tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20232583
Tiểu thuyết
05.08.2017
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy



Thiện lật ngược thêm một trang nữa, thấy ngày để vẫn là 22- 4- 48:


       “Qua cuộc tranh luận giữa cậu Hanh và cậu Thắng sáng nay, rõ ràng lẽ phải không ở phía cái người mười mấy năm nay đã nhồi vào đầu tôi những đạo lý cũ rích. Nghe cậu Thắng nói mà được biết tin về những thắng lợi của kháng chiến ở Việt Bác. Tôi mừng chăng? Tôi cũng không hiểu nổi lòng tôi. Nhưng chắc chắn tôi đồng ý kháng chiến là vĩ đại và sẽ thắng lợi. Điều rõ rệt là tôi đang phải ngậm ngùi: Sao tôi lại ở phía bên này của chiến tuyếtn Vì sao? Tôi có hy vọng gì quay về với chính nghĩa hay không? Ôi, đời tôi!”.


       Thiện lật ngược một trang nữa:


       “20- 4- 1948. Sáng nay, thức dậy, sờ lên ngực, vui mừng thấy cuốn sổ thân yêu và cây bút chì vẫn còn. Sổ tay ơi! Tao còn biết nói với ai ngoài mày nữa. Đêm qua là đêm đi tù đầu tiên trong đời tôi. Khổ thay, lại là cái nhà tù của kháng chiến, của những người mà Vân của tôi đã tin theo và chính tôi, sau những bước lầm lỡ đầu tiên, cũng đã muốn tin theo. Cuộc đi chơi với tên Tòng thật là tai hại. Ai minh oan được cho tôi bây giờ? Tôi chỉ có thể tự trách mình. Chính tôi đã nghĩ rằng nó là thằng Việt gian, đi với nó là không nên. Thế mới biết một lầm lỡ, dù nhỏ, cũng có thể gây hại lớn. Nhưng bây giờ mới rút kinh nghiệm thì đã muộn rồi. Bây giờ, trước mặt mọi người ở đây, tôi cũng chỉ là một tên Việt gian, một tên Việt gian hạng nặng là đằng khác vì đã đi cùng với tên Tòng. Ôi, tôi đau khổ! Tôi muốn có ai sẽ hiểu cho lòng tôi, dù chỉ là một người, tôi cũng sẽ vui lòng mà nhắm mắt. Nhưng tôi không muốn chết như thế này. Trời ơi, đêm qua tôi đã nằm mê thấy tôi bị chết chém. Có thật như thế chăng? Vân của tôi chết vì Tổ quốc, còn tôi, tôi chết như một con chiên ghẻ của Tổ quốc! Nhưng tôi đâu đáng tội như thế kia chứ? Tôi đã làm gì? Hồi cư và đi dạy học mà phải chết ư? Không, tôi không thể chịu nổi một cái chết thảm khốc như thế. Chết như thế là một chuyện, lại còn chuyện đời mang tiếng Việt gian nữa. Tôi muốn được nói một đôi lời, một câu thôi cũng được, để minh oan. Nhưng nói với ai? Ai nghe đây? Ai tin tôi? Long ơi, đành phải coi như đời mày đến cái tuổi hai lăm này là hết rồi ư?”.


       Trở lên là một số bài thơ của Long làm khi hồi cư về Huế. Thiện đọc lướt qua, thấy đó là những bài khóc than về cái chết của Vân. Anh tiếp tục lật ngược thêm vài trang nữa.


       “18- 2- 1948: Câu chuyện cô P. gây cho tôi nhiều cảm xúc. Tôi mơ ước núi rừng. Nhưng đời tôi phải chăng là cứ bị dính vào ông cậu nệ cổ của tôi mà không sao thoát được. Long ơi, chí khí làm trai của mày đâu mà cứ chịu mãi cảnh làm một cái đuôi của người thế? Chiều nay, tôi chợt nhớ tới bạn tôi.Mỗi người một ngả, đúng như thế. Nhưng bây giờ tôi không còn có thể nói như trước đây là để thời gian sẽ chứng minh ai đã đi theo con đường đúng nữa. Nghĩ tới người lại thẹn cho mình.Ở đây, tôi chithể viết được như thế, không thể viết rõ hơn. Nhưng tôi nhớ và sẽ còn nhớ mãi những tâm tư của tôi hôm nay đối với tiếng gọi của núi rừng xa”.


          Trước đó một trang là mấy dòng ngắn ngủi:


          “10- 2- 1948 Câu chuyện tên Kếu làm tôi cảm thấy ngột ngạt, khó thở. Nhưng tôi không còn muốn nói với cậu tôi về câu chuyện ấy. Tôi cảm thấy tôi với cậu tôi khác nhau lắm rồi, không thể cùng đi với nhau”.


          Cũng trong trang ấy, có một câu như sau:


          “Không ngày tháng: Mấy tháng nay, tôi không muốn ghi gì vào đây nữa. Buồn tẻ, ngột ngạt và chướng tai gai mắt, đấy là cuộc sống chung quanh. Nhưng tôi làm sao thoát khỏi nhỉ?”.


          Dưới câu ấy là một cái dấu hỏi to tướng chiếm gần hét một trang sổ tay.


          Thiện vẫn tiếp tục giở cuốn nhật ký của Long theo chiều ngược. Trên cái trang vừa kể, anh thấy những trang để trắng, những trang có những nét vẽ nguệch ngoạc hoặc là khuôn mặt một người con gái, hoặc là những ô vuông, tam giác và hình tròn vẽ đè lên nhau, không có ý nghĩa gì cả. Một trang có những nét bút xoá đậm lên một số chữ làm Thiện chú ý. Anh khêu to đĩa đèn dầu lạc, giơ tờ giấy lên ngọn đèn, cố đọc cho ra những chữ bị xóa.


          “14- 1- 1947.  Hôm nay tôi được đi đào công sự (hai chữ này bị xoá). Phải gọi là được vì tôi rất sung sướng đã góp phần cho kháng chiến (hai chữ này bị xóa rất kỹ). Cuộc nói chuyện với mấy anh thợ nhà đèn thật đáng nhớ. Tôi cảm thấy phải chăng là can đi vào cuộc sống bình dân (hai chữ này cùng bị xóa) người ta mới thấy được chân lý. Tôi muốn làm nhiều nữa, tôi muốn đứng hẳn trong hàng ngũ...”.


          Mấy chữ sau đó đã bị xóa kỹ đến nỗi Thiện không thể đọc được nữa, dù anh đã soi mãi lên ngọn đèn. Nhưng anh đoán rằng đấy là những chữ nói về hàng ngũ kháng chiến, hàng ngũ nhân dân. Những trang trên có ghi những thay đổi tư tưởng khi ỏ Hà Nội, sau cuộc cãi nhau giữa Long với Vân. Thiện gập cuốn nhật ký của Long lại, thở dài, anh thấy da diết nhớ bạn và thương bạn. Thế là khá rõ, anh bẩm bẩm. Long rõ ràng là muốn đi theo kháng chiến từ ngày chưa vỡ mật trận và ngay khi hồi cư về Huế. Tư tưỏng Long đang thay đổi ngay sau khi ra Hà Nội. Nhưng tại sao Long lại củng đi với thằng Tòng nhỉ? Sao mà Long lại bảo là oan? Thiện cố nhớ lại cái hôm anh phái một trung đội đi phục kích xe tên Tòng. Hôm ấy, theo cơ sơ ở Huế có liên lạc với một anh người nhà tên Tòng cho biết thì tên Tòng sẽ đi ra An Hòa và sẽ vào đồn An Hòa. Đi làm gi thì không rõ. Cũng không thấy nói là đi vói những ai. Đột nhiên lại thấy có thêm Hanh và Long. Hanh thỉ ai cũng biết là có chân trong ngụy quyền tỉnh rồi, nhung còn Long thì chưa ai rõ hồi ớ Huế làm gì? Cứ theo như trong nhật ký này thì Long chỉ đi dạy học, Long cảm thấy cuộc sống trong thành phố tạm bị chiếm là ngột ngạt, là chướng mắt và Long sợ mật thám địch nên đã xóa đi những chữ nói về kháng chiến trong sổ tay. Cô P. chắc là cô Phượng còn Th. Thì chắc chắn là mình. Nhưng anh ta đánh một cái dấu hỏi to tướng. Như thế nghĩa là Long cảm thấy bế tắc nhưng tự mình không tìm ra lốì thoát. Thiện đột nhiên cảm thấy có chút tự hào về mình. Cũng là bạn đồng học, cùng là tiểu tư sản học sinh, nhưng dù sao mình cùng có trong người một dòng máu công nhân. Anh thầm cảm ơn bố anh đã sớm đi theo con đường cách mạng và mở nẻo cho anh đi theo. Anh chợt lẩm bẩm: Phải, cỏ người mở nẻo cho thì những thanh niên như Long củng có thể đi theo con đường đúng đắn. Mình phải đứng ra giới thiệu Long nhận một công tác kháng chiến mới được. Lẽ cố nhiên, mình sẽ đề nghị cơ quan công an thẩm tra lại bằng cách hỏi cơ sở Huế về thời gian Long ở Huế. Ỏng Thắng ở bệnh viện là cậu Long cũng có thể cùng minh bảo đảm cho Long. Mai ta phải lên ngay CK7 để thăm Long, đổng thòi nói luôn với ông Thắng về việc này.


          Thiện đút cả cuốn thơ của anh và cuốn nhật ký của Long vào trong túi, rồi thổi tắt ngọn đèn, anh nằm xuống và ngủ luôn.


      


VII


Dòng sông Ô Lâu sau một trận mưa kéo dài hơn hai ngày nước dểnh lên khá lớn, hôm nay đã rút trở lại như bình thường. Hai bên bờ sông, cơn lũ ngắn vừa qua như quét đi hết những vết nham nhở, để lại hai bờ đất phẳng phiu với những đám lau ướt dệt, dính vào đất như có ai phết hồ dán chúng vào đấy. Cáy lá trên núi rừng Hòa Mỹ hình như sau trận mưa đang lấy lại sức và đang hút từ lòng đất ướt nhầy nhụa lẻn những nguồn nhựa mới. Nhìn lên các triền núi, từ CK1 cho đến CK7, cho tới tận Khe Me, người ta bỗng thấy một màu xanh non nhú lên, đổi mới núi rừng. Hình như trận mưa vừa rồi đã quét đi gần hết những lá già xanh thẫm và những mầm lá non mới mọc lên từ dạo Tết âm lịch bây giờ mối thật sự nở to ra và nhuộm tất cả núi rừng bằng cái màu non trẻ và đầy sức sông. Năm nay rét muộn, lá rừng nở chậm, người ta bảo với nhau như thế. Nhìn cả một dãy núi rừng dài hàng chục cây số mang một màu gần như màu lá mạ, như ai vừa quét một lớp sơn mới diêm dúa, ngưòi ta ai mà khòng náo nức về mùa xuân.


Bây giờ chắc là mấy con suối đã dễ lội qua, Thiện nghĩ như thế khi anh đi từ lán trại của anh ở chỗ bãi đất trống của làng Hòa Mỹ lên CK7. Phảỉ như hôm qua cáng lên may mà gặp lúc nước đã rút. Phải như hôm nọ nước lên to thì dù có bị thương nặng đến mấy cũng đành chịu đứng bên này bờ suối mà ngó. Không biêt đêm qua, anh em cáng Long lên có kịp không. Cũng có dễ đến gần sáng mới tới bệnh viện. Không biết có ra nhiều máu quá không và có còn cứu kịp không. Sơ ý quá, hôm qua không nhớ viết cho ông Thắng một lá thư. Nhưng chắc ông ấy làm gì mà không bìết cháu ông ấy kia chứ. Chắc sáng nay họ đả cấp cứu rồi. Vết thương cũng chẳng lấy gì làm nặng lắm. Có người bị thương nặng hơn mà bệnh viện chiến khu còn chữa nổi kia mà.


Với những ý nghĩ chân thành cẩu mong cho Long được tai qua nạn khỏi. Thiện rảo bước lên CK7. Anh vượt qua hai con suối lớn và ba cái dốc cao từ lúc nào không hay. Trong đầu óc anh, anh chỉ mong sao cho mau gặp bác sĩ Thắng để nói về cái việc đúng ra bảo đảm cho Long được nhận một công tác kháng chiến. Anh củng mong khi lên bệnh viện, sẻ được gặp Long và thấy Long đã tỉnh. Không biết sau một trận mê man như thế, nếu Long đã tỉnh, mình có thể hỏi anh ta vài câu chăng?


Thiện bước qua một dãy nhà lá dài có hai sạp giường lớn đủ chỗ cho khoảng một trăm người nằm. Đây phòng nội thương, chủ yếu để chữa những người bị sốt rét nặng mà y tá cơ quan không chữa nổi. Lại phải lội qua một con suối nhỏ nữa cắt ngang khu bệnh viện làm đôi. Bên kia con suối mới là phòng ngoạí khoa, phòng mổ xẻ, chắc là Long phải về bên ấy. Đây là chỗ người ta chữa những chiến sĩ bị thương ngoài mặt trận, những người phải mổ xẻ, phải gắp đạn từ trong thịt ra, những người bị cưa xẻ để rồi trở thành thương binh chóng nạng hay mang chân tay giả. Một mùi tanh của máu mũ xông lên nồng nặc làm Thiện rùng mình. Đây đúng là nơi mà những chiến sĩ bị thương khi tác chiến ở đồng bằng, ở tận các vùng ven biển như Thanh Hương, Kê Môn. Đại Lược của huyện Phong Điền, như Hà Thanh. Hà Úc cua huyện Phú Vang. Khi đưa được lên đến đây thì vết thương đã đầy mủ và đã thối, có người đã bị dòi lúc nhúc trong vết thương. Các bác sĩ, y sĩ, y tá, hộ lý ở bệnh viện chiến khu đã hàng ngày phải làm việc với những con bệnh như thế. Thiện rùng mình tự nhủ: Cho mình làm việc ở cái phòng này thì có lẽ chết mất. Tội nghiệp, không biết Long có bị như thế và phải nằm ở đây không? Thiện sục vào tận trong phòng, đưa mắt nhìn khắp từng người một. Mùi tanh thối vẫn bốc lên nồng nặc làm anh thấy buồn nôn, nhưng anh cố giữ không đưa tay lên bịt mũi, tự nhủ rằng làm như thế là không biết ơn những người đã vì Tổ quốc mà chịu đau đớn. Nhưng ở trong phòng này vẫn không có Long, Thiện đang ngơ ngác thì một bác hộ lý chỉ cho anh đi về phía phòng cấp cứu, một gian nhà lá nho ờ mé trái cách phòng ngoại khoa chừng bốn chục thước. Có lẽ Long còn nằm ở đáy chăng? Thiện rón rén bước rất nhẹ tới gần ngôi nhà lá. Bên trong hoàn toàn im lặng, nhưng vẫn có ánh đèn dầu lửa sáng, mặc dù bên ngoài là ban ngày. Thiện hé mắt nhìn vào rồi không ngăn được nỗi ngạc nhiên, anh sửng sốt buột mồm kêu lên một tiếng se sẽ. Trong một thoáng, anh đã tưởng mình mê ngủ. Nhưng không, rõ ràng là anh vẫn thức, anh đang đứng trong gió lạnh bên ngoài phòng cấp cứu của bệnh viện. Mình nhầm chăng. Không, anh hé cánh cửa liếp nhìn vào một lần nữa, rồi dụi mắt lẩm bẩm: Không mình không thề nhầm, đúng là Vân đang ngồi ở đấy. Sao thế nhỉ? Hay là một người nào khác giống Vân. Ta có nên vào bây giờ không nhỉ?


Những câu hỏi cứ rối tung lên trong óc Thiện. Có lẽ bất cứ ai gặp phải trường hợp như anh cũng phải nghi hoặc cả con mắt và trí óc của mình như thế.


Nhưng quà là anh không nhầm. Trong phòng cấp cứu, chính là Vân đang ngồi bên cạnh bàn mỗ mà Long đang nằm mê man thiêm thiếp. Phải, đúng là Vân chứ không ai khác. Cô đang buồn bã, đưa đôi mắt rất đẹp nhưng đầy vẻ lo âu nhìn chằm chằm vào người yêu đang nằm không cựa quậy trên bàn mỗ. Khi Thiện hé mở cánh liếp lần thứ nhất và kêu lên se sẽ cô vẫn không hay biết gì hết. Cô vẫn ngồi im như pho tượng. Nhưng đến lẩn thứ hai thì cô giật mình quay ra. Rồi đến lượt cô cũng không nén nổi ngạc nhiên: ai như anh Thiện. Anh Thiện cũng ở chiến khu này ư? Làm sao mà Thiện biết được tin Long mà tới thăm sớm thế. Tình bạn giữa hai anh vẫn thắm thiết đến thế kia ư? Vân khẽ nhón chân đứng dậy, rón rén đi lách tấm cửa liếp ra ngoài:


-  Anh Thiện! Anh cũng ờ chiến khu này à?


Thiện không trả lời vào câu hỏi của Vân, anh sẽ gật đầu đưa mắt nhìn về phía trong bàn mổ, rồi thầm thì hỏi:


-  Long thế nào rồi Vân. Liệu có việc gì không?


Vân cũng se sẽ đáp:


-  Cậu Thắng đã gắp đạn cho anh ấv. Cậu ấy bảo cũng nhẹ thôi. Bây giờ chỉ cần đề phòng nhiễm trùng. Sáng nay lúc mới cáng lên đây, anh ấy có lúc đã hơi tỉnh tỉnh. Bây giờ thì thiếp đi vì thuốc mê và vì mổ. Cậu Thắng giao cho em trông nom anh ấy đề phòng những biến chứng, Sao anh biết tin mà lên thăm sớm thế?


Thiện không ngạc nhiên khi nghe Vân gọi bác sĩ Thắng bằng cậu, trước đây khi ở Huế, cô đã quen gọi như thế. Anh cũng không trả lời câu hỏi của Vân. Anh chỉ mở to đôi mắt nhìn Vân một lượt từ đầu đến chân như để thấy rõ ràng cô gái đứng trước mặt anh là Vân chứ không ai khác, rồi khẽ hỏi lại Vân:


-  Thế ra Vân cũng ở chiến khu này? Sao tôí ỏ đây từ ngày mới vỡ mặt trận đến giờ, tôi cũng có lên bệnh viện này một vài lần thăm những anh em trong đơn vị bị ốm, thế mà không hề gặp mặt Vân? -  Trong thâm tâm, Thiện rất muốn hỏi tại sao lại có tin Vân đã chết, nhưng anh thấy hỏi như thế không tiện nên lại thôi.


Vân đáp:


-  Em cũng mới lên chiến khu này được vài ngày thôi.


-  Thế trước đây Vân ờ đâu. Vỡ mặt trận Vân chạy về đâu?


-  Vỡ mặt trận, em còn ở bên kia sông Hương vì không dám để mất một hòm thuốc lớn của trung đoàn. Tối hôm ấy, mấy anh tải thuốc cùng đi với em bỏ đi mất cả, họ bơi sang sông hết. Em không bơi được, thế là đành chạy lạc lung tung bến ấy, hòm thuốc đành để mất -  Vân nói như cỏn tiếc rẻ cái hòm thuốc mất cách đây hơn một năm. Cô ngừng một lát rồi nói tiếp –Tối hôm ấy may Tây nó không lùng. Em chạy bộ, cũng không biết tìm đâu cho ra đơn vị, cứ nhìn theo huớng tây, ngược phía bên kia sông Hương chạy miết. Thế rồi cứ xin vào trú trong nhà đồng bào ở các làng ven núi huyện Hương Thủy, ngày ngày chạy Tây lùng, không có cômg tác gì đến hơn tháng. Mãi sau mới gặp một trung đội chạy lạc của tiểu đoàn 18, trong ấy có một anh biết em ở bệnh xá trung đoàn, trung đội liền cho em đi theo làm cứu thương. Gần hai tháng sau thì được đưa về làm y tá ở bệnh viện cùa tiểu đoàn 18 ở chiến khu Lương Miêu. – Mắt lộ vẻ tự hào, Vân nói tiếp -  Cái bệnh xá ấy lúc đầu chưa bằng một góc của cái phòng cấp cứu này. Bây gỉờ thi nó to gần bằng cái phòng ngoại khoa ở đây Em ở đấy mãi cho đến gần đây thì nhận được lệnh điều động của trung đoàn về bệnh viện tỉnh.


-  Bây giờ Vân làm chức gì ở đây?


-  Em làm y tá trưởng phòng ngoại khoa.


-  Ghê nhỉ!


Hai người cùng cười se sẽ.


Vân nói:


-  Em cũng chẳng thích đâu. Em chỉ muốn đi theo các đơn vị chiến đấu về đồng bằng. Nhưng xin bao nhiêu lần. Lắm lúc em đã nảy ra ý muốn được làm cán bộ dân vận, sang công tác phụ nữ chẳng hạn…


-  Thế nghĩa là Vân không an tâm ở đây.


-  Không, các anh ấy vẫn nhận là em tích cực công tác. Em khóng sợ người bệnh với người chết như khi mới tác chiến nữa. Nhưng em cứ sợ ở đây chậm tiến bộ.


-  Thế Vân quan niệm thế nào là tiến bộ


-  Anh lại còn vận em à? Tiến bộ là như các anh ấy. Đấy, có cống tác quần chúng, sát với thực tế, lăn lộn với phong trào, được học tập nhiều, trình độ chínn trị được nâng cao.


-  Thế ở bệnh viện không cò công tác thực tế, không có học tập chính trị hay sao hở Vân? – Thiện hỏi giọng trách móc nhẹ nhàng.


Vân lắc đầu đáp:


-  Sao ở đây lại không có học tập. Nhưng em vẫn thấy làm ở ngành chuyên môn không tiến nhanh bằng công tác quần chúng. Với lại, ngày ngày đi ra đi vô mãi mấy cái gian nhà này, em cũng thấy hơi tù túng, chì sợ tầm mắt mình nó hẹp đi.


Thiện hỏi lại:


-  Thế cán bộ chiến sĩ bị bệnh và bị thương về nằm đây không phải là quần chúng ư? Tôi tuởng Vân có thể nói chuyện với anh em mà biết tình hình chiến sự, tình hình phong trào chứ? - Rồi Thiện nói sang chuyện khác -  Long mổ đã lâu chưa. Vào thăm một chút được chứ?


Vân ngần ngại một giây rồi gật đầu:


-          Mổ cũng được hơn ba tiếng rồi đấy. Vào được anh ạ. Có lẽ anh ấy cũng gần tỉnh.


Thiện rón rén cùng Vân vào trong phòng mổ. Trên chiếc bàn mổ bằng ván lát có trải tấm khăn trắng tinh -  một thứ trang sức ở chiến khu không đâu có ngoài cái phòng mổ của bệnh viện này -  Long vẫn nằm mê man. Trên mặt Long phủ một tấm vải thưa trắng toát. Thiện và Vân cùng đứng lặng yên nhìn Long, mỗi người theo đuổi những cảm xúc khác nhau. Bỗng Vân thấy Long hơi cựa mình rồi rên khe khẽ, hình như anh mấp máy môi muốn nói một câu gì. Cô tới khẽ nhấc chiếc khăn trắng che trên mặt Long. Mắt Long vẫn nhắm nghiền, nhưng cả hai người đểu thấy Long thở một hơi rất dài, hình như qua hơi thở ấy, sức sống trong con người anh đã trở lại và đánh lui thần chết. Thiện và Vân đang bồi hồi cảm động thì chợt cà hai cùng thấy Long bất thình lình mở hé đôi mắt. Đôi mắt hé ra nhưng hình như chưa nhìn thấy gì rõ lắm, một đôi mắt còn đờ dại, chưa có tinh thần. Nhưng hình như Long có trông thấy một cái gì. Thiện và Vân cùng trông thấy đột nhiên Long mở to đôi mắt, nhìn chằm chằm vào cả hai người một lúc, một cái nhìn quái dị, vừa như ngạc nhiên, vừa như kinh hoàng, vừa như ngơ ngác, vừa như đau khổ, lẫn lộn.


Vân kêu lên se sẽ:


-  Long, anh Long, em đây, thấy khỏng?


Thiện cũng khẽ kêu:


-  Long, tỉnh chưa? Thiện đây. -  Nhưng không hiểu sao, đôi mắt đang mở to của Long bỗng nhắm nghiền ngay lại rồi bỗng thấy mây ngón tay anh rung lên bần bật, anh lại thiếp đi. Ván lui ra nói với Thiện:


-  Anh ấy chưa tỉnh đâu anh ạ. Có lẽ chúng ta ra đi thì hơn. Cậu Thắng bảo em phải giữ đừng để anh ấy bị kích động.


Khi hai người đã ra đến ngoài cánh cửa liếp. Thiện báo:


-  Nhà ông Thắng ở phía nào ấy Vân nhỉ?


-  Lại phải lội qua con suối, đi ngược về phía phòng nội thương rồi rẽ sang mé trái, qua nhà bếp, nhà ăn và nhà câu lạc bộ, tới một cái nhà sàn thì đúng là chỗ cậu Thắng ở.


-  Bệnh viện bây giờ to gớm nhỉ. Cách đây mấy tháng tôi lên thì mới chỉ có ba cái nhà, bâv giở dễ đến gần chục.


-  Chuyện, cái gì cũng càng ngày càng phát triến chứ. Nhưng này, anh Thiện hỏi cậu Thắng em làm gì đấy?


Thiện đang định cắm cúi đi bỗng dừng lại, đáp:


-  À, không, tôi muốn nói với ông ấy về cái chuyện của Long. Chả là, tối qua khi vào đồn, tôi bắt được...


-  À, thế là tối qua chính anh chỉ huy quân ta đánh đồn Phong Thái đấy à?


Thiện nhìn thẳng vào mắt Vân, cố đoán xem trong ánh mắt cô có lộ lên chút tình cảm gì liên quan đến cái việc chính anh đã đánh vào đồn và trong trận đó Long đã bị thương hay không? Nhưng Thiện chỉ thấy một đôi mắt trong suốt, rồi thẳng thắn và bình thản. Anh vững tâm đáp:


-  Phải. Khi tôi vào đồn thì thấy Long đã bị thương quả là không biết tự hồi nào và vì sao. Trong túi áo Long có một cuốn nhật ký, trong ấy Long tỏ ra là muốn đi theo kháng chiến đã từ lâu. Vì vậy, tôi muôn gặp ông Thắng đế bàn việc cùng đứng ra bảo đảm cho Long nhận một công tác gì ở chiến khu.


Đôi mắt Vân lộ lên ánh mừng rỡ không tả xiết. Cô nói với giọng vừa sung sướng và như trách móc Thiện:


-  Vậy mà anh không cho em bàn cái việc ấy ư? Em lại không cùng vói anh và cậu Thàng đứng ra bảo đảm được ư? Sao anh ác thế. Cho em xem cuốn nhật ký của Long đi. Trước đây, anh ấy ghi ngày nào vẫn đưa cho em xem ngày ấy. Có phải cuốn sể để tên em và Long ngay ở bìa bằng bút chì xanh đỏ không?


-  Đúng cuốn ấy.


-  Thế thì em muốn xem cái đoạn từ khi em với Long xa nhau đến giờ. -  Vân nói đến đây tự nhiên không ngăn nổi nước mắt, cô vội quay mặt đi, hai hàng lệ chảy từ đôi mắt rất đẹp rơi xuống má. Vân rút vội chiếc khăn mùi soa lau nước mắt, rồi không hiểu sao cô cứ đứng trân ra và sùi sụt, sùi sụt mãi.


Thiện hiểu tâm trạng của Vân lúc ấy. Anh đã muốn bông đùa một câu nhẹ nhàng cho Vân đỡ đau khổ nhưng lại cảm thấy như thế là không phải lúc. Anh cũng không dám bước lại gần Vân, đỡ lấy vai Vân và chấm nước mắt cho cô như có một lần anh đã làm như thế một cách hoàn toàn tự nhiên ngay trước mặt Long. Anh chỉ đứng yên lặng một lúc lâu, đợi cho Ván đã gần nguôi mới nói:


-  Vân ơi, chuyện đã qua thôi đừng nghĩ tới nữa. Chính tôi cũng không ngờ là chúng ta lại gặp nhau ỏ đây cả. Có Vân cùng bảo đảm thêm thì còn gì bằng nữa. Thôi ta đi lên bác sĩ Thắng đi.


Thiện vừa nói vừa rút trong túi ra cuốn nhật ký của Long. Vô tình, anh rút ra cả hai cuốn một lúc, trong đó có cả cuốn thơ của anh. Anh hơi đỏ mặt, vội đút cuốn thơ của anh vào túi rồi đưa cuôn nhật ký của Long cho Vân.


Họ cùng bước tới ngôi nhà sàn của bác sĩ Thắng, mỗi người vừa đi vừa theo đuổi một ý nghĩ riêng.


*


 


Vân lui về buồng riêng của cô sau lưng phòng cấp cứu của bệnh viện. Đây là một cái buồng riêng trước đây vẫn dành cho y tá trực phòng cấp cứu. Nhưng từ ngày Vân ở chiến khu Lương Miêu về đây làm y tá trưởng, bệnh viện đã ngăn đôi căn buồng này và để cho Vân ò một nữa. Căn buồng vi vậy trở nên chật hẹp, chỉ còn vừa đủ kê một chiếc giường hẹp một người năm, một chiếc bàn con bề rộng có bốn tấc và bề dài cũng chỉ chừng sáu tấc. Nhưng Vân rất bằng lòng với căn buồng ấy, nhất là trong lúc này. Cô vừa cùng Thiện lên chỗ bác sĩ Thắng về. Công việc đầu tiên mà bác sĩ Thắng giảỉ quyết, tức là sau khi nghe Thiện và Vân báo cáo về việc họ vào thăm long thì Thắng dâ quyết định không để Vân trông nom Long nữa. Bác sĩ đã nghĩ ngay tối nghề nghiệp và ngay lập tức đã gọi một người y tá khác trông nom Long. Thắng bảo rằng nếu để Vân trông nom, khi Long chợt tinh dậy, có thể vì xúc động mạnh mà hại đến thần kinh và do đó lâu hồi phục sức khoẻ. Thắng lại còn ra lệnh chỉ cho phép Vân được gặp Long khi nào ông xét có thể cho gặp được. Thế là bây giờ Vân không còn được ngồi bên cái bàn mổ trên có Long nằm nữa, cô mang cuốn nhật ký của Long về phòng riêng nằm xem và suy nghĩ. Khác với Thiện, cô không thấy thỏa mãn với những thay đổi trong tư tưởng của Long. Cô đoán rằng đáng lẽ Long phải tham gia công tác cách mạng ngay từ đầu hoặc ít ra cũng từ sau khi cô đã viết thư ra Hà Nội khuyên anh. Vân lật đi lật lại mãi trang nhật ký của Long ghi sau hôm nhận được bức thư ấy của cô.


8- 12- 1945: “Nhận được thư của em. Vân ơi, anh hối hận về hôm ấy. Anh vô lý. Nhưng em bé nhỏ của anh! Em còn ngây thơ chưa biết gì về chính trị đâu. Rồi cuộc đời sẽ cho Vân của tôi thấy rõ mặt trái của nó. Vân ơi, bây giờ đây, anh chỉ ước mơ được yên tĩnh, được lánh xa tất cả. Chỉ còn có đôi ta và tình yêu vĩnh viễn của đôi ta”


Tiếp đó lại là một trang nữa:


            9- 12- 1945: “Hôm nay vừa bị bực mình vì câu chuyện không đâu. Tôi thề rằng từ nay về sau không tham gia vào những cuộc cãi vã không đâu về chính trị nữa. Tôi chỉ muốn sống riêng tôi, cho tôi và vì tôi. Không, cho tôi và cho Vân của tôi nữa, nhưng ngoài ra là không còn vì ai nữa. Tôi sẽ học để xây dựng sự nghiệp cho tôi va hạnh phúc cho Vân”.


Vân lắc đầu, thở dài. Cô không thấy rung động một tí nào về những lời nồng cháy yêu đương của Long đốỉ với cô như thế nữa. Phải, giá là trước cách mạng thì những câu như thế đã làm mình cảm động. Nhưng bây giờ thì sao nhỉ? Vân chợt nảy ra ý nghĩ soi lại con đường cô đã đi qua từ hơn một năm rưỡi nay. Đêm gặp cô Phượng trong căn phòng kín trên gác trường Đồng Khánh. Tờ báo Cứu quốc nhỏ bằng bàn trang giấy học trò và cuốn Chiến tranh Thái Bình DươngThái độ người Cộng sản Đông Dương. Cái hình vẽ búa liềm lần đầu tiên đập vào mắt cô như một cái gì thần bí, huyền diệu và có nhiều nét bí mật, ly kỳ. Rồi cuộc nói chuyện với Hồ, anh họ cô, người có nhiều tính cách ngang tàng, trịnh trọng và đứng đắn. Cuốn Chủ nghĩa Các Mác phổ thông mà cô đã thức mấy đêm liền đẽ chép lại. Thế rồi đến cái hôm cô được tuyên thệ dưới lá cờ đỏ sao vàng nhỏ xíu bằng bàn tay để được gia nhập tiểu tổ Việt Minh. Buổi đi rãi truyền đơn khoảng hai tuần trước ngày khởi nghĩa. Thế rồi đến những ngày biểu tình sôi nổi ở sân vận động, đến những ngày hoạt động đầy tính chất lãng mạn của đoàn học sinh cứu quốc thành phố Huế. Cứ như vậy, tâm tình cùa Vân thay đổi dần dần từ bao giờ cô cũng không biết nữa. Có lẽ nó bắt đầu thay đổi nhiều nhất là từ ngày cô vào đồn Mang Cá, sống trong cái tập thể vô vùng rộng lớn của quân đội. Vân nhớ rất rõ cái ngày hôm ấy. Cô như con chim non lạc vào một đám ngúời lớn hơn, rất nhộn nhưng số đông là đứng đắn. Nhưng cô không bị trêu ghẹo như khi mới từ trường Đồng Khánh sang trường Khải Định. Nhưng Vân cũng thấy là khi còn ở đồn Mang Cá và chưa vỡ mặt trận, cô vẫn thấy bộ đội chủ yếu gồm những chàng trai trẻ như Thiện, như Hồ, như trung đoàn trưởng Lương nói tiếng Pháp rất thạo, như những cán bộ chỉ huy tiểu đoàn, đại đội mà phần lớn là xuất thân từ học sinh. Nghĩa là cũng như cô. Họ chỉ khác lúc còn ở nhà trường vì mặc bộ quần áo lính, họ không thể vô tư vô lự như học sinh được nữa. Nhưng rồi đến khi mặt trận vỡ, Vân mới thấy rằng bộ đội không phải chỉ gồm có những người ấy mà là một tập thể rộng lớn hơn nhiều, gồm những người binh nhất, binh nhì mà hầu hét là dân quê chất phác hay thợ thuyền tay đầy chai sạn. Người dân quê! Vân nhớ lại cả cái quãng thời gian cô chạy lạc ở mấy cái làng ven núi huyện Hương Thủy sau khi vỡ mặt trận. Lần đầu tiên cô vê sống ở nông thôn lâu như thế và gắn với ngưòi nông dân đến như thế. Cô đã ăn với mẹ Lài, mẹ Nguyệt, mẹ Xước và ngủ vói các bà mẹ ấy. Mới đầu cô còn rất ngạc nhiên và cảm động về tính tốt của họ. Họ   đã coi cô như con, cho cô ăn và ngủ mặc dù cô đã nói thật là khi vỡ mặt trận cô không còn một đồng xu


dính túi. Nhưng rồi cô lại ngạc nhiên, không sao hiểu nổi những người nông dân. Cũng bà mẹ Lài ấy vừa mới cho cô ăn những bữa cơm, tuy độn sắn khoai nhưng cũng có thêm chút thức ăn (cô biết như thế vì về sau đứa con út của bà mẹ nói cho cô biết), thế mà chỉ nửa giờ sau bà đã có thể chửi toang làng nước lên vì một chuyện không đâu như có người nào đó phạt bờ giậu hay vì mất một con gà. Mới đầu Vân lấy làm khó chịu lắm, cô cứ tưởng bà cụ nói bóng nói gió gì về cô. Nhưng không phải, chính bà cụ đã đi phân bua với cô về những việc ấy với cái giọng thành thật coi cô như người nhà vậy. Mãi về sau Vân mới hơi hiểu ra đôi chút về bản chất của người nông dân sống quanh năm trong cảnh túng thiếu, cơ cực, nợ nần và bị bóc lột. Nhà của họ, cả một trung đội vào ngủ nhờ cũng được, chủ nhà vui lòng trải cái nia trong gian nhà bếp, thậm chí ra nằm giữa sân để nhường nhà cho anh em bộ đội nằm. Họ làm những công việc như thế một cách im lặng, không so đo lợi hai; không đòi hỏi được đền đáp. Lúc đầu Vân chưa thấy hết được những ý nghĩa lớn trong những việc bình thường ấy. Nhưng gần hai tháng lăn lộn bên những người nông dân hiền lành ấy, Vân mới thấy được rằng họ làm như thế vì họ hiểu những người như Vân hay bộ đội là những người đang kháng chiến, và chính vì có lòng yêu nước một cách tự nhiên mà họ đã đối đãi với cô như vậy. Thế rồi đến lúc Vân gặp được trung đội 3 của đại đội 2 tiểu đoàn 18 ở nhà bà mẹ Xước. Trung đội trưởng Xung là một thanh niên ỏ huyện Phú Vang, hồi còn ở đồn Mang Cá đã tới bệnh xá trung đoàn mấy lần để xin thuốc và vì thế mà biết Vân. Anh đã vui vẻ nhận ngay Vân đi theo trung đội, lại còn đùa nghịch lúc thì gọi Vân là cô em nuôi của trung đội, lúc thì gọi là chất tươi của trung đội, lúc cao hứng lắm lại gọi là nàng tiên của trung đội. Các đội viên thì lúc đầu không dám gọi như thế, dường như họ thấy cái người con gái ấy đẹp quá, quý phái quá, tỉnh thành quá mà họ không có quyền mơ tưởng tới. Nhưng rồi chỉ vài hôm sau, khi thấy Vân cũng hiền lành và không có gì là ghê gớm lắm, họ bắt đầu bạo dạn. Họ cũng bắt chước Xung gọi Vân là cô em nuôi thân mến của trung đội một vài anh cũng học cách “làm nũng” với cô để nhờ cô vá lại manh áo rách hay cho nửa viên kí ninh. Cho đến lúc ấy, Vân mới thấy hết cái tập thể rộng lớn của bộ đội gồm những người binh nhì, binh nhất chất phác ấy. Họ là những người ngày thường hiền lành nhất nhưng lức chiến đấu lại anh hùng nhất. Sống trong sự đùm bọc, yêu thương của tập thể bộ đội, Vân thấy yên tâm, thoải mái. Cô thấy bớt dần những thắc mắc, dằn vật trong tâm trí, thấy bớt hẳn những sự tranh cãi lặt vặt trước đây thường xảy ra lúc cô còn đi học. Trung đội đã đưa Vân đi gần khắp huyện Hương Thủy, một phần huyện Phú Vang và một phần huyện Phú Lộc. Vân dần quen với cảnh đi bộ hơn 30 cây số một ngày, quen với cảnh ngủ nhờ đồng bào trên những ổ rơm, những tấm nong lót lá chuối, quen với cảnh ăn ngô sắn thay cơm. Chiếc ba lô của cô gồm những chiếc áo dài. gương, lược, quần trắng, giày dép và cuốn nhật ký, cuốn sổ tay có dán ảnh của Long chụp chung vói cô đã bị mất sau một trận giặc lùng. Bây giờ cô quen mặc bộ đồ mà Xung đã lấy nguyên hai bộ đồ ka ki của quân đội ra cho cô chữa lại. Mặc như thế đối với Vân lúc đầu cũng là một sự thiệt thòi vì không ai còn thấy ra cô là một người con gái xinh đẹp vào bậc nhất, nhì của trường Đồng Khánh nữa. Nhưng rồi Vân cũng quen dần. Thay cho món tóc xõa ngang vai, Vân dần dần để tóc dài và tết thành hai đôi sam và quấn ngược lên sau gáy. Buổi đầu cô mặc bộ trang phục ấy và đeo tóc ngược lên như thế làm cả trung đội phải ngắm nghía. Xung bảo là trông có hơi kém thướt tha đi nhưng số đông bộ đội lại cho là đẹp hơn trước. Vân cũng tự biết là mặc như thế không thể đẹp như trước được, nhưng cô yên tâm khi thấy mình có cảm giác gần anh em bộ đội hơn lên một chút. Trong những ngày ấy, Vân rất ít có thì giờ riêng để nghĩ tới Long. Cùng với cả trung đội, hầu như ngày nào cô cũng sống trong tình trạng căng thẳng, lúc thì chuẩn bị đánh một trận phục kích nhỏ, lúc thì chuẩn bị để chạy giặc lùng, có lần thì chạy giặc lùng hẳn trong ba ngày liền. Chỉ có nhũng lần trung đội lên ở những làng thật sâu trong núi, nghỉ ngơi và học tập, Vân mới có dịp sống lại những tâm tư của riêng cô. Những lúc ấy, nghĩ tới Long, cô vừa phân vần, nghi ngại vừa hy vọng thầm kín vừa mong ước vẩn vơ. Cô nghi ngại vì từ sau khi nổ ra kháng chiến. Cô không hề biết tin Long. Cô không biết Long có thay đổi những tư tưởng chính trị của anh không và có chịu tham gia kháng chiến hay không. Cô còn nhớ như in những câu Long nói trong buổi cãi nhau với Thiện: Việt Minh là bọn độc tài đỏ, chỉ lo quyền lợi đảng phái, coi rẻ trí thức v.v... Vân hết sức phân vân, không hiểu Long đã nghe ai nói những luận điệu như vậy. Đúng là những luận điệu của bọn địch, bọn Việt gian mà cô đã có lần được đọc qua những tờ truyền đơn của chúng. Những bức thư Long gửi cho cô từ sau ngày ra Hà Nội thì không thấy nhắc tới những câu ấy nữa. Long chỉ có ý muốn đứng ra ngoài thời cuộc, học thành tài rồi xây dựng hạnh phúc gia đình. Vân nhớ rằng sau khi tiếp được những bức thư như thế, cô đã liên tiếp gửi cho Long mấy chục bức thư trong đó cô ra sức thuyết phục Long, là người thanh niên thế hệ này phải tham gia việc nước, ta không thể có việc học tách rời chính trị, rằng học thành tài rồi cũng phải chọn lấy chế độ mà phục vụ, rằng hạnh  phúc riêng chỉ có thể có trong hạnh phúc chung của cả dân tộc, v.v... Ngồi nhớ lại những bức thư ấy, Vân vẫn cảm thấy nó không sai, nhưng cách viết thì thật là sách vở, thật là nông cạn. Bởi vì chính cô lúc ấy cũng chỉ hiểu các vấn đề ấy một cách hoàn toàn sách vở. Có lẽ vì thế mà Long trong những bức thư trả lời cô về sau không đả động gì đến những vấn đề ấy nữa chăng. Cô không hiểu. Cô chỉ thấy mình phải xa Long trong những ngày ấy thật là thiệt thòi. Cô không hề nghĩ việc có thể thay đổi tình yêu đối với Long. Đối với cô, mối tình ấy vừa trong trắng, vừa thiêng liêng, nó gắn liền với những lời thề thốt, hứa hẹn với Long, nó gắn với ý nghĩ của cô cho rằng người đàn bà nào cũng chỉ có thể có một tình yêu duy nhất, đã trao trái tim cho ai phải giữ trọn mối tình chung thủy. Tuy không nghĩ tới nhưng cái giáo lý Khổng Mạnh từ mấy nghìn năm trước đã buộc Vân phải quan niệm rằng đức hạnh của người đàn bà chỉ có thể có một tình yêu. Chính vì vậy mà trong quan hệ với Thiện. Vân giữ một thái độ hoàn toàn đúng đắn. Cô thầm biết Thiện yêu cô, cũng say đắm như Long vậy, nhưng cô đã khéo tỏ cho Thiện biết nhiều lần rằng cô coi anh là bạn thân, nhưng không thể vượt quá giới hạn ấy. Chính đó là nỗi khổ tâm của Vân. Cô đã bị giằng xé giữa hai luồng tư tưởng. Một bên là lòng chung thủy, một bên là sự bắt buộc phải nghi ngờ người yêu của mình, đánh giá người yêu của mình và do đó không thể không nảy ra sự so sánh giữa Long của cô với Thiện và những người khác mà cô thường gặp trong kháng chiến. Chính hồi ở trong đồn Mang Cá, cô đã có lần nảy ra ý nghĩ so sánh ấy. Cô biết rằng trong thòi gian ấy Thiện hay lui tới bệnh xá trung đoàn để thăm cô. Tuy Thiện vẫn cố hết sức giữ thái độ đúng đắn với cô, không những anh không hề lợi dụng lúc Vân xa Long mà anh còn cố gắn liền mối tình của hai người, anh thường nhắc nhủ Vân nên cố đi tìm Long sau khi họ nghe phong thanh Long đã về Huế. Thái độ ấy của Thiện làm Vân cảm phục. Chính vì vậy mà trong thâm tâm Vân cũng thấy thương thương Thiện, nhiều lúc cô đã muốn nói với Thiện một lời êm ái để tỏ cho anh biết rằng cô rất hiểu lòng anh. Nhưng cái câu êm ái ấy là câu gì? Nó không thể là một cái câu chỉ nằm trong khuôn khổ của tình bạn được, những câu thân mật ấy, họ vẫn thường nói với nhau luôn rồi. Vượt quá cái khuôn khổ ấy đi một tí, một tí thôi, nghĩa là quá tình bạn nhưng chưa đến giới hạn của tình yêu, có được không? Không, Vân không dám nghĩ tới cái việc vuợt ấy. Có lần Vân đã nghĩ tới chuyện nói với Thiện nên đi tìm lấy một người yêu xứng đáng, nhưng rồi cô lại thôi, sợ gây ra hiểu lầm. Tại sao mà hiểu lầm, cô cũng không biết nữa. Cô chỉ biết rằng trong những ngày xa Long và rất gần Thiện ấy, cả cô và Thiện đều đứng mấp mé giữa tình bạn và tình thương. Có thể gọi là tình thương mà chưa phải là tình yêu được chăng? Cô cũng không phân biệt được rõ. Cô chỉ biết rằng cái giới hạn ấy nó mong manh lắm, nếu không khéo giữ, cả hai người sẽ đi sang giới hạn khác mất. Cô vẫn một lòng chờ đợi Long. Cô cũng không hề nghỉ rằng Long có thể chết hay Long có thể hồi cư về Huế. Khi mặt trận vỡ, cô vẫn hy vọng rằng có thể Long cũng tham gia một công tác kháng chiến nào đó và cũng chạy giặc ở một làng nào đó, ở một chiến khu nào đó, như cô vậy. Song cái hy vọng ấy của cô ngày càng trở nên mong manh, càng về sau cô càng nghĩ là khó có trong thực tê. Càng lăn lộn trong cuộc đấu tranh thực tế, cô càng thấy rõ một điều: đó là cái bản chất giai cấp của mỗi người. Cô càng ngày càng thấy rõ rằng những luận điệu chính trị lạc hậu của Long là bắt nguồn từ nguồn gốc xuất thân của anh. Nhưng Vân cũng cho rằng những thanh niên như Long không nhất thiết phải có những phản ứng giai cấp như vậy. Long của cô có thể đi theo con đường đúng đắn nếu được tiếp thụ sự giáo dục của cách mạng. Dù sao, Long cũng đã để lỡ cơ hội: đó là những lời khuyên của Thiện và của cô.


Vân đọc lướt qua rất nhanh những đoạn mà Thiện rất chú ý trong cuốn nhật ký của Long, những đoạn mà Long tỏ ý muốn đi theo kháng chiến, cô cũng đọc lướt qua những bài thơ của Long khóc cô đã chết. Đấy là những dòng thơ thấm đẫm nước mắt.


Vườn hoa chiều, vắng bóng em


Lá rụng bên thềm


Gió lạnh


Hồn em đó, bên hồn anh hiu quanh


Tan nát cuộc đời


Vân đọc suốt cả hơn chục trang ghi những bài thơ như thế. Có đến hơn chục bài. Cô chợt rơm rớm nước mắt. Cô thấy thương Long, và cảm động vì mối tình của Long. Nhưng Vân chợt lấy khăn tay lau nước mắt rồi tự nhủ: Kể cũng lạ, không hiểu tại sao những vần thơ, điệu thơ như thế mà trước đây mình lại say mê được. Trong một thoáng, Vân nhớ lại một số những câu thơ của Hoàng Chương mà Long thường hay ngâm cho cô nghe, những câu đã từng làm cô rung động đến lạnh người:


Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ


Một đôi người u uất nỗi chơ vơ...


Vân chợt tự thấy thẹn với mình trong bóng tối vừa ập tới căn buồng của cô. Không, bây giờ mình khác rồi, cô tự nghĩ như thế. Nếu quả là mình chết thật, mình sẽ vui lòng biết bao nếu Long làm thơ tiếc thương mình nhưng lại gắn vào đấy những lý tưởng cao cả của cách mạng, của kháng chiến, Long không khóc than một cách quá sướt mướt, quá ủy mị như thế này. Cô chợt tươi cười với mình: Khỉ thật, nếu mình chết thật thì mình còn biết đâu đến thơ của Long nữa.


Đêm chiến khu đã xuống, lúc đầu từ từ, sau đột nhiên ụp xuống rất nhanh. Một trận gió rừng đột nhiên tạt mạnh. Rừng cây xào xạc, những chiếc lá rụng trên nóc nhà thành tiếng, tưởng chừng như tiếng mưa rơi từng loạt không đều. Đột nhiên, nghe từ xa vẳng lại tiếng suối chảy ngang qua khe bệnh viện, rì rào, róc rách. Bên mấy gian nội thương, ngoại khoa, cấp cứu, những ánh đèn dầu hỏa đã thấy thắp sáng. Tự nhiên, Vân thấy lành lạnh, cô muốn chạy ngay sang chỗ Long đang nằm đê hỏi cho hết những điều thắc mác trong lòng. Nhưng có không dám trái lệnh bác sĩ. Cô ngồi im như tượng đá. Rồi bỗng nhiên cô thấy trong người mệt mỏi, từ trong thân mình như bỗng ứa ra một dòng máu nhỏ. Vân giật minh nhìn xuốhg: đúng là có bắt đầu thấy kinh nguyệt. Cơn xúc động, càng trở nên mạnh hơn, bao nhiêu nỗi buồn tủi như kéo đến cùng một lúc. Vân vội vàng đi lấy những tấm băng trắng dùng cho vệ sinh phụ nữ, rồi mệt quá, cô nằm xuống giường, kéo vội màn xuống, trùm chăn ngủ luôn. Cái dấu hỏi to tướng trong trang nhật ký của Long, cái dấu hỏi chiếm hết cả trang giấy và đi kèm với cái câu hỏi mà Long tự đề ra: “Đâu là lối thoát?” đuổi theo trí óc của Vân và biến thành một cơn ác mộng. Vân giật minh, kêu ú ớ trong chăn rổí tỉnh giấc, cảm thấy như sắp lên cơn ốm. Cô nằm trằn trọc cho tới sáng không ngủ lại được nữa, trí óc tràn đầy những ý nghĩ lộn xộn, trái ngược.


 


                                                                      VIII                                            


 


Tiểu đoàn 16 do tiểu đoàn trưởng Trần Hữu Xứng chỉ huy vừa được lệnh đi vào ba huyện miền nam để cùng với tiểu đoàn 18 mở rộng khu căn cứ Lương Miêu thuộc huyện Hương Thủy. Cùng đi với tiểu đoàn có cả bác sĩ Thắng, bệnh viện CK7. Thắng được lệnh vào chiến khu Lương Miêu để chuẩn bị mở rộng bệnh xá trong ấy thành một bệnh viện lớn ngang với bệnh viện ở chiến khu của tỉnh. Ủy ban hành chính tỉnh cũng cho anh biết rằng hiện ở Lương Miêu vừa có hai bác sĩ từ Huế lên tham gia kháng chiến. Đấy thật là một tin mừng đối với Thắng. Anh cảm thấy như thế là trong hàng ngũ trí thức, và trước hết là trong giới bác sĩ như anh, ngày càng có nhiều người tỏ ra xứng đáng với công cuộc kháng chiến của dân tộc. Nhưng Thắng cũng rời chiến khu Hòa Mỹ vối một niềm thắc mắc trong lòng. Điều thắc mắc ấy anh chỉ dám để bụng, không dám nhủ cùng ai, kể cả với Thân, là người cán bộ mà anh vẫn hết sức tin cậy. Đó là thắc mắc về cái chết của Hanh. Sau khi Hanh chết, Thắng nghe tin quân Pháp có đưa xác Hanh về Huế và tuyên truyền ầm ỹ lên là giáo sư Hanh bị bắt lên chiến khu của Việt Minh, đã bị hành hạ cực kỳ dã man và cuối cùng đã bị Việt Minh xử tử. Quân Pháp đã anh dũng tới cứu nhưng quá muộn, chỉ có thể đem xác về để cho dân chúng thấy một tội ác của bọn Việt Minh đối với một người trí thức có danh vọng mà thôi. Khi còn ở CK7, nghe tin ấy, Thắng nhận thấy ngay luận điệu tuyên truyền xảo trá của địch. Anh biết rằng Hanh chưa hề bị tra tấn, và Hanh đã chạy trốn khỏi chiến khu. Anh thầm khinh bỉ cái lối tuyên truyền dựng đứng của quân Pháp. Nhưng đồng thòi anh cũng nảy ra một mối hoài nghi: anh cho rằng có lẽ tỉnh đã cho bộ đội vào đánh đồn Phong Thái chủ yếu là vì có Hanh trốn vào đấy và Hanh chết cũng vì trận đánh ấy. Lý trí của anh cho rằng dù có là vì thế đi nữa thì việc đánh đồn Phong Thái cũng là đúng thôi, vì Hanh ở chiến khu chạy trốn, nếu không trừ đi thì thật là tai hại, Hanh có thể lộ bí mật địa điểm chiến khu cho quân Pháp biết. Nhưng tình cảm của anh vẫn bị tổn thương. Sau khi cãi nhau với Hanh, sau những cơn nóng giận, không hiểu sao anh thấy dội lên trong người một niềm thương xót Hanh rất lớn. Anh không kìm nổi cảm động khi nhớ lại thời thơ ấu của hai anh em, anh thấy thương thương cho cái thân gầy yếu, còm cõi của Hanh, cái người chỉ quanh quẩn với ấm trà Tàu và chồng sách cũ, anh lo lắng cho Phương và hai cháu Anh, Nga. Chính vì vậy mà mặc đù trước đấy anh đã từng cho rằng đi vào con đường như Hanh là con đường chết, nhưng khi nghe tin anh chết, Thắng vẫn cảm thấy bàng hoàng, đột ngột. Anh không muốn tin rằng hai anh em mà bố mẹ sinh ra, bây giờ đã mất đi một. Sau khi dịu cơn nóng giận với Hanh, chính anh vẫn hy vọng còn có dịp thuyết phục Hanh đi theo kháng chiến. Thế mà nay Hanh đã chết cái hy vọng ấy hoàn toàn không còn nữa. Thắng cảm thấy trong cái chết của Hanh, anh cũng có phần trách nhiệm vì đã quá nóng giận một cách vội vã. Có lẽ vì mình nói anh ấy là Việt gian, phản quôc mà anh ấy phẫn chí bỏ trốn đi chăng. Thắng thấy hối hận và tiếc vô cùng cho cái thái độ của mình hôm ấy. Anh đáng lẽ có thể mềm mỏng hơn để nói được lý lẽ nhiều hơn mớí phải. Nhưng trong khi tự thầm trách mình như vậy, trong tiềm thức của anh, đôi khi anh cũng nảy ra một ý nghĩ trách móc đối với kháng chiến đã đối xử hẹp hòi với Hanh. Đôi lúc anh cho rằng có lẽ kháng chiến không cần giết Hanh làm gì, vì Hanh chẳng làm gì có thể hại đến kháng chiến. Nhiều lắm là chỉ để có dịp tuyên truyền mà thôi. Nhưng cái lối tuyên truyền xảo trá của địch thì ai nghe. Thế rồi trong một phút bị lôi cuốn vào tận những đáy sâu nhất của tình anh em, tình gia đình, Thắng chợt thoáng có ý nghĩ kháng chiến hẹp hòi vối trí thức, tàn nhẫn với trí thức. Các đồng chí ấy đã không rộng lượng để cho Hanh sống và về Huế được hay sao? Quả là họ đã không hiểu được người trí thức. Nếu họ hiểu rằng để cho Hanh về Huế, có thể có dịp cách mạng lại thuyết phục được Hanh. Nhưng lý trí của Thắng vội gạt ngay ý nghĩ thầm kín đó. Anh nghĩ tới Thân người cán bộ mà anh hằng tin phục, anh nghĩ tới việc chính anh đã viết thư xin vào Đảng. Cũng có thể do một sự tình cờ mà bộ đội ta đánh vào đồn Phong Thái chăng? Dù sao, Thắng nghĩ mình cũng không có lý do gì để thắc mắc nhiều với kháng chiến. Với bản tính lạc quan, yêu đời, lòng tin của anh đối với cách mạng, với Thân đã giúp anh tạm dẹp được nỗi thắc mắc ấy ở trong lòng để làm tròn công tác chuyên môn ở bệnh viện. Anh tin chắc có ngày nỗi thắc mắc ấy sẽ được giải đáp.


Tiểu đoàn 16 hành quân theo đội hình hàng một, theo đường mòn trên núi mà di chuyển dần vào phía nam. Đầu quân đã tớí địa phận huyện Hương Trà, cuối quân vẫn còn liếc nhìn thấy dòng Ô Lâu xanh ngắt qua dãy lá cây rừng rậm rạp. Các chiến sĩ đều đã rất quen với cảnh trèo đèo lội suối này. Họ đi theo tốc độ hành quân bình thường, khoảng 30 cây số một ngày. Đại dội đi đầu cả đoàn. Đi theo sau người liên lạc dẫn đường và trinh sát là đại đội trưởng và chính trị viên, rồi tới to súng máy, vác những bộ phận súng đã tháo rời. Sau một hàng dài bộ binh chiến đấu, cứ ba người có hai súng trường và một mát, thì đến tổ súng cối 81 ly và ba- dô- ca. Đây là bộ phận nặng của tiểu đoàn. Mấy chiến sĩ phải vác trên lưng cái bệ của khẩu súng cối và những chiến sĩ vác hòm đạn súng cối oằn lưng, bước đi nhún nháy vì sức nặng đè lên vai. Tiếp đó là đoàn anh nuôi của đại đội với nồi niêu xoong chảo, thúng mủng rổ rá, gạo, sắn, muối, ruốc. Cùng đi với đám này có đồng chí y tá của đại đội với các xà cột lủng lẳng có dấu hồng thập tự đỏ chói. Sau rốt là tổ xích hầu của đại đội. Cách chừng 200 thựớc sau là tổ tiền tiêu của đại đội 2. Cứ như vậy, đoàn quân gồm 3 đại đội gồm 400 chiến sĩ chuyển mình như một con rắn dài đến gần 2 cây số và gồm có ba khúc. Tiểu đoàn trưởng Trần Hữu Xứng đi sau cùng với đại đội 3. Anh không lạ gì, cách hành quân như thế mà bị phục kích, nhất là bị địch đánh ngang lưng cắt khúc ra thì rất khó chiến đấu. Nhưng đây là dãy Trường Sơn, đây là con đường mòn ở rất sâu trong rừng rậm, đây là vương quốc của cách mạng, của kháng chiến. Không thể có tên địch nào chui lên đến tận đây mà không bị tiêu diệt ngay từ dưới chân rừng. Máy bay địch có bay hàng tháng trời cũng không thấy dấu vết của cuộc chuyển quân. Bởi vậy, tiểu đoàn có thể ung dung ngày đi đêm nghỉ. Tuy vậy, để giữ bí mật, bộ đội được lệnh không được hát, ngay cả lúc đến chỗ trú quân. Địa điểm trú quân của họ là những bản ở hẻo lánh trong rừng núi. Đi hết ngày thứ nhất thì đã đến Trò. Đây là nơi mà khi mới vỡ mặt trận, tiểu đoàn 18 đã bị đánh tan tác ở trước cửa rừng. Bây giờ thì không những ở trên núi này mà ngay cả mấy làng ở chân núi cũng là vùng căn cứ của kháng chiến. Nhưng tiểu đoàn trưởng Xứng thận trọng không cho bộ đội của mình ra đóng ở mấy làng ấy, mặc dù ở đấy có đủ nhà cửa cho bộ đội nghỉ. Anh đã được lệnh phải giữ rất bí mật cuộc chuyển quân. Anh truyền lệnh cho tiểu đoàn phải nghỉ lại ở ba cái bản nhỏ không tên, cách Trò chừng 3 cây số về phía tây, trong núi. Gọi là bản nhưng thật ra chỉ có hai, ba ngôi nhà bé nhỏ của đồng bào thiểu số. Ấy thế mà bộ đội lại được lệnh là số người được ngủ trên sàn nhà chỉ gồm một số rất ít nghĩa là những đồng chí ốm hay mất sức, các đồng chí bác sĩ, y tá, các nữ cứu thương và các anh nuôi. Bộ đội cũng không ai phản đối lệnh ấy, họ hiểu rằng nếu lên đông có thể sập nhà của đồng bào. Họ rất quen vói cảnh ngủ bờ ngủ bụi, ngủ dưới chuồng trâu, ngủ bên chồng lợn. Những người nhanh chân khéo tay thì đi lấy vài cây nứa cấy vầu, dựng vội lên một mái lều ọp ẹp, đan vài tấm lá cọ lên trên, trải vài tấm lá chuôi bên trong và thế là “cái nhà” và cái “giường” của họ hình thành. Trong khi ấy, bộ phận anh nuôi lo gạo, gánh nước, soạn bữa cơm chiều và gói cơm cho buổi sáng mai. Gọi là cơm nhưng thực tế ba phần tư là sắn. Thức ăn thì cực kỳ đơn giản. Một nồi nước cực lớn, vài lon muối và một lon ruốc đổ vào cùng với dăm bó lá chua me hái được bên bờ suối, đấy là thức ăn của họ. Những người bị mệt hay đang ốm được y tá chính thức công nhận thì được ăn cháo toàn gạo với một một phần tám bánh đường đen. Họ chia cơm theo từng tiểu đội. Bất cứ cái gì có thể dùng để lót rá cơm và chậu nước ruốc đều được họ dùng tới cả. Một cái nia đã thủng, một tấm vải bạt của một chiến binh nào đó, hay một tấm lá chuối đã rách cũng có thể biến thành cái mâm. Các chiến sĩ rút trong ba lô ra những cái bát sắt hay ca và những đôi đũa vót rất nhỏ rất gọn. Tất cả họ đều đói và đều ăn rất khỏe. Nhưng khẩu phần của họ chỉ có hạn: 2 lạng gạo và bốn lạng sắn tươi một bữa. Họ ăn như rồng hút nước, chỉ một loáng là các rá cơm đều hết nhẵn, các chậu nước ruốc đều bị dốc cạn đến giọt cuối cùng. Đấy là những giọt đầy cát mà vô phúc cho anh nào ăn bát cơm cuối cùng không thể chịu ăn nhạt được mà buộc phải chan vào. Nhưng không ai phàn nàn vể cái cách ăn uống kham khổ ấy. Họ biết rằng, chỉ mới năm ngoái đây thôi, khi mới vỡ mặt trận và những đơn vị của tiểu đoàn này còn chạy lạc ở Trò, ở Hiền Sĩ, Cổ Bi, ở Khe Me, ở tận biên giới Lào, Việt... thì ngav đến bát ăn cũng không có, gạo có rất ít mà ruốc cũng không. Họ đã từng phải chọn những cái lá rừng nào to và cứng để cuốn lại thành bát để đựng những miếng cơm hôi sặc lên mũi. Họ đã ăn cả khoai sống, ngô non chưa luộc. Họ đã phải đốt rễ tranh chấm sắn luộc thay muối. Lại còn những ngày đói hẳn vì nước suối dâng cao, không còn cách nào đi lấy gạo, lấy sắn về. Tất cả những cảnh ấy đối với họ đã trở thành quen thuộc và hầu như là dĩ nhiên cuộc sống kháng chiến là phải như vậy. Cơm xong, họ lại về khu vực đã chia cho từng tiểu đội, trải lá ra ngủ. Có người nằm ngay bên cạnh chuồng lợn, nửa đêm đã giật mình tỉnh giấc vì nghe như có tiếng lợn gí mõm vào tận bên tai. Để chống muỗi và chống mùi hôi thối, các chiến sĩ lấy những tấm chăn chiên trùm kín lấy đầu và nằm cong người như con tôm, úp thìa vào nhau cho đỡ rét.


Tất cả những cảnh ấy đập vào mắt Thắng. Anh cảm phục những chiến binh giản dị mà vĩ đại. Đúng là cảnh gối đất nằm sương như các truyện xưa đã tả. Nhưng có sống thực tế mới thấy rằng muốn kháng chiến những người dân Việt đã phải chịu đựng gian khổ biết bao…


Hai hôm sau thì toàn tiểu đoàn tới vùng giáp giới giữa hai huyện Hương Trà, Hương Thủy. Đây là nơi phân chia hai vùng bắc, nam của tỉnh. Quân Pháp đóng ở vùng này dày đặc. Suốt một dọc từ Bình Điền, La Ngoi, lên đến tận chân núi Trưòng Sơn, cứ cách 2 cây số là có một đồn, cách nửa cây sô có một tháp canh. Các làng ở vùng này phần lớn đều có tề ác. Thế mà lọt thỏm vào đó, lại có một thôn nhỏ là cơ sở của kháng chiến. Thôn Trấm nằm ngay trên con đường đất dẫn từ Bình Điền lên chân núi. Toàn thôn chỉ có khoảng một trăm nóc nhà. Tiểu đoàn 16 phải làm sao hành quân rất khéo qua các thôn ấy, băng qua con đường đất và thế là lọt vào ba huyện miền nam, tới một vùng gồm toàn đồi trọc và rừng cây thưa thớt. Tới được vùng ấy, đi chừng 5 cây số nữa là tới bờ thượng nguồn sông Hương. Theo dọc bờ sông mà đi ngược lên chừng 10 cây số nữa là tới. Kể ra thì cũng còn con đường khác, con đường mòn trên núi cao nhưng rất khó đi và phải leo sát biên giới Việt Lào. Tiểu đoàn trưởng Trần Hữu Xứng chủ trương cho toàn tiểu đoàn hành quân vào lúc tối mịt và đi cả đêm. Tất cả mọi người được lệnh không hút thuốc lá, không nói thì thầm với nhau, người nọ nối đuôi người kia đi hàng một mà băng qua đường. Đây chính là nơi hồi hộp nhất. Mặc dù ở hai bên lề đường đã đặt hai tổ trinh sát luôn luôn cảnh giới, anh em chiến sĩ vẫn nghe tim mình đập thình thịch khi băng ngang qua con đường rộng chưa đầy 4 thước ấy. Bởi vì ở chỗ mà họ băng qua chỉ cách một tháp canh của địch chưa đầy 300 thước và đó cũng là nơi khá trống, hai bên đường chỉ có vài bụi cây thấp lè tè, chỉ đủ 


để cho khoảng hai mươi người nấp là cùng. Qua được khúc đường ấy, họ phải đi trên một con đường mòn chạy vắt ngang trên đỉnh một đồi trọc dài đến 300 thước, sau đó mới tới một khu rừng cây nhỏ vuông vắn bể ngang và bề dài chừng 200 thước. Trung đội súng máy đã vượt sang trước và bố trí ngang sưòn đồi ấy, sẵn sàng nhả đạn nêu quân địch bất thình lình đánh úp tới. Ba khẩu cối 81 ly hướng nòng về phía tháp canh phía tây. Hai khâu ba- dô- ca bố trí ngay bên đường chờ xe của địch. Đây thật là đoạn đường quyết định. Qua lọt nhưng để địch phát hiện và đánh úp, dù có đánh bật chúng đi nữa, cũng vẫn là không tốt lắm.


(còn tiếp)


Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
xem thêm »