tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20232572
Tiểu thuyết
20.07.2017
TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz
Thầy lang


  - Và còn thêm điều này nữa! Qua kinh nghiệm tôi biết rằng bọn tội phạm thường không kiên nhẫn được lâu. Tên nào cũng muốn vớ ngay lấy cái đã kích động hắn phạm tội. Và bao giờ hắn cũng chọn chiến thuật quanh quẩn ngay trước mũi cảnh sát. Hắn cảm thấy yên tâm khi trưng ra sự hiện diện của mình hơn là khi nấp vào bóng tối, điều dễ khiến người ta nghi ngờ hắn nhiều hơn.

- Đúng thế.


- Đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi còn thấy một lời giải đáp nữa. Khả năng ngộ sát. Ta hãy giả sử rằng giáo sư tìm ra được hai người kia và trong khi đụng độ ông bị giết chết. Trong trường hợp ấy, chúng ta lại cần phải lưu ý rằng giáo sư là một lực sĩ, hơn nữa trên quần áo ông không hề có vết của máu đã bị tẩy đi. Mà thật khó lòng chấp nhận giả thuyết rằng anh chàng trẻ tuổi gầy gò và khá yếu ớt kia lại có khả năng giết nổi một con người to lớn chừng ấy, mà không cần dùng vũ khí. Chính vì vậy tôi không muốn cố công tìm bắt hai người bọn họ.


Ngài chủ tịch tán đồng.


- Cũng có thể tốt hơn... - viên thanh tra thừa nhận. Vả chăng ông ta cũng chẳng thể nói gì hơn, bởi cho đến nay cảnh sát chưa tìm ra dấu vết gì, dù là nhỏ nhất của bà Beata Wilczur, cùng đứa con gái và người thanh niên không rõ họ tên nọ.


Nhiều tháng trôi qua, và trong cái đu quay tít là đời sống của mỗi đô thị lớn, người ta dần dần quên đi giáo sư Wilczur cùng sự mất tích đầy bí ẩn của ông. Hồ sơ điều tra trong các tủ của cơ quan hình sự dần dần bị bụi phủ. Sau đó, chồng chất lên nó là hàng đống những vụ việc tiếp theo. Rồi một năm sau, người ta buộc chúng thành bó, mang vào kho lưu trữ.


Theo đúng luật, để xử lý tài sản của kẻ khiếm diện, tòa án bổ nhiệm người ủy quyền quản lý, và luật sư Szręk, kẻ được giao phó trách nhiệm ấy, không có lý do gì để than phiền. Tiền thù lao không ngớt chảy về, còn công việc thì chẳng có gì nhiều nhặn. Ông ta cho thuê cái vila ở đại lộ Tử Đinh Hương, tiền vốn thì đầu tư vào các hối phiếu; quyền lãnh đạo bệnh viện ông trao vào tay tiến sĩ Dobraniecki, một người rất có tài, hoàn toàn đáng tin, người cộng sự thân tín nhất của vị giáo sư bị mất tích.


Vả chăng trong bệnh viện tất cả mọi việc đều trôi y hệt như ngày trước, theo nhịp điệu được chính giáo sư Wilczur thiết lập. Trong vòng mấy tháng trời, người ta đã hoàn thành một tòa nhà mới, và lưu lượng bệnh nhân - sau một thời gian bị giảm đi đáng kể - lại quay trở về với mức cũ. Những thay đổi do tiến sĩ  Dobraniecki tiến hành chỉ là những chuyện vặt vãnh. Có điều người ta đã xóa bỏ các giường miễn phí vẫn dành cho trẻ em nhà nghèo, và có vài người trong số nhân viên từ chức, điều mà thực ra cũng không có hại gì đối với bệnh viện. Đầu tiên, bác sĩ tập sự Skurzen đệ đơn thôi việc, sau một cuộc cãi cọ không mấy dễ chịu với sếp về chuyện những đứa trẻ kia, tiếp đó người ta cho thôi việc ông kế toán Michalak và cô thư kí Janowiczówna, người đã sửng cồ lên và tự ý can thiệp vào các quy định của tiến sĩ Dobraniecki, ngoài ra cô còn khiến ông bực mình vì cách cư xử thiếu phần kính trọng đối với ông.


Cách cư xử của cô càng gai mắt ông hơn, vì lẽ vị tân giáo sư nói chung hơi nặng tay siết chặt kỷ cương trong bệnh viện, nơi mà từ trước tới nay vẫn có một bầu không khí quá gia đình. Đồng thời, địa vị cá nhân của ông - không chỉ trong bệnh viện mà ông cai quản - cũng được nâng lên một cách đáng kể. Cuộc bầu cử mới trong Hội Giải Phẫu đã mang lại cho ông danh hiệu chủ tịch, và một năm sau, ông được giao chức chủ nhiệm khoa của người bị mất tích, với học hàm giáo sư. Vốn là một bác sĩ có tài, một người cứng rắn, ông vươn một cách chậm chạp tới vinh quang, và sự giàu có.


Nhiều năm qua đi cái tên gọi “Bệnh viện Giáo sư Wilczur” càng ngày càng trở nên không hợp vì thiếu cơ sở. Vì vậy, cũng không ai ngạc nhiên khi rốt cuộc, được sự đồng ý của người được ủy quyền quản lý tài sản, người ta thay nó bằng cái tên “Bệnh viện mang tên Giáo sư Tiến sĩ Wilczur”. Nhân dịp này đã xuất hiện một bản tiểu sử do giáo sư tiến sĩ K. Dobraniecki viết, nhan đề “Giáo sư Raphał Wilczur - nhà giải phẫu thiên tài”.


Công trình ấy kết thúc bằng những lời sau đây:


“Bày tỏ lòng tiếc nhớ không thể bù đắp nổi đối với một Con Người tốt đẹp nhất, Người Thầy thông tuệ và Nhà Khoa học vĩ đại, giới y học Ba Lan khoác chiếc áo tang sau việc mất tích đầy đau xót của ông, sự việc mà tiếc thay sẽ mãi mãi còn bị bao phủ trong bóng tối của một điều bí ẩn đau lòng”.


 


III.


Viên đồn trưởng cảnh sát ở Chotymowa, Wiktor Kania, ngồi vô công rồi nghề bên chiếc bàn làm việc phủ giấy màu xanh lục sạch sẽ, chốc chốc lại ngáp dài, và đưa mắt nhìn qua cửa sổ. Đồn cảnh sát nằm trong ngôi nhà cuối cùng ở rìa thị trấn, từ cửa sổ nhìn bao quát cả một khung cảnh rộng bao la những cánh đồng xanh mướt, với bờ hồ nơi người ta đang phơi lưới, một dải rừng đen sẫm mờ xa, nơi làn khói lơ đang nhẹ nhàng bay lên từ chiếc ống khói của xưởng cưa Hasfender, và con đường dẫn tới xưởng cưa ấy, trên đó cảnh sát viên Sobczak, người phó của Kania, đang đi cùng một người rậm râu, cao gầy nào đó.


Sobczak dang rộng chân, mỗi bước đi lại lắc lư như con vịt về cả hai phía, cắp dưới nách một tấm gỗ dán lớn. Người đàn ông râu ria rậm rạp kia chắc là một công nhân xưởng cưa, mà là thợ mới. Đồn trưởng Kania mới thấy ông lần đầu, mặc dù quen biết tất cả mọi người ở Chotymowa và vùng lân cận trong vòng bán kính mười cây số. Hơn nữa, việc Sobczak phải đích thân mang tấm gỗ dán cũng là một điều đáng suy nghĩ. Rõ ràng anh ta không coi việc sử dụng sự giúp đỡ của người đồng hành là chuyện nên làm, điều đó có nghĩa người này có chuyện gì không ổn: ông ta đi cùng với Sobczak không phải vì tự nguyện.


***


Người ta đưa tới đồn cảnh sát ở Chotymowa đủ mọi hạng người. Vì tội choảng nhau ở các làng, vì tội ăn cắp vặt trong rừng, ngoài đồng, vì tội săn bắn trái phép. Thỉnh thoảng cũng tóm được một con cá lớn, một tên kẻ cướp hay một tên biển thủ công quỹ đang tránh mọi con đường lớn, cố tìm những nẻo đường tắt để chuồn tới biên giới nước Đức.


Song người đàn ông rậm râu bị Sobczak dẫn đi mặc dù có tầm vóc to cao, hình như không khiến cho người cảnh sát phải lo lắng gì thì phải, và chắc chỉ là một chuyện vặt vãnh gì mà thôi.


Lát sau cửa mở ra, cả hai bước vào. Người đàn ông rậm râu ngả mũ, đứng cạnh cửa. Sobczak đưa tay chào rồi báo cáo:


- Người này đến xin việc ở xưởng cưa Hasfender. Họ thuê ông ta làm, nhưng hóa ra ông ta không có một thứ giấy tờ nào, cũng không biết mình tên là gì, quê quán ở đâu.


- Để xem - đồn trưởng lầu bầu, vẫy tay ra hiệu cho người rậm râu.


- Ông có giấy tờ gì không?


- Thưa, không có.


- Sobczak, xét người xem.


Viên cảnh sát cởi khuy chiếc áo ngắn đã sờn cũ, lục hết cái túi, rồi đặt trước mặt đồn trưởng tất cả những gì tìm thấy: một chiếc dao díp nhỏ, rẻ tiền, vài mươi xu, một đoạn dây nhỏ, hai chiếc khuy và một chiếc thìa sắt tây. Ông ta mò cả trong ống giày của ông, nhưng không có gì trong đó.


- Ông ở đâu tới đây hả? Hả? - Viên đồn trưởng hỏi.


- Tôi từ Trumka tới, từ huyện Surski.


- Từ Trumka? Đến đây làm gì?


- Tìm việc ạ. Ở Trumka tôi làm tại xưởng cưa. Xưởng đóng cửa. Người ta bảo rằng ở đây, ở Khotymowa này, tôi sẽ kiếm được việc làm và bánh mì.


- Thế chủ xưởng cưa ở Trumka tên là gì?


- Fibik.


- Ông làm tại đó có lâu không?


- Dạ, nửa năm.


- Thế ông quê ở huyện Surski à?


Người đàn ông rậm râu nhún vai.


- Tôi không biết ạ. Tôi không nhớ.


Viên đội cảnh sát nhìn ông dữ tợn.


- Này! Này! Đừng có mà làm tôi nổi cáu nhé! Ông biết viết không?


- Có ạ.


- Thế ông học ở đâu?


- Tôi không biết.


- Họ tên ông là gì? - Kania nổi cáu hét lên.


Người rậm râu nín lặng.


- Ông điếc hả?


- Không, thưa ông đồn trưởng, xin ông đừng giận tôi. Tôi có làm gì đâu cơ chứ.


- Nào, thế ông nói thật xem nào!


- Tôi nói thật đấy ạ. Tôi không biết tên tôi là gì. Mà cũng có thể tôi hoàn toàn không có tên họ. Ai cũng hỏi tôi điều đó, nhưng tôi không biết thật.


- Thế sao? Chưa khi nào ông có giấy tờ à?


- Chưa ạ.


- Thế làm sao người ta dám nhận ông vào làm? Không có giấy tờ à?


- Ở thành phố người ta cũng đòi giấy tờ và không muốn nhận vào làm. Nhưng ở nông thôn chẳng phải ai cũng coi trọng việc đó. Người ta cứ gọi cách nào tiện thì thôi. Ở đấy, trong xưởng cưa, tôi khai cái tên mà người ta gọi tôi tại Trumka: Jósep Broda. Nhưng tôi đã thưa với ông đồn trưởng rồi đấy, đó chỉ là biệt hiệu mà thôi. Tôi chẳng làm việc gì xấu cả, lương tâm tôi trong sạch mà.


- Rồi xem.


- Ông đồn trưởng có thể viết thư hỏi những nơi tôi đã làm. Tôi chưa từng ăn cắp gì của ai hết.


Viên đồn trưởng suy nghĩ. Trong đời hoạt động của mình, y đã từng đụng chạm với đủ mọi loại người khác nhau cố tình che giấu tên họ của mình, nhưng dẫu sao bao giờ chúng cũng khai một cái tên bịa nào đó. Còn người này lại cứ khăng khăng bảo rằng chưa có tên họ bao giờ.


- Thế gia đình ông ở đâu?


- Tôi không biết. Tôi không có gia đình - người rậm râu nói vẻ buông xuôi.


- Ông đã bị kết án bao giờ chưa?


- Rồi ạ.


Viên đội trưởng tròn mắt.


- Ở đâu?


- Năm ngoái ở Radom, còn ba năm về trước thì ở Bydgoszcz. Một bận bị một tháng tù, bận thì hai tuần.


- Vì tội gì?


- Tội đi lang thang. Nhưng không công bằng đâu ạ. Thế hễ cứ ai đi tìm việc đều là kẻ du đãng cả hay sao? Thực ra, vì tôi không có giấy tờ. Tôi đã đi xin tòa, xin cảnh sát, xin trại giam cấp cho tôi một thứ giấy tờ gì đó. Nhưng họ không muốn. Họ cứ bảo rằng không có luật lệ nào cho phép thế. Vậy thì tôi biết làm thế nào?


Ông ta hắng giọng và chìa tay ra:


- Xin ông đồn trưởng hãy thả tôi ra. Tôi chẳng làm điều gì xấu với ai cả.


- Thả à? Quy định không cho phép. Tôi sẽ gửi ông lên huyện, rồi họ muốn làm gì thì làm. Ông cứ ngồi chờ đấy đã. Tôi còn phải làm biên bản.


Y rút trong ngăn kéo tờ giấy và bắt đầu viết. Y suy nghĩ mãi, vì chuyện thiếu họ tên và sinh quán của kẻ bị giữ làm hỏng cả trình tự biên bản. Rốt cuộc y cũng viết xong và đưa mắt nhìn người đàn ông rậm râu. Bộ râu cằm nhọn và mái tóc chứng tỏ ông ta chừng năm mươi tuổi. Ông ngồi bất động, nhìn dán mắt vào tường, vẻ gầy guộc đến mức kinh hoàng của ông cùng hai bên má hõm sâu vào khiến ông giống như một bộ xương. Riêng đôi bàn tay to tướng, dạn dày vì công việc, cứ thực hiện liên tục một cử chỉ nóng nảy lạ lùng nào đó.


- Ông ngủ đêm ở đây đã, Kania bảo - sáng mai tôi sẽ gửi ông lên huyện.


Y đứng dậy và nói thêm:


- Ở đó họ cũng chẳng làm gì ông đâu. Cùng lắm, ông sẽ phải ngồi tù vì tội lang thang, rồi người ta sẽ thả ra thôi.


- Nếu không có cách nào khác, thì còn biết làm sao ạ - người đàn ông rậm râu lầm bầm.


- Bây giờ ông lại đây.


Y mở cửa một xà lim nhỏ bé có chiếc cửa sổ chấn song sắt. Trên sàn có một chiếc đệm nằm nhồi đầy rơm. Cửa làm bằng những phiến gỗ dày.


Khi cánh cửa dã đóng lại, người đàn ông ngả người xuống nệm. Ông bắt đầu nghĩ mông lung. Cả viên đồn trưởng lẫn người cảnh sát thứ hai kia đều không phải là kẻ xấu bụng, ấy vậy mà pháp luật buộc họ phải trở thành kẻ xấu. Tại sao họ lại tước mất tự do của ông, tại sao họ nhìn ông cứ như nhìn một tên tội phạm? Nhất thiết phải có giấy tờ và một cái tên nào đó hay sao? Phải chăng cái việc đó khiến con người hoàn toàn đổi khác?


Người ta đã giải thích cho ông biết bao lần rằng một con người không thể nào không có tên họ. Và cuối cùng ông buộc lòng phải thừa nhận rằng là họ đúng. Nhưng ông sợ phải nghĩ đến điều đó. Mỗi khi ông bắt đầu nghĩ, tự nhiên ông có những cảm giác hết sức lạ lùng: dường như ông quên mất một điều gì đó vô cùng quan trọng. Và đột nhiên những ý nghĩ bị một nỗi lo lắng nóng bỏng chế ngự chạy hỗn loạn về mọi hướng cuộn thành một mớ rối tung rối mù, giằng xé một cách tuyệt vọng, giống như một con vật đột nhiên bị một nỗi sợ hoang dã nào đó đe dọa vậy. Chúng quay cuồng mỗi lúc một nhanh hơn, vô nghĩa, vô mục đích, để rồi sau đó chúng rời rã ra thành từng mảnh, thành những tấm rách bươm kỳ dị, giống như những quái vật không ra hình thù gì, không chút nội dung gì cả, mà vẫn sống động, chúng phồng trương lên thành một cuộn bông khổng lồ choán hết cả sọ não.


Trong những giây phút như thế ông lại cảm thấy một cơn hoảng loạn kinh khủng vô chừng. Ông ngỡ mình như sắp hóa điên, sắp loạn óc đến nơi rồi, trước cơn thảm họa đang tiến lại gần ông là một kẻ bất lực, vô vọng và sẽ chết mất xác. Bởi lẽ trong cái hỗn loạn kinh khủng kia không một giây nào ông không tỉnh táo. Đâu đó bên trong bộ não, hình như có một dụng cụ chính xác nào đó, hoàn toàn thản nhiên, ghi lại mỗi một triệu chứng, mỗi một pha biến đổi. Và cái ấy chính là nỗi thống khổ lớn nhất.


Ông gắng sức một cách vô ích, cố thoát ra khỏi vũng lầy đang nuốt chửng ông. Ngừng suy nghĩ, tập trung toàn bộ chú ý vào một vật nào đó, tự cứu lấy mình. Chỉ duy nhất có nỗi đau đớn về thể chất mang lại cho ông một chút nhẹ nhõm. Ông cắn ngập răng đến tứa máu vào thân mình, ông gặm hai tay và đập đầu vào tường cho đến khi kiệt sức ngất đi.


Và khi ấy, ông nằm bất tỉnh, hoàn toàn kiệt sức, như đã chết.


Vì vậy ông sợ, ông sợ lắm, một nỗi sợ hãi kinh hoàng đối với ký ức của chính mình. Ông sợ tất cả những gì có thể đánh thức trong ông ý muốn nhìn vào đám sương mù của quá khứ, vào cái bóng tối quái đản không tài nào xuyên thấu, cứ luôn luôn níu kéo ông như một vực thẳm há hoác miệng.


Cũng vì vậy những cuộc tra hỏi như ở đồn cảnh sát vừa rồi đối với ông là những cuộc tra tấn nặng nề, và khi được nằm một mình, biết rằng mối đe dọa về cơn kịch phát của bệnh đã qua, ông lại cảm thấy vui mừng vì bị giam vậy.


Song những cuộc bắt giữ của cảnh sát, nỗi dày vò của những lần xét hỏi và mối đe dọa của các cơn kịch phát khiến ông nghĩ đến chuyện nhất thiết phải tự vệ để chống lại tất cả những điều phiền toái kia trong tương lai. Chỉ có một cách duy nhất để làm được điều đó mà thôi: phải có giấy tờ. Và bởi lẽ bằng con đường hợp pháp không có cách gì kiếm được giấy tờ, cần phải đánh cắp chúng, phải lấy của một người nào đấy.


Ông chưa rõ sẽ thực hiện điều ấy ra sao, nhưng ông đã quyết.


Sáng sớm hôm sau người ta giải ông lên huyện, nằm tại thị trấn lớn cách đấy chừng hơn mười cây số. Tòa hành chính huyện bố trí trong một khu nhà lớn, xây bằng gạch. Viên cảnh sát để ông ở lại tầng dưới, dưới sự trông coi của một cảnh binh đang giữ mấy người bị bắt nữa. Sau hồi lâu chờ đợi, người ta bắt đầu gọi lần lượt từng người một lên tầng trên, nơi bố trí tòa án của huyện.


Một người nhân viên trẻ tuổi, béo múp míp, ngồi sau chiếc bàn trải dạ xanh chất ngập giấy tờ. Anh ta xử rất nhanh. Khi tới lượt người đàn ông rậm râu, hình như anh ta có những nghi vấn nào đó, bởi lẽ anh ta bắt ông đợi một lát. Viên cảnh sát bèn đưa ông ra ngoài, dẫn sang một phòng bên cạnh. Ở đấy, có một ông già ngồi bên bàn đang viết lia lịa. Căn phòng rất nhỏ. Người đàn ông rậm râu ngồi xuống chiếc ghế băng đặt cạnh cửa sổ, bắt đầu quan sát công việc của ông già, vì chẳng biết làm gì hơn. Trên bàn là hàng chồng giấy tờ. Có những thứ đơn từ có dán tem đánh dấu thị thực, có những tấm giấy báo nhiều màu, và người đàn ông rậm râu chợt rùng mình: gần sát ngay chỗ ông ngồi là một tập giấy gài ghim cặp, trên cùng là một tờ giấy chứng nhận. Đó là giấy khai sinh. Giấy ghi tên Antoni Kosiba, sinh quán ở Kulis. Ông nhẩm tính tuổi: 52. Dưới cùng là con dấu.


Người đàn ông rậm râu liếc nhìn viên cảnh sát: y đứng quay lưng lại và đang đọc một thông báo nào đó dán trên cửa ra vào. Bây giờ chỉ cần đặt chiếc mũ lên bàn che trùm lên tập giấy tờ.


- Yêu cầu bỏ cái mũ kia ra - ông già bực mình gắt - Hắn tìm được chỗ để mũ tốt gớm chưa kìa.


- Xin lỗi - người đàn ông rậm râu lầm bầm lôi cả mũ cùng tập giấy tờ kia cuộn thành một cái ống đút vào túi.


Dĩ nhiên, ngay lần này ông chưa thể sử dụng những tờ giấy vừa kiếm được vì bị phạt giam ba tuần vì tội lang thang chuyên nghiệp.


Sau ba tuần, ông ra khỏi nhà giam của huyện và lên đường đi vào cuộc đời, với họ tên Antoni Kosiba.


 


IV.


Tại chính trung tâm Odryny, trong điền trang không có gì đáng để người ta phải lưu ý. Tòa dinh thự đồ sộ đã bị thiêu hủy trong thời gian chiến tranh, nay mọc đầy những bụi tầm ma, chút chít và ngưu bàng, mỗi năm lại phủ dầy thêm rêu phong mốc thếch, mỗi năm lại thêm phần đổ nát. Nữ chủ nhân, công tước phu nhân Dubancewa, vợ góa của một quan chức cao cấp trong triều đình Peterburg, hiện đang sống cố định tại Pháp, chẳng khi nào lui tới dòm ngó gì đến chốn này. Viên quản lý, ông Poleckiewicz, một ông lão tính khí  kỳ quặc, chiếm hai phòng nhỏ trong tòa nhà phụ bằng gỗ trên sân điền trang, nơi cũng không thiếu những dấu ấn của sự bừa bãi và thiếu chăm lo gìn giữ.


Nhưng khắp bốn chung quanh trải ra mênh mông những khoảng rừng bao la và tuyệt vời của vùng Rừng Hoang Odryniecka, hàng nghìn hecta mọc đầy thông, tùng, sồi và bạch dương chen lẫn phỉ tử và đỗ tùng, bị chia cắt bởi những con đường mòn chật hẹp, ngoằn ngoèo, ngoắt ngoéo, trên đó người ta hay gặp vết chân lợn rừng và các loại thú có sừng hơn là vết chân người và ngựa. Từ trên cao nhìn xuống, cả khoảng không gian mênh mông kia nom như một tấm thảm nhung xanh óng ánh, trên đó có dính đầy những chuỗi cườm đen lóng lánh. Bởi nơi đây không thiếu chi những làn nước. Những mặt hồ lớn và nhỏ nối liền nhau bằng những dòng suối ẩn mình trong đám cây liễu xám khiến người ta có thể đi xuyên rừng bằng thuyền dễ hơn đi đường bộ. Chính vì vậy, những người coi rừng ít ỏi chốn đây thường sử dụng thuyền.


Chỉ khi nào phải tới tòa nhiệm sở nằm tại chính giữa vùng rừng người ta mới phải đi bộ. Tòa nhiệm sở ở sườn núi, trên một khu đất trống nho nhỏ, tứ phía được bao bọc bởi bức tường cao vút của rừng già đại ngàn. Trong tòa nhiệm sở là chánh kiểm lâm, anh Jan Oksza, con trai của ông lão Filip Oksza, người hơn bốn mươi năm về trước đã cai quản rừng đại ngàn Odryniecka, và khi qua đời đã để lại chức trách kiểm lâm cùng tất cả những gì ông có cho đứa con trai. Ngay từ thuở thơ ấu, chàng trai đã du học ở thành Wilno, rồi sau đó đến tận thành phố Warszawa xa xôi, nhiều năm sau anh trở về với tấm bằng kỹ sư lâm nghiệp trong túi, cùng vợ và đứa con gái nhỏ; từ đó sống trong tòa dinh thự và suốt năm năm nay có thẩm quyền định đoạt mọi chuyện trong vùng rừng. Thẩm quyền đó là vô hạn, bởi lẽ cấp trên của anh, ông lão Poleckiewicz, tin tưởng anh hoàn toàn trong mọi chuyện, không hề can thiệp vào việc gì cả, và nếu như ông lão có ghé qua nhiệm sở của người chánh kiểm lâm thì chẳng phải để kiểm tra sổ sách mà chỉ để cùng phu nhân Beata Okszana trò chuyện chút đỉnh, cùng anh Jan chơi vài ván cờ, hoặc để cho cô bé Marysia ngồi lên yên ngay trước mặt mình và “phi” trên trảng trống. Vả chăng, đó gần như là vị khách duy nhất lui tới nhiệm sở kiểm lâm.


Hẳn là anh Oksza được thừa kế của cha tính thích cô đơn, ít có bao giờ anh đi lại thăm hỏi những người láng giềng - thực ra họ cũng ở khá xa - và họ cũng không đến thăm anh. Mặc dù còn trẻ anh là người chỉ thích ngồi nhà, điều đó không lấy làm lạ bởi anh có một người vợ xinh đẹp tuyệt vời, và như chàng gác rừng Barczuk hay nói, “một người rất thiện ý”, cùng một cô con gái nhỏ giống như một thiên sứ, như niềm hạnh phúc của gia đình.


Vì vậy, anh không thích đi đây đi đó. Bao nhiêu lần buộc phải lên huyện lỵ Brasławi, hoặc chẳng may phải đến tận Wilno, anh đều lần lữa từ ngày này sang ngày khác. Cũng có thể là do anh không được khỏe lắm, việc đi lại khiến anh rất mệt. Thường thường, hễ cứ bị nhiễm lạnh một chút, anh lại thổ ra huyết và phải nằm liệt giường. Nhưng đó là một người rất tốt bụng, rất nhân đạo và công minh, tất cả những người dưới quyền đều xót xa thấy anh mỗi ngày một héo hắt trông thấy. Đã hai lần họ phải đưa bác sĩ đến thăm bệnh cho anh, một chuyện thực vất vả và tốn kém, bởi tám dặm đường chẳng phải là một quãng ngắn ngủi gì. Người ta bảo rằng anh chánh kiểm lâm trẻ tuổi chắc chẳng qua khỏi nổi, và mọi sự hình như cũng có vẻ đúng vậy.


Mùa hạ trong rừng thật là tuyệt. Mùi nhựa cây thơm nồng nàn, không khí ấm áp như trong lò, đủ mọi thứ côn trùng vo ve đến váng cả tai. Những ngọn thông cao vút lắc lư, gió ồn ã trong những vòm lá sồi già, rêu dày như một tấm thảm xốp êm, còn quả rừng và nấm thì hằng hà sa số, có thể chỉ sống hoàn toàn bằng những thức ấy nơi đây mà không bị chết đói. Nhưng khi thu về, trong rừng lại bao trùm một sự tĩnh mịch tuyệt đối, hệt như trong nhà thờ lúc làm lễ thăng thiên. Cây cối đứng trầm tư, thậm chí chúng hình như không cảm thấy những chiếc lá của chúng vàng úa và đỏ sậm, rời khỏi cành, rơi thành từng mảng, từng mảng lớn. Còn về mùa đông, tuyết bao trùm tất cả chiều cao và chiều sâu, chồng chất thành những tấm đệm dày trên cành cây, và mỗi khi người ta hít thở, mỗi khi làn không khí lạnh buốt tốt lành kia ùa vào phổi, một niềm vui sống cũng như ùa vào theo.


Nhưng hết đông lại sang xuân. Rừng đang tan băng, từ các hồ và những đầm lầy, hơi ẩm bốc lên, đó chính là mùa tệ hại nhất cho những người bị lao phổi.


Với chàng chánh kiểm lâm Oksza cũng thế. Chàng chịu đựng mùa đông rất tốt, nhưng đến tháng ba khi tuyết bắt đầu tan, sức khỏe chàng lại suy sụp. Suy sụp đến nỗi đã bốn tuần liền chàng phải nằm liệt giường, và ngay cả việc nhận báo cáo của những người gác rừng chàng cũng phải tiến hành ngay trong phòng ngủ. Chàng gầy sụt đến mức khó lòng nhận ra nổi, nhiều khi những cơn ho sặc sụa kéo dài khiến chàng không nói được suốt mười lăm phút hay lâu hơn nữa. Trán chàng đầm đìa những giọt mồ hôi lạnh to tướng, hơi thở rất khó nhọc.


Đến thứ bẩy thì bà chánh kiểm lâm hoàn toàn không để cho một người gác rừng nào vào phòng chồng nữa. Nàng vào bếp gặp họ, người cũng nhợt nhạt, mệt mỏi, và chỉ nói rất khẽ:


- Nhà tôi mệt lắm, không... không thể để anh ấy mệt thêm nữa.


Rồi nàng òa lên khóc.


- Thưa bà, có lẽ nên đi mời bác sĩ đến ạ - một người lên tiếng. Ông nhà sẽ chết nhẹ nhàng hơn.


- Nhà tôi không thích bác sĩ - phu nhân lắc đầu - Chính tôi cũng đã van xin anh ấy thế nhưng anh ấy không đồng ý.


- Tôi vẫn muốn nên đi mời bác sĩ - người khác bảo - Còn với ông chánh kiểm lâm thì ta bảo rằng chính bác sĩ tự đến, nghĩa là tiện đường ông ấy rẽ vào.


(còn tiếp)


Nguồn: Thầy lang. Tiểu thuyết của Tadeusz Dołęga-Mostowicz . Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên tác tiếng Ba Lan. NXB Hội Nhà văn. Bản in lần thứ 19, tháng 7-2017.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
xem thêm »