao cửa liếp


Nhưng phủ thêm lên bàn tre tấm vải bạt xanh


Và lấy thêm ghế nứa


 


Bác Hồ ngồi dép lốp áo nâu


Đôi mắt sáng trên bản đồ Đông dương rộng trải


Điếu thuốc kẹp giữa ngón tay tàn trắng nối thêm dài


Vẫn dáng ung dung “thâm xứ đàm quân sự


Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”


 


Anh Thận anh Tô anh Văn (1) đăm đăm nhìn hướng Bác


Nét chì đỏ Người chỉ về Tây Bắc


 


Tây Bắc


Ngựa Đại tướng về móng tãi lá đầu thu


Đã nghe gió từ bốn phương tụ lại


Đã nghe tiếng rướn mình phần phật quân kỳ


Đã nghe


Đã nghe:


tiếng ca sắt, xẻng cuốc, báng súng va vào nhau loảng xoảng


mặt đồng hồ dạ quang kim chỉ giờ tổng công kích nhích dần


những đại đoàn rậm rịch chuyển quân...


Đại đoàn Biên Hòa lên đường diệt phỉ


Bến Tạ Khoa những chiếc phà tiên phong hạ thủy


Sông Đà thế ngựa lồng ngoảnh lại cầu phao đã khớp yên cương


Đường Mười ba phơi mình rẽ lớp mù sương


Vịn vai núi ngó đôi bờ vách phẳng


Từng đoàn... từng đoàn ô-tô kéo lên, rừng dụi mắt trước pha đèn chiếu thẳng


đèn ra-đi-ốt mắt xe thồ xanh biếc ngụy trang


dân công đòn tre gánh gạo thơm mùi nắng đồng làng


ngựa Mèo kiệu giữa nền áo thêu ngũ sắc


Cả nước trùng trùng


                        theo nét chì của vị Tổng chỉ huy


               lên miền Tây đánh giặc...,


Đại đoàn Bến Tre, Long Châu, Việt Bắc cũng về đây


Những anh hùng của Đoan Hùng, Đông Khê, Tu Vũ, Nghĩa Lộ... cũng về đây


Nhìn cấp chỉ huy nhìn anh binh nhì khó mà phân biệt


 


1.Bí danh của các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thời kháng chiến chống Pháp.


 


Mũ nút chai phủ lưới, trấn thủ ô vuông quả trám, bi đông nước chè xanh, khẩu phần cơm và nhiệm vụ giết thù trong bát sắt


Chiến sĩ buộc ba lô, xếp bánh bộc lôi bên bánh thuốc lào


“Việt Minh chỉ có sơn pháo 75, mang sao nổi trọng pháo lên


Điện Biên đèo dốc?”Na-va cười chạm cốc Ô Đa-ni-en


Hai đứa rủ nhau chơi trò ru-lét


Điện Biên như con quay quay tít trên bàn


 


Ở sở chỉ huy Bác Hồ tiếp một nhà báo nước ngoài


Bác lật ngược mũ trên bàn tre nói: Đây là Điện Biên Phủ


Bác đưa tay chạy quanh vòng mũ: Núi ở đây, chúng tôi cũng ở đây


Bác nắm tay, nhấn mạnh vào lòng mũ: Còn đây là quân Pháp!


Lịch sử ở đây không cần lên giọng hùng hồn  như Nã-phá-luân trước Kim tự tháp (1)


 


Mà giản dị, ung dung như nắm tay trái núi giáng đầu thù.


 


_____


 


1.Nã-phá-luân (Napoléon) động viên quân viễn chinh Pháp sang đánh Ai Cập, khi qua Kim tự tháp: “Hai mươi thế kỷ đang chiêm ngưỡng chúng ta”.


 


 


Ðiện Biên, 1954


 


Chiến hào ta lấn trận địa giặc từng thước


Mũi súng ta tỉa tuổi thọ giặc từng giây


Cao xạ ta khép vòng bay giặc từng tấc


Trận hiệp đồng không gian thời gian dưới đất trên trời


 


“Con nhím” ngày bị ép chặt giữa hai gọng kìm thép


Giặc dần nghẹt thở trong ô vuông cuối cùng


Rồi cứ điểm chót tuyến phòng ngự tả ngạn Nậm Rốm vỡ


Các đại đoàn như nước chảy ngập Mường Thanh


 


Quân ta đi đến đâu


                        cờ trắng mọc lên đến đó


Thật là một cuộc chiến tranh hiếm có trong lịch sử loài người


Màu cờ trắng lại là màu hy vọng


Người bị bắt là người được giải phóng


Ăn mừng sự sống trong réo rắt tiếng phong cầm...


 


Vui nhất là những người lính da đen


Được gột rửa sạch vết chàm nhơ nhuốc


là thân lính đánh thuê cho đế quốc


bám chặt cùng màu da than nhọ từ thuở sơ sinh


bao nhiêu đời đeo đẳng tội tình


như một án đi đày truyền kiếp


Hôm nay họ được tái sinh trên đất Việt


Màu da đen càng sáng trắng nụ cười


 


“Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh”


Lời reo vui bằng đủ thứ tiếng người


Pháp, Đức, Ý, Tây-ban-nha, An-giê-ri, Ma rốc


Cuộc áp giải tù binh mà như ngày hội của nhiều dân tộc


 


Hai chiến sĩ Vinh, Nhỏ được lệnh tìm hầm Đờ Cát


Đờ Cát, mũ chào mào màu huyết


Mặt nhợt cùng ngôi sao bạc cầu vai


Tên tướng viễn chinh run rẩy cúi đầu trước mũi súng một


thiếu niên má còn phớt lông tơ mười tám


 


Đờ Cát! Cây gậy “tuyếc-phít” nổi tiếng của mày đâu rồi?


Chiếc khăn quàng trung đoàn Xpa-hi thiện chiến đâu rồi?


Cái bánh vẽ “Điện Biên anh-prơ-náp” đâu rồi?


Na-va, mày có biết


Cái bẫy mày giương lộn ngược sập quân mày


Nốc ực ly Điện Biên rượu đắng


Da thịt đỏ rừ nổi mặt trái mề-đay


Lửa hỏa ngục nung dấu chín thời gian đóng vào giữa trán


 


Bó hoa chiến công kịp dâng mừng thọ Bác


Bác cười


            nụ hoa tươi lịch sử


Nở mặt trời Việt Nam thế kỷ hai mươi


Sông núi ơi! hãy chứng kiến giây phút muôn đời


Nắng hay màu cờ bay trên nóc hầm vầng thắm


Pháo hoa ơi! hãy bay lên mừng chiến thắng


Báo tin vui cho các hành tinh bạn trên trời


Trong bản cam đoan với trời xanh phải thắng thù, 55 ngày đêm, ta đã thắng


Ta đem máu mình ký tắt với tương lai


Điện Biên nổi sấm xuân báo vụ cày lật chủ nghĩa thực dân rộn rực cánh đồng người...


 


Ngôi nhà sàn giữa Hà Nội, 1958 – 1969


 


Giữa thủ đô Bác dựng nhà sàn


Hàng râm bụt đỏ hoa mộc mạc


Hương nhài ngâu cúc hường ngan ngát


Phải đây một mảnh góc làng Sen?


 


Phải đây một mảnh rừng Việt Bắc


Nhà bốn phương lồng lộng gió lành


Mỗi cửa sổ hướng về nhân loại


Lồng khung trời sáng bóng cây xanh


 


Dậy trước bầy chim hót sớm mai


Tinh mơ phòng ngủ, Bác nghe đài


Lướt qua thế giới âm xao động


Tin tự miền Nam Bác lắng tai


 


Vườn biếc đung đưa trái bưởi vàng


Ven hồ bách bộ liễu che ngang


Ghế mây đón Bác ngồi xem báo


Chì đỏ vạch dày tên vẻ vang:


 


Vọng về đây tiếng gió Vạn Tường


Núi Thành lê tuốt buốt trời sương


Ấp Bắc trâm bầu che mũi súng


Mắt ngời chớp tím gái Vân Dương...


 


Bác tưới dừa xanh cây vú sữa


Tình thương mát thấm tận miền Nam


Bác phê cán bộ không liêm chính


Như trị loại sâu khoét nhánh cam


 


Giờ cho ăn bàn tay vỗ gọi


Cá ao đớp động bóng mây trời


Óc Bác chủ trương vừa lóe hiện


Quẫy cùng chép đỏ trắm rô bơi


 


 


Bữa cơm thích vị quê thanh đạm


Cá kho cà pháo nhút dầm tương


Gậy mây quạt cọ hồn cao khiết


Dép lốp đơn sơ áo vải thường


 


Gối chiếc chăn đơn giường cá nhân


Gia đình lớn ôm tròn trái đất


Các cháu miền Nam ra quây quần


Bạn bè quốc tế hôn thân mật


 


Lòng Bác thênh thang lòng tạo vật


Nâng từng giây cảm xúc thơ trào


Lục khắp giấy tờ vần chửa thấy


Bỗng nghe vần “Thắng” vút lên cao.


Thân thể Người là của nước non


 


Bác Hồ ơi!


Vừa nghe Bác bệnh tim trở nặng


Bữa cơm chiều miệng đắng không ngon


Đời Người là của nước non


Thân thể Người của chúng con lâu rồi!


Đọc thơ Bác trong hồi lưu lạc


Nghẹn lòng khi Bác đùa vui


(Giá đừng xiềng xích dập vùi


Bác thêm thọ, đỡ ngậm ngùi lòng con)


Chiếc răng rụng… máu dồn lồng ngực


Ghẻ đầy thân… đau nhức buồng gan


Nội thương đất Việt lầm than


Đọc từng câu, nước mắt tràn… Bác ơi!


Bỗng oán giận cả trời tuyết đọng


Không thương Người áo mỏng năm canh


Biết ơn chăn giấy mong manh


Vì Người chăm chút cho lành giấc thu


Nghe Bác mới ra tù chưa khỏe


Tập leo non… bóng vẽ dốc cao


Nóng lòng nghĩ đến đồng bào


Đỉnh Tây Phong Lĩnh đá nhào dưới chân


Buổi Ba Đình cùng dân họp mặt


Màu nắng sương ngăn ngắt da Người


Chòm râu đen vẫn tươi cười


Trán còn thưa nếp, mắt ngời ánh mai.


 


Đón giao thừa bên đài, già trẻ


Thấy tiếng Người vẫn khỏe, quên lo


Lời cha tha thiết dặn dò


Hay lời xuân đến hẹn hò chiến công


Tin miền Nam máu hồng đang chảy


Nệm Bác nằm vẫn thấy đau tê


Mưa nhiều thao thức lo đê


Nắng lâu lo đón nước về đồng khô


Biết sức khỏe dành cho việc nước


Lịch hàng ngày mực thước giữ nguyên


Siêng năng tập Thái cực quyền


Cuốc vườn tay dẻo, bóng chuyền chân bon…


Viết Di chúc tâm hồn trong sáng


Bác yêu cầu hỏa táng di hài


Ba hộp tro chia ba nơi


Bóng cây đồi thấp thảnh thơi mát lòng


Bộ Chính trị cuối cùng quyết nghị


Giữ di hài với ý thành tâm


Đại đồng bào ở miền Nam


Đồng bào cả nước tiện thăm viếng Người


Miền Nam buổi rạng ngời toàn thắng


Trở về đây dẫu vắng tiếng Người


Hồng hào mặt Bác vẫn tươi


Tưởng như Bác đã mỉm cười ngợi khen


 


Kìa tay Bác thân quen bắt nhịp


Cho núi sông hát tiếp “kết đoàn”


Trán còn suy nghĩ lo toan


Tai còn lắng đón tin ngàn chiến công.


3.9.1969


 


Đợichờ


Điện Biên Phủ


Nơi núi triền miên giấc xanh nguyên thủy


Đồng mênh mông ngựa lạc mất đường về


Cánh chim lửa vụt qua như từ thần thoại


Độc mộc thuyền trôi ô lưới chia trời


Vai đồi khăn sương quàng vội


Tiếng khèn trong vắt suối


Xóng chụ xôn xao hoàng hôn (1)


 


Từ ngày giặc Pháp đến đây đóng đồn


như đàn chuột đào hang dũi đất


Đồi loét đỏ, trời lây màu xám mái tôn


Đường lốc bụi xe thù lồng lộn


Núi nhớn nhác dáng đoàn phu trốn


Váy xòe bay bốn phía vướng rào gai


Tiếng khèn ngập ngừng tủi hận


Cỏ lạnh tanh nghe đất trở lại rừng


 


Khảm khắc! Khảm khắc!


Hồn cô gái Thái ngậm oan chết nửa đời xuân


 


Thiết tha gọi bạn


Đêm hồng hoang khắc khoải đợi chờ


Nghe ngược dòng tiền sử


Cô gái lả người trong điệu xòe


sàn gỗ bỏng con tim giá ngắt


Máu rỏ đánh nhịp chân


Rượu tưới đầy nước mắt


hầu phìa tạo hầu quan châu


Khảm khắc! Khảm khắc!


Cô gái lả người trong bàn tay lông lá


Tóc rêu suối xõa


Rượu bốc đêm cuồng


Máu đồng trinh rỏ


Váy trắng đài hoa nát ố bùn


Khảm khắc! Khảm khắc!


Na va vuốt con mèo Ba Tư



  1. Xóng chụ xôn xao: trường ca Thái “Tiễn dặn người yêu”.


 


mắt lim dim nghĩ đến “Điện biên anh-prơ-náp” (1)


Khảm khắc


Khảm khắc...


Một dây thừng lớn thít cổ giặc quăng ra


bằng những đường hào vòng quanh khu trung tâm cứ điểm


Mặc những con “đầm già” lơ láo mắt mù bay


Mặc những lão “xóa-xăng-keng” hen suyễn khạc ho rền rĩ


 


Trăng ló sau màn mây chì tươi tỉnh chào chiến sĩ


Gió quạt khô mồ hôi ướt sũng lưng


Cô văn công hát bài ca động viên khí thế


Đó đều là bạn cả, không sao.


Nhưng kẻ thù cũng soi đèn dù cho ta đào hào


soi cho ta nhìn rõ mặt cô văn công thêm chút nữa


Rót đại bác như hồi trống cổ vũ ta đào


“Gậy ông lại đập lưng ông” thế đấy


Ôi những con hào như những dòng mồ hôi ta chảy


Đất thịt này chính thớ thịt của ta


Hơi thở nồng nàn mưa xuống nắng lên là hơi thở ta quen thuộc


Đây mạch máu tuần hoàn của cơ thể trận địa lớn lao


Và những con người đầm mình trong bùn lầy giữ trong trắng


đóa sen nhân phẩm


 


ô văn công hát nữa đi. Chúng tôi ngừng chút vỗ tay


thay tặng hoa tay bùn lấm tấm


Tiếng hát cô dẫn một dòng kênh vào hồn chúng tôi


Hình ảnh quê hương nghiêng xanh trời bom đạn


Đầu bài hát hào còn nông, cuối bài đã ngập đầu người


 


Hai ống kính, những hình nhòe nhoẹt từ từ nhập vào


rồi tỏa ra một vầng sáng trong suốt


Phùng Văn Khẩu thấy hình bốn khẩu pháo giặc in vào mồn một


Anh hạ lệnh lao đạn vào dập gãy pháo thù


Bỗng lại thấy không phải bốn khẩu mà mười lăm, hai mươi


khẩu cùng trút đạn


Tin về giặc đã dập được pháo của một khẩu đội bạn


Giờ đây chỉ có một pháo mình trước hai mươi khẩu pháo thù


 



  1. Tiếng Pháp, Imprenable: bất khả xâm phạm.


 


 


Không do dự, Khầu bước vào tự tay điều chỉnh kính ngắm


Bắt được mục tiêu,


Khầu hạ lệnh bắn


Khẩu thứ nhất của giặc lăn kềnh


Khẩu thứ hai gẫy càng


Khẩu thứ ba ngoẹo nòng


Khầu hạ lệnh bắn vào khẩu thứ tư đang kéo lết


Khẩu pháo ngã vật ra, quân thù tháo chạy rùng rùng


 


20 hơn 1: chuyện đó các em bé tiểu học đều biết cả


1 hơn 20: bởi cấp số nhân tính bằng sức mạnh diệt thù


Nghệ thuật quân sự Việt Nam không tìm thấy trong trang


 sách của những viện hàn lâm đầu bạc


Hai người như Bùi Minh Đức, Nguyễn Hoàng Phương một


            người mù một người què như trong chuyện ngụ ngôn


còn thêm bị quân thù vây chặt


Người còn mắt quan sát chỉ mục tiêu


Người còn tay bắn giặc


 


Một người như Chu Văn Mùi lọt giữa vòng vây


vẫn máy bộ đàm gọi năm trận địa pháo dập từng đợt thù


phản kích


Lục Văn Xá cắm cờ chuẩn bị cho pháo ta nhắm đích


Tấm thân anh đã hóa cán cờ


cùng linh hồn trận đánh quyện vào làm một


Khái niệm con số ở đây đã cổ lỗ tự bao giờ


Ở đây có chiến sĩ cầm súng và không cầm súng


Người thầy thuốc luôn tay dưới hầm mổ thương binh


Người phá bom nổ chậm từng giờ cưỡi đầu cái chết


Người anh nuôi cơm mang ra trận địa nhiều khi dính cả


máu mình


Người lái xe cướp chặng đường lửa khói


Người dân công chân đất đòn tre chọi cùng cơ giới


Người đóng cối khơi dòng trắng gạo tuôn dài


Tiếng cối xay hòa cùng súng cối


Sấm ù ù giặc không kịp bưng tai


Mỗi người là một chiếc dằm cỗ cối xay chiến dịch


Nghiền giặc thành cám, tuôn dòng tin thắng nức lòng dân


 


Đồi Độc Lập khen ai khéo đặt


Đánh đồn xong, nước độc lập rồi


Thơ chiến sĩ nghênh ngang gà trống


Báo tường tin thắng gáy chầu đôi


 


Lũ lính Thái trong đồn Bản Kéo


Kéo ra hàng cờ trắng kéo


Tiền định chữ hay sao mà khéo


Chữ định tiền phải đến mười vê(1)


Cùng ta đi đánh giặc, không chỉ Bà Trưng, Quang Trung,


Lê Lợi...


Mà cả Bà Điểm, Cống Quỳnh, Yên Đổ, Tú Xương...


 


Chính trị viên dừng sổ tay tác chiến


Nhìn chiến sĩ trong hầm đánh tú-lơ-khơ


Cậu giáng mạnh con “át” dáng hăm hở ngây thơ


hôm qua kiết lỵ, hết quần, cứ tồng ngồng bắn giặc


Cậu vừa hạ “năm cơ” vội dụt lại ăn gian


từng đặt súng chạc cây, vừa nhai kẹo vừa chia đều giặc từng


viên kẹo đạn


Cậu mặt đỏ bừng cãi nhau với bạn


đã dùng lựu đạn đánh lui đợt phản kích quân thù


Cậu ngồi im, vẻ chất phác lù đù


đêm qua đi cắt rào gai, bàn tay còn máu rỉ...


 


Lệnh chiến đấu, tất cả về vị trí


Bia sống chập chờn như con át bích trong tay


Vật mạnh quân tây xuống mặt đất bùn lầy


Xác giặc nhép chuồn ngổn ngang sấp ngửa


Những con bài thí thân cho bọn chủ chọi làm sao chân


chính những con người


Đêm ấy chính trị viên nắn nót dòng nhật ký


 


A! Thợ hớt tóc đến rồi!


Anh em reo hò khoái chá


Chào sứ giả văn minh


Cho tớ mượn gương soi lại mặt mình


Lát nữa nhờ anh nhà báo chụp “pô” ảnh gửi về tặng vợ


Tớ sắp trực chiến, cậu cạo ưu tiên cho tớ


Để có chết cũng nhẵn nhụi râu mày đáng mặt tu mi


 


Giặc thua ta từ sợi tóc thua đi



  1. Mười vê là mười vạn tiền Tài chính cũ.


 


Hàng tháng chúng không nhận được dao cạo ngả đường trời


tiếp tế


Hôm qua tớ đứng dưới chiến hào bắn tỉa


buồn cười mãi không bắn được vì thấy thằng Tây xồm xoàm


râu mọc tựa người rừng


Thực dân Pháp! Mày bảo ta “xứ sở bán khai”


Giờ ta bắt mày hiện nguyên hình thuở ăn lông ở lỗ


Rồi ta hạ mày như tổ tiên ta săn thú


bằng nỏ tre nhọn hoắt mũi tên đồng


Dẫu pháo ta thêm ngàn lần hiện đại


Vẫn nhằm thẳng lũ thú người


                                                vì lẽ phải


                                                            tiến công!


Nốc ực ly mác-ten


Na-va đặt thêm ngôi sao bạc lên nền lon Đờ Cát


như tìm thấy cứu tinh cho “Điện Biên anh-prơ-náp”


Đâu biết xẻng cuốc ta đang đào huyệt lớn cho bay


cho xác ướp chế độ thực dân đang rữa nát


Tiệc máu tàn


            mùi tử khí đâu đây?


 


Miệng vỏ đạn ngậm bông hoa nghệ


ánh tím hồng lên nền trắng vải dù


nghiêng xuống một trang sách Ê-ren-bua đọc dở:


Nếu đem những người ấy tán làm đinh


Thì không có thứ đinh nào tốt hơn thế nữa...


 


Ê-ren-bua ơi! Tôi phiên chế ông vào tiểu đội tôi


Lát nữa tôi sẽ bắn tỉa thêm một tên giặc tính vào phần ông nhé


Tia chớp văn ông đã soi cho tôi nhìn rõ mặt quân thù


và nhìn rõ chiều sâu tâm hồn người chiến sĩ


 


Giặc dốc cạn vốn kỹ thuật vào canh bạc


Dụng cụ tia hồng ngoại, mưa nhân tạo, súng phun lửa, máy bay B.52, bom móc câu


Ta đặt cược vào đây trái tim căm thù, dũng cảm


Vẫn lật ngược ván bài như khi ngồi công sự đánh tú-lơ-khơ


Nhận được thư nhà báo tin vừa được chia ruộng đất


Sức một thành trăm, trăm thành vạn không ngờ


Đất đồng Mường Thanh, Tổ quốc cũng chia cho ta đó


Trong khi vợ ta tát nước lên ruộng ở quê làng


Thì ở cánh đồng này, ta phải tưới bằng máu đỏ...


Chiếnquả


Những bông hoa hình quả dứa, cánh tím hồng


Bỗng ùa nở trên đồi đại bác đốt cháy đen hôm nọ


“Thứ dong riềng này, năm đói ở nhà tôi vẫn đào lấy củ...”.


Vĩ Thanh


Như núi lớn phải lùi xa mới nhìn thấy hết


Phút say sưa ta dễ đâu lường tầm vóc Điện Biên


Ta hiểu Điện Biên như hiểu người vợ đảm đang trung hậu


Ăn ở với nhau bao nhiêu năm nghĩa nặng tình bền


 


Những vật bảo tàng trở thành sự sống


Đồi A1, hai ngôi mộ đồng chí ta trong tư thế xung phong


Cạnh xác chiếc xe tăng, thời gian tiếp tay tiêu diệt


Cỏ dệt xanh tấm áo tặng anh hùng


 


Phải chăng Bế Văn Đàn đã hóa thân cõng mùa cam trĩu ngọt


Hoàng Văn Nô đứng thành ống khói đâm trời


Luống Phan Đình Giót mở, lưỡi cày hàng năm xới lật


Đất nghiền ngẫm về hạt máu các anh rơi


 


Điện Biên Phủ: chiếc đòn gánh hai đầu tương lai quá khứ


Trong đống chiến lợi phẩm, súng đạn, quân trang, xe cộ


Người ta tìm thấy lá cờ hiệu già nua trung đoàn pháo thủ lê


dương


Những năm 1883 - 1885 từng bắn vào Tuyên Quang, Hòa


Mục, Lạng Sơn...


Nợ máu ngót trăm năm giờ này ta tính sổ


Phải chăng Điện Biên đã ấp ủ từ đêm tuyết ngõ Công-poanh


Hòn gạch nung ý nghĩ Bác Hồ là trái mìn găm giữa lòng chế độ thực dân chờ hôm nay mới nổ


 


Nhắc Điện Biên ta nghẹn ngào biết ơn Tổ quốc


Không có Việt Nam, Điện Biên mãi mãi vô danh


Chỉ có gió rì rào tâm sự với trời xanh


Đồi núi nguyên dáng hình thời tạo lập


Bàn tay điêu khắc con người làm rạng rỡ nét sơ khai


Mảnh đất nhân loại bỏ quên trong sương gió


nhóm niềm tin ngọn lửa ấm đêm dài


Lịch sử: người đạo diễn thiên tài nhưng tính nết đôi khi kỳ quặc


 


Điện Biên phủ thành ngôn ngữ chung của cả hoàn cầu


của những anh em đồng chí


Ta nói Điện Biên như nói Việt Nam, nói Hồ Chí Minh


Chỉ mấy tiếng mà khiến kẻ thù khiếp sợ


Và mọi người nghe thanh thản nhịp tim mình


 


Từ nốt nhạc chính Điện Biên đã hóa thành trăm nghìn điệp


Khúc


Điện Biên Phủ O-răng, người chiến sĩ màu da lẫn cùng đêm


tối diệt thù đi đòi những ngày mai ánh sáng


Từ tổ đột phá Điện Biên, thành trì thực dân sụp thêm một


mảng


Trong vôi vữa đứng lên cộng hòa dân chủAn-giê-ri


Điểm nổ phản ứng dây chuyền dãy thuộc địa châu Phi


Điện Biên Phủ Hi-rôn: trận địa chuyển trên đầu sóng biển


Người chiến sĩ Cu-ba “theo đường bay sáng ngời của Điện Biên”


thẳng tiến


Từ hậu cứ đế quốc Mỹ, nước Cu-ba xã hội chủ nghĩa thành hình


Mũi tung thâm vào “châu lục nửa thuộc địa” Mỹ la tinh


 


Ta đánh Mỹ giữa ba mươi sáu phố phường Hà Nội


Lửa Điện Biên xưa bay lên thiêu B.52 làm đuốc sống giữa


tầng không


Chiến dịch Hồ Chí Minh - trận chung kết lại một phen làm


hoàn cầu chấn động


Ta tô huy hiệu Điện Biên bằng màu sắc mới chiến công


 


Đất địa đầu chặn mưu đồ bành trướng


Hùng khí Điện Biên sôi sục mỗi tim người


Tiếng đàn tính đệm xòe mừng chiến thắng


Trăng say kèn môi quên lối rẽ cổng trời


Tàu thủy ngược sông Đà gặp thuyền đuôi én chở măng trúc


măng mai


Tiếng quay tóc cô gái gội đầu, tiếng cọn nước hòa vào tiếng


ầm ì máy điện


Ta tặng Điện Biên những nông trường, những mùa vàng


ước hẹn


như bông hoa ban trai gái tặng nhau đám chơi “búng mắc lẻ”


rộn ràng


Tiếng khảm khắc quạt lửa đỏ đốt tàn đêm Trung cổ


Gió mới thốc lên đời lật mạnh một trang.


 


Chiến hào xuân Hà Nội


Năm ấy trên chiến hào Bờ Hồ


trước dãy cửa hàng giải khát


Mùa Xuân về giữa hai loạt đạn


Ta nhờ súng giặc tiện giúp cổ chai bia


nốc cả mùa xuân vào dịu mát


 


Trận đánh hôm nay thay ngày giỗ trận


Con cháu Nguyễn Quang Trung


Áo ka ki vàng đen khói đạn


Tết đầu xa gia đình


Đọc thư Bác chấm câu bằng tiếng súng


 


Qua miệng hố sâu ô trời bỗng xanh


Thân sấu gẫy lá non đùa rỡn


Gốc bàng cụt trổ mầm


Mưa loáng sáng nền ngói xám


Gác nhà ai tường vỡ toang


Cột đứng chống trời sừng sững


Ô cửa lay bay một mảnh rèm thêu


Ơi mùa xuân tới tự bao giờ


ách hào ta treo lá cờ vóc đại hồng Hàng Quạt


Sao vàng giấy gói mứt cắt ra


Ảnh Bác tờ năm đồng gấp nếp


Mũ sắt rung rinh mấy bông hoa vẫn sống trại Ngọc Hà


“Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước...”


bài quốc ca hay hơn mọi lần


Có phải tiếng chào Mùa Xuân đất trời trở mới


Và mùa Xuân đời mình đi


cho Mùa Xuân chung


 


Quanh hồ Gươm bâng khuâng cây trồi lộc


Xanh áp-phích non bốn nghìn máy bay Mỹ rơi trên miền Bắc


Bon bon cô hàng Mậu dịch đẩy xe qua


Có phải em


            (không, mẹ em)


                        hai chục năm xưa


Một sớm mùa Xuân đem quà đến những người quyết tử


Áo hoa đào bay phơ phất chiến hào


 


Thủ đô em Xuân mãi từ dạo ấy.


Hà Nội ơi! Tạm chia tay nhé


Một ba lô, một tiểu liên


Vượt vòng đai giặc vây Hà Nội


Heo may gờn gợn bụi lâm tâm


Trời cũng vì ta mưa gió nổi


Chạy trước đèn pha quét vệt dài


Bóng cầu đè nặng xuống đôi vai


Mắt tìm lưng áo người đi trước


Bờ sông cát lún dìm chân bước


Tiếng súng sông Hồng vỗ tiễn đưa


Từng chuyến đò ngang áp mạn bờ


Sáng trời chưa muốn tan sương muối


Thấp thoáng đoàn người khuất bãi ngô...


 


Vẫy khăn ta đứng chào Hà Nội


Chào con đường đổ máu vừa qua


Chào đồng chí nằm yên dưới mộ


Chào chiến hào khơi giữa luống hoa


 


Nhớ ngõ phố nỗi lòng quanh quất


Nhớ người thuộc mặt chẳng quen tên


Bao tâm sự chìm sương lẩn khuất


Phút này dường đột ngột nói lên...


 


Đứng trên đê - đỉnh cao thế hệ


Trang nghiêm chào tuổi nhỏ vừa qua


Những năm tháng bắt ve lùm sấu


Trưa nắng căng mồm thổi búp đa


Viên bi lăn hết thời thơ ấu


Trường vắng... sân trưa... bác gác già


Lên lớp buổi đầu... bài chiến đấu


Biết ơn thầy giáo vỡ lòng ta


 


Bóng nhà thấp thoáng sau vòm lá


Ta chào phố hay phố chào ta


Những vật nhỏ ta hằng lưu luyến


Hôm nay đành phải tạm rời xa


Ta đi lòng chẳng hề lo ngại


Vật nhỏ bé kia tuy ở lại


Sẽ thành vũ khí diệt loài bay


Hùng khí ngàn năm mảnh đất này


Kiễng chân nhìn phía hồ Hoàn Kiếm


Mong hít hơi dài hương dạ lan


Mùi hương có theo ta lặn lội


Qua những ngày đèo dốc gian nan...


 


Lời thề vang vọng trên sông nước


Màu cờ? Ánh lửa cháy sau lưng


Ngón tay quyết tử in dòng đỏ


Khói loạn hình mây trôi ngập ngừng...


 


Ta chẳng như mây. Ta mạnh bước


Bóng người bóng súng lại lô nhô


Giày vải rách lùa vào đất ướt


Da mặt căng phồng vệt máu khô


 


Hà Nội ơi tạm chia tay nhé


Hẹn khải hoàn khi sạch bóng thù


Mắt lóa nắng sườn non Tam Đảo


Cây lợp rừng xanh đợi chiến khu


Hà Nội ngày vui chiến thắng


Niềm vui không gõ cửa ồn ào


Niềm vui cứ thấm dần lặng lẽ


Như bụi mưa rắc nhẹ đủ ướt đầu


Như giọt chanh rỏ chậm làm đã khát


Như sóng mơn man lan trùm bãi cát


Như xuân bước nhẹ nhàng, dấu biếc đặc lùm cây


 


Trong ngày vui


Tôi đã thấy tay mẹ già lập cập


Trên bàn thờ thắp mấy nén hương


Nhìn ảnh người chồng xưa giặc giết


Lặng thầm trò chuyện suốt đêm


 


Tôi đã thấy dáng cô em


mở rương lấy chiếc áo dài gấp nếp


Lần đầu tiên mặc không phải ngượng ngùng


Mùi băng phiến đánh thức nhiều khát khao cất giấu


 


Tôi đã thấy anh kỹ sư


Rũ bụi chồng sách bó lại ngày sơ tán


Trang giấy ố vàng mở ra xán lạn


Từng dòng chữ rủ đi xa


Tôi đã thấy một người cha


kìm cơn bực không rầy la con cái


Chắc ông đang bồi hồi nhớ lại


khi con mình mới lọt lòng


đã phải sống đêm ngày hầm tối


bạn với muỗi


                  rơm


                        mùi đất ẩm


                                    tiếng bom B.52 dữ dội


Mà giờ đây chúng chạy nhảy reo hò


 


Tôi đã thấy một bà bán dưa


Cắt những lát dưa hào phóng


được tin con qua người thân ở Nam ra


Phút đầu tiên gửi thư, ngọn bút run dòng địa chỉ


Thành kim quay ngược thời gian, tưởng con chỉ vừa


đi chơi một chuyến xa


 


Chiếc cốc rót từ từ dần đầy ắp


Ngọn gió chao dần ôm khắp thân cành


Niềm vui dịu dàng đổi bằng bao mãnh liệt


của tiếng pháo ran trời


của tên lửa rạch đôi khí quyển


của xe tăng đất chuyển


của phản lực rạch đường bay...


Tiếng đanh thép bắt lũ bạo tàn


Câm bặt


Để hôm nay ta có thể mỉm cười


Im lặng


Cái chiến thắng lớn hơn trăm nghìn chiến thắng


Là con người hiểu được sức mạnh của mình


Cả khi giắt đứa con chơi


Cả khi lơ đãng ngắm trời, mây nước


Phút thảnh thơi dạo trước phố nhà hai chục thước


Phải trải qua ba mươi năm đi chặng đường dài


gấp mấy vòng quả địa cầu...


 


Ta đứng lặng giờ lâu


Như thân cây nghe âm thầm nhựa chảy


Nói về mình bằng sắc lá non tơ


Như cô gái đơn sơ áo trắng


Tan tầm đứng tựa cửa một ngày xanh.


 


 


Hà Nội hành quân


Giao thừa năm sáu nhăm


Năm cánh sao đỉnh Tháp Rùa lấp lánh


Vòng bánh xe người xoay quanh trục Hồ Gươm


Lời chúc Tết Bác Hồ chuyển đà thêm mạnh


Sức gì đây nao nức giục bàn chân


Hà Nội nghĩ gì trong đêm đầy dự cảm


Chớp lóe nền trời đêm đầu năm


 


Có phải mùa Xuân này là mùa Hà Nội hành quân


mà các em gái cũng thích mặc màu cỏ úa


Trong không khí có mùi hương hoa sữa


– Từng lặn lội theo cha anh ta kháng chiến chín năm rừng


Lá ngụy trang bay trên mái đầu gợn sóng


Cô gái Hàng Đào thành chiến sĩ sao vuông


Sau hai mươi năm


                          Hà Nội lại lên đường.


Giờ sản xuất xong em đạp xe ra thao trường tập bắn


Bóng súng bóng cây xen rợp bóng chiều


Giữa câu chuyện tâm tình thoảng nghe trên ghế đá


Bắt chợt những danh từ mục tiêu... yếu lĩnh... hành quân


Tôi gặp em hôm qua đi mượn chiếc ba lô


của người anh họ phục viên năm nọ


Vải bạt thu trong một trận công đồn


quai sờn thấm mồ hôi bao chặng hành quân


Em đeo những chiến công xưa vào trận đầu thử sức


Lần thứ nhất hành quân khăn gói đã đường trường


Anh lính “Trung đoàn Thủ đô” tiễn con ra hỏa tuyến


Hai thế hệ “Người Hà Nội” nắm tay nhau...


Những em bé ngày tiếp quản mang cờ hoa vẫy chào chiến thắng


giờ nghiêm trang đi giữa hàng quân


Bên hè bầy trẻ theo xem cũng một, hai đều bước.


Quân đi trên đường Quang Trung


Có phải nơi này xưa đoàn ngựa voi rầm rộ


Dũng sĩ từng đôi khiêng ván công đồn


Sông Nhị vẫn chờ nổi sóng dìm lũ giặc


Máu thù đến nay còn loang đỏ phù sa


Nghìn máy bay Mỹ rụng trên miền Bắc


xếp lại đã bằng gò xưa Đống Đa...


 


Anh thanh niên hôm nào đi dạo quanh hồ


Hôm nay lái “Mích” bay đỉnh trời Hà Nội


Nhìn lối từng qua như ô kẻ bàn cờ


Có phải đỉnh Tháp Rùa đã thành bệ phóng


Cho anh giang cánh che vòm rộng Thủ đô


Máy bay anh nhào lộn giữa mây mù


Hay con rồng xưa Thăng Long lại tới


Hay lịch sử chín trăm năm bay phấp phới


Dưới đất trên trời


Hà Nội hành quân.


Nhớ ngày thủ đô kháng chiến


...Trước đau thương Hà Nội không buồn


Hà Nội rắn như thanh sắt nguội


Mặt nhựa nứt ra làm chiến hào


Cát sông Hồng vào nâng cao chiến lũy


Mỗi con đường đều muốn thành chiến sĩ


Kiêu hãnh mang thương tích trên mình


Chặn chân giặc dù là một bước


“Gạch ngói thà tan để ngọc lành”


 


Mỗi phố đánh Tây bằng đặc sản


Phố Hàng Bát mang bát


Phố Hàng Bông mang bông


đắp ụ ngăn xe giặc tới


Giường Hồng Kông đôi vợ chồng mới cưới


Những sợi bông còn vương vất nhớ nhung ai?


Ghế xa-lông bên giường tre chiến đấu


Lý Thiết Quái trong tủ chè cũng nóng lòng khoa gậy đánh Tây


Phố Lò Sũ mang áo quan chờ chôn xác giặc


Một tiếng đàn rung trên chiến hào


Ta quá biết thế nào là nô lệ


Nên ta thề không bao giờ còn để mất tự do


Ơi em gái liễu hàng mi xếch ngược


Ca lô sao vàng đứng gác dưới trăng


Có phải em! em là Hà Nội


 


Còn nhớ mãi không quên


Anh ba gác chở bao gai chất đống


rồi lao xe ra ngăn lối xe thù


Chị hàng rau quang gánh quẩy quân nhu


Tiếp tế cho anh em đánh giặc


Bác hàng thịt mài dao thật sắc


chờ ướm vào cổ họng giặc Tây


Em “Ga-vơ-rốt” giấu thư trong thùng đánh giầy


vừa chạy đưa tin vừa hát


Những cánh tay rồng nổi chàm xanh


đặt quả mìn cuối cùng xuống hố


Những chị mặt tàn hương loang lổ vết son


cầm mảnh bom thay xà beng xúc đất


Anh thợ tiện bị tù thời bí mật


nay thành chỉ huy quân sự liên khu


Khuôn mặt cày sâu những vết đòn thù


 


Anh đội viên nghiến răng ghì báng súng


Ngón tay còn vết mực chưa khô


Nhớ buổi học cuối cùng thầy trò ta sung vào tự vệ


Bài sử Lam Sơn thay bằng lời hịch Bác Hồ


Khi ngọn cỏ cũng vươn mình chống giặc


Lòng mỗi người đều hóa chiến khu


 


Chuông đồng hồ điểm tám giờ


Đèn điện bỗng rủ nhau tắt ngấm


Lần bóng đêm lính mũ đỏ tràn vào


Cũng là lúc chiến sĩ ta đứng dậy


Giặc sủa từng tràng liên thanh


Lựu đạn, bom ba càng đáp lại


Xác thù lấp kín thềm nhà


Cây sấu cụt tay vẫn trơ trơ trước cửa


Khói đạn bay bụi vữa xóa nhòa


Mảnh tường đổ như người chết đứng


Giơ lưng che cho đồng đội diệt thù


Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy


Ra phố mua một bao thuốc lá


Chín năm sau anh mới trở về nhà


Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến


Chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô...


 


Lê Gia Định giữ Bắc bộ phủ


Ngã ba Tân Trào có cây đa ba thân


Rễ già buông chòm râu cổ thụ


Phe phẩy trưa hè bóng rợp đàn trâu


Cây đợi ai?


                          Và Lê Gia Định đợi ai?


 


Kìa, ông ké già áo chàm Thổ nón nan to


Tay chống thanh nứa tươi, râu choàng khăn mặt


Trong lá rậm vẫn ngời lên đôi mắt


Bao nhiêu năm nhìn Nước giữa song tù;


Bác đã về


Lê Gia Định theo Bác trèo lên đỉnh đèo Re...


 


Ngày tháng Tám, Tháp Rùa chào lãnh tụ


Lê Gia Định lại theo Bác về Bắc bộ phủ


Bác ký lệnh chống giặc mù buổi sáng


Lớp văn hóa cơ quan vào giảng buổi chiều


Ôi! người cha nửa đời xa đất nước thương yêu


hỏi anh em một câu... sao đến khó


“Bờ biển Việt Nam dài bao nhiêu cây số?”


 


Hẳn tấm bản đồ treo nơi đất lạ xa xôi


Bác từng đưa tay theo đường cong mấy vạn lần rồi


Cả mảnh đất Việt Nam như còn đượm mồ hôi Bác.


 


Anh nhớ tiếng ho từng đêm gió giật


Dưới ánh điện mờ, Bác đánh máy luôn tay


Chữ nảy lên dưới ngón tay gầy


như hạt giống đã nở thành lúa gạo


Như viên đạn bắn vỡ đầu quân tàn bạo


Bác chợp mắt rồi lại thức trong đêm


Bao nhiêu điều cần nữa phải ghi thêm


Khi quá mệt ngủ dựa thành trường kỷ


 


Bữa cơm rau muống vắt chanh đậm vị


Quả ớt vườn vẫn đỏ một lòng son


Tầng dưới nhà, trên mâm gỗ róc sơn.


Mấy bác cháu chia nhau phần chiếu hẹp


Đêm phòng khách nền đá hoa vân đẹp,


Bác rón chân khỏi động giấc đàn con...


 


Và giờ đây trong giờ phút sống còn


Lê Gia Định ở lại dinh ngăn giặc


Vẫn thấy Bác qua hành lang nhẹ bước...


 


Dinh Bác nơi trú ngụ của lòng ta


nơi mỗi vật đều đi vào kỷ niệm


Quyết không để giặc nghênh ngang tới chiếm


 


Ôi! trái tim dân tộc là đây


Tường còn in dáng Bác hoa gầy


Tiếng ho khan...


                          nơi Bác ở giờ đây có lạnh?


 


Lê Gia Định nghe cửa ngoài nghiến xích xe tăng


Chạy tới quả bom, nghiến chặt hàm răng


Cả tòa nhà rùng mình như núi chuyển


Bọn giặc dừng chân, bưng mặt kinh hoàng


Trong vôi bụi, bóng anh sừng sững


Lê Gia Định chết như một pho tượng đứng.


 


Lời thề rạp Tố Như


Anh “kép” ngày xưa rạp Tố như


ngủ khe phông, sống trên sàn gỗ


nhiều khi đánh lẫn mặt mình


Giọng bổng trầm che tiếng nấc


Mồ hôi trôi nửa nét mày


Bóng thương người khóc


Người thương bóng gầy


Ngán quá rồi những chiếc roi không ngựa


Thanh gươm gỗ khó chém lìa ngọn cỏ


những mặt mài lấp lánh áo xiêm


Mặt trống gõ mòn chưa mòn nổi bóng đêm


Nghề bán khóc bán cười cho chủ rạp


Trọn đời đeo một tiếng vô loài...


 


Ô! Ai quệt môi đào


Mà tường vôi hoen


Ta thương đôi mắt


nhòa trong quầng đèn


Bóng ngơ ngác trên sàn gỗ rộng


Ánh đèn soi dãy ghế không người...


Ngày nổ súng ban hát rời thành phố


Cuộc chia ly sau đêm tuồng Kim Kiều tái ngộ


Anh ở lại Thủ đô


Tay lăm lăm thanh kiếm sắt diệt thù


Đất nước gọi đến những người biết nhìn thẳng vào cái chết


Lễ tuyên thệ bừng bừng rạp hát Tố như


Nơi lá màn nhung nghìn lần khép mở


cuốn đi tấn trò vàng son long lở


Để mở ra cuộc chiến đấu mất còn


Anh gặp nhiều người quen cũ


Những người xem hát ngồi cuối dãy ghế dài


Nay đứng ra hàng đầu khi súng nổ


Đạn lên nòng còn nhớ câu Vọng cổ


Nhẩm mỗi viên mạng một quân thù


Có những người lần đầu


và cũng là lần cuối cùng vào rạp hát


 


Lá cờ treo trên bức màn sân khấu


hay treo trên đôi mắt từng người


Rạp hát mang tên nhà thơ bất tử


“Gươm đàn nửa gánh”...


cỏ chân trời có xanh


“Chúng tôi thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”


Anh diễn viên giơ tay tuyên thệ


Nước mắt trào trên câu nói run run


Anh sắp sửa bước vào lịch sử


 


Vài ngày sau giữa chợ Đồng Xuân


Lưỡi gươm anh vung lên sáng quắc


như một lời thề trên đầu lũ giặc


đòi lại những dòng nước mắt đời mình


và những dòng máu đẫm phố Yên Ninh


Miếng võ học thầy tuồng dạo nọ


đâu ngờ dùng đến hôm nay


 


Lưỡi gươm vung, đời anh vào lớp chót


Lá cờ đưa anh đến nơi yên nghỉ cuối cùng...


 


Hôm nay tôi đứng ngoài cửa rạp


Những dãy nhà dựng lại cảnh năm xưa


Trời buông lá màn xanh trứng sáo


Mây bập bồng nếp áo


hay anh hé màn sắp sửa bước ra


 


Ai sẽ đóng anh trong “Những người quyết tử?”.


Ngày về Hà Nội


        Sớm nay quân ta


        kéo về Hà Nội


        Xe mới rú ga


        mùi xăng thoảng vội


        đã say đường dài


 


Xưa chân không chạy công văn hỏa tốc


Nay tai ù hàng dây thép veo veo


Mây từng lợp trại quân bên suối


Nay thấy ta về mây muốn theo


 


Bánh lăn nghiền đá dăm đường nhựa


Chào đoàn xe đạp bám cầu treo


Nhớ hôm trườn vai kéo pháo


Chợt toán dân công ló đỉnh đèo


 


Chú ngựa thồ vẫy đuôi hí gọi


Bản chiều hoa trắng rụng đầy yên


Đường lằn vết xích xe tăng giặc


Nước mưa dâng lênh láng hố chôn mìn


Súng vươn cao nòng thép


        Đầu mũ sao lên ngôi


        Áo đại quân nguyên nếp


        Xanh xanh tưởng núi ngồi


        Việt Bắc cũng về xuôi


 


Cầu Long Biên dài như chín năm mong đợi


Hà Nội ơi! Hà Nội đã về


Chào cây liễu bên nhà Thủy tạ


Trăng ngấn vành môi trong cốc kem


Chợ Đồng Xuân ngọt ngào hoa quả


Chuyến tàu Hàng Cỏ gọi ga đêm


Chào hàng cây mùa đông trơ nét


Chào hành lang con tiện mắt vuông


Chào vườn giếng xanh rờn mái phố


Mùi hương hoa mộc ngát trăng suông


Chào con hổ-nhớ-rừng Bách thảo


Màn nhung Nhà Hát mở đêm xuân


Chào em bé đánh giày chân sáo


Bác phá sa lòng tháp Báo ân


Ông Lã Vọng ngồi câu chả cá


Phở Tàu bay khói lẫn sương mai


Chào cô gánh cốm Vòng qua phố


Đòn vút cong một nét mi dài


Còi tàu điện leng keng trước cửa


Bánh xe lăn nhấp nhổm đường chiều


Nhà máy điện còi tầm dóng dả


Cột đèn đường bóng đổ xiêu xiêu


Chào các phố cờ bay như rồng nổi


Chào em mười năm đợi


                                   Em ơi!


Sáng mùa thu bâng khuâng mùi hoa sữa


Có phải như em


                         hoa cũng chờ...


Nhớ câu hát cũ trong đêm vắng


Ta sẽ về lấy lại Thủ đô


Anh bạn xưa hát bài hát đó


Nay nghỉ rừng biên giới trăng mờ


Hồn anh có trở về trong gió


Mà liễu hồ lay động phất phơ...


Ngày ta đi cây bàng mới chấm vai


Nay về ngỡ ngàng quên lối


Gió đung đưa lá rợp gốc sần sùi


Bức tường từng che ta nấp bắn


Sáng nền vôi dòng khẩu hiệu xôn xao


Bà mẹ níu thành xe nhìn tận mặt


Tiếng ai nghe giống tiếng con mình


Em bé (hay ta năm xưa?)


                                     vẫy cờ hoa tíu tít


Xe khuất rồi hoa vẫn rung rinh


 


Đi là em liên lạc


Về là lính Bác Hồ.


Lá thư chiến trường


 


Lá thư viết giữa khoảng trắng tờ giấy báo


Bạn anh đưa đến nhà cùng với mùa xuân


Ôi buổi giao thừa nỗi nhớ


Cành lộc biếc đập xanh khung cửa


Thơ dang tay “bồng ông Phúc vào nhà”


Mẹ quẩn quanh hoài với thư anh viết


Chữ mở to ngơ ngác mắt anh nhìn…


 


Giữa khoảng trắng lời thăm, bao gian khổ hiện dần rõ nét


Nào chuyện hành quân gánh nặng dốc trơn


(Mẹ nhớ thằng bé xưa chưa quen gồng gánh)


Nào chuyện gầm xe ngủ đêm rừng mưa lạnh


(Xưa phòng ấm giật mình cả tiếng guốc kêu)


 


Có phải sau dòng chữ xếp hàng đều


Là hầm khoét trũng sâu hố mắt


Là đêm dựng cán xẻng dài lạnh ngắt


Là mùi đất thơm vào giấc mơ


Là gánh rau ròng ròng mưa trưa


Là pháo bắc cầu vồng ngũ sắc


Là ba lô con cóc nhấp nhô chiều


Là đất ẩm rừng đồng phục áo nâu


Là khẩu lệnh hành quân đục trầm như tiếng đất


Là tất cả: tình yêu và căm giận


Trộn liều thuốc nổ


thành đạn


thành thơ


trong tay anh nóng bỏng từng giờ


 


Rồi bẵng mấy tháng liền không tin tức


Ôi cái nhớ tuy vô hình nhưng rất thực


nó ngồi ở đây nó ngồi ở kia


nó dong đèn đọc sách tới khuya


nó tựa cửa đứng chờ chính nó


Anh ra đi giữa bom la de, bom tọa độ


bom mẹ bom con dán nhãn hiệu văn minh


Nhưng lòng mẹ ngàn năm vẫn thế


vẫn thấy anh giữa vòng tay bồng bế…


 


Mẹ đọc lại bức thư mép gấp đã sờn


đâu ngờ chú bé bắt ve hôm nào giờ đây bắt Mỹ


Nơi chiến trường nâng con người tới những tầm cao


Lá thư bình thường mọc cánh cõng gian lao


từ đây vòng lại


Điểm đầu Hùng Vương


Băm sáu phố phường


dọc ngang ngõ lối


Băm sáu dây đàn


êm đềm… dữ dội


Băm sáu nhịp cầu


nối ngày tái hội


như Kiều gặp Kim


Băm sáu cánh chim


bay tìm ánh sáng


 


Xuân ơi! Xuân ơi!


Em như Hà Nội


Bao nhiêu thay đổi


Phố mười tám tuổi


Mời xuân đi chơi.


 


 


 


 


 


Người phi công về nhà


 


Quen vùng vẫy giữa xanh xa


Vấp chân ngưỡng cửa: tới nhà rồi đây


Không trời sao cũng say say


Chênh chao nhịp bước tháng ngày chồng nhau


Ta đi nhớ mãi thân cau


Vạch vôi in ngấn mái đầu thơ ngây


Hôm nào lái Mích qua đây


Núi như khẩu mía, sông tày rãnh con


Nhằm thù tên lửa nổ giòn


Xác rơi xuống đất hồn còn trên mây


 


Trong veo vại nước mưa đầy


Từng in bóng mẹ vóc gầy gian lao


Mắt già nheo ngước lên cao


Mong con cứng cánh lướt nhào dặm khơi


 


Ô kìa chiếc võng mắc lơi


Không gian vẳng tiếng à ơi nhịp nhàng


Một đà câu hát đưa ngang


Từ non dại đến thênh thang bầu trời


 


Mái tranh nền đất ta ơi


Nghìn năm bệ phóng một đời tung bay.


 


 


 


Hồ Gươm


 


Huyền thoại gươm chìm ký ức sủi tăm


Hồ không đọng sắc da trời mà xanh màu gỉ sắt


Từng soi bóng cha ông bao đời đánh giặc


Mặt lòng băng ngửa mặt đồi thanh niên


 


Ngày nước mắt hồ in lộn ngược bao cảnh đảo điên


Máu vọt vườn dừa bên tòa lầu Tây bụng phệ


Trống tổ tôm điếm “khai trí” người nô lệ


Ông Bôn Be xòe tay “bảo hộ” dân đen


Bồn bát giác la này inh ỏi tiếng kèn


Vai tượng vua Lê lá vàng tầm tã


Người du khách dạo quanh hồ xót dạ


Đêm nằm nghe hồn kiếm réo canh thâu


 


Ngùn ngụt mặt hồ khí oán bốc cao


Mường tượng ánh gươm xông lên sao Bắc Đẩu


Kết tụ lại thành khối thép bền chiến đấu


Ngày toàn thắng cuối cùng Nam Bắc một non sông


Hồ lại điềm nhiên thanh thản ngắm mây bông


Đoàn tù giặc lái Mỹ giải qua trong ánh đèn quay phim nhấp nháy


Pháo hoa hội mừng hay ánh gươm thần lại thấy


Ý chí con người: giam vô hình dựng giữa trời xanh


Hồ thâm trầm dạy bài học vô thanh.


 


                                                  1976


 


 


 


Người rập nét hoa văn


 


Từ giấy bản lót trên khung cửa


Dưới tay em vuốt nổi dáng rồng bay


Hay rồng đón thuyền vua Lý lại về đây


Vẩy rồng vươn tua tủa như ngọn giáo


Nhớ một câu thơ “Chương Dương đoạt sáo”


Có phải mây từng hắt ánh lửa Bạch Đằng, Hàm Tử, Chi Lăng


 


Giữa lúc bầu trời ta qua Mỹ rít gầm


Em bình tĩnh cứu lấy hoa tay người thợ


Những giọt mồ hôi như còn sèo sèo trên thớ gỗ


Cứu tinh hoa dân tộc ngàn năm


 


Dù sắp tới đây Văn Miếu tan nát trong bom dội


Từ mẫu hoa văn sẽ lại đứng lên to đẹp đàng hoàng


Gác Khuê Văn mãi soi lòng giếng Thiên Quang


 


Ngoài bãi cỏ tiếng hô xạ kích âm vang


Đoàn tự vệ nhằm hồng tâm bắn trúng


Rùa tỉnh giấc mơ đá muốn hóa thân làm giá súng


Nền văn hóa ngàn năm làm bệ đỡ cho ta


Tiếng bông đập trên nền khuôn trầm lắng sâu xa.


 


 


Sài Gòn 1911... Sài Gòn 1975


Tàu hồng hộc thở


phun khói nhọ trời


nhọ mây, nhọ đất, nhọ cảnh,


                                    nhọ người


khuân vác còng lưng dưới nắng


Đầu lút xuống, lầm lũi từng mảng trắng


Những kiện hàng biết đi


Ở đây chỉ có những hình khối lầm lì


thép


      đá


         xi măng


                    gỗ hòm chất đống


Mặt trời nhìn với cái nhìn bất động


 


Giữa lúc này xuất hiện một Con Người


Nhìn tất cả với cái nhìn xúc động


Ngoài kia sóng và gió lao xao


Tranh nhau kể về những chân trời xa lạ


Cánh hải âu lượn vòng thong thả


Đất nước cầm tù đàn chim gọi tự do


Đôi mắt lệ nhòa


như qua nước phản chiếu ánh cầu vồng bảy sắc


Thấy những tướng Cần Vương ngựa phóng vào thế giặc


Ngã xuống sau làn khói đại bác mờ mờ


Những chí sĩ lên đường vượt biển Đông du


Sẩy bước Phù Tang, dở cười dở khóc


Những chiến sĩ ngồi nhớ thời ngang dọc


Đánh chìm đời trong cốc rượu nồng men


Trang binh thư ngả xuống cạnh bàn đèn


Trí dũng vướng trong vòng vây tóc xõa


Những thanh niên vũng phù hoa sa đọa


Tiệm nhảy quầng đèn hỏa táng thiêu thân


Phách hồng lâu buông tiếng tiếng chậm dần:


Nhịp xênh gõ đưa quan tài hạ huyệt


 


Không thể dấn đời chầm chậm vào cõi chết


Trang sách bụi mở ra không tiếng đáp lời


Rời Phan Thiết vào Sài Gòn học trường bá nghệ


Từ cỗ máy, Anh Ba nhận ra thời thế


Chuyển xoay theo động cơ khoa học văn minh


Sài Gòn giấu Anh trong tấm áo thợ của mình


Giúp Anh thấy trước những người chủ ngày mai đất nước


Muốn đuổi giặc phải hiểu giặc thật sâu


Cảnh nước Pháp trên phim khiến óc Anh lóe sáng


Phút Anh quyết định


                        không sang Đông


                                    mà phải sang Tây


Kim la bàn Cách mạng bắt đầu quay hướng đúng


 


Còi giục rồi


Chân vịt nặng nề quay


Tiếng nước xé sau bánh lái


mỏ neo cáu kỉnh rít lên


Dây xích thả rào rào thống khoái


Tàu hổn hển no vì những sinh mệnh Việt Nam những tài
                         nguyên Việt Nam về làm giàu cho “Mẫu quốc”


 


“Đô đốc La-tút-sơ Tơ-rê-vin”, mày có ngờ đâu


Mày đã chứa dưới hầm một sinh mệnh Việt Nam vô giá


Một tài nguyên vô tận cho Cách mạng Việt Nam


Một quả bom găm giữa lòng chế độ bóc lột gian tham


Trên boong tàu, Anh Ba vẫy tay


                                  chào Bến Nhà Rồng


                                                 chào đồng bào


chào Tổ quốc


Đó là chuyện Sài Gòn ngàn-chín-trăm-mười-một


 


Tàu hải quân ngụy cháy


Đạn nổ tung, đụn khói ám trời sâu


Cờ ba que lênh đênh mặt nước loáng dầu


 


Những công nhân khuân vác hôm nay đứng thẳng


Đón hải quân ta về giải phóng đô thành


Binh lính ngụy quyền xếp hàng trình diện


Tàu ngụy bị ép di tản lại trở về đậu bến


Như đậu trong tấm lòng Bác Hồ lượng biển mênh mông


Đỉnh cột tàu, người chiến sĩ mắt nhìn xa ngái


Sóng Cửu Long triều Nam Hải nước bồng


 


Từ nơi này ra đi tìm phương cứu non sôngHôm nay Bác trở về trong lá cờ sao vẫy bến


Niềm kinh ngạc khiến sững sờ trời biển


Sáu mươi tư năm, đời đổi khác nghìn năm


 


Đó là chuyện Sài Gòn ngàn-chín-trăm-bảy-lăm


                                                           1975


 


 


 


 


Lưỡi dao và trái tim


Kính tặng hương hồn GS.BS Tôn Thất Tùng


 


Lưỡi dao của người thầy thuốc


Thọc vào trái tim người


Lưỡi hái thần Chết bị đẩy lùi


Khơi thông nguồn sự sống


 


Lưỡi dao của một nhà thơ(1)


Mang đầy quyền phép


Hồi phục từng xúc cảm tinh vi


Rung cánh đàn bướm đẹp


 


Anh săn sóc triệu trái tim người


Quên cả tóc mình nhuốm bạc


Lắng nghe từng nhịp đập bất thường


Như từng nốt lỗi nhịp trong dàn nhạc


 


Anh biết rõ vị trí


Trái tim của vị tướng ở đâu


Và trái tim người lính thường ở đâu


Nhưng trái tim anh ở đâu


 


Không ai rõ


Vì nó đã hòa vào trái tim vô số(2)


 


Khi mọi người bàng hoàng nhận ra


Là khi nó bắt đầu ngừng đập(3)


Cũng là khi triệu trái tim người


Đập một nhịp chung


TÔN THẤT TÙNG


 


 


 


 


Khúc dân ca không tuổi


Kính tặng anh chị Lư Nhất Vũ - Lê Giang


người sưu tầm dân ca Nam bộ


 


Máy ghi âm mở đợi


Bà già bảy mươi lăm nhẩm lại khúc dân ca


Gương mặt nhăn nheo kỷ niệm thời xuân ấm nóng


Vụt trỗi tiếng hò lảnh lót thênh thang


Hò hơ… Phải chi anh hóa đặng con ó vàng


Bay ngang đám cấy xớt nàng đem theo


Này anh ơi, em mắc ba cây lúa muộn nó tồn tền


Tiếng hát gợi về dòng sông Hậu trong xanh


Nước liu riu lục bình trôi líu ríu


Những vườn cây trái no tròn lúc líu


Tiếng chim chuyền nhành ớt, bông bần gieo


Con nước giật ròng khi vít vịt kêu chiều


 


Ôi tiếng hát cô gái nào tôi vừa nghe đấy


Một màu xanh phạp phồng trên đám cấy


Con ó vàng thần thoại đã về chăng


Mát rượi dân ca tấp bến vĩnh hằng.


 


 


Qua xóm Bàn Cờ


 


Bước chân tới xóm Bàn Cờ


Lòng như chỉ vướng guồng tơ rối bời


 


Đừng lo anh lạc, em ơi!


Dẫu đường thách đố năm mười ngả đi


Nhà này không khác nhà kia


Giàn bông giấy chẳng phân chia hàng rào


Ngõ nào cũng giống ngõ nào


Từng dáng người cũng hao hao dáng người


 


Đừng lo anh lạc, em ơi!


Anh lần theo dấu một thời đi qua


Căn nhà từng ém quân ta


Đợi giờ pháo kích xông ra diệt đồn


Bông hoa lửa giặc kinh hồn


Ngờ đâu ủ giữa khu vườn đơn sơ


 


Mẹ già xé lụa may cờ


Đấu tranh mái tóc bạc phơ dẫn đầu


Trải bao tù tội dãi dầu


Giờ tâm hồn vẫn thắm màu cờ son


Sáu năm hai lượt tiễn con


Hai biên giới một nước non giữ bền


 


Đứa em buổi ấy giao liên


Dẫn đường làm mũi tên xuyên nội thành


Nay làm cán bộ ban ngành


Lo bà con được no lành hơn xưa


Vẫn phường quen thuở chơi đùa


Mà sao ấm tiếng chào thưa nụ cười


So le hẻm ngắn phố dài


Từng câu dăng mắc nên bài thơ hay


 


Bàn Cờ thuở trước ai bày


Che mờ mắt giặc nhờ tay dân mình


Một mê hồn trận thành hình


Voi lồng pháo quất tan binh tướng thù


Giữa vòng xe ngựa mịt mù


Dọc ngang trăm lối. hướng thu một đường…


 


Tiếng chim quấn quýt mùi hương


Khiến anh lạc giữa tình thương bốn chiều.


 


 


Qua Sầm Giang nhớ Nguyễn Mỹ Ca*


 


Tạm xếp cây đàn làm thuốc nổ


Tính xem cộng hưởng sức ngần nào


Hòa âm giết giặc thêm giòn giã


Tổng phổ đời anh nhạc vút cao.


 


 


 


Tặng cô du kích đồi Tức Đụp


 


Với anh em nói ngọt ngào


Dừa xiêm trên lưỡi bưởi đào trên môi


Thế khi rượt giặc bên đồi


Bắt hàng tiếng quát em ơi thế nào?


 


 


 


Về đất Mũi


 


Mũi đất đây rồi… sững biển lam


Trời mật ong và nắng xanh tràm


Đi hết hành trình người mở nước


Nghe thầm thì tên gọi: Việt Nam


 


Giờ Địa buổi nào ta gặp nhau


Bản đồ thầy trỏ: Mũi Cà Mau


Rời trường đánh giặc quên năm tháng


Nhớ xóm Chắc Băng rạch Cái Tàu


 


Biển này xanh mãi đến xa xăm


Ghi chiến công ai vệt máu đằm


Như vết thương trai chườm nước mặn


Ruột bừng ngọc sáng ánh lương tâm


 


Đứng ở nơi sông vồ vập biển


Sóng hôn eo đất triệu năm bồi


Bỗng lòng muốn hóa ngàn thân đước


Bám rễ ôm bờ riết chẳng thôi


 


 


Trước núi Bà Đen


 


Xe lướt trên đường mù bụi đó


sững nhìn trước mắt: Núi Bà Đen


Thoắt thôi đã thấy bên tay mặt


Xe núi vòng quanh hội rước đèn


 


Núi đưng từ bao giờ thế núi?


Vươn vai dũng sĩ trấn đồng xanh


Chín năm đánh Pháp bên gan đá


Xác giặc thành tro bón đậu nành


 


Mì bắp hai mùa, lính đủ ăn


Bữa cho cua ốc, bữa thằn lằn


Thương ta lượng núi luôn hào phóng


Hiểu núi lòng ta biết tiện tằn


 


Ta địch giành nhau từng cứ điểm


Như tranh lợi thế giữa bàn cơ


Nước đi Mỹ mất tong xe pháo


Cờ tướng quân mình đỉnh gió đưa


 


Thắng Mỹ, nắn sông xây đập ngăn


Bởi thường miền khát đất khô cằn


Núi chờ soi mặt gương hồ nước


Chút điểm trang sau vạn nhọc nhằn


 


Núi nhìn bằng mắt hang nghiêm khắc


Dòng mủ cao su chảy chậm mau?


Chấm điểm công minh phiên trực nhật


Bạc đầu lo đến lớp người sau


 


Đứng gác quanh năm giữ đất nhà


Ta về hớn hở núi mừng ta


Ta đi núi dõi màn sương ướt


Tam giác nhô hình nỗi nhớ xa.


 


Ông già mù hát rong


Ông già mù hát rong


Đi giữa lòng thành phố


Tiếng hát cũng lang thang


Kiếm miếng ăn từng bữa


 


Giữa nhạc “tuýt” ồn ào


“Cha cha cha” gào rú


Ông vẫn bài hát cũ


Từ cha ông dõi truyền


Nghe tiếng gươm Vân Tiên


Chém mạnh vào cơn gió


Trời cao trăng sáng tỏ


Như khuôn mặt Nguyệt Nga


Trong mây tối Ô Qua


Vành vạnh niềm chung thủy


 


Tiếng hát ông thủ thỉ


Nghìn tâm sự thương đau


Tiếng tiếng đổ theo nhau


Tiếng con xuồng vỗ nước


Tiếng gió đập vườn xoài


Tiếng sóng tràn bãi đước


Tiếng guồng quay đêm thanh


 


Bên nỗi đau quê mình


Có nỗi đau tiếng hát


Không được cất cao lên


Trên thanh bình bát ngát


Gót giày đinh tàn ác


Dày xéo lên quê hương


Tiếng hát cũng bị thương


Đang dòng dòng rỏ máu


 


Nhìn nghiêng phác dáng hình


Tinh anh cụ Đồ Chiểu


Hố mắt đong thời gian


Chờ một điều kỳ diệu


Ngày biển lặng sông trong


Mắt lại sáng như lòng...


 


Những người từng nghe ông


Ai thành anh giải phóng


Ai thành cô biệt động


Thành sinh viên đấu tranh


Thành giao liên tự vệ


Thành cơ sở nội thành


Ông già không thể biết


 


Hôm nay đứng dậy hết


Giải phóng cho đô thành


Giải phóng cho tiếng hát


Thả chim ra trời xanh


 


Ông mừng ngày giải phóng


Giọng hát vẫn còn trong


Như Vân Tiên trở lại


Nguyệt Nga má đợi hồng


Lưỡi gươm nâng tiếng hát


Long lanh ngàn núi sông.


 


Tặng một bà má Đồng Tháp


Mười đứa gái trai đều chết trận


Thân cây hai lượt bão trơ cành


Mẹ gầy trụ vững trên lòng đất


Bám rễ giống nòi muôn thuở xanh.


Tượng đài người chiến sĩ hy sinh trước cửa ngõ Sài Gòn


Nhà điêu khắc lo dựng tượng đài kỷ niệm


Trung đội hy sinh trước cửa ngõ Sài Gòn


 


Khi đó phía bên kia còn bóng đêm Mỹ ngụy


Các anh mũi chủ công ánh sáng thọc vào


Chuốt nhọn qua ba mươi năm trường chiến đấu gian lao


 


Không thể lùi dù là nửa bước


Đồng bào miền Nam đợi chờ phía trước


Đồng bào miền Bắc hồi hộp phía sau


Gánh sông núi nặng trên vai áo bạc màu...


 


Kẻ thù không bó tay chờ sụp đổ


Đạn điên cuồng nổi từng cơn giãy giụa


Lửa táp mặt các anh như lửa địa ngục phản công


Trước phút lụi tàn khi Chính nghĩa hừng đông...


 


Các anh ngã xuống mở lối xe tăng thẳng tiến


Cuốn ào theo bão rừng lốc biển


Về Sài Gòn đường giải phóng thênh thênh


Sau cửa khép chiến tranh lấp ló mặt hòa bình...


 


Khi là tấm thân máu thịt đang rần rật


Các anh phải luyện thành rắn như đá sắt


Để xứng cùng nhiệm vụ Đảng Dân trao


Giờ đây nhà điêu khắc với đá rắn thạch cao


Lại phải gợi lên chất mềm máu thịt


Cuộc hồi sinh bằng nghệ thuật diệu kỳ thay!


 


Người chiến sĩ ngã xuống trước giờ toàn thắng


Lại hiên ngang đứng lên trấn cửa ngõ Sài Gòn


Không gì lâu bền bằng hòa nhập nước non


Dẫu chỉ trong trí nhớ nhiều thế kỷ


Tượng đài khắc giữa lòng người bình dị


Hoành tráng tâm hồn


                        kích thước thiên nhiên


Đà Lạt trong tôi


Đồi lũng thấp cao từng bậc thang âm


Mới chạm vào phím hồn rung... lặng lẽ


Bước lên thấy gần thêm trời thoáng nhẹ


Và xuống nghe đời giữ nhịp thăng bằng


 


Trước mặt bềnh bồng huyền ảo sương giăng


Người lâng lâng tưởng chân không bén đất


Đừng thở mạnh kẻo làn sương tan mất


Như giấc mơ hoa vụt biến không ngờ


 


Ở nơi này tất cả hóa thành thơ


Tà áo trắng qua sương mờ lãng đãng


Gió nũng nịu biết uốn mình duyên dáng


Mặt hồ nghiêng gương lóng lánh soi đôi


 


Không khí tan vào ẩm ướt vành môi


Trái hồng đỏ như nụ cười bất chợt


Đời trẻ quá màu rau xanh non mướt


Phong lan thành cánh bướm, đậu rưng rưng


 


Thời gian như mây trôi nhẹ ngập ngừng


Thiên nhiên trộn với phố phường một khối


Thành phố thở cùng nhịp vui tiếng suối


Mùi nhựa thông ngây ngất nắng lưng đèo


 


Đà Lạt ùa vào tôi dường thác nước reo


Sủi bọt trắng tâm tình trong ký ức


Rừng xa đứng như chập chờn hư thực


Vườn ươm cây mầm nhú biếc yêu thương


Dừng chân cửa hàng đồ lưu niệm ven đường


Chưa kịp nhìn mặt gỗ thông chữ hiện


Tim đã cháy xém vệt dao khắc điện


Đà Lạt nét hằn vĩnh viễn trong tôi.


 


 


Trên nền Thư viện Quốc gia


Thuở Thư viện Quốc Gia chưa được dựng lên


Nền đất này đã có người độc giả đầu tiên


Lý Tự Trọng


 


Chân cùm ruỗi mặt sàn ngâm lớn


“Phong trần mài một lưỡi gươm”


Tiếng hát phá tung mấy lần vách ngục


Khám tử hình nghe lồng lộng trời xanh


 


Qua lỗ cửa thôi líu lo sẻ hót


Mùa xuân đã hết rồi


Ngoài kia đưa vào hương chùm me chín


“Dưới trăng quyên đã gọi hè”


Câu thơ đẹp khơi sâu thù mất nước


Anh thêm hiểu Nguyễn Du


từ khi Đảng dạy anh thế nào là Tổ quốc


 


Còn một đêm nay thôi


Chào đồng chí đồng bào ở lại


Giờ chót mùa xuân thao thức trang Kiều


Sớm mai ra pháp trường


có Nguyễn Du đi với anh giữa hai hàng lính gác


 


Ơi Việt Nam cỏ non xanh rợn chân trời...


 


Nhớ người độc giả đầu tiên và câu thơ Nguyễn Du vằng vặc


Trang cuộc đời


Trang thư viện


                        trăng soi.


 


 


Mùa xuân qua cầu Công Lý


Trên cầu Công Lý sớm xuân


Từng đàn thiếu nữ áo quần thướt tha


Từ tà áo bướm bay ra


Trời xuân nghiêng xuống la đà cùng say


 


Năm xưa... anh ấy... nơi này


Trái mìn chờ nối đường dây diệt thù


Dây mìn tiền lấy chi mua?


Đổi bằng nhẫn cưới tỏ mờ hai tên


 


Lòng Quyên, Trỗi có đâu quên


Nhưng đem nghĩa lớn đáp đền tình riêng


Nhẫn này thề ước thiêng liêng


Nhưng dây này đủ lật nghiêng thế thù


 


Dây này bện chuốt công phu


Từ hồn đất nước: đường tơ diệu kỳ


Nghìn mùa xuân cũ qua đi


Nghìn mùa xuân mới lại về trang nghiêm


 


Ôi đường dây điện mạch chìm


Trái tim anh nối trái tim triệu người


Nối tình yêu với lẽ đời


Nối hôm nay với rạng ngời mai sau


 


Lặng im nước dưới thân cầu


Thoáng nhìn đọng cả ngàn câu ngập ngừng


Lòng vui mà mắt rưng rưng


Mùa xuân như kẻ đã từng chiến tranh


 


Kể từ đời vắng bóng anh


Chiếc cầu dăng giữa trời xanh nỗi buồn


Đi qua từng nhịp tâm hồn


Mùa xuân dừng lại. Sóng dồn âm xa


 


Đừng lơ đãng bước chân qua


Hỡi em màu áo rắc hoa giữa trời


Hoa này em kính tặng người


Đã vì sự sống muôn đời ra đi


Giữa ngàn kỷ niệm ta ghi


Cầu như lên tiếng thầm thì không gian


Dẫu ngày đá lở sắt tan


Cầu còn nguyên dáng bền gan anh hùng.


Đường Nguyễn Thái Bình


Thành phố Hồ Chí Minh có một con đường nhỏ


Đường Nguyễn Thái Bình tươi đỏ một màu son


 


Đường anh đi từ nước Mỹ trở ngược bến Sài Gòn


Anh lại phải đầu thai để tìm về nguồn cội


Đường xuyên không gian nối liền Hà Nội


Có Lăng Bác Hồ anh xa gởi niềm thương


 


Kẻ thù không cách anh bằng vạn dặm trùng dương


Mà bằng khoảng cách bốn nghìn năm lịch sử


Sống chung nhà, anh nhìn thấu tâm địa chúng như qua cửa ngỏ


Ngủ chung giường mà mộng khác nhau


 


Anh hiểu rằng: Mỹ cho anh tiền, Mỹ cho anh bánh


Chỉ xin lại anh cái hồn


Anh sẽ thành hợp chất của hai nguyên tố tiền và bánh


Mỗi tế bào anh theo cấu trúc chúng sinh tồn


Anh hiểu như Gớt rằng: món nợ của Mê-phít-tô-phê-lét (1)


không bao giờ trả được


Nợ máu đòi trả máu mới nguôi


Anh không thể thành người máy theo chương trình điều khiển học


Vì trót mang cái “gien” yêu nước thương nòi


 


Anh đã hiểu về từng luồng cá chuồn cá nục


Nhưng anh đâu còn là cá lội tung tăng


Nếu vướng lưới dát vàng của lão chài tư bản


Anh đã hiểu về từng con nước ròng nước cạn


Nhưng không cất mình lên anh sẽ chìm tận đáy


sâu chứa đầy xác mục của lương tâm


Có nhiều cái đã thành hóa thạch!


 


Từ giã những “ông bố đỡ đầu” hứa cho công danh hiển hách


Anh lại như cá theo luồng xưa trở lại bến mình


Vì anh hiểu dù nhọc nhằn đói rách


Quê hương không bỏ rơi đứa con thừa tự đức hy sinh


 


(1)   Phao-xtơ bán linh hồn cho quỷ Mê-phít-tô-phê-lét đổng quíp ông nghiên cứu khoa học (kịch của Gớt).


 


Anh quyết trở về cùng bà con sát cánh đấu tranh


Lại thêm một mắt xích yếu của chủ nghĩa thực dân mới đứt.


 


Từ trên máy bay, giặc xô anh xuống đường băng Tân Sơn Nhứt


Từ đường băng lương tâm lại khởi cuộc du hành


Thân anh ngã vào lòng đất mẹ


Tiếng máu anh kêu đỏ sắc trời xanh


Hiện ráng chiều hôm lừng lững mây thành


 


Thành phố Hồ Chí Minh có một con đường nhỏ


Đường Nguyễn Thái Bình tươi đỏ một màu son.


 


Vào hội hoa xuân


Bước vào thăm Hội Hoa Xuân


Tưởng như trời đất quây quần quanh ta


Ngày nghe dài mãi thêm ra


Bởi mùi hương cứ la đà ngất ngây


 


Một thời tạm chiếm trước đây


Tao Đàn sắc thắm sao đầy gợi trêu?


Cạnh sào huyệt lũ cú diều


Lá rơi mục đất sớm chiều ai hay


 


Mà giờ đời mở vòng tay


Hoa dăng trước mặt, hoa bày sau lưng


Mỗi hoa nhắc một cánh rừng


Mỗi hoa nhắc một bạn từng quen tên


 


Bao lời riêng khó cất lên


Nhờ hoa nói hộ bằng duyên mượt mà


Nhắc đời cứ mãi trẻ ra


Mùa xuân dìu dặt tình ca không lời


Má hây như nhắp rượu mời


Để cho chếnh choáng đất trời quanh ta


Dập dờn sóng vỗ bờ hoa


Mây dường ửng sắc chiều pha tím hồng


 


Gió qua tà áo thơm nồng


Khẽ đưa vuốt tóc hoa lồng ngón tay


Tình yêu nhẹ thoáng ong bay


Bông hoa dạ lý ban ngày còn hương


 


Màu tươi sắc biếc đón đường


Cũng vì em đấy em thương hãy nhìn.


Nghe bài hát “Tình ca Vũng Tàu”


Sân khấu nghiêng dần theo tiếng hát


Bãi biển Vũng Tàu đột ngột dềnh lên


Từng đợt âm thanh òa vỡ thiên nhiên


Hàng ngàn trái tim nhịp cùng vồ vập


Hóa ngàn con sóng đập trời sao


 


Bên tai chỉ thấy ào ào


Bóng áo trắng nhòa trong sâu lắng


Ánh điện rải mơ hồ từng đợt nắng


Nốt nhạc như nốt chân để lại cát mềm


Rồi cuốn dần trong hơi gió xanh êm


 


Có cả tiếng thì thào tâm sự


Mà biển hôm nay rộng lòng lưu giữ


Đến trầm hùng đỉnh sóng gọi mông mênh


Giọng hát trong soi suốt gợn tâm tình


Anh tắm bằng lời ca như nước tưới


Bọt sủi trắng những dư âm khơi gợi


Cái mát lạ lùng thấm đến tâm can


Em dồn nén không gian trong khoảnh khắc thời gian


 


Ôi thiên nhiên thứ hai bằng nghệ thuật


Tiếng hát vô hình - gợi hình vật chất


Điểm hẹn tâm hồn


                           giữa người nhạc sĩ em chưa quen


                           giữa anh người thính giả ngẫu nhiên


                           giữa em với đồng bào và đất nước


Bản Tình ca hiện thực hòa mơ ước


Như Vũng Tàu lưng kề biển Đông


                                                chân gác Việt Nam


Tắm giữa ân tình trời biếc biển lam.


 


 


Câu kết cho một bản giao hưởng


Kính tặng hương hồn anh Hoàng Việt


Anh ngồi trong nhạc viện Xô-phi-a


Bản giao hưởng viết chưa tròn đoạn kết


Hương hoa hồng... sao nồng nàn da diết


Mùa xuân Bun-ga-ri đang quyến rũ ngoài kia


 


Anh mở rộng cửa phòng. Trời ngọc dát sao khuya


Phía xa kia là quê hương anh chìm trong máu lửa


Sông An Hữu cong cong lời nức nở


Đâu phải “dòng Đa-nuýp xanh” trải nhịp sóng êm đềm


 


Lửa na-pan khét vườn xoài cát, dừa xiêm


Đâu phải hương hồng Xô-phi-a ướp đêm tinh khiết


Ở đó cuộc chiến tranh ba mươi năm vươn tìm đoạn kết


Giữa đối điểm gắt gao, đồng bào đang vật lộn với quân thù


 


Quê Việt bao ngày chìm nhạc điệu âm u


Bao thăng giáng trên dòng đời quằn quại


Những phách yếu mạnh dần, những âm trầm cao mãi


Khi núi rừng dạo khúc Tiến quân ca


Âm vực lan dần đồng rộng biển xa


Âm sắc trỗi gió hiu dồn trận bão


Một Điện Biên chưa dứt Hò kéo pháo


Giải phóng Miền Nam lại réo gọi trên đầu


 


Tổ quốc từ mỏng manh một tiếng đàn bầu


Nhịp Cách mạng góp dựng tầm giao hưởng


Đâu thể làm một nghịch âm sống sượng


Khi hòa âm đất nước dội năm châu


 


Nhạc rừng Miền Đông vọng đến thẳm sâu


Lá xanh sống nhờ mặt trời cho lục diệp


Anh phải hoàn thành bài thi tốt nghiệp


Trường độ bốn nghìn năm đổi một phút anh hùng


 


Khuông thời gian, tâm hồn dâng tới mông mênh


Bảy nốt trắng đen hiện âm hình: nhạc sĩ là chiến sĩ


Quyết trở về quê hương cùng bà con đánh Mỹ


Anh phải trở thành câu kết chính tác phẩm của anh


Làm một âm giai nâng bổng khúc quân hành.


 


Thành phố tổ ong


Tặng họa sĩ N.T.


 


Ngày giải phóng


                        có lẽ gặp nhau


                                    chúng ta sẽ quay lưng


Tôi ngần ngại trước ria mép, quần gin, kiếng mát


Thấy ba lô, mũi cối, dép râu, anh lạnh lạt


Nói làm gì chuyện siêu thực, tượng trưng


Như con thú rừng xa lạ, dửng dưng


Những bức tường buyn-đinh


                                    ngăn ta hai phía


 


Năm năm qua


            thành phố tự tìm ra ý nghĩa


Trong từng việc làm nhỏ nhặt hàng ngày


Theo nhát chổi quét đường


                        tóc trắng cụ già bay


Thổi làn gió vào thơ tôi mát rượi


Màu áo cô thanh niên xung phong khơi dòng kinh mới


Điểm nền tranh anh một đốm biếc không ngờ


Dòng sợi khung đời


                        go sáng trang thơ


Buổi hòa nhạc giữa trời


                        gọi tranh hợp sắc


Một vệt nắng thân tàu Thống nhất


rọi lên “toan” một mảng ấm lung linh


Dáng người thợ Ba Son quai búa cong mình


nổi hình khối giữa hai hàng chữ viết


Thành phố đoàn tụ những gì chia biệt


Cuốn ta vào vòng tay lớn thương yêu


Thành phố cần lao bận rộn sớm chiều


Một thoáng chuyện hơn chồng thư kỷ niệm


Nơi gợi mở những e dè giấu giếm


Nhát cọ tâm tình, hạt chữ cựa mình đau...


 


Ta cạn với nhau ngàn ly rượu đế


                                    chưa đủ hiểu lòng nhau


Trong im lặng


            anh say thơ


                        và tôi no màu sắc


Dầu tôi nghiện cà phê và anh mê “cô-nhắc”


Dầu có lúc giận nhau vì một cớ bâng quơ


Ta gặp nhau


            nơi đường nét


                        cộm suy tư


 


Kỳ lạ thay


            ô chứa màu


                        ô chữ xếp thơ


                                    giống đõ ong đến vậy


Mà thành phố là


                        đõ ong vĩ đại


Từng ô nhà hạnh phúc chắt chiu


 


Ôi tảng màu ngon mật ong hung đỏ


Hay xuân rót tràn men hổ phách ly đầy


Tất cả đều trong vắt đến thơ ngây


Trang trải lòng ta chia đều thành phố


Nơi chữ / màu mỗi đêm bung nở


Bổ sung mặt trời cho mỗi sớm hừng đông


Hồi quang ta bảy sắc cầu vồng.


 


 


 


 


Về quê Ca Lê Hiến ở Bến Tre


Tôi đã về quê Hiến, Hiến ơi


Trễ hẹn mười lăm năm, đừng buồn nghe Hiến!


 


Hồi Hà Nội, mình nói bao nhiêu chuyện


Chưa kịp hỏi Hiến yêu môn sử tự bao giờ


 


Tôi đã thay Hiến đi thăm mộ Cụ Đồ


Ngôi mộ như chiếc giường giữa bốn bề hoa cỏ


Ngỡ Cụ vừa chợp mắt nghỉ trưa


Lát nữa dậy ngồi hốt thuốc hoặc làm thơ...


 


Thăm mộ Phan Tòng người anh hùng Giồng Gạch


Ngôi mộ nằm lặng im như cuốn sách


Ngỡ lật trang sẽ gặp lại người xưa


Khi chết bàn tay còn siết cổ thù...


 


Tôi lần theo dấu chân Hiến trên đường


Lối mòn nào Hiến qua đêm vượt lộ


Rặng trâm bầu vẫn xanh màu tưởng nhớ


Bến nước nào xuồng Hiến lướt qua kinh


Sóng dập dềnh trôi tím ngát lục bình


Hay kỷ niệm ngược theo dòng dĩ vãng


Trạm bơm điện nước đọng gương lấp loáng


Soi niềm vui quê cũ đổi thay rồi...


 


Lịch sử dữ dội mà cũng tự nhiên thôi


Như trán đẫm mồ hôi gió quạt khô chốc lát


Dầu khuôn mặt máu bết cùng bụi cát


Nước sông quê rửa mát lại hồng tươi...


 


Vào cuộc thi sát hạch mỗi con người


Câu hỏi lớn đã treo ngoài cánh cửa


Là hôm nay ta cũng là lịch sử


Mỗi việc làm tròn như hạ một vần thơ


Người làm thơ không có tuổi bao giờ


Ở bên kia Cụ Đồ có gọi Hiến là đồng chí


Giọng trẻ già thơ hòa điệu Bến Tre xanh.


 


Bức tranh gà


Khuôn tranh làng Hồ


thơm mùi gỗ thị


Vỏ xơ mướp khô


vuốt trên giấy bản


Sắc màu đã tô


 


Bác thợ lật giấy


Con gà đứng dậy


Ô sao bỗng thấy


Mắt gà chớp nhanh


Mắt bác không chớp


 


Cái mào lửa cháy


Cổ vươn tiếng gáy


Ó o bình minh


Chân vàng sừng sững


 


Đầu như đầu phượng


Đuôi xòe đuôi trĩ


Mình tựa mình công.


Sống hơn gà sống


Nòi gà để lại


Từ đời cha ông


Ấp bằng hơi thở


Nuôi bằng tấm lòng


Tấm lòng ngàn xưa


Ngàn sau nở mãi


Trẻ như cô gái


Khỏe như lúa đồng


 


Con gà xòe lông


Bảy màu cầu vồng


Màu đen than cói


Màu xanh gỉ đồng


Màu lam lá chàm


Màu vàng hạt dành


Màu trắng chất điệp


Vỏ sò vỏ hến


Quê bờ biển xanh


Như còn long lanh.


 


Bao mùa xuân qua


Để màu hồng lại


Sông núi cho xanh


Hồn nước sống mãi


Con gà đứng canh


 


Bác thợ ngắm tranh


Thấy lòng vỗ cánh


Thấy đời lại xanh.


 


Ơi người nghệ sĩ


Tên là dân gian


Góp cùng trời đất


Con gà Việt Nam


 


Gà từ trong tranh


Gà ra cuộc đời


Gáy lên! Gà ơi!


 


Từ hương đến mật


Không phải Tú Uyên dạo bước tìm hoa


Cẩm chướng mẫu đơn bạch lan hoàng cúc


Anh sống lang thang như người du mục


Đưa ong tìm hoa kiếm mật trăm phương


 


Những loài hoa giản dị bình thường


Hoa cao su cà phê sầu riêng vú sữa


Thầu dầu bạc hà hướng dương mắc cỡ


Tặng nhựa, trái cho đời còn tặng mật cho ong


 


Đêm âm thầm xe phủ bạt ruổi rong


Đến nơi lắm hoa dựng lều cắm trại


Thùng ong xếp dưới tán cây lợp mái


Theo dấu hương mời gọi những miền xa


 


Thời gian anh đo bằng các mùa hoa


Không gian đo bằng khoảng cách từ hương đến mật


Gió ai ướp mà thơm nồng ngây ngất


Mỏng cánh ong bay rung động trời chiều


Điệu múa xoay vòng tiết mục đáng yêu


Là tín hiệu báo cho đồng đội biết


Đến xưởng thợ hút mật hoa mài miệt


Chất thơ thấm trong lao động chuyên cần


 


Đời ong bốn mươi lăm ngày - dài hơn một mùa xuân


Hút nhụy triệu loài hoa chắt nên ngàn giọt mật


Thụ phấn cho cây càng cao năng suất


Biến đời thành hữu ích mỗi ngày công


 


Nhà máy thiên nhiên dường nới rộng mênh mông


Bằng những mũi ong xoáy vào không khí


Dàn khoan hút dầu vòi ong hút nhụy


Thế giới vĩ mô kề thế giới vi mô


Chung sắc xuân tô đẹp một cơ đồ.


 


 


Cầu chữ Y


Sao cầu lại chữ Y


Khiến lòng nhau bối rối


Ngược xuôi ba ngả đường


Dòng người xe chảy vội


 


Ai xuôi về Xóm Củi


Theo đoàn xe chở than


Ai qua bến Hàm Tử


Kịp ghé xuống xà lan


Ai rẽ Phạm Thế Hiển


Đường căng như phím đàn


 


Kia là khu Khánh Hội


Từng tiễn Bác ra đi


Đây nhà đèn Chợ Quán


Máy điện reo ầm ì


Này đường Trần Xuân Soạn


Lá non vờn nét mi


 


Chiếc xuồng lướt băng băng


Bọt sủi đầu máy nổ


Ghe bầu khua nhịp chèo


Cau dừa thơm nặng chở


Ai thổi cơm mui thuyền


Khói đung đưa làn gió


 


Ba chữ Y lồng nhau


Mà hướng đời vẫn một


Nhớ những ngày bãi công


Nhà đèn ngừng than đốt


Nhớ những ngày Mậu Thân


Sét bửa tung lô cốt


 


Hỡi em đi về đâu


Sóng nước lồng ánh mắt


Thành phố cũng như em


Má đèn soi gương mặt


Để cho cầu chữ Y


Cầu chữ YÊU viết tắt.


Ngã tư Từ Dũ


Ngã tư


Dấu cộng lớn:


Người và xe


Hàng cây và những cô thiếu nữ


Cột đèn và nỗi đợi chờ


Lao động và Thơ


Chỉ trừ


            Tốc độ


 


Nơi ồn ào thoắt đi vào trật tự


Hai người yêu nhìn thấy nhau ở hai đầu


Mà chưa thể gặp nhau


Phải dừng lại chờ đèn đỏ tắt


 


Nét khẩn trương in trên gương mặt


Những người tới xưởng máy, cơ quan


Dòng sóng trôi miên man


Như đường chỉ cuốn hoài chẳng hết


 


Em nhỏ mới sinh ra viện


Mẹ cha ríu rít ẵm bồngTã trắng ủ nụ hồng


Hé nền trời lót biếc


 


Mỗi sớm trước giờ làm việc


Tôi ngồi quán cà phê góc đường


Đón nụ cười từng người qua lại


Như chậu hoa bày cửa sổ hứng sương


 


Ngã tư


Nhưng đích chung một lối


Em ơi đừng bối rối


Khi xe đạp suýt vướng vào nhau


Đó là cái duyên thành phố


Yêu người gặp hoài thuộc mặt chửa quen tên


Dáng khuất rồi thấy nhớ


 


 


Trời xanh trên đầu


                        dù lớn che chung


Ngã rẽ tâm tư


            đi mãi không cùng.


 


 


Người ơi người ở đừng về


Người ơi người ở đừng về!


Lời ai vút giữa bốn bề mênh mông


Con đò lá trúc bên sông


Nhớ thương chi sóng bềnh bồng trêu ngươi


Trăng đừng úa vội trăng ơi!


Ngoài câu ca đã một trời cô đơn


Tơ duyên ngang trái cung đờn


Tiếng vui xuống thấp, tiếng hờn lên cao


Câu ca mỏng mảnh dường bao


Buộc duyên tình được thế nào mà mong


Đám tan đường rẽ đôi lòng


Đò xuôi nước chảy đôi dòng lạnh tê


Trăng ơi tình ở, người về!


 


 


 


Hoa sương


Trời mở khung xanh căng tấm lụa


Trăm hoa đưa nhẹ những đường thêu


Làn sương dăng chỉ tơ thanh tú


Gió động không gian bỗng dập dìu


 


Hoa tú cầu xanh đến lạ lùng


Phải lầu công chúa quả cầu tung


Phút giây qua đó duyên tình vướng


Đã hẹn nghìn năm nghĩa thủy chung


 


Vân hài ai bước giữa đường xuân


Hay gót tiên nga xuống cõi trần


Vũ điệu thiên nhiên dường chuyển động


Muôn sao loạn điểm bỗng xoay vần


 


Bươm bướm vàng trên cỏ lượn vòng


Mẫu đơn vầng lửa thắp chờ mong


Nhởn nhơ cúc trắng ven hồ dạo


Thấy mặt phù dung đã phải lòng.


 


Nhân vật


Nhà viết kịch đi tìm nhân vật mới


Anh yêu em khi phát hiện về mình


Một nhân vật - tình nhân luôn kém cỏi


Vai thuộc làu, diễn xuất vẫn chênh vênh.


 


Thư


Run run tay nhận lá thư em


Chỉ lặng nhìn chưa dám bóc xem


Đời bao lần nhận thư rồi nhỉ


Còn lại cùng anh một dãy tem.


Daï lan


Đôi ta đi dưới trời sao


 


Dạ lan gió thở hương vào thẳm xa


 


Không hình vẫn đoán ra hoa


 


Không màu vẫn đoán đây là mùi hương


 


 


 


Lắng nghe mạch sống phố phường


 


Vẫn còn ấm mỗi mạch đường ta đi


 


Nhịp đời xao xuyến rầm rì


 


Vọng về trong tiếng thầm thì nhịp tim


 


 


 


Sắc ngày dành để hương đêm


 


Thời gian chín để tình thêm nồng nàn


 


Hồn xin làm đóa dạ lan


 


Lặng thầm giấu mặt trong làn hương bay.


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Thơ Hoài Anh. Di cảo do tác giả tự tuyển chọn từ 2008, 500 trang. Nguyễn Tý biên soạn. Con trai tác giả đầu trư in ấn. NXB Hội Nhà văn, tháng 7-2017.


www.trieuxuan.info







[1] Ngọa du sào (Tổ nằm chơi) của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông, thân sinh ông Nguyễn Quý Anh, hiệu trưởng trường Dục Thanh.




[2] Phiắc bón: một loại cây thường mọc ở núi đá, đến tháng ba tháng tư âm lịch, lấy ngọn về ăn rất ngon.




(1)  Các chữ in đứng trong bài đều trích từ ý thơ và lời kêu gọi của Bác.




(1)  Giáo sư bác sĩ Tôn Tht Tùng còn là mt nhà thơ, đã làm nhiu thơ khi tham gia chiến dch Đin Biên Ph.




(2)  Coeurs innomtbrales - tên tp thơ ca nhà thơ n Pháp Anma de Noailles.




(3)  GSBS Tôn Tht Tùng qua đi ngày 11-5-1962 Hà Ni.




*  Nhc sĩ Nguyn M Ca, tng làm giám đc Công binh xưởng thi kháng chiến chng Pháp.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chùm thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh - Nguyễn Thị Ánh Huỳnh 25.09.2017
Chùm 5 bài rút từ tập thơ Nàng của Cát Du - Cát Du 25.09.2017
Như là con - Thanh Tùng 25.09.2017
Cây bàng cuối thu, Cảm tác - Nguyễn Bính 18.09.2017
Trường huyện, Chân quê, Một trời quan tái, Giời mưa ở Huế - Nguyễn Bính 18.09.2017
Nhớ cha - Hoàng Kim Vũ 18.09.2017
Thu hứng kỳ 1 秋興其一 • Cảm xúc mùa thu (1) - Đỗ Phủ 11.09.2017
Ngẫu đề - Đỗ Phủ 11.09.2017
Thương Mẹ - Hoàng Kim Vũ 10.09.2017
Chân quê - Một trời quan tái - Nguyễn Bính 10.09.2017
xem thêm »