tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20814061
Lý luận phê bình văn học
02.08.2017
Hà Văn Thùy
Giải huyền thoại hay phỉ báng Tổ tiên, xúc phạm dân tộc?



Trao đổi với Tiến sỹ Chu Mộng Long, Đại học Quy Nhơn


Trên internet xuất hiện hai bài viết: 1, Giải huyền thoại thành Cổ Loa và 2, Giải huyền thoại về cội nguồn người Việt của Tiến sỹ Chu Mộng Long. Những ý tưởng chính của tác giả như sau.


Ở bài thứ nhất:


- Chẳng hạn, người ta ghép nhà Ân ở xa lơ xa lắc bên kia sông Hoàng Hà trong quan hệ với Hùng Vương ở tận nước Nam để dựng lên chuyện Thánh Gióng.


-  Vì sao phụ nữ và những người thấp bé không có vị thế nào trong anh hùng ca, theo chất vấn của F. Engels?


- Rõ ràng huyền thoại ra đời từ miệng kẻ thống trị, một thứ diễn ngôn được hợp thức hóa bởi quyền lực.


- Quay lại huyền thoại về thành Cổ Loa, tin chắc là đặc sản của xứ Giao Chỉ cổ xưa, đã được xào nấu bởi tinh thần tự tôn của thế hệ thống trị sau thời Bắc thuộc lần thứ nhất. Trong khi giương cao ngọn cờ độc lập, một điều dân gian dễ chấp nhận để lưu truyền, huyền thoại này đã hư cấu nên nhân vật Mỵ Châu để che lấp một sự thực bất lợi cho giới cầm quyền: sự mắc lừa ngu xuẩn bởi một âm mưu hơn là câu chuyện hòa hiếu thông qua một cuộc hôn nhân. Đó là, trong quan hệ giữa Bắc triều và Nam triều có cái gì na ná như các hiệp định kí kết trao đổi, mua bán mà bao bọc bên ngoài là sự hòa hiếu đầu môi chót lưỡi, thậm chí lấy cái “gen hòa hiếu” ra thề trước thần linh!


Ở bài thứ hai:


- Huyền thoại cấp cho con người bằng da bằng thịt một uy quyền tuyệt đối bằng cách khoác lên màu sắc thần quyền: 100 đứa con trai mang họ Hùng ấy thuộc nòi giống con Rồng cháu Tiên, tức mang sức mạnh vô địch của Thiên tử. Điều ấy có ý nghĩa tiêu hủy hoàn toàn những cuộc phản kháng. Đám dân sở tại từ chính cư trở thành ngụ cư, bị thống trị vĩnh viễn.


- Huyền thoại cái bọc trứng tưởng đào sâu vào cội nguồn, nhưng hóa ra là sản phẩm vong thân, bị đồng hóa và đầy mặc cảm của một dân tộc bị cưỡng hiếp.


-  Bất cứ sự hồn nhiên nào tự nó cũng biểu hiện đầy đủ sự chân thật nhất. Sự thật không có giỗ ai cả, vì tổ tiên chỉ cần ba đời trở lên đã không còn ai nhớ huống nữa là ông tổ trong mờ mịt. Ngày 10 tháng 3 chỉ là ngày hội do ai đó đặt ra (thời nhà Nguyễn, 1905?) và thành tập tục để ngợi ca quyền lực.


- Khẳng định nhanh và dứt khoát ngay từ đầu: Tổ là một ước lệ, một kiến tạo. Ước lệ này thường chỉ thấy ở một số dân tộc thích sùng bái quá khứ, lấy quá khứ đắp đổi cho hiện tại. Một khi ước lệ được hình thành lâu đời, người ta mặc nhiên đó là sự thật và không ai tra vấn, truy nguyên hoặc chứng minh, diễn giải thêm.


- Nói cách khác, Tổ là một huyền thoại được tạo ra trong một thời điểm nào đó và bởi một nhu cầu nào đó, cụ thể là nhu cầu sùng bái quá khứ, sùng bái nòi giống, sùng bái cá nhân.


- Nhưng mà này, Rồng, Tiên cũng chết hay sao mà có giỗ? Đây là chỗ huyền thoại tự nó bị mắc kẹt trong trò chơi của nó chứ không cần tra vấn thêm.


- Cứ cho cái thời hồng hoang ấy, Rồng Tiên thì phải đẻ trứng như khủng long là hợp lí đi, nhưng một trăm đứa con trai được nở ra từ một bọc đó được cho là những người Việt đầu tiên thì thật vô lí, trừ phi những người này lưỡng tính. Chẳng lẽ họ tự lấy nhau rồi sinh con đẻ cái về sau?


- Phân tâm học sẽ giải thích phức cảm Oedipus trong cái chi tiết 100 cái trứng vừa đẻ ra đã bị cha mẹ ruồng bỏ và vứt ra ngoài đồng. Và khi một trăm đứa con trai nở ra giữa đồng ruộng kia được quay về với cha mẹ, giống như Oedipus về lại thành Thebes, thì cái bầy đàn được gọi là gia đình đầu tiên ấy buộc phải tan rã và chia ly: Âu Cơ mang 50 người con lên núi, Lạc Long Quân mang 50 người con xuống biển. 50 người con trai theo Âu Cơ thành vua Hùng và các Lạc tướng, gọi là Tổ của người Việt. Trong khi 50 người con theo Lạc Long Quân về biển thì hoàn toàn vô tăm tích. Nếu không có một sự thật nào khác thì chỉ có thể giải thích bằng nguyên lí quần hôn tạp hôn nguyên thủy: những đứa con trai theo mẹ đã lấy lại mẹ mình để duy trì nòi giống. Trong thời kì quần hôn tạp hôn, người mẹ đồng thời là người vợ, sự thay thế vai trò người cha trần tục bởi những đứa con khi đã trưởng thành là một tất yếu. Lạc Long Quân và những đứa con theo cha mất tích hẳn trong huyền thoại là cả một vùng mờ ảo nhằm che giấu sự thật về cuộc tranh chấp tương tàn trong bối cảnh quần hôn tạp hôn. Kết quả, Lạc Long Quân chỉ còn tồn tại như một người cha nguyên thủy: vừa bị phế truất vừa được tôn kính; người cha trần tục chuyển thành người cha thần thánh thiêng liêng mà mỗi khi gặp nạn mẹ con Âu Cơ phải hú hồn cha phù trợ.


-  Rành rành là trong huyền thoại này nói, trước khi Lạc Long Quân và Âu Cơ đến đây lấy nhau, mảnh đất này đã từng có con người sinh sống chứ không hề là đất hoang. Huyền thoại khoe chuyện Lạc Long Quân đánh quái vật cứu dân chài, dạy dân làm nhà sàn chống thú dữ, Âu Cơ dạy dân trồng trọt, hái lượm.Vậy những người dân ấy là ai? Rõ là cả Lạc Long Quân lẫn Âu Cơ không phải là người sở tại. Lạc Long Quân gốc ở Động Đình, Hồ Nam, Âu Cơ con của Đế Lai theo đoàn quân từ tận phương Bắc tràn xuống. Đó có phải là sự thật lịch sử mà dư ảnh là những cuộc xâm lăng đã hắt bóng lên huyền thoại?


Quá sốc trước những lời lẽ kinh thiên động địa, tôi xin trao đổi lại với vị Tiến sỹ đôi điều.


1.     Giải huyền thoại để tìm lịch sử.


Huyền thoại là những câu chuyện huyền hoặc được ghi nhớ trong tâm thức cộng đồng rồi truyền qua miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác, cho tới khi được ghi thành văn bản. Như ngôi sao đã tắt mà ánh sáng vẫn truyền đi trong vũ trụ, huyền thoại là ánh xạ của những sự kiện quan trọng xảy ra trong quá khứ gửi tới mai sau. Hẳn có rất nhiều huyền thoại xuất hiện, nhưng chỉ có những gì phản ánh những sự kiện quan trong nhất mới có thể vượt thời gian tới với chúng ta.Tuy không phải là lịch sử nhưng huyền thoại nhiều khi là thông tin duy nhất hàm chứa những điều quan trọng xảy ra trong quá khứ.Chỉ là ánh xạ của quá khứ nên sẽ lầm lẫn nếu coi huyền thoại là lịch sử. Nhưng sẽ càng sai lầm hơn nếu phủ định sạch trơn huyền thoại, coi đó chỉ là dị đoan, “ma trâu thần rắn”(!) Do vậy không ít người đã giải huyền thoại để tìm ra lịch sử!


Từ nửa sau thế kỷ XIX tới thế kỷ XX, các học giả thế giới đã sử dụng ba hệ quy chiếu: 1, Cổ thư Trung Hoa; 2, Khảo cổ học và cổ nhân chủng học; 3, Ngôn ngữ học lịch sử; sau đó bổ sung phương cách thứ tư là Giải huyền thoại để khám phá lịch sử phương Đông.


 Giải huyền thoại là công việc cực khó, không chỉ cần một vốn văn hóa uyên bác, lịch lãm mà còn cần một tâm hồn nhạy cảm, giầu trí tưởng tượng, có lúc giống như kẻ ngồi thiền, như người lên đồng. Từ đó may mắn những ý tưởng lóe sáng! Suốt trong hơn một thế kỷ, các học giả đã giải mã những huyền thoại về Bàn Cổ, Toại Nhân, Phục Hy- Nữ Oa, Thần Nông Viêm Đế, Hoàng Đế, Si Vưu… Nhưng hầu như tất cả đều dẫn tới việc suy tôn Hoàng Đế cùng đề cao vai trò của Hoa Hạ trong việc khởi nguồn văn minh phương Đông.


Có lẽ linh mục triết gia Kim Định là người đề xuất ý kiến riêng trong lĩnh vực này.Trên cơ sở những dòng được ghi chép trong sách sử: “Người Việt từ Nam Thiên Sơn theo ngọn Trường Giang vào Trung Hoa trước rồi sau đó người Hoa theo sông Hoàng Hà vào chiếm đất của người Việt”, ông đã giải mã những huyền thoại phương Đông, đề xuất những ý tưởng động trời: Trên đất Trung Hoa, người Việt sáng tạo nền văn hóa nông nghiệp Việt tộc rực rỡ, là chủ nhân không chỉ của tiếng nói, chữ viết Trung Hoa mà còn là người sáng tạo ra Âm Dương, Ngũ Hành, Dịch lý… Nếu nhiều người khác cho rằng chuyện bà Khương Nguyên, vợ Đế Khốc nuốt trứng chim huyền điểu sinh ra tổ nhà Thương, hay mẹ cậu bé làng Gióng dẫm phải vết chân khổng lồ rồi mang thai… là chuyện dị đoan nhảm nhí thì ông nhìn ra đó là di ảnh của lối sống quần hôn, dã hợp của người Việt xưa… Tuy nhiên Kim Định không được ủng hộ, các học giả người Việt phản bác ông dữ dội suốt nửa thế kỷ.


            Cho đến cuối thế kỷ XX, từ bốn hệ quy chiếu trên, dòng chính của cuốn sử phương Đông được viết là: Con người từ phía Tây Bắc tiến vào Nam Hoàng Hà, lập vương triều Hoàng Đế cùng văn minh Hoa Hạ. Sau đó người Hoa Hạ mang văn minh của mình khai hóa các dân tộc man di phương Đông. Với lịch sử Việt Nam thì Đông phương học của Viện Viễn Đông Bác cổ kết luận: “Ban đầu, trên đất Việt có người Melanesien sinh sống. Khoảng 2000 năm TCN, do người Arien xâm lăng Ấn Độ, người Indonesien từ đất Ấn tràn sang Đông Dương, chiếm chỗ của người bản địa. Nhưng rồi khoảng năm 333 TCN, do nước Sở diệt nước Việt, con cháu của Việt Vương Câu Tiễn tràn xuống Việt Nam, chiếm chỗ của người Indonesien, trở thành người Việt hiện nay…” [1]


Tuy nhiên thật đáng thất vọng là cuốn sử mà chúng ta phải học suốt gần một trăm năm đã phá sản vì đưa ra bức tranh hoàn toàn trái ngược với thực tế.


II.            Khám phá lịch sử soi sáng huyền thoại


Từ đầu thế kỷ mới, công nghệ di truyền cùng những phát hiện khảo cổ học cho thấy: 70.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi theoven biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Tại đây, những dòng người tiền sử hòa huyết, sinh ra người Việt cổthuộc loại hình Australoid. Sau hai, ba vạn năm sống trên đất Việt, người Việt tỏa ra các đảo Thái Bình Dương, sang Ấn Độ rồi chiếm lĩnh Hoa lục. Tại di chỉ Động Người Tiên tỉnh Quảng Tây, 20.000 năm trước, người Việt sáng chế đồ gốm đầu tiên và 12.400 năm cách nay thuần hóa thành công lúa nước [2]. Tại văn hóa trồng kê Ngưỡng Thiều 7.000 năm trước, do tiếp xúc với người Mongoloid phương Bắc (cũng từ Việt Nam đi lên), chủng người Mongoloid phương Nam ra đời, tăng nhanh nhân số, tiến tới chiếm lĩnh phần lớn lưu vực Hoàng Hà [3].Đó chính là người Việt hiện đại, xây dựng nên trung tâm kinh tế văn hóa lớn vùng Thái Sơn và đồng bằng Trong Nguồn. Khoảng 5.300 năm trước, người Việt xây dựng nhà nước đầu tiên ở phương Đông với kinh đô Lương Chử vùng Thái Hồ tỉnh Chiết Giang.[3]


Khoảng năm 2698 TCN, người du mục Mông Cổ vượt sông, đánh vào Trác  Lộc, chiếm đất của người Việt ở Nam Hoàng Hà, lập vương triều Hoàng Đế. Do cuộc xâm lăng này và chiến sự liên miên tiếp theo, người Việt từ vùng Núi Thái- Trong Nguồn di cư về phía Nam, qua đồng bằng sông Dương Tử, tới Việt Nam và các vùng đất Đông Nam Á. Trong thời gian kéo dài từ 2700 đến 2000 năm TCN, người Việt chủng Mongoloid phương Nam trong đoàn di cư hòa huyết với người Việt chủng Ausraloid tại Việt Nam và Đông Nam Á, sinh ra người Mongoloid phương Nam Đông Nam Á, là tổ tiên ngườiViệt Nam và Đông Nam Á hiện nay. Hiện tượng này được nhân học gọi là quá trình Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á.[4]


Như vậy, cùng với toàn bộ dân cư Đông Á, người Việt được hình thành qua hai thời kỳ: suốt thời Đồ Đá là người Australoid nhưng tới thời Kim khí, chuyển sang chủng Mongoloid phương Nam. [5]


70.000 năm là thời gian quá dài nên người Lạc Việt không thể nhớ được gốc gác châu Phi của mình với mã di truyền Australoid.Cũng không thể nhớ cuộc hành trình của tổ tiên lên chiếm lĩnh Hoa lục từ 40.000 năm trước.Ký ức cộng đồng chỉ có thể nhờ huyền thoại ghi nhớ Tổ Toại Nhân, làm ra lửa thuở hồng hoang, Tổ Phục Hy- Nữ Oa làm Dịch khoảng hơn 4000 năm TCN, Tổ Thần Nông “giáo dân nghệ ngũ cốc” hơn 3000 năm TCN, tới Đế Minh vẫn mang mã di truyền Australoid.


Có lẽ thời của Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân là khi mà nguồn gen Mongoloid lan tới đồng bằng Thái Hồ, tạo nên chủng người Lạc Việt mới với mã di truyền Mongoloid phương Nam. Đó là thời điểm linh thiêng khi Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng để nở ra trăm con trai… Nay nhờ đọc cuốn thiên thư ADN ghi trong máu huyết chúng ta từ tổ tiên truyền lại, khoa học nhân loại giúp ta nhận ra sự thật này! [6]


            Sau 80 năm khai quật và khảo cứu văn hóa Lương Chử vùng Thái Hồ Hàng Châu tỉnh Chiết Giang (1936- 2016), học giả Trung Quốc phát hiện: “Có nhà nước cổ đại sớm nhất ở phương Đông, tồn tại từ 5300 tới 4300 năm trước, sớm hơn nhà Thương hơn 1000 năm mà kinh đô là Lương Chử còn diện tích trải rộng khắp lưu vực Dương Tử. Chủ nhân của nhà nước Lương Chử là người Lạc Việt, được gọi là Vũ nhân hay Vũ dân, có vật thờ, được gọi là thao thiết với biểu tượng “nhân hình thú diện” (hình người mặt thú). Nhà nước như vậy chưa từng được ghi chép trong sách sử. So sánh nhà nước Lương Chử được khám phá qua khảo cổ với nhà nước Xích Quỷ huyền thoại, ta thấy có sự tương đồng về thời điểm, về ranh giới, về chủ nhân…[7]


Từ những phát hiện trên, ta nhận ra Kim Định là thiên tài vượt thời gian.Ông nói những điều mà phải 50 năm sau khoa học mới phát hiện được. Cũng từ những khám phá mới của khoa học, có thể giải mã những huyền thoại phương Đông như sau:


1.     Nhà nước Lương Chử chính là nhà nước Xích Quỷ truyền thuyết được ánh xạ trong ký ức cộng đồng người Việt từ Nam Dương Tử tới Việt Nam.Thời điểm năm 2879 TCN, Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ phù hợp với thực tế tồn tại của Lương Chử.


2.     Chi tiết “Đế Lai làm vua phương bắc” cho thấy, ở thời điểm đó (năm 2879 TCN) vương quốc Hoàng Đế chưa ra đời nên người Việt là chủ nhân duy nhất của phương Đông. Vương triều Đế Lai ở lưu vực Hoàng Hà cũng là người Việt.


3.     Dựa vào tài liệu khảo cổ Lương Chử phát hiện, năm 2300 TCN, nước biển dâng, kinh đô Lương Chử bị chìm, người từ đây di tản đi khắp nơi. Nhóm có mã di truyền M122 (Indonesian) ở lại đất liền còn nhóm M119 (Melanesian) di tản sang Đài Loan rồi ra các đảo ngoài khơi Thái Bình Dương thành người Polynesian. Từ đó ta có thể suy luận: 50 con trai theo Mẹ lên núi là bộ phận những người chiếm lĩnh lục địa Đông Nam Á; 50 con trai theo Cha xuống biển là bộ phận di tản ra các đảo ngoài khơi. Một bào thai duy nhất -  đồng bào là biểu tượng nói rằng, tất cả những con người đó cùng một mẹ, là một tộc, không chỉ của Việt Nam mà của toàn Đông Nam Á! [8]


4.     Những hình khắc trên ngọc và gốm cho thấy người Lương Chử được gọi là Vũ nhân hay Vũ dân rồi vật thờ thao thiết khắc hình thần nhân thú diện cho thấy người Lạc Việt ở Lương Chử tự gọi mình là Hồng Bàng thị với vật tổ Tiên Rồng.


5.     Câu ca Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa Mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra cho thấy rằng, người Việt hiện đại (Mongoloid phương Nam) từ vùng Trong Nguồn- Thái Sơn trở lại đất Việt, hòa huyết với đồng bào tại chỗ sinh ra dân Việt Nam chúng ta. Câu ca cũng tinh tế ghi lại sự thật: Sông Nguồn, nay là Hán Thủy, con sông dài 1500 km bắt đẩu từ Thiểm Tây rồi đổ ra Dương Tử tại Vũ Hán không nhận nước từ tuyết tan của Tây Tạng mà nhận nước mạch từ đất của Bàn Trủng Sơn!


6.     Về huyền thoại Thánh Gióng, có thể giải thích như sau: không hề có chuyện nhà Ân kéo quân tới đánh các vua Hùng. Nhưng có sự kiện, năm 1300 TCN, vua Bàn Canh nhà Thương đánh chiếm đất An Dương của người Dương Việt ở Hà Nam (một quốc gia độc lập của người Việt,  luôn chống lại triều đình Hoàng Đế), lập nhà Ân. Do cuộc xâm lăng này và sự lấn chiếm ác liệt sau đó, người Việt ở đây di tản tiếp xuống phương Nam. Khoảng 500 năm TCN, con cháu những người di cư này tới vùng Bắc Ninh ngày nay. Nhớ đất cũ và cuộc chiến ác liệt, dân gian đã thể hiện tinh thần quật cường của cha ông qua hình tượng cậu bé làng Gióng. Có thể, các chi tiết được ghép cho phù hợp với địa danh tại chỗ, còn tên kẻ thù thì không thay đổi, vẫn là giặc Ân. Huyền thoại cũng cho thấy, lúc này sắt ra đời và giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống.


7.     Về huyền thoại Mỵ Châu- Trọng Thủy, người xưa cho rằng, An Dương Vương vốn là giặc nước Thục chiếm đất Vua Hùng. Nhưng có tài lãnh đạo, làm lợi cho dân nên dân tuân phục, coi là triều đại chính thống. Chiến thắng của Triệu Đà trước một triều đại đã suy tàn, lập triều đại mới là điều tốt đẹp cho người Việt nhưng là sự hy sinh của cặp trai gái. Huyền thoại đề cập tính bi kịch của mối tình này. Do vậy ở đoạn kết mới nói: “Những con trai ăn phải máu Mỵ Châu thì sinh ngọc. Ngọc đó đem rửa bằng nước giếng Trọng Thủy trầm mình thì trở nên tuyệt vời trong sáng”. Tính minh triết và nhân bản của người kể chuyện làm nên giá trị nhân văn lớn của truyền thuyết. Nếu hiểu đó chỉ là một lời răn về cảnh giác là sẽ tầm thường hóa câu chuyện. Câu chuyện của người Choang: “Trọng Thủy là con vua Tần đi chinh phục Bách Việt,” phản ánh cách nhìn chân phác của một bộ phận người Lạc Việt, dân cư cũ của Nam Việt, cho thấy Trọng Thủy là nhân vật có thật.


III   Về ý kiến của Tiến sỹ chu Mộng Long.


Qua hai bài viết cho thấy, do kiến văn hạn hẹp lại chủ quan, ông Chu Mộng Long phạm hàng loạt sai lầm.


1. Trước hết là sai lầm trong phương pháp luận ở chỗ ông dẫn Engels cho luận điểm của mình. Ông không biết rằng, trong thời của Engels, tư tưởng chủ đạo của lịch sử phương Tây là quan niệm Âu trung:Văn minh nhân loại từ Hy- La vào châu Âu rồi lan tỏa ra thế giới, tạo ra mô hình văn hóa duy nhất của nhân loại. Thời của mình, Engels không hề biết rằng, trong đại hồng thủy xảy ra 7500 năm trước, người Đông Nam Á di tản trên những con thuyền đem theo giống cây trồng, vật nuôi và tư tưởng về nông nghiệp tới thúc đẩy phát triển nông nghiệp ở Trung Đông [9]. Vùng đất Hy- La vốn là giang sơn của những bộ tộc mẫu hệ từ Trung Đông tới, làm nên nền văn minh nông nghiệp rực rỡ.Sau đó người du mục phụ hệ chiếm vùng đất này, dựng những quốc gia phụ quyền. Những nữ thần được thay thế bằng nam thần, phu nữ bị đàn áp. Do vậy huyền thoại phương Tây không hề có nhân vật nữ. Trong khi đó, dân cư nông nghiệp phương Đông duy trì mẫu hệ lâu dài. Huyền thoại Nữ Oa luyện đá vá trời là biểu trưng vĩ đại của vai trò Người Mẹ. Tiếp đó Âu Cơ- Mẹ nhân loại. Không chỉ vậy, trong thực tế Việt Nam, vai trò phụ nữ càng lớn lao hơn, với những anh hùng giải phóng dân tộc đầu tiên… Hơn 150 năm trước, Engels đã sai, nay có chàng trai trẻ chủ quan lại dẫm vào vết sai lầm của ông, thật buồn!


2. Phải chăng “huyền thoại do kẻ thống trị bày đặt ra để duy trì vị trí của mình”? Ở đâu tôi không rõ, nhưng những huyền thoại Việt mà ta đang đề cập không hề là sản phẩm của kẻ thống trị nào! Sau Bắc thuộc lần thứ nhất, nghĩa là hơn 1000 năm sau sự kiện Cổ Loa, Trong Thủy-  Mỵ Châu không hề có trong sách sử. Nếu không được ghi lại trong ký ức cộng đồng thì mọi thứ đã rơi vào quên lãng, chẳng tài thánh nào hư cấu được câu chuyện như vậy. Thêm nữa, nếu là sản phẩm cá nhân, loại văn nô cho tầng lớp thống trị, với ý răn dạy bài học cảnh giác thì không ai có đủ lòng nhân cùng sự minh triết tạo ra cái kết tuyệt vời của câu chuyện. Chỉ có thể là, những câu chuyện như vậy từ lâu đã lưu truyền trong dân gian đề rồi vào thời Trần, được ghi thành Việt điện u linhLĩnh Nam chích quái!


3. Thưa ông Chu Mộng Long, ông đã uốn lưỡi mấy lần khi nói: “Sự thật không có giỗ ai cả, vì tổ tiên chỉ cần ba đời trở lên đã không còn ai nhớ huống nữa là ông tổ trong mờ mịt”. Không thể nào ngờ rằng, một vị tiến sỹ khoa học xã hội nhân văn lại hiểu biết nông cạn và nói năng khinh xuất đến thế!


4. Không chỉ vậy, nhân danh khoa học “giải huyền thoại” nhưng do không am tường lịch sử, lẫn lộn lung tung gốc ngọn, ta địch, tác giả dùng những lời quá khích phủ định sạch trơn những truyền thuyết làm nên rường cột của giống nòi, không chỉ phỉ báng tổ tiên mà còn xúc phạm dân tộc. “Huyền thoại cái bọc trứng tưởng đào sâu vào cội nguồn, nhưng hóa ra là sản phẩm vong thân, bị đồng hóa và đầy mặc cảm của một dân tộc bị cưỡng hiếp”. Lời đại ngôn nghe mà phát khiếp! Xin hỏi ông: có chuyện cưỡng hiếp nào ở đây? Rõ ràng ông lầm cuộc chuyển hóa di truyền 4500 năm trước với cuộc xâm lăng của người Hán! Do kiến văn hạn hẹp, ông không biết được rằng, 40.000 năm trước, người Lạc Việt đi lên khai phá Hoa lục. Sau thời gian dài xây dựng nền văn minh kỳ vĩ trên đất Trung Hoa, do hoàn cảnh lịch sử, người Lạc Việt chủng Australoid nhận nguồn gen mới, chuyển hóa thành Mongoloid phương Nam trên giang sơn Núi Thái- Trong Nguồn rồi trở về đất tổ, truyền dòng máu cùng sức sống cho đồng bào. Đây là sự chuyển hóa hòa bình mà cụ thể là tại di chỉ Mán Bạc tỉnh Ninh Bình, phát hiện nghĩa trang hơn 2000 năm TCN có 30 thi hài người Australoid và Mongoloid phương Nam được chôn chung. Các nhà khảo cổ và nhân chủng cho rằng, đã có thời gian dài chung sống giữa hai chủng người và tới đây, sự chuyển hóa dân Việt sang Mongoloid phương Nam đã hoàn tất.


Ai đó đã từng nói: “Tưởng tượng, bản thân nó chỉ tạo ra những quái vật”! Đúng là quái vật khi do dốt nát lịch sử, người ta xuyên tạc bước chuyển tuyệt vời của dân tộc từ người Việt cổ Australoid sang người Việt hiện đại Mongoloid phương Nam thành ra chuyện: dân tộc bị cưỡng hiếp?!


Trước đây, trong lần tranh biện với Giáo sư Keith Taylor, khi sử gia người Mỹ cho rằng “Người Cộng sản Việt Nam cố bám lấy huyền thoại họ Hồng Bàng để duy trì vai trò chính thống của họ”, tôi nói: “Người Cộng sản Việt Nam có những sai lầm. Nhưng trong vấn đề này họ hoàn toàn đúng vì họ mang trái tim và dòng máu Việt Nam trong đó âm thầm mách bảo rằng họ là con cháu của dòng dõi Tiên Rồng”. Những sự kiện được khám phá đầu thế kỷ mới đã minh chứng cho sự tự tin đúng đắn này.


Không biết có phải ở tuổi cổ lai hy nên nhiễm thói “tiên thiên hạ chi ưu” không, nhưng tôi thực sự lo lắng trước hiện tượng một số người trẻ, có bằng cấp nhưng kiến văn không những nông cạn mà còn lệch lạc.Họ dựa vào bằng cấp, vào thầy vào sách Tây để đưa ra những phát ngôn không chỉ phản khoa học mà còn báng bổ tổ tiên, xúc phạm dân tộc. Lứa chúng tôi gần đất xa trời rồi, đất nước giao cho những người trẻ như vậy thật là hiểm họa!


 


Ngày giỗ Tổ năm 2017


HVT.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


______


Tài liệu tham khảo


1.     Đào Duy Anh. Lịch sử cố đại Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin, 2005.


2.     Xianrendong http://archaeology.about.com/od/xterms/qt/Xianrendong.htm


3.     良渚文化_动百科  www.baike.com/wiki/良渚文化


4.     Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB ĐH&TNCN,H. 1983.


5.     Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB ĐH&THCN, H. 1983


6.     Liangzhu culture http://en.wikipedia.org/wiki/Liangzhu_culture


7.     Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội Nhà văn. H, 2016.


8.     Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội Nhà văn. H, 2016.


9.     Stephen Oppenheimer. Địa đàng ở phương Đông- Lục địa Đông Nam Á bị chìm. NXB Lao Động, 2004.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
xem thêm »