tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20814075
Tiểu thuyết
11.08.2017
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy



11 giờ đêm thì trung đội 26 của đại đội 1 được lệnh băng qua đường. Nhưng giữa lúc ấy, mọi người bỗng nghe có tiếng ì ì vọng lại. Xe địch! Thật là bất ngờ! Hay chúng dò biết tiểu đoàn đã tới đây và tổ chức đánh úp. Trí óc Xứng căng lên. Anh đắn đo suy nghĩ. Đánh lại chăng? Lộ bí mật mất! Núp kín chờ chăng? Nếu quả là địch kéo đến bao vây và đánh úp thì sao? Thật là khó khăn. Nằm bên Xứng, Thắng thấy rõ trong bóng tối nét mặt băn khoăn của tiểu đoàn trưởng. Bản thân Thắng cũng hồi hộp tim đánh cơ hồ muốn thoát khỏi lồng ngực. Đây là lần đầu tiên anh hành quân với bộ đội, cũng là lần đầu tiên anh sắp chạm trán quân địch. Một nỗi lo sợ chiếm hết cả tâm trí Thắng, làm anh không sao tự chủ được. Anh nhìn quanh. Trong làn sương mờ đục và trong bóng tối mịt mùng, mắt anh vẫn lờ mờ nhìn thấy con đường đất chạy dài trước mặt, như một dải thắt lưng bó tròn lấy những ngọn đồi trọc lốc. Đằng sau lưng anh, cách khoảng 700 thước, là cái bóng mờ mờ của thôn Trấm nơi bộ đội vừa đi qua lúc chập tối. Thắng bỗng có một ý nghĩ chạy thoáng qua trong óc rất nhanh: nếu địch đánh tới, ta sẽ làm gì nhỉ? Chạy theo Xứng ư? Không dược, không nên làm bận tâm anh ấy, anh ấy còn phải chỉ huy. Chỉ có một cách là chạy vể thôn Trấm. Nhưng nếu địch lại kéo tới vây thôn Trấm? Thế mới thật chết vì chung quanh toàn là làng tề cả. Lại theo đường mòn cũ chạy vào núi, quay lại ba cái bản ở vùng Trò chăng? Nhưng như vậy thì nhiệm vụ của mình vào Lương Miêu không tròn. Không, chết thì chết cũng phải theo cái tiểu đoàn này, họ chuyển đi đâu ta đi đó. Trong một thoáng, Thắng cảm thấy tiếc cho cái bất lực của mình, đã không hề học cách bắn súng. Giá biết thì bây giờ mượn một khẩu mà góp phần chiến đấu cũng hay. Đầu óc lãng mạn của arih dẫn anh tới một cảnh tưởng tượng kỳ thú. Chính tay anh cầm khẩu súng nhằm thắng vào một tên địch, bóp cò và lập được chiến công...


Xứng phác qua rất nhanh kế hoạch chiến đấu rồi thì thầm với chính trị viên Tường:


-  Có lẽ phải đánh, ánh ạ. Chia bộ đội thành ba cánh, một mũi quặt sau lưng đoàn xe địch đánh tập hậu, và một mũi tới tiêu diệt tháp canh anh nhé.


Tiếng Tương thì thào nhỏ hơn:


-  Lộ mất. Nhiệm vụ chúng ta chỉ là vào cho tới Lương Miêu không để địch biết.


-  Nhưng nếu bị ép thì phải đánh chứ?


-  Cố nhiên, nhưng đã chắc đâu.


-  Có thể địch nó tưởng gặp phải tiểu đoàn 18 cũng nên.


-  Đừng anh ạ. Chờ một tí nữa hãy hay.


Nói vậy nhưng chính Tường cũng ruột nóng như lửa đốt. Mọi người đều chờ đợi, cảm thấy mỗi giây đồng hồ trôi qua là cả một thế kỷ. Tiếng động cơ xe địch ngày càng rõ. Từ khoảng xa mà mọi người đoán chừng là cách độ 400 thước, đã thấy lóe lên trên bầu trời những ánh đèn pha của đoàn xe địch quét loang loáng mặt đường. Bỗng một bóng đen chạy bổ nhào tới chỗ Xứng và Tưòng, thở hổn hển nói không ra hơi:


-  Báo... báo... cáo!


-  Chú Lạc! – Cả mấy người đều kêu lên se sẽ. -  Cái gì thế em?


Lạc, liên lạc viên của tiểu đoàn đi theo ba tổ trinh sát vừa thở vừa nói tiếp:


-  Báo cáo! Có bốn xe cả thảy các anh ạ. Xe đầu và xe cuối bọc sắt. Chiếc thứ hai là cái háp- tơ- rắc chở chừng chục lính. Chiếc thứ ba là cái xe Jeép, có lẽ chở một thằng quan.


            Xứng thở phào một cái, thấy nhẹ nhõm cả ngưòi:


-  Thế là khống phải nó đánh mình. -  Rồi quay sang Lạc, anh âu yếm hỏi -  Nhóc ở chỗ nào mà biết rõ thế. Ở đâu chạy về đấy?


-  Em nằm bên kia đường, cùng với đội súng máy. Ở đấy đồi cao, thấy rõ lắm. Em chạy băng đường về đây.


Tường bỗng nhắc khẽ Xứng:


-  Có lẽ phải ra lệnh ngay cho bộ đội phải để yên cho chúng đi. Các cậu ấy thấy ngon có thể tiếc rẻ mà làm lộ hết cả bây giờ.


Xứng gật đầu:


-  Phải. Lạc, em chạy đi ngay báo cho các anh đại đội trưởng biết là phải để im cho nó đi. -  Xứng phái thêm ba liên lạc viên nữa chạy đi ngay rồi anh yên tâm nằm xuống chờ, mắt dán vào con đường trước mặt. Đoàn xe địch vẫn ì ì chạy, rất chậm cứ như bò trên mặt đường với tốc độ chưa đầy 10 cây số một giờ. Xứng nói khẽ vào tai Thắng:


-  Nó chạy chậm vì sợ mìn và sợ ta phục kích đấy.


Chỉ một lát sau, ánh đèn pha của chiếc xe bọc sắt đi đầu đã chiếu sáng choang cả mặt đường. Từ chỗ Thắng nằm, anh thấy rõ cả những mô đất nhỏ, những viên đá lồi lên trên cái con đường màu đỏ ấy. Cả những bụi cây hai bên đường, nơi Xứng đã bố trí mấy tay súng ba- dô- ca và mấy tổ trinh sát, bây giờ cũng hiện rõ. Từng nhánh cây gầy guộc và những túm lá phất phơ thấy rõ đung đưa trong làn gió nhẹ. Thắng chợt có cảm giác rùng mình: như thế kia thì quân địch thấy hết sự bố trí của ta còn gì. Anh còn có cảm giác ngay chỗ anh nằm cũng lộ quá và anh run rẩy chờ đợi một họng súng đen ngòm trên chiếc xe đi đầu chĩa thẳng vào người anh.


Quý nằm dán xuống mặt đất, tay sẵn sàng để vào cò chiếc súng liên thanh nhẹ FM. Mắt anh không rời đoàn xe địch, đầu óc cồng thẳng. Anh khẽ cho nòng súng xoay theo hướng đoàn xe chạy, sẵn sàng nhả đạn nếu có lệnh. Nhưng Quý biết rằng nhiệm vụ của tiểu đoàn là hành quân bí mật đến Lương Miêu và chỉ chiến đấu trong tình thế bắt buộc. Bỗng anh giật mình quay lại: phía sau anh, đại đội trưởng Hồ bò tới bên anh như một con rắn. Hồ giơ tay nắm lấy báng súng máy, khẽ hỏi Quý:


-  Lên đạn chưa?


-  Thưa anh đã.


-  Thế thi lui ra. -  Hồ nói với một giọng lạnh lùng, nghiêm khắc.


Quý hơi ngạc nhiên và ngần ngừ. Khẽ nhích ra một tí, nhưng một tay vẫn nắm lấy cái vành ngoài của cò súng máy. Anh thấy Hồ cầm báng súng, xoay họng súng theo đúng hướng cái xe bọc sắt đi đầu và lần tay vàọ cò súng. Quý liếc nhìn theo cử chỉ của Hồ. Bỗng anh cảm thấy trong nét mặt của Hồ cổ một vẻ gì khang khác ngày thường. Hồ bặm môi lại, trong ánh mắt lộ lên một vẻ gì vừa như phẫn chí, vừa như sẵn sàng lao mình vào một việc làm liều lĩnh. Không kịp suy nghĩ, Quý nhoài ngay người lại, gạt bắn Hồ ra một bên. Thật là may mắn, vì chỉ chưa đầy nửa giây nữa thôi, nếu ngón tay Hồ ấn được vào cò súng thì khẩu súng đã nhả đạn rái.


Hồ quác mát nhìn Quý:


-  Làm cái gi thế? Chống lại chỉ huy à?


-  Báo cáo anh, tiểu đoàn ta phải hành quân bí mật kia mà?


-  Nhưng quân địch đánh tới thì phải chiến đấu chứ. Anh ngăn tôi giết giặc, hả? Giọng nói của Hồ, tuy vẫn cố giữ cho bé nhỏ nhưng vẫn rít lên trong cái im lặng của đêm tối trên ngọn đồi trọc, và trong câu đối đáp ấy, hắn hầu như quên mình là đại đội trưởng chỉ huy và Quý chỉ là đội viên.


Quý đang lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì bỗng thấy bóng Lạc chạy bổ tới:


-  Báo cáo anh, anh Xứng ra lệnh để yên cho xe chúng nó đì.


Hồ bực tức nói:


-  Biết rồi. -  Rồi hắn lẩm bẩm cố cho cả Lạc và Quý đều nghe -  Có thế mà cũng cho liên lạc chạy đi ra lệnh.


Thái độ của Hồ làm chú bé Lạc ngạc nhiên liếc nhanh nhìn Quý. Nhưng chú bé không kịp suy nghĩ lâu, chú đã vội bò ngay vào một bụi cây thấp lè tè gần đấy rồi khom mình như một con thỏ, chú chạy vội trong những lùm cây siêu thấp sang đại đội khác. Hồ thì không thế. Hắn lồm cồm ngồi dậy, không nằm nữa rồi không hiểu có ý định như thế nào, hắn đứng thẳng ngay dậy, đi về phía một lùm cây cách đấy chừng 10 thước. Quý thấy nguy hiểm quá. Đi nghều nghệu như Hồ thì lộ mất. Anh van khẽ:


-  Chết, anh ơi, lộ mất.


Nhưng Hồ làm như không nghe gì cả, hắn vẫn cứ tiếp tục đi. Không nhịn được nữa, Quý nhoài người theo, ôm lấy ngang hai đùi hắn, lấy đôi cánh tay cứng như sắt nguội của mình khẽ ấn vào khoeo chân Hồ, thì thào:


-  Chết, lộ mất. Anh sao thế?


Không thể đứng được, Hồ phải khuỵu chân và ngồi bệt xuống cỏ. Hắn lầu bầu nói giọng dọa nạt:


-  Không sau cả. Bỏ ra. Tôi lại không biết giữ bí mật hơn anh ư?


            -  Nhưng anh đi cao quá…


-  Đội viên không được dạy chỉ huy như thế. Tới Lương Miêu, tôi phạt anh ba ngày giam trong doanh trại, nghe chưa.


Nói xong, Hồ lom khom trườn vào một bụi cây thấp rồi bỏ đi mất, để mặc Quý ở đấy với một niềm bối rối không kể xiết.


Quý thở dài, buồn rầu bò quay lại với khẩu súng máy của anh, khẩu súng mà từ ngày đưỡc điều sang đại đội của Hồ, anh được cấp trên giao cho phụ trách, khẩu súng mà anh thường nâng niu, âu yếm, thầm thì gọi bằng “em”, thay cho hai chữ FM mà các đội viên khác vẫn gọi. Quý càng thương yêu khẩu súng của mình cũng vì anh hơi buồn. Khi phải rời đại đội cũ, anh nhớ Thiện chỉ huy, nhớ Thạc; và nhất là nhớ Ngọ, thương Ngọ. Anh nghĩ rằng, nếu hôm đánh đồn Phong Thái, nếu có anh cùng đi, chưa chắc Ngọ đã phải hy sinh. Thế nào mình cũng cứu được Ngọ. Nếu không nữa thì thà mình hy sinh… Sang đại đội của Hồ, ngoài cảm giác xa lạ với


những người lính mới, điều làm anh khó chịu nhất là thái độ kiêu căng hách  dịch của Hồ. Trong một buổi sinh hoạt câu lạc bộ đại đội, Quý đã cùng một số chiến sĩ góp ý phê bình Hồ. Nhưng không hiểu sao, bao nhiêu người phê bình thì không sao, riêng Quý hình như bị Hồ truy thì phải. Hồi còn ở Hòa Mỹ, Quý đã hai lần bị Hồ phạt giam một ngày trong doanh trại vì những cớ rất nhỏ nhặt. Lần đầu Quý không suy nghĩ gì cả, chỉ cho là vì mình có lỗi thật. Nhưng đến lần thứ hai thì anh bắt đầu có phản ứng ngầm trong óc, tuy vẫn không dám nói ra. Lạ nhất là trong đại đội của anh, tuy anh mới chuyển sang, nhưng các đội viên, các trung đội trưởng, trung đội phó đều mến anh vì sức khỏe hiếm có của anh và cũng vì trong một buổi sinh hoạt câu lạc bộ, câu chuyện của anh kể về đời sống gia đình anh, mẹ anh và em gái anh đã làm mọỉ người cảm động. Thế mà Hồ lại ghét anh thì là vì cớ gì. Và tối hôm nay, tại sao Hồ lại như vậy? Quý không thể hiểu nổi, anh lặng lẽ nhìn theo đoàn xe địch lừ lừ chạy xa dần, xa dần rồi mất hút…


 


                                                                       IX                                 


 


Chiến khu Lương Miêu ở chếch về phía tây bắc huyện Hương Thủy, một trong ba huyện miền nam của tỉnh Thừa Thiên. Đây là một vùng có nhiều đồi núi trọc, là vùng có những lăng tẩm của vua chúa triều Nguyễn: Gỉa Long, Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định... Lăng tẩm quả là những vùng u tịch. Người ta có thể tới đây để thưởng thức cảnh thanh tĩnh. Những hàng dương liễu, những rặng phi lao, những hàng cây đại chạy dài bên những con đường lát gạch. Đứng trên những ngọn đồi này, dưới bóng mát của những rặng cây phi lao, ngưòi ta có thể nhìn thấy, xa xa, bóng dáng của thành phố Huế hiền lành, thấy dòng sông Hương trong vắt và mấy nhịp cầu Tràng Tiền loang loáng trắng. Ở đây cũng là nơi hẹn hò của những trai thanh gái lịch của đất Huế thơ mộng. Đây cũng là vùng có tháp chùa Thiên Mụ, có núi Truồi nổi tiếng về những quả dâu da, có thanh trà đậm đà và ngon hơn bưỏi, Đây cũng là nguồn hữu của dòng sông Hương nổi tiếng. Con sông Hương lúc chảy qua thành phố Huế, ai mà không thấy là thơ mộng, là trong xanh, là lừ đừ như không muốn chảy. Từ tháp chùa Thiên Mụ ra cho đến cửa Thuận An, những con đò dọc, đò ngang trên sông Hương trông đều có vẻ thanh tĩnh, hình như đều để dùng cho các vương tôn công tử dàn kịch ca hát trên sông, thưởng thức cái thú vui vương giả. Nhưng trên ngọn nguồn của nó, người ta không còn trông thấy những cảnh như thế nữa. Dòng sông hẹp và cạn, nước chảy khá nhanh qua những ghềnh đá tảng. Hai bên bờ là vách đất, có chỗ dựng đứng, có chỗ đầy lau sậy rậm rạp, lại có chỗ đầy đá lởm chởm. Trên thượng nguồn con sông này, những con đò cũng trở nên thô, và những người lái đò cũng vậy. Đó là những con đò mà tấm ván đóng giữa to hơn hẳn hai mạn thuyền, mà mũi nhọn của nó hếch cao lên như mũi một con ác thú. Ngươi ta bảo rằng phải đóng con đò như vậy để cho nó trườn qua khỏi những ghềnh đá mà không bị vỡ.


Thắng, Xứng, Tường và Phạm Lượng, chính trị viên của tiểu đoàn 18 ra đón tiểu đoàn bạn đã ngồi trên một chiếc thuyền như vậy để ngược lên Lương Miêu. Đêm hôm ấy, sau khi đoàn xe địch đi khỏi, toàn tiểu đoàn đã kéo qua được con đường đất nguy hiểm đó và tiến tới sát bên bờ sông này. Nhưng vùng này lúc ấy chưa phải là vùng giải phóng và họ còn phải đi ngược dòng sông hơn 10 cây số nữa mới tới chiến khu. Bộ đội hành quân tbeo đường mòn dọc con sông Hương được chừng 4, 5 cây số thì đã quá nửa đêm. Lúc ấy trên nền trời chuỗi sao Bắc Đẩu đã ngả hẳn về hướng tây, cái vệt Ngân Hà mờ mờ đả nằm chéo góc chân trời theo hướng tây nam. Gió từ phía sông Hương thổi tới mát lạnh. Cơn buồn ngủ đột nhiên kéo tới. Trong đám chiến sĩ đang hành quân, có người đã thấy mắt nhắm mắt mở, bước chân đã thấy loạng choạng vì mỏi mệt. Nhưng đoàn quân không thể dừng lại nửa phút. Họ phải tới cho được chiến khu Lương Miêu nội trong đêm ấy, để đến sáng, máy bay của địch trông thấy, lộ cuộc chuyển quân là không tròn nhiệm vụ. Đi được thêm 3 cây số nữa thì họ tớỉ một bến đò. Ở đây, tiểu đoàn 18 đã bố trí sẵn hơn chục chiếc thuyền để chở họ qua sống. Phạm Lượng, chính trị viên tiểu đòàn 18, đẵ nằm chờ tiểu đoàn bạn ỏ một cái lều nhỏ dựng ngay trong đám lau sậy rậm rạp ven bờ sông. Anh được tin tiểu đoàn 16 bất ngờ gặp xe địch trên đường làng tỉnh số 42 nên thấp thỏm không ngủ được. Nhưng rồi, anh không ngờ tiểu đoàn lại tới sớm như thế. Xứng, Tường và Lượng ôm lấy nhau mừng rỡ. Họ đã từng chiến đấu bện nhau hồi còn ở Huế và họ đã xa nhau từ hồi vỡ mặt trận.


Xứng vỗ mạnh vào vai bạn làm Lượng nhăn mặt vì đau:


-  Thế nào vẫn vững chứ. Đạn Tây chê à?


Lượng nở một nụ cười hồn nhiên, khuôn mặt bừng nở rộng, hai hàm răng trắng muốt đều đặn lộ rõ trong ánh đuốc bập bùng:


-  Vững chứ. Ngày càng tiến mà.


Tưòng hỏi


-  Nghe nói các cậu gay lắm kia mà?


Lượng cười hềnh hệch đáp:


-  Gay thì lúc nào chả gay. Lúc vỡ mặt trận rồi lúc bị đánh tơi bời ở Trò mới bi chứ. Bây gíờ thì vững nhự kiềng ba chân. Kháng chiến mười năm cũng được.


Xứng đùa:


-  Thôi, thế chúng tớ lại rút vể tỉnh nhè?


Lượng lại cười lớn:


-  Không. Cần tiếp viện lắm rồi. Bó giò mãi ở đây chưa đủ sức mở rộng căn cứ thì còn khổ với nó. Ở đây chúng tớ bị chúng nó đóng đồn dọc đường 42 dày đặc, cứ như là cái thắt lưng chẹn họng. Khó thở lắm. Nghe nói Hòa Mỹ tươi lắm phải không? - Rộng cẳng lắm phải không?


Tường đáp:


-  Rộng thì có rộng nhưng tươi thì cũng vừa thôi.


Lượng lại cười hềnh hệch, cái cười rất tươi và rất hồn nhiên:


-  Rộng cẳng là tươi rồi. Sắn mà có pha cơm, muối mà có pha ruốc. Cậu còn muốn tươi thế nào nữa. Hay là muốn chất tươi ỏ Hụế. Này, báo cho mà biết, ỏ đây tuy chúng tớ ăn sắn với muối là chủ yếu nhưng lại có nước hoa và thuốc lá Philip ở Huế lên cơ đấy nhé. Dân buôn lậu đem lên đến lăng Gia Long, chúng tó thỉnh thoảng về chộp được.


Xứng cũng cười, nói đùa:


-  Tưởng các cậu tô chức buôn lậu luôn chứ chộp được của bọn buôn lậu thì nước gì?


Ba ngưòi cùng cười lên ha hả.


Thắng đứng nhìn và lắng nghe, cảm thấy vui vui trong bụng. Anh thấy mến những người cán bộ chỉ huy trẻ tuổi có tính yêu đời ngay trong những lúc chiến đấu gay go gian khổ. Anh cũng muốn chen vào góp chuyện, nhưng cảm thấy chưa tiện vì đối với Lượng, anh hoàn toàn chưa quen. Anh chỉ biết rằng đấy là người của tiểu đoàn 18 ra đón tiểu đoàn 16. Cũng vừa lúc ấy, Lượng đã trông thấy Thắng. Và Lượng biết ngay Thắng không phải là hạng cán bộ xoàng vì dáng điệu rất trí thức của Thắng. Lượng vội hỏi ngay Xứng:


-  Quên không hỏi anh, đồng chí này cùng đi vối các anh?...


Xứng cũng vội vàng nói ngay:


-  Ấy chết quên, xin lỗi. Giói thiệu với bác sĩ, đây là anh Lượng, chính trị viên tiểu đoàn 18. Còn đây là bác sĩ Thắng, bác sĩ quân y của trung đoàn, quản đốc bệnh viện tỉnh. Bác sĩ vào đây để mở rộng bệnh viện Lương Miêu.


Chưa hết băn khoăn, Xứng lại xin lỗi Thắng một lần nữa:


-  Gặp bạn cũ, mừng quá, quên khuấy đi mất, xin bác sĩ đừng giận.


Thắng cười xòa, cái cười để lộ cho mọi người đứng ngay đấy biết rằng anh không để tâm đến cái chuyện nhỏ nhặt ấy rồi bắt tay Lượng lắc thật mạnh:


Hân hạnh được làm quen với anh. -  Rồi Thắng cũng nói đùa – Xin đem chất tươi của Hòa Mỹ vào làm cho Lương Miêu tươi hơn lên đây.


Lượng vui vẻ đáp:


-  Cám ơn bác sĩ. Nhưng chính Lương Miêu chúng tôi đã nộp lên tỉnh cái được nhất của chúng tôi rồi đấy.


Xứng, Tường và Thắng chưa hiểu vội hỏi lại:


-  Cái gì mà tươi nhất đây?


Lượng đáp:


-  Ấy, cô y tá Vân của bệnh xá Lương Miêu chúng tôi đấy. Có lẽ bác sĩ đã gặp cô em nuôi của chúng tôi trước khi đi váo đây?


Thắng gật đầu đáp:


-  Có. -  Rồi Thắng lại cười nói -  Nhưng không ai ăn thua gì đâu nhé. Cô ấy đã có chồng chưa cưới là một người cháu họ của tôi.


Lượng ngạc nhiên:


-  Thế ư? Vậy mà cô ta kín đáo thật. 0 đây hơn mệt năm mà không hề cho ai biết.


Xứng bỗng hỏỉ:


-  Này, Lượng ơi, thôi bàn chuyện hành quân đi thôi. Bây giờ chúng mình sang sông rồi đi thế nào? Địa thế ở đây chúng tớ hoàn toàn chưa nắm được.


Lượng đáp;


-  Ấy đấy, cái chỗ hiểm trở của chiến khu này là ở đây đấy. Từ đây lên chỗ chúng tớ ở nếu tính đường chim bay thì chỉ vài trăm dặm. Nhưng chỉ có hai đường đi lên. Một là qua bên kia sông, đi theo đường mòn ngược lên hơn 1 cây số rồi lại lội lại sang bên này sông, và đấy là chiến khu. Hai là đi thuyền lướt qua các ghềnh đá mà lên. Tây nó đi đường mòn không được, ca nô cũng không leo ghềnh đá được, thế là chúng tớ cứ bình chân như vại.


Tường lại hỏi:


-  Thế bên này sông không có đường mòn đi à?


Lượng đáp:


-  Maì rồi cậu sẽ thấy. Không thể đi được. Toàn đầm lầy, hết đầm lẳy lại đến núi đá nhọn hoắt, có đến nửa cây số như thế. Dân địa phương đã phải bỏ không đi đường bên này, bởi vậy mà không có đường mòn. Còn đường 42 cũng ở bên này sông nhưng cách đây những hơn 10 cây số và từ đường ấy vào đến chỗ chứng tỏ địa thế hiểm trở lắm.


Xứng hỏi:


-  Thế sao cậu lại bảo rằng Tây nó làm các cậu nghẹt thở?


Lượng đáp:


-  Được, mai các cậu nghiên cứu bản đồ sẽ biết.


Từng trung đội của tiểu đoàn 16 lần lượt xuống đò sang sông và đi theo mấy người dẫn đường của tiểu đoàn 18. Khi các chiến binh đã sang sông hết, Lượng mời Xứng, Tường và Thắng cùng đi đò ngược sông lên chiến khu. Lượng nói:


-  Để các anh thưởng thức thú đi đò trên sông Hương ở trên này khác ở Huế thế nào. Lên bến, tôi xin đưa bác sĩ tới tận bệnh xá. Nó ở ngay trên con đường đi vào tiểu đoàn bộ.


... Ngồi lái đò là một người vạm vỡ đã đứng tuổi, nét mặt khắc khổ. Nhưng mái chèo phía trước con đò lại do một chị còn trẻ tuổi cầm chèo. Chị ta người tròn lẳn, tuy trời sang tháng 4 vẫn còn rét, nhưng chị ta chỉ mặc một chiếc áo cánh chẽn, ống tay áo cụt chỉ ra quá vai một tí, để lộ ra hai cánh tay tròn chắc nịch. Cái cổ áo tròn, may rất sát vào cổ. Tóc để trần quấn tròn trên đầu. Chị ta bổ những mái chèo thật mạnh xuống dòng nước, nghe tiếng nước ào lên tung toé hai bên mạn thuyền, nhưng ngược dòng nước chảy nên con thuyền tiến lên chậm chạp. Trong bóng tối, Thẳng thấy chị lái đò như bị gập người xuống sau mỗi mái chèo, hình như chị ta bị dòng nước kéo chúi xuống. Có lần anh đã giật mình tưởng chừng như chị ta sắp bị ngã lộn xuống nước. Quả là đi đò ở đây có khác sông Hương ở Huế thật, Thắng nghĩ thầm như thế. Ở đây, làm gì có cáỉ cảnh vừa chèo đò vừa hò lên những câu mái nhì êm dịu như ỏ dưới xuôi kia.


Bỗng nhiên, cô lái đò dướn thẳng người dậy, và trước khi bổ mạnh mái chèo xuống dòng nước, cô liếc nhanh mấy chàng trai trẻ ngồi trong khoang đò rồi cất giọng hò:


Bớ tình lang ơi!


Quanh năm vất vả ngược xuôi


Đêm đêm em ôm ấp bóng dáng người tri âm


Bớ tình lang ạ!


Tiếng hò nghe cụt lủn, ngắn ngủn, đứt khúc. Giọng cô lái trầm và đục như giọng nam trung. Tiếng hò bị cắt ra từng đoạn vì hơi thở hổn hển. Thật hoàn toàn trái ngược với nội dung tính của bài hát. Thắng, Xứng và Tường lắng nghe rồi cùng phải cố nén để khỏi bật cười. Họ cùng liếc nhìn cô lái đò. Đấy là một cô gái vạm vỡ và khỏe mạnh như đàn ông, quần đen xắn lên tận bẹn, để lộ đôi chân trắng nuốt nhưng rất to và rất thô. Cái miệng chị ta vừa hò xong còn há ra để thở, trong đêm tối mờ mờ, còn trông thấy khá rõ hai hàm răng đen kịt. Xứng hích Tường rất nhỏ:


-  Kìa cậu, cô ả gọi cậu là tình lang kìa?


Bỗng mọi người giật mình nghe một tiếng ùm dưới nước. Cùng liếc nhìn ra, mọi người đã thấy cô lái buông mái chèo, nhảy thẳng xuống dòng sông từ bao giờ và đôi tay cứng, khỏe vạm vỡ của cô đã nắm chắc lấy mạn thuyền dìu nó đi ngược dòng nước. Người đàn ông ngồi sau lái vẫn ngồi im như tượng đá, mắt chăm chăm nhìn về phía trước, tay khẽ đung đưa cái cọc lái nhô ra nhọn hoắt để lựa chiều cho thuyền đi.


Lượng nói:


-  Đi thuyền ỏ đây là thế. Được một khúc, người chèo thuyền lại nhảy ùm xuông nước, lôi cho thuyền lướt qua những ghềnh đá tảng.


Thắng hỏi:


-  Nước cạn lắm hả?


Lượng đáp:


-  Cố nhiên, bác sĩ xem chân cô lái kia thì biết.


Thắng đề nghị:


-  Giá chúng mình cùng xuống cho nhẹ thuyền và cùng kéo với cô lái nhỉ?


Như để đáp lại lời Thắng, giọng hò của cô lái lại cất lên:


Bớ tình lang ơi!


Mời anh ngồi lại trong đò


Để mình em vật lộn, kéo co với trời.


Bớ tình lang ơi!


Tiếng hò của cô lái nhòa đi trong tiếng nước chảy ào ào trên mặt ghềnh đá. Thắng ngạc nhiên nhìn Lương rồi không nín được, anh hỏi nhỏ:


-  Cô ta nghe tiếng tôi đề nghị rồi hò như thế à anh?


Lượng cười ngất đáp:


-  Vâng, cô ấy muốh chọn anh làm tình lang đấy. -  Rồi Lượng cố lấy lại giọng nghiêm chỉnh -  Tôi đùa đấy, bác sĩ ạ. Cô ta không nghe thấy gì đâu. Nước chảy thế kia thì nghe thấy gì?


Thắng lại hỏi:


-  Thế chúng mình cùng xuống kéo có được không?


Lượng thấy đã hơi thân, không gọi Thắng là bác sĩ nữa mà gọi bằng anh:


-  Thế anh không sợ cảm lạnh chứ?


-  Không sợ. Cảm đã có thuốc. Thầy thuốc mà.


-  À, thế thì phải xin phép ông lái đi. -  Lượng nói với người lái -  Ông bác sĩ đây ông ấy muốn xuống cho nhẹ đò và cùng kéo có được không?


Ngưồi đàn ông cầm lái bây giờ mới thấy hé môi nói, tiếng nói tuy không cố gắng mà vẫn ồm ồm, át cả tiếng sóng tới tai mọi người:


-  Các ông cứ ngồi yên có hơn không. Xuống kéo thuyền, liệu có biết lựa chiều đá mà đặt chân không?


Lượng đáp:


-  Bộ đội cả mà, khỏe lắm.


-  Sao bảo có ông bác sì nào?


Thắng, cười to:


-  Bác sĩ lính đây thôi.


Ông lái vẫn không cười, chỉ hé miệng đáp:


-  Được, các ông muốn xuống thì xuống, xắn quần thật cao. Sắp hết chỗ cạn xin mời lên ngay cho, đừng để thuyền tròng trành.


Thắng, Xứng, Tường hăm hở xắn quần "bước xuống ngay. Lượng thong thả bước xuống san cùng. Con đò nhẹ bỗng, nổi hẳn trên dòng nưóc, bớt hẳn những tiếng chạm vào đá kêu lọc cọc như trước. Cô lái hình như không chú ý tới mấy chàng trài trẻ vừa nhảy xuống và tới bên mình cô để cùng kéo thuyền, cô lại cất giọng hò:


Bớ tình lang ơi!


Anh cùng em kéo mạn thuyền


Cầu cho sông qua ghềnh cạn mãi, để tình duyên đôi to vững bền


Bớ tình lang ạ!


Bốn chàng trai trẻ cười lên giòn gíã thích thú và cùng liếc nhìn cô lái đò. Nhưng không, cô lái đã bỗng nhiên buông tay khỏi mạn thuyền và chạy xô vảo bờ chừng hai bước, hai bàn tay úp chụp lấy cái gì đang quẫy ở trong một đám lau nhỏ. Chỉ một loáng đã thấy cô cầm lên hai con cá vẩy trắng loáng như bạc, và vất đánh phịch vào trong khoang thuyền. Từ trong bụi lau, lại thấy mấy con cá nữa quẫy mạnh, bắn cái mình loáng bạc lên khỏi mặt nước rồi rơi xuống. Cô lái lấy chân lùa qua lùa lại vài cái, làm dòng nước xáo động. Một con cá bỗng quẫy lên quá mạnh, bật văng lên trên cao rồi rơi thẳng vào khoang thuyền giãy lên đành đạch.


Thấy mọi người trố mắt nhìn, Lượng giải thích:


-  Cá vật đẻ đấy. Bây giờ đã hơi muộn nên có ít. Lúc trăng mới lên, quơ tay không mà bắt cũng được hàng chục con.


Thắng hỏi:


-  Cá ở đây nhiều thế kia à?


Lượng đáp;


-  Có mùa thôi. Mùa này là mùa cá đẻ. Cá ở dưới xuôi bơi ngược lên đây, tìm tới các ghềnh đá, đập bụng vào các hòn đá cho rụng trứng ra, dân ở đây gọi là mùa cá vật. Béo và ngon lắm. Có thuyền chỉ cứ kéo qua kéo lại ở các ghềnh này mà có đến hơn chục con cứ thế nhảy vào khoang. Bắt tay không cũng được dăm chục con. Nhưng bắt nhiều quá, e đên mùa sau ít cá con.


... Nửa giờ sau, thuyền đã tới bến. Trong đêm tối mờ mờ, Thắng cảm thấy cái bờ sông của chiến khu này cũng khác bờ sông Ô Lâu ở làng Hòa Mỹ bao nhiêu. Đột nhiên anh thấy nhớ Thân, nhớ Vân, nhớ Long và các bạn thơ văn của anh ở Hòa Mỹ và lan man, anh bỗng thấy da diết nhớ Hồng Ngọc và hai đứa con bé bỏng của anh ở Vinh. Giở đây, chắc Hồng Ngọc và hai đứa đang ngủ ngon lành, có biết đâu anh vừa dầm mình dưới dòng sông lạnh buốt và đẩy con thuyền qua một vùng thật xa lạ, một vùng hoang vu, hiểm trở và ít thấy bóng người.


 


*


Tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 18 là một nhà vách nứa, mái lá cheo leo trên một sườn núi dựng đứng. Dưới chân nhà là một dòng suối lớn, có những tảng đá to như một mặt giường hai người nằm. Ở đây, tiếng suốỉ chảy ì ầm suốt ngày như thác đổ. Từng dải nước trắng xóa tung ra, tải ra như những dải lụa trắng bị tơi ra theo gió. Những cây to đến hai vòng tay người ôm, thân cao ngất và vòm lá rộng như cái tán lớn che kín cả mái nhà tiểu đoàn bộ. Nhưng thế mà người ta vẫn phải sợ bão. Người ta phải lấy những dây rừng lớn, bện lại và buộc chặt bốn góc nhà vào các thân cây, trông chằng chịt như vào một trận đồ bí hiểm. Cái vẻ ngoài ấy làm cho trụ sở tiểu đoàn bộ đã ở sâu trong rừng càng thêm có vẻ bí mật. Thực tế thì trong nhà không có gì ngoài một bản đồ toàn tỉnh khá lớn, một cái máy đánh chữ hiệu Remington đã già quá tuổi, và những tập công văn, tài liệu. Cả cái cơ quan ấy chỉ có tám ngưòi, trong ấy bốn ngươi nắm vận mệnh cả hơn hai trăm chiến sĩ của tiểu đoàn. Đó là tiểu đoàn trưởng Bằng Phi, chính trị viên Lượng, tiểu đoàn phó Côn và trưởng ban tham mưu Thạch. Ngoài ra còn một nhân viên đánh máy, hai nhân viên liên lạc và một anh nuôi. Tất bộ máy chỉ có như thế. Đến một cáí máy điện thoại rất cần thiết để chỉ huy tác chiến cũng không có. Ấy thê mà tiểu đoàn 18 vẫn là một bóng ma kinh khủng đè nặng lên đầu óc bộ chỉ huy Pháp ở phân khu ba huyện miền nam, đặc biệt là những tên đồn trưởng các đồn quân Pháp đóng dọc con đường hàng tỉnh số 3 này. Cái tên Bằng Phi được quân Pháp treo giá mấy nghìn đồng Đông Dương.


Những Bằng Phi vẫn sống nhăn.


Anh vừa chỉ lên bản đồ vừa nói với mọi người:


-  Các đồng chí xem đây. Chiến khu Lương Miên chúng ta ở đây. Nó là cái mảnh đất hình năm cạnh này. Phía bắc của nó là con đường hàng tỉnh số 3. Từ Bình Điền, La Ngoi đến thôn Trấm, nơi tiểu đoàn các đồng chí băng qua đêm vừa rồi ấy, là khoảng 15 cây số. Từ đấy lên đến chân núi, còn 7 cây số nữa. Trên một dọc dài 22 cây số ấy, địch đóng cả thảy sáu đồn và hai mươi tháp canh, nghĩa là cứ cách chưa đầy cây số đã có một tháp canh, cách 3 cây số có một đồn lớn. Nhưng trong sáu đồn ấy hai đồn chính là Bình Điền và Bảng Lãng. Các đồng chí xem, chúng nó đóng đồn như chít một cái dây thòng lọng vào cổ chiến khu chúng ta. Đường giao thông từ đây ra tỉnh vì thế mà gặp khó khăn. Biết bao cán bộ đã phải hy sinh khi băng qua con đưòng đất rộng không đầy 4 thước này. Trước đây, khi chưa tạo được cơ sở ở thôn Trấm, chúng tôi muốn liên lạc với tỉnh phải đi vòng lên núi, theo đường mòn lên tận biên giới Lào -  Việt rồi mới quay về Trò, đi mất sáu, bảy ngày đường. Không chặt đứt được cái thắt lưng ấy, chúng ta còn là khổ với nó. Bởi vậy nhiệm vụ của chúng ta là tiêu diệt các cứ điểm địch đóng dọc tỉnh lộ. Một mình chúng tôi làm không được, một mình các đồng chí cũng làm không được.


Xứng ngắt lời:


-  Phải, ban chỉ huy trung đoàn điều chúng tôi vào là để phối hợp vói các đồng chí.


Bằng Phi gật đầu, cằm dưới của anh hơi bạnh ra, có cái vẻ vừa như bằng lòng vừa như muốn được một mình nói tiếp:


-  Kế hoạch tác chiến của ban chỉ huy trung đoàn về đại thể là rất đúng. Nghĩa là chúng ta sẽ tiêu diệt hai cứ điểm chính: Bình Điền và Bảng Lãng. Các cứ điểm khác khắc phải rút lui. Chúng ta sẽ truy kích chúng nó cho đến quá ngã ba Tuần. Các đơn vị du kích hai huyện Hương Trà, Hương Thủy thì phối hợp tỉêu diệt một số tháp canh. Kế hoạch thành công thì cả một vùng Dương Hòa này -  Anh giơ hai ngón tay giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út xoa xoa một vệt lớn bản đồ -  sẽ được giải phóng. Chừng ấy thì chúng ta sẽ dễ thở lắm và đường liên lạc với tỉnh sẽ dễ dàng hơn nhiều. -  Đang nói, chợt Bằng Phi quay ngoắt người sang hỏi Tường -  Anh Tường này, chừng nào thì anh Lương và anh Hải vào hở anh?


Tưòng đáp:


-  Lúc tiểu đoàn chúng tôi ra đi thì các anh ấy còn bận công tác bố phòng chiến khu. Theo nhận định của phân khu, có thể địch đánh lên Hòa Mỹ. Bởi vậy các anh ấy sẽ tới sau, và cũng có thể chỉ một trong hai anh ấy vào đây. Anh Hải bảo chúng tôi hãy cùng các anh bàn kế hoạch tác chiến cụ thể trước đi. Có thể bốn năm hôm nữa, anh ấy mới vào. Nếu địch đánh Hòa Mỹ, anh ấy không vào kịp, thì chúng ta ỏ đây cứ theo kế hoạch mà tiến hành.


Bằng Phi gật đầu tỏ ý hiểu rồi chỉ vào rổ sắn mà anh nuôi vừa bưng lên, nói:


-  Lót dạ vài củ sắn đã rồi ta bàn kế hoạch cụ thể các anh nhé...


Mấy bàn tay nhanh nhẩu thò vào rổ, lôi ra những củ sắn vừa luộc xong còn bổc khói, vừa thổi phù phù vừa ăn ngấu nghiến ngon lành. Chỉ một loáng sau, năm sáu cái đầu lại chụm vào nhau trên bản đồ, thầm thì vối nhau những gì không ai nghe rõ. Tiếng nói của họ bị tiếng suối chảy rì rào rất lớn át mất. Bên ngoài trụ sở tiểu đoàn bộ, chỉ thấy hại chú bé liên lạc đang hò ném thia lia trên mặt nước suối chảy băng băng.


Quý ngồi co ro trong cái nhà lá mới dựng. Đây là doanh trại của đại đội anh mà tiểu đoàn 18 dựng giúp từ trước. Làm tạm bợ có khác. Trông cái cột nó xiêu vẹo cái vách nó hở hang, cái mái lá trông được cả trời xanh. Quý thấy tức bực trong lòng. Anh thèm muốn được cùng bạn đồng đội đi lấy tre nứa lá về tu bổ lại doanh trại. Nhưng không, anh phải ở trong cái phòng này một mình: đại đội trưởng Hồ đã phạt giam anh một ngày vì tội trái lệnh chỉ huy trên đường hành quân. Lúc tới chiến khu, Hồ đã bảo anh rằng đáng lẽ hắn phạt anh ba ngày như hắn đã nói nhưng vì tiểu đoàn tới nơi thắng lợi nên giảm xuống còn một ngày. Bị phạt giam đối với Quý lần này không còn là một điều tủi nhục nữa, anh đã bị Hồ phạt lần này là lần thứ ba. Anh chỉ băn khoăn về thái độ của Hồ lúc băng qua đường tối hôm qua. Càng nghĩ anh càng thấy khó hiểu. Nhưng đồng thời một niềm nghi hoặc cứ càng ngày càng dâng lên: Hồ phải chăng? Quý không dám nghĩ nhiều hơn theo hướng đó. Không lẽ một cán bộ đã được tín nhiệm làm chỉ huy cả một đại đội mà lại phản. Nhưng Quý cũng ngạc nhiên cho cái phản ứng của chính anh tối qua. Sao mình bỗng dưng lại gạt phăng ngay anh ta ra khỏi cò súng như thế. Biết đâu anh ta chỉ ngắm nghía cho hay thế thôi. Không, rõ ràng anh ta muốn bắn. Bắn thì lộ hết…


Quý đang băn khoăn suy nghĩ thì bỗng bóng một người con gái đi đầu cả một đoàn dân công gánh gạo đi qua trước cửa doanh trại làm anh giật mình. Ai như Báu, em gái anh. Nó ở bên kia sông, tận gần Truồi, cách đây có đến 20 cây số cơ mà. Quý dụi mắt nhìn lại một lần nữa. Bóng người con gái đã đi quá về phía cuối doanh trại. Quý chỉ còn trông thấy cái dáng thon thon và đôi vai nhún nhảy dưới chiếc đòn gánh. Nhưng anh thấy đúng là Báu, không sai được. Không chần chừ nữa, Quý vùng dậy khỏi chỗ ngồi, chạy ra cửa gọi lớn: “Báu, Báu đấy phải không?”.


Người con gái đi đầu đang mải miết gánh đi bỗng quay lại rồi đứng tránh ra một bên cho dòng ngươi tiếp tục gánh đi. Bỗng cô sửng sốt kêu lên: “Anh Quý! Anh vào đây từ bao giờ?”.


Hai anh em cùng chạy tới gặp nhau.


Nhưng cũng vừa lúc ấy, từ cửa phòng cuối doanh trại, Hồ đủng đỉnh bước ra. Hắn đang bặm môi, cau mặt, dáng điệu cáu kỉnh không biết vì nguyên nhân gì. Trông thấy Quý chạy ra ngoài, hắn hét:


-  Phạt giam kia mà! Ai cho phép anh chạy ra đây thế. Vào ngay. Trở lại mức phạt ba ngày nghe chưa.


Quý đứng sững, không kịp vui mừng, cảm thấy lần này nỗi bực dọc trong người đã lên đến cực điểm. Anh đã định lên tiếng phản ứng cái lệnh độc đoán của Hồ, nhưng vừa quay lại thì thấy Hồ đang đứng trân người ra nhìn Báu. Hơi ngạc nhiên, anh liếc nhanh sang Báu thì lạ thay, anh thấy Báu, em gái anh, cũng đang đứng thừ người ra nhìn Hồ, miệng lẩm bẩm một câu gì nghe không rõ.


Báu chợt dướn thẳng người dậy như người bị giật mình. Cô bước thẳng về phía Hồ hai bước rồi cất giọng run run hỏi: “Anh, anh là...”


Hồ cũng khẽ lùi lại một bước, đôi mắt gian giảo liếc nhanh về phía Quý rồi lắp bắp nói:


-  Tôi, tôi là... -  Nhưng chợt như trấn tĩnh lại, hắn quay về phía Quý hét lớn -  Kìa, đã bảo vào ngay mà lại.


Báu lấy tay ẩy Quý về phía doanh trại, nói:


-  Được, anh cứ vào đi. Em muốn nói chuyện với anh này.


Rồi Báu đi thẳng tới trước mặt Hồ, nói với một giọng quả quyết:


-  Tôi cần nồi chuyện với anh một tí.


Không cưỡng được trưóc đôi mắt nảy lửa của Báụ, Hồ lại lùi thêm một bước nữa rồi như một tên tù chịu nhận tội, hắn co ro đi theo Báu, vào trong phòng riêng của hắn cuối doanh trại, để mặc Quý đứng đấy với một nỗi ngạc nhiên không bờ bến.


Trong khi ấy, toàn thể cán bộ chiến sĩ của hai tiểu đoàn 16 và 18 đang rộn rịp chuẩn bị bước vào trận đánh lớn nhất của ba huyện miền nam tỉnh, kể từ ngày vỡ mặt trận đến nay.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »