tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20814013
Lý luận phê bình văn học
13.07.2017
Lê Thanh Hải
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức



*Nhấp chuột vô đây đọc Tiểu sử nhà văn Trịnh Bích Ngân, còn có bút danh Bích Ngân.


Tham luận của TS. Lê Thanh Hải, khoa Triết và Xã hội học, Viện hàn lâm khoa học Ba Lan tại Hội thảo quốc tế Sseasr lần 7 ‘’Vùng Asean và Nam Á: Nơi giao hòa của văn hóa và tôn giáo ở Đông Nam Á".


Bản tếng Việt dịch từ bản tiếng Anh bởi Ban Truyền thông, Ngôn ngữ và Văn chương, Học viện Phật giáo Việt Nam.


Nghiên cứu này khảo sát phương pháp luận liên ngành về không gian ý niệm (GS. Peter Gardenfors) trong triết học nhận thức vào nhận dạng tư tưởng xã hội thể hiện qua văn chương. Tiểu thuyết Thế giới Xô lệch được chọn để định dạng mô thức tư duy hình học mà nhà văn Trịnh Bích Ngân đã sử dụng. Tác phẩm văn học này lấy bối cảnh một không gian gia đình thời đương đại ở miền Nam Việt Nam để mô tả tác động của hệ tư tưởng đã làm thay đổi xã hội truyền thống sau ngày thống nhất đất nước vào năm 1975 rồi lại bị lối sống mới thay thế trong giai đoạn kinh tế thị trường từ sau năm 1986. Nhà văn đã khéo léo sử dụng hình ảnh để trình bày sự thay đổi của xã hội, cũng như là giới thiệu giải pháp tâm linh cho một môi trường sống bền vững.


Đi sâu vào góc độ ngữ nghĩa của ngôn ngữ tự nhiên, giáo sư Peter Gardenfors (2004, chương 5) chỉ ra rằng bộ môn hình học và địa hình thường được dùng để xây dựng nghĩa. Ví dụ như người ta có thể dùng khái niệm “đỉnh cao”, vốn dùng để mô tả địa hình như là đỉnh núi hay đỉnh đồi, để mở rộng ra thành ý nghĩa mới như là “đỉnh cao danh vọng” hay “đỉnh cao sự nghiệp”, “tuyệt đỉnh thành công” v.v. để gán ghép cái nghĩa của địa hình cho ý niệm trừu tượng về một đường biểu diễn lên xuống của sự nghiệp, danh vọng, hay nấc thang thành công. Tương tự vậy, “trước” hay “sau”, “trong” là những khái niệm dùng để mô tả vị trí trên đường thẳng, nhưng cũng được mở rộng để chỉ “vị trí” của sự kiện trong thời gian, được hiểu như một đường thẳng trải dài từ quá khứ vào tương lai. Ngữ nghĩa theo cách tiếp cận này là một ứng dụng thực nghiệm của ngành khoa học nhận thức, là một liên ngành bao gồm triết học, tâm lý học, khoa học thần kinh, kỹ thuật máy tính và cả ngôn ngữ học, để nghiên cứu văn bản và tìm hiểu cách tư tưởng được thể hiện qua văn bản, cũng chính là qua ngôn ngữ tạo thành văn bản đó. Nghiên cứu này tiếp nối con đường tư duy của triết học nhận thức như vừa trình bày để tiếp cận “diễn ngôn xã hội” (Foucault 2002) đã được kiến tạo và đậm đặc hóa vào trong tác phẩm đặc trưng của một nhà văn có thể coi là đại diện cho thế hệ của mình trong tầng lớp tri thức Việt Nam.


Nhìn vào ngôn ngữ qua chiếc kính vạn hoa của ngành khoa học nhận thức, có thể thấy tính từ là hình thức biểu diễn tính chất trong một miền, danh từ là một khái niệm được kết hợp từ một vài miền, và động từ là một khái niệm động. Ví dụ, màu đỏ là tính chất trong phạm vi của màu sắc, còn quả táo là ý niệm về một vật có màu sắc thường là màu đỏ hoặc xanh lá cây, đồng thời nằm trong nhóm trái cây, mà có lúc cũng có thể là một vật thể vật lý như câu chuyện về chuyển động của nhà bác học Newton. Quả táo rơi xuống đất do tác động của lực hấp dẫn là một hệ thống khái niệm động trong bộ môn vật lý học đó. Khi đó, một câu văn được kết cấu từ các thành phần danh từ, động từ và tính từ chính là một sự biểu diễn trong kết cấu ý niệm về nhận thức luận của thế giới của chúng ta. Thường có 3 mức độ thể hiện: biểu tượng, tiền ý niệm, và ý niệm, mà tầng ý niệm là mối quan tâm chính của triết học về tư duy hình học. Như chúng ta đặt tên rồi mô tả các hành động cần thiết để chia sẻ trải nghiệm tìm đường của mình cho người khác trong một khu rừng rậm chưa có dấu chân người, người ta có thể dùng chính những tên và hành động đó để chỉ nhau cách “đi lại” trong khu rừng của tư duy. Như vậy, phân tích các khái niệm về không gian được sử dụng trong văn bản có thể giúp hiểu được cách người tạo ra văn bản đó “đi lại” trong “môi trường” của mình. Ý nghĩa là một kết cấu xã hội, do đó có thể dẫn người nghiên cứu đi đến chỗ hiểu được các mối quan hệ xã hội đã được tích hợp vào trong quá trình sáng tác.


Thế Giới Xô Lệch là tên tiếng Việt của tiểu thuyết được chọn, được dịch theo nghĩa đen sang tiếng Anh là “The World Shoved to Deviation” (Thế giới bị xô thành lệch lạc). Ở đây tôi đặt cho nó một cái tên tiếng Anh khác là “Distorted World” (Thế giới bị làm biến đổi hình dạng) để phù hợp với cách tôi diễn giải về tác phẩm. Hiện Thế giới Xô lệch đã được tái bản lần 6 với gần 10.000 bản, với một cái kết khác so với ấn bản đầu tiên vào năm 2010. Ngoài ra cũng có sách đọc với giọng đọc của Việt Hùng trên Đài tiếng nói Việt Nam, sau đó được ghi âm lại và phát hành trên Youtube năm 2016. Tiểu thuyết được viết theo lời tự sự của một người đàn ông mất cả hai chân trong cuộc chiến Campuchia nổ ra vào năm 1979. Bối cảnh được lấy vào những năm 90, khi nước CHXHCN Việt Nam cải cách và đưa ra chiến lược chính trị hướng tới nền kinh tế định hướng thị trường. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nhà văn nữ Trịnh Bích Ngân, người đã làm việc trên 15 năm trong hệ thống xuất bản nhà nước. Hiện bà đã về hưu sau một thời gian dài làm phó giám đốc Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ TP.HCM. Là một Đảng viên và hội viên hội nhà văn quốc gia, bà là một trong những đại diện của tầng lớp tri thức miền Nam Việt Nam. Bích Ngân cũng là tác giả của một số kịch bản sân khấu được dàn dựng thành các vở kịch đoạt giải.


Tiểu thuyết mang lại một phong cách mới cho hệ thống thủ pháp văn học Việt Nam. Nhà văn Trần Xuân An (2010) đã phân tích rằng ở tiểu thuyết này, bối cảnh được thu hẹp lại, cho phép người thương binh có thể xê dịch, và thế giới trong tầm nhìn của nhân vật cũng chỉ quanh quẩn, bó hẹp trong phạm vi những người thân. Tác giả khác là Võ Tấn Cường (2010) ca ngợi tiểu thuyết đã thể hiện thành công chiều kích bí ẩn của “con người trong con người” từ quan điểm riêng của người thương binh. Nhà phê bình Trần Hoài Anh (2016) đã phân tích diễn ngôn ngoại diên để kết luận rằng tác giả đã thành công trong việc tạo ra “giá trị tư tưởng mỹ học” riêng của mình, giúp người đọc thực sự tham gia vào quá trình chọn lựa kiến tạo nên số phận không chỉ của một con người, một gia đình mà còn là số phận của cả một dân tộc. Học giả Đoàn Thị Ngọc (2016) chỉ ra cách tác giả sử dụng hình ảnh con người bị chấn thương để thể hiện bi kịch xã hội. Có ít nhất 4 luận án nghiên cứu về tiểu thuyết này bao gồm cả bằng cử nhân và thạc sĩ (Phạm Trần Châu Âu 2017, Dương Lài 2016, Nguyễn Thị Thái 2015). Trong luận văn Cử nhân, Hồ Hoài Khanh (2011) đã phân tích cách thực tế được phản ánh qua dòng suy nghĩ: thông qua nhân vật “Tôi”, quả cầu trải nghiệm trí não này phản ánh hình ảnh bản thân, các nhân vật xung quanh, hiện thực và đặc biệt là không gian và thời gian nghệ thuật.


Người nghiên cứu biết tác giả Bích Ngân vào cuối những năm 2000 khi xuất bản tiểu thuyết của mình tại nhà xuất bản của bà và thêm hai cuốn sách không thuộc loại tiểu thuyết sau đó. Khi đọc sách của tác giả để xem xét nghiên cứu dịch sang tiếng Anh, người nghiên cứu ngạc nhiên vì cách tiếp cận văn học nổi bật này phù hợp với con đường triết học mà người nghiên cứu đã học được trước đó từ Gardenfors (2004). Điều đó dẫn đến việc nghiên cứu sâu để tìm hiểu đồng thời cả tác phẩm và con đường triết học đã tìm hiểu thông qua phương pháp so sánh. Nghiên cứu này tập trung vào việc đọc tiểu thuyết trước tiên, tránh phỏng vấn sâu với tác giả hoặc đọc các tác phẩm khác về cuộc đời và viết tiểu thuyết của tác giả.


Dùng phương pháp tư duy triết học nhận thức để diễn giải một tác phẩm văn học được xây dựng trong hệ thống văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa


Văn học được Nhà nước bảo trợ ở Việt Nam theo truyền thống của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (Nguyễn Ngọc Tuấn 2008), nơi mà các nhà văn được khuyến khích mô tả hiện thực để người đọc có thể xác định và chỉ trích cái xấu nhằm cải tạo xã hội. Về mặt tự nhiên, tư duy này giả định rằng ngôn ngữ chung được sử dụng bởi cả nhà văn và độc giả nói lên sự thật về thế giới mà chúng ta đang sống. Tư duy hiện thực này trong ngữ nghĩa xác định rằng ý nghĩa của một từ hay biểu hiện trực tiếp chỉ đến một sự vật hay hoàn cảnh nào đó trong thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, lập luận của triết học nhận thức chỉ ra rằng ý nghĩa của ngôn ngữ vẫn còn trong tâm trí, trong khuôn khổ kết cấu khái niệm, có liên quan về nhận thức luận đến thế giới bên ngoài, như thể hiện trong sơ đồ dưới đây.


Ngôn ngữ/từ ngữ - Sự thật - Thế giới


Bản thể luận ngữ nghĩa ngoại diên (Gardensfors 2004:153, Hình 5.1)


(Ngôn ngữ/từ ngữ-Nghĩa-> Kết cấu khái niệm)-> Thế giới


Bản thể luận ngữ nghĩa nhận thức (Gardensfors 2004:153, Hình 5.4)


Một vùng đệm nhất định tồn tại trong tâm trí giữa ngôn ngữ và sự vật trong thế giới bên ngoài. Gardenfors (2004:155-156) đã đưa ra các gợi ý về sự tồn tại của nó trong các tác phẩm của các triết gia khác. De Interpretatione của Aristotle do E.M.Edghill dịch sang tiếng Anh phân biệt rõ giữa “trải nghiệm trí não” và “sự vật” của trải nghiệm là “hình ảnh”: “Tiếng nói là biểu tượng của trải nghiệm trí não, còn chữ viết là biểu tượng của tiếng nói đó. Người ta không viết giống hệt nhau, cũng không nói giống hệt nhau, nhưng trải nghiệm trí não mà tiếng nói mà chữ viết đó thể hiện thì đều giống nhau, cũng như sự vật mà trải nghiệm của ta hình ảnh hóa”. De Saussure giải thích trong Cours de Linguistique Générale rằng “Một ký hiệu ngôn ngữ không phải là mối nối giữa một sự vật và một cái tên, mà giữa một khái niệm và một nhóm âm thanh.”


Trường phái ngữ nghĩa nhận thức nghiên cứu mối quan hệ giữa các biểu hiện ngôn ngữ và kết cấu nhận thức. Gardenfors (2004: phần 5.2) tin rằng khuôn khổ thích hợp của kết cấu nhận thức này chính là không gian ý niệm của ông. Nghiên cứu này giới hạn ở việc áp dụng hướng tiếp cận không gian để diễn giải ngôn ngữ thể hiện trong một tác phẩm nghệ thuật theo các mạng cơ bản: 1) nghĩa là kết cấu khái niệm trong hệ nhận thức, 2) các kết cấu khái niệm được thể hiện (ý nghĩa ít nhất một phần dựa trên cảm giác), và 3) các yếu tố ngữ nghĩa được xây dựng từ các kết cấu hình học hoặc địa hình. Tiểu thuyết Thế giới Xô lệch của tác giả Bích Ngân được diễn giải trong hệ tư duy địa hình. Nghiên cứu này là một cách tiếp cận triết học hướng đến việc đọc và thưởng thức tác phẩm văn học hơn là phân tích tiểu thuyết về khía cạnh văn chương.


Không gian xã hội


Giáo sư Edward Hall (1966) xác định không gian ẩn xung quanh chúng ta, như khoảng cách an toàn hoặc thân mật giữa con người, thay đổi phù hợp với văn hoá của xã hội cụ thể. Giáo sư Roger Silverstone (2008) cho rằng đạo đức có thể được thể hiện qua khoảng cách. Là động vật xã hội, mỗi cá thể con người luôn nằm trong nhiều không gian khác nhau trong thực tế/ thế giới và trải nghiệm trí não. Trong nhiều trường hợp, không gian vật lý có thể đại diện cho không gian xã hội trong tâm trí, như phong cách bố trí nội thất, chọn vị trí làm nhà, cách bố trí bàn làm việc của chúng ta với những vật giống hệt với của các đồng nghiệp khác lấy từ cùng kho văn phòng. Một số trường phái nhân học và xã hội học tin rằng họ có thể giải mã các quy tắc ứng xử của con người ẩn chứa trong không gian và hiểu được suy nghĩ của những người tạo ra chúng. Giáo sư Alva Noe (2002) đã nghiên cứu sâu hơn về cách mọi người thay đổi hành vi của mình trong những không gian nhất định dành riêng cho mục đích này.


Trong tiểu thuyết này, thủ pháp văn học tương tự như ngôn ngữ điện ảnh thường được sử dụng để thể hiện tâm trạng của các cuộc gặp gỡ và cảm xúc của các nhân vật. Thay vì nói ra những gì nhân vật nghĩ, nhà văn mô tả hành động và điệu bộ trên khuôn mặt nhân vật. Tiểu thuyết bắt đầu bằng tư thế của một người đàn ông đang hoảng loạn sau khi phát hiện ra rằng vợ mình yêu một người khác: “Đôi mắt trũng sâu khiến chiếc mũi cao của anh lại thêm cao, chia gương mặt thành sáng tối. Con ngươi nơi đôi mắt anh đang phát ra thứ ánh sáng lạnh, rất lạnh. [...] Anh rể tôi vẫn ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ. [...] Rồi như không giữ người ngồi thẳng được nữa, anh chống đôi tay lên hai gối, đầu gục xuống. Mái tóc bồng xổ ra, trông mái đầu anh to lớn dị thường. [...] Anh rể hất mái tóc bù xù ra sau, ngước nhìn tôi. Ánh mắt anh chợt tối như một vực sâu, lại vừa có cái gì đó loe lóe như ánh chớp.” (Thế giới Xô lệch, trang 5-6). Tiểu thuyết kết thúc với cảnh hòa giải gia đình bằng cách ngủ cùng với nhau trong một chuyến đi hội ngộ: “Trong chiếc mùng lớn, sau khi má và chị chui vào, năm người nằm cùng quay đầu về hướng tủ thờ. Trên tủ thờ ngọn đèn đầu vặn nhỏ, lờ mờ sáng tối. Trong mùng, tôi được nằm chính giữa. Chị tôi nằm ngoài cùng bên trái rồi đến má tôi. Anh tôi nằm ngoài cùng bên phải rồi đến ba tôi. Có cái gì đó vừa vướng víu vừa ngượng ngịu dù là những thân thể ruột thịt nằm kề nhau. Hơi thở của ba tôi, mùi mồ hôi của ba tôi khiến tôi có cảm giác gai gai nhột nhạt. Cả hơi thở và mồ hôi quen thuộc của má cũng khiến tôi trân mình, không dám nhúc nhích. Chắc anh tôi cũng có cái cảm giác chưa từng có như tôi. Cả chị tôi nữa, chắc chị cũng mong ai đó, cất lên tiếng nói, phá tan sự im lặng lạ lẫm và ngột ngạt. Anh tôi liên tục xoay trở. Cái vách mùng phía anh căng kéo làm vách mùng phía chị tôi cũng kéo căng. Chị tôi lên tiếng, bảo anh tôi coi chừng muỗi vô mùng. Trong mùng có tiếng muỗi vo ve. Qua lớp vải mùng, ánh đèn vàng vọt từ chiếc đèn hột vịt trên bàn thờ khiến những người nằm bên nhau không nhìn rõ mặt nhau. Và việc tìm đập con muỗi đang tìm da thịt người là không dễ dàng. Tiếng vo ve di chuyển từ góc này sang góc khác, có lúc nghe thật gần rồi im bặt cho đến lúc ba tôi đập bàn tay nghe một cái bốp vào bên má phải của mình, phía sát anh tôi.” (Thế giới Xô lệch, trang 262).


Lớn lên trong không gian xã hội do gia đình, hàng xóm láng giềng và các công trình tạo nên, mỗi người chúng ta mang theo một thế giới thu nhỏ riêng đại diện cho tâm trí bên trong mỗi người. Khi hai người gặp nhau, những thế giới đó va chạm vào nhau, buộc tâm trí của chúng ta phải thay đổi để hòa nhập và tái tạo lại một thế giới cá nhân mới phù hợp với thế giới chung. Một trong những tình huống va chạm nặng nề nhất là giữa một cặp đôi trong mối quan hệ hôn nhân. Lời dẫn truyện là một trong những yếu tố kết cấu thành công của tiểu thuyết. Tác giả bắt đầu với cảm xúc của nhân vật chính, người đã mất cả đôi chân trong chiến tranh, cùng với ý chí của mình để sống một cách trọn vẹn trong xã hội. Tác giả cho anh này một cô vợ và tạo ra lời tự sự về tình dục từ phía một người đàn ông cho đến điểm này, sau đó va chạm trong cuộc sống hằng ngày khi người đàn ông tật nguyền sống với cô vợ đẹp luôn phải tiếp xúc với rất nhiều thế giới đàn ông khi làm việc trong căng tin. Sự va chạm đầu tiên ẩn trong cảnh nhà tắm mới trong nhà, là món quà cưới từ anh trai của nhân vật chính: “Anh bảo: Bản chất con người là sở hữu. Ở đàn bà, nhu cầu đó còn quyết liệt hơn. Nhiều khi họ không chịu được khi thiếu cái không gian riêng biệt dành để tắm táp, ngắm nghía. […] Và câu nói của anh tôi về cái nhu cầu sở hữu của đàn bà cũng đeo bám ở đâu nó nơi trí não, cho tới lúc này, khi tôi sau một đêm chập chờn bất an và một ngày mới cũng lấp ló những tín hiệu bất an, khiến tôi nhớ lại và lại phập phồng cái cảm giác bất an. [...] Trong lúc không ai để ý, tôi dúi mớ tiền vào tay anh tài xế, nói nhỏ: - Em muốn tặng vợ một món quà, anh mua dùm em. [...] - Anh chọn mua thứ mà đàn bà họ thường thích. [...] Khi vợ tôi nhận được túi quà từ tay tôi, cô hơi sững người và ồ lên, vừa ngạc nhiên vừa vui thích khi thấy đó là hai bộ đồ lót màu đen và màu tím và đều có viền ren, trông diêm dúa, lạ mắt. Cô cầm hai bộ đồ lót lật đật bước vào phòng tắm.” (Thế giới Xô lệch, trang 164). Người vợ đã khen tài xế của người cha về khiếu nghe nhạc và cách kiếm thêm tiền từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tiểu thuyết có đầy đủ các cảnh và những câu chuyện về việc các thế giới cá nhân va chạm, hòa hợp với người khác, xô lệch hoặc bị xô lệch cùng nhau. Đó là cách xây dựng hình ảnh rộng hơn về toàn xã hội trong thế giới thực thông qua cách những cá thể được lựa chọn cẩn thận này xê dịch trong bối cảnh được xây dựng một cách khéo léo dành cho họ.


Xã hội thể hiện trong không gian xã hội


Gardenfors (2004, chương 5) chỉ dừng lại ở việc tách biệt câu hỏi nhận thức luận về mối quan hệ giữa kết cấu khái niệm và thế giới với câu hỏi ngữ nghĩa về mối quan hệ giữa các hình thức biểu đạt ngôn ngữ và kết cấu khái niệm mà ông đã nghiên cứu kỹ. Tuy nhiên khái niệm về kết cấu xã hội của giáo sư đã tạo ra một hướng đi vững chắc trong việc thiết lập hoặc ít nhất là tạo ấn tượng về mối liên hệ giữa các không gian xã hội thể hiện bằng ngôn ngữ và thực tế trong xã hội trên thế giới.


Mối quan hệ giữa không gian và xã hội đã được các nhà nhân học khám phá từ rất lâu (Low & Lawrence-Zuniga ed. 2003). Nếu không có kiến thức sâu rộng về lĩnh vực này, một nhà văn có thể vô tình xây dựng một bối cảnh có độ bao quát khổng lồ bằng cách đưa tất cả những gì mình quan sát được vào tiểu thuyết. Có vẻ như đó là trường hợp của tác giả Bích Ngân khi bà mô tả cái cách mà lịch sử đã để lại dấu vết trong gia đình, tức là bối cảnh chính cho toàn bộ câu chuyện: “ngôi nhà hai tầng của một quan chức chế độ Sài Gòn. Ngôi nhà từng được một cơ quan hành chánh dùng làm chỗ làm việc và cũng làm nơi ăn nghỉ tập thể cho một số cán bộ nhân viên chưa có chỗ tá túc. Rồi ngôi nhà được phân cho ba tôi, một trong những người giữ vị trí cốt cán trong bộ máy công quyền của cái tỉnh lỵ rộng lớn này. Ngôi nhà vẫn giữ nguyên hiện trạng ban đầu, tuy đã bong tróc, loang lổ và thiếu ánh sáng.” (Thế giới Xô lệch, trang 9). Sự thay đổi chế độ đã không chỉ loại bỏ những người chủ cũ ra khỏi nhà họ mà còn buộc các chủ nhân mới rời khỏi không gian sống trước đó của mình, trong một làn sóng di chuyển ít được biết đến. “Trước khi về sống ở ngôi nhà đã có nhiều chủ này, gia đình tôi, tuy thường vắng mặt ba tôi, cũng từng có một ngôi nhà tràn ánh sáng trên một mảnh vườn xum xuê cây trái nhìn ra cánh đồng. […] Khi rứt ruột bán đi ngôi nhà, mảnh vườn và đám ruộng, má tôi đổ bệnh. Đến lúc khỏi bệnh, bà ngỡ ngàng nhận ra mình đã đang ở trong ngôi nhà vừa xa lạ, vừa lạnh lẽo.” (Thế giới Xô lệch, trang 10). Người mẹ hy sinh để thực hiện ý muốn của chồng mình là đem gia đình về sống chung.


Xã hội mà ông và các đồng đội của ông đang cố gắng xây dựng bắt đầu bằng việc rời bỏ nơi chốn của mình, trong xã hội đó, những kẻ cơ hội có thể là tài xế ăn cắp xăng, nhà thầu ăn cắp xi măng, sắt thép, và nhiều kẻ khác. Không phải mọi quan chức đều cố gắng quan tâm đến đời sống nhân dân và chào đón họ khi họ phải vượt qua hàng rào bảo vệ để vào gặp chính quyền, hay nghĩ đến việc tiết kiệm ngân sách. Và khi một cán bộ mẫu mực đưa con dâu mình vào chỗ làm của mình mặc dù thu nhập của cô ấy cao hơn với hy vọng đào tạo nhân cách của cô ấy, thì không gian này đã biến cô thành một tên trộm căng tin làm giàu từ việc ăn cắp hàng hóa. Con trai của ông ấy, vì muốn kiếm tiền bằng đạo đức của mình, đã thoát ly ra khỏi hệ thống. Thế giới phức tạp của hệ thống đầy khiếm khuyết này được mô tả cẩn thận và trình bày qua các không gian khác nhau và các không gian này đều bị xô lệch bởi các không gian khác. Việc tiền ngân sách chảy vào túi riêng được giải thích một cách đơn giản bằng những từ ngữ dễ hình dung: “Nhà anh chú quá hoành tráng nên đường sá ra nông nỗi này!” (Thế giới Xô lệch, trang 69). Đứa con gái chọn đi theo con đường hướng đến tự do đã tóm lại vấn đề một cách ngắn gọn: “Giờ thì… đàn ông hay đàn bà cũng không khác gì nhau. Khi thật sự trưởng thành là lúc họ nhận ra được những giới hạn, đặc biệt là những giới hạn không thể vượt qua. […] Thường thì… em cũng như chị thôi, là dễ nhận ra những giới hạn ở người khác, ở cuộc sống và giới hạn của cả thế giới này nhưng lại không đủ gan để nhận ra những giới hạn của chính mình.” (Thế giới Xô lệch, trang 224)


Sự hòa giải trong không gian tâm linh


Một trong những mục đích mà con người muốn tái dựng lại hiện thực trong trải nghiệm trí não là để mô phỏng các tình huống có thể và lựa chọn con đường riêng của mình trong thế giới thực. Trong tình huống chấn thương, điều này giúp hàn gắn và thoát khỏi sự trầm cảm. Tâm linh nổi bật lên như một lộ trình cho các tính cách trong Thế giới Xô lệch phát triển, vùng thoát ra khỏi cái bẫy của mình, và xây dựng lại thế giới của họ để có thể chung sống tốt đẹp với nhau và với xã hội rộng lớn hơn bên ngoài. Một lần nữa, tác giả Bích Ngân đã vận dụng ngòi bút tuyệt vời của mình trong việc mô tả các không gian vật chất để đại diện cho các không gian tâm linh xuyên suốt tiểu thuyết. Hành trình tâm linh bắt đầu từ “trang thờ, dù không biết đã từng thờ ông bà tổ tiên hay thờ Phật, thờ Chúa. Nơi trang thờ còn sót lại một ốp nhang xài dở và một cây đèn hột vịt đã cạn dầu. Má tôi lau chùi trang thờ và đặt lên đó bức tượng bồ tát Quan Thế Âm bằng đá màu ngọc bích mà má tôi mang theo từ ngôi nhà bà đã bán đi. Dưới chân bồ tát, mãi sau này, lúc ông nội tôi mất, di ảnh của ông được má tôi đặt vào đó. Ở một nơi lưng chừng trên tường nhà, tôi không nhìn rõ chân dung của nội tôi. Cả trong ký ức, ông cũng chỉ còn là một bóng mờ.” (Thế giới Xô lệch, trang 12).


Nhân vật ông nội là một tín hữu Công giáo đã bỏ rơi con trai mình, người chăm sóc ông trong những ngày cuối cùng của cuộc đời. “Ông cũng sợ việc đi lễ nhà thờ thường xuyên sẽ làm cho ba tôi khó chịu. Ông thường lẩm nhẩm đọc kinh và lần chuỗi hạt sau khi đã ý tứ tắt bóng đèn treo lơ lửng chỗ đầu giường, dù ba tôi đã cất tiếng ngáy.” (Thế giới Xô lệch, trang 32). Khi ông qua đời, không ai tìm thấy được chuỗi hạt Mân Côi và bức ảnh nhỏ của Đức Mẹ Maria mà ông thường giữ trong tay. Con gái của ông muốn gửi chúng theo cùng ông sang thế giới khác. Một cha đạo ban phước cho chuyến đi cuối cùng của người ông - một “kẻ mù lòa giờ mới tìm thấy ánh sáng của thiên đàng” khi không có sự hiện diện của người cha (Thế giới Xô lệch, trang 57).


Là một cán bộ cộng sản, con trai ông đã “tạo dựng truyền thống” (Hobsbawm 1992) tôn thờ những người lính tử trận và dạy con cái mình tôn vinh các anh hùng cộng sản: “Trong lễ cưới của chị tôi, dù trời nắng như đổ lửa, theo ý nguyện của ba tôi, đoàn người xe rồng rắn qua mấy chục cây số, để đưa cô dâu và chú rể đến thắp nén nhang trước hàng bia liệt sĩ, nơi đặt hài cốt một đồng đội của ba, người đã hứng trọn quả lựu đạn và vì vậy mà ba tôi còn được sống, được đi tiếp con đường mà dân tộc đã đắp lên đó bằng xương máu của biết bao sinh linh.” (Thế giới Xô lệch, trang 16). “Ông vừa muốn những người quanh ông được tự do như chim trời, được sải đôi cánh dưới bầu trời tâm tưởng, nhưng đồng thời ông lại sợ tự do sẽ kéo những người thân của mình lạc hướng. Ông muốn họ biết phủ nhận thẳng thừng mọi mơ tưởng về một thế giới huyền bí linh nghiệm nào đó vượt ngoài tầm kiểm soát của ý thức.” (Thế giới Xô lệch, trang 36).


Cuộc chiến của ông, dù không có súng đạn trên sa trường, vẫn dẫn đến “tổn thương và mất mát. Mất mát hằn sâu trong ký ức. Mất mát chập chờn trong thức, ngủ. Mất mát hiện diện mọi nơi. Đó là cái giá phải trả cho mọi cuộc chiến. Trong bất kỳ cuộc chiến nào, xuất phát điểm bao giờ cũng từ lợi ích. Lợi ích lại có muôn hình vạn dạng. Khi xâu xé khối vật chất có giá trị dễ được tính bằng bạc tiền. Khi giành giật thành quả lao động của những cái đầu vượt trội. Khi là cuộc tỉ thí giữa hai con đực để đoạt lấy con cái. Khi là sự phô diễn ngông cuồng thói tự phụ, kiêu căng. Khi là trận chiến giành lấy cái quyền được tác động, được ảnh hưởng, được tỏa sáng. Khi lại từ cuộc cạnh tranh mù quáng về thứ ảo ảnh lung linh nào đó.” (Thế giới Xô lệch, trang 62).


Một điều vô nghĩa bất kỳ cũng có thể khơi mào cho một cuộc chiến nội tậm như thế, và mọi người trên xe có thể chết nếu tài xế quá chú tâm vào nó thay vì tập trung vào con đường đang chạy, như một cảnh trong tiểu thuyết. Kiềm chế dường như là giải pháp được nhà văn đề xuất, bởi tác giả đã cố gắng không diễn tả bất cứ điều gì khác ngoài việc thể hiện kết cấu nhận thức của mình cho người đọc thông qua một vở kịch của các tính cách trong bối cảnh đặc biệt này. “Trong cái hộp bít bùng, sự im lặng như ngày càng gia tăng. Tôi thấy ngột ngạt trước sự ngăn cách vô hình giữa những con người ruột thịt đang ngồi bên nhau.” (Thế giới Xô lệch, trang 53).


Trong cuộc chiến Việt Nam, đã từng có chuyện một vị tướng chế độ Sài Gòn được chính quyền cộng sản cho phép bay trực thăng vào vùng giải phóng để ăn đám giỗ cha mình (Lê Thanh Hải 2011). Việc thờ cúng tổ tiên được xem là một lý do có thể được chấp nhận để tạm ngừng bắn cục bộ. Trong Thế giới Xô lệch, đám giỗ cũng được tận dụng như một dịp đầy hứa hẹn để hòa giải giữa các thành viên trong gia đình. “Thầy bói nói “Nhà bà lơ là việc thờ cúng quá!”. Má dụ dự định nói thêm điều gì đó rồi thôi, mặt buồn buồn, ngồi lặng đi. Tôi nhớ, bàn thờ trong ngôi nhà tuổi thơ của chị em tôi, không lạnh nhang khói như bàn thờ ở ngôi nhà này.” (Thế giới Xô lệch, trang 15). Dấu hiệu thay đổi xuất hiện chính là trong việc thờ cúng: “Ba tôi, tự tay quét dọn sạch sẽ chỗ đầu tủ sách, với dự định sẽ tạm dời bàn thờ từ trên cao xuống đó để tiện việc thờ cúng và nhang khói, cho đến khi mua được tủ thờ.” (Thế giới Xô lệch, trang 250). Ông bà tổ tiên nằm sâu dưới lòng đất là cái cớ mà tác giả mượn để hòa giải cho tất cả mọi người trong tiểu thuyết của mình để đi đến một cái kết tốt đẹp. Nhân vật chính của bà tin rằng đây là cách tạo ra thiên đường trên mặt đất.


Văn học hiện thực phê phán


Văn học hiện thực phê phán là văn học phê phán theo trường phái Mác-xít theo cách diễn giải của người Việt Nam, trong đó các tác phẩm văn học là sự phản ánh các tổ chức xã hội mà từ đó nó được sinh ra, cũng như chính văn học đã là một tổ chức xã hội với chức năng củng cố ý thức hệ được xây dựng từ nền tảng và hệ tư tưởng của tác giả. Tại Việt Nam, chức năng thứ hai của văn học và nhà văn được nhấn mạnh là để hỗ trợ xây dựng đất nước theo tư tưởng cộng sản. Nghiên cứu này tập trung nhiều hơn vào cách văn học đại diện cho thực tiễn xã hội, hay chính xác hơn là cách một tiểu thuyết đại diện cho nền tảng và ý thức hệ của tác giả và danh pháp của nó. Nhà văn Bích Ngân đã được đào tạo nghiệp viết tiểu thuyết 17 năm trước trong ngôi trường Nguyễn Du nổi tiếng ở Hà Nội, và Thế giới Xô lệch được tái tạo lại từ truyện vừa, tác phẩm tốt nghiệp của bà hồi đó (Dương Bình Nguyên, 2010). Thời gian giúp bà tích lũy thêm nhiều sự quan sát và phân tích vào tác phẩm của mình, cũng như sự phát triển tư tưởng từ công việc và các mối quan hệ với tư cách là biên tập viên của một nhà xuất bản văn học ở miền Nam Việt Nam. Nhà văn Trung Trung Đỉnh, nguyên giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn, nơi tác giả phát hành tiểu thuyết của mình lần đầu vào năm 2010, viết trong lời giới thiệu của ấn bản mới nhất (Bích Ngân 2017), khẳng định rằng Thế giới Xô lệch đã vượt qua ngưỡng của một tiểu thuyết hiện thực thông thường. Ý tưởng trong tiểu thuyết này được xây dựng bởi đại diện của một thế hệ trí thức, có khả năng gây ảnh hưởng lên một xã hội rộng lớn hơn.


Bằng cách riêng của mình, nhà văn Bích Ngân đã đưa ra lý thuyết nhất định về xã hội Việt Nam đương đại và vận dụng triết học để đặt lý thuyết này vào các hình ảnh và tương tác hình học giữa các nhân vật hư cấu. Như quan sát nhân học của Tô Hoài - nhà văn nổi tiếng người Việt - về người Hmong trong cuốn tiểu thuyết Vợ chồng A Phủ, hoặc về Cải cách ruộng đất trong một loạt tác phẩm sau này, ở đây tác giả Bích Ngân dường như đã hoàn thành một nghiên cứu liên ngành về xã hội học và triết học tư tưởng. Khi một chế độ văn học yêu cầu các nhà văn thu thập dữ liệu từ thực tế để xây dựng một tổ chức xã hội nhằm truyền bá ý thức hệ, thì tự nhiên một người tri thức có thể trình bày luận cương chính trị của mình dưới dạng một cuốn tiểu thuyết. Điều này thể hiện rõ quan điểm của xã hội và đề xuất hòa giải trong không gian tâm linh để chữa lành và tái tạo Thế giới Xô lệch. Có thể thấy rõ hiện tượng này qua phương pháp không gian ý niệm.


Thay lời kết: ghi chú về phương pháp luận


Người nghiên cứu đầu tiên chọn nghiên cứu nhân vật Bích Ngân do lý lịch đặc biệt của người này: nhà văn vốn là biên tập viên văn học có kinh nghiệm và giữ vị trí lãnh đạo. Sau đó thì bà xuất bản quyển tiểu thuyết đầu tay (Trịnh Bích Ngân [2010] 2017), mở ra một hướng thú vị để thu thập dữ liệu từ người được chọn phỏng vấn trong nghiên cứu xã hội. Văn học hiện thực nằm giữa văn bản tưởng tượng và tác phẩm phi văn chương, vì nó thể hiện phần nào về thế giới đã được ẩn vào trong sự thể hiện của ngôn ngữ. Nếu giới sử học thường loại bỏ quan điểm cá nhân thể hiện trong hồi ký, thì nhà xã hội học có thể chắt lọc ra được các tương tác xã hội được ghi lại trong đó. Hơn vậy, nhà nhân học có thể nghiên cứu và sử dụng các quan sát (theo Znaniecki 1934) ẩn chứa trong bài viết của một nhà tri thức trong thời đại của người đó. Hoặc ít nhất là những gì tìm thấy trong lúc đọc tiểu thuyết có thể dùng để xây dựng hệ thống câu hỏi tự sự để thực hiện một cuộc phỏng vấn thuộc phương pháp tiểu sử với tác giả. Nghiên cứu này có thể được coi như là điểm khởi đầu để trao đổi quan điểm với nhà văn về các quan sát của bà (hơn là thủ pháp văn học mà bà đã dùng để viết nên tác phẩm, mà nhà nghiên cứu văn học có thể thực hiện) để hiểu hơn về không gian và thời gian của bà trong nhóm xã hội của mình.


Thứ hai, phương pháp luận về không gian ý niệm (Gardenfors 2004) được chọn vì tính hữu dụng đối với việc tìm dấu vết tư duy trong tác phẩm đã chọn. Sáng tác của Bích Ngân liên tục được nhà nước ưu đãi và tài trợ (bằng khen của Hội nhà văn năm 2010), tức là những phát biểu trong đó được chấp nhận và được phổ biến. Do vậy, nghiên cứu nối tiếp theo sau nghiên cứu này sẽ giúp mở rộng bức tranh về thế giới tư duy của một tầng lớp và một thế hệ của xã hội Việt Nam mà cho đến thời điểm này chưa tự thể hiện và cũng chưa được hình dung ra. Tư duy hình học với đầy đủ các ứng dụng đã được xây dựng để nghiên cứu về ngữ nghĩa chính là phương pháp luận phù hợp để “khảo cổ tư duy” (theo cách hiểu của Foucault 2002). Đây là một hướng tiếp cận thú vị cho sinh viên ngành văn chương ứng dụng để nghiên cứu một tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa.


Thứ ba, nhà văn Bích Ngân dùng không gian tâm linh (tôn giáo và tín ngưỡng) như một không gian gặp gỡ chung để đức tin và tư tưởng gặp nhau, va đập vào nhau, rồi dàn xếp và chung sống hòa bình với nhau: tín ngưỡng dân gian, đạo thờ tổ tiên, Công giáo, Phật giáo, Cộng sản và chủ nghĩa tiêu dùng. Cùng với mỗi số phận và lòng tin, mỗi không gian riêng bị các không gian khác xô cho lệch, trong một đơn vị nhỏ nhất của gia đình, cả theo cách hiểu máu mủ ruột rà lẫn mối quan hệ hôn nhân. Sự mường tượng đó hoàn toàn tương thích với một quan sát khoa học trước đây do chính người nghiên cứu từng trình bày (Lê Thanh Hải 2011, chương 5 và 6). Sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn có thể khám phá tiếp hiện tượng này để hiểu bức tranh vi mô của quá trình tạo dựng bản sắc Việt Nam kể từ sau ngày Đổi Mới năm 1986. Một không gian bé nhỏ như bàn thờ trong nhà cũng có thể chứa chấp vô số những câu chuyện để theo đuổi và một loạt các diễn ngôn xã hội để phân tích, mà rất tiện lợi là đều được trình bày sẵn trong một không gian hình học.


Cuối cùng, nhà văn Bích Ngân, bản thân cũng là một cán bộ cấp trung trong cơ cấu đảng cộng sản Việt Nam, có vẻ như đã tìm thấy phương pháp tiếp cận phù hợp để đánh giá đúng tôn giáo bằng nhân sinh quan Mác-xít. Trước đây tôn giáo bị những người cộng sản lên án, cho đến giai đoạn phục hồi trở lại trong không gian chung của dân tộc (Taylor 2004, 2007). Dù rằng các nhà nghiên cứu từ bên ngoài như giáo sư Kwon Heonik (2008) từng ghi nhận sự hòa giải trên bàn thờ gia đình của người Việt, họ lại chưa thể tiếp cận được cơ chế bên trong sự hòa giải đó. Trong tiểu thuyết của mình, nhà văn Bích Ngân đã đi xa hơn như vậy. Bà đã chỉ ra được giá trị xã hội của tôn giáo, là giá trị có thể đưa vào hệ thống định giá xã hội trong tư tưởng Mác-xít (Lê Thanh Hải 2016). Hơn vậy, bằng thủ pháp văn chương, bà còn dự phóng cả một con đường hòa giải rộng hơn cho toàn bộ xã hội, để sửa chữa cái Thế giới bị Xô lệch.


LTH.


Tham khảo


1. Đoàn Thị Ngọc 2016, [Damaged Character in Distorted World o Bich Ngan] Nhân vật chấn thương trong thế giới xô lệch của Bích Ngân, National Conference on Writer Generation afer 1975, University of Culture in Hanoi, 28.4.2016


2. Dương Bình Nguyên 2010, [Writer Bích Ngân: constantly in Distorted World] Nhà văn Bích Ngân: mải miết trong Thế giới Xô lệch, An Ninh Thế Giới Cuối tháng nr 23.3.2020


3. Dương Lài 2016, [Novel Distorted World form psychoanalysis perspective] Tiểu thuyết Thế giới Xô lệch dưới cái nhìn phân tâm học, Bachelor degree thesis, University of Education in Huế


4. Foucault, Michele (1969) English translation by Sheridan Smith 2002, Archaeology of Knowledge, Routledge.


5. Gardenfors, Peter 2004, Conceptual Spaces: The Geometry of Thought, Cambrigde USA: MIT Press


6. Hall, Edward T. (1966) 1992, Hidden Dimension, Anchor Books


7. Hobsbawm, Eric J. 1992, Nation and Nationalism since 1780: Programme - Myth - Reality, Cambridge University Press.


8. Hồ Hoài Khanh 2011, [Study the mind stream in the novel Distorted World by Bich Ngan] Tìm hiểu dòng ý thức trong tiểu thuyết Thế giới Xô lệch của Bích Ngân, Bachelor degree thesis in Literature Study, University of Education in Hochiminh City.


9. Kwon, Heonik 2008, Ghosts of War in Vietnam, Cambridge University Press


10. Lê Thanh Hải 2011, The making of the Vietnamese-ness in the 2000s – negotiations of national identities, PhD thesis, Institute of Philosophy and Sociology, Polish Academy of Science.


11. Lê Thanh Hải 2016, [Surplus in the Connection Economy] Giá trị thặng dư trong Nền kinh tế nối kết, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.


12. Low, Setha M. & Denise Lawrence-Zuniga ed. 2003, Anthropology of Space and Place: Locating Culture, Wiley-Blackwell


13. Nguyễn Thị Thái 2015, [The world of characters in short stories and novels of Bich Ngan] Thế giới nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết Bích Ngân, Master degree thesis in Vietnamese Language and Culture, University of Education in Hochiminh City


14. Nguyen, Ngoc Tuan 2008, Socialist Realism in Vietnamese Literature – an Analysis of the Relationship between Literature and Politics, VDM


15. Noe, Alva & Evan Thompson 2002, Vision and Mind: Selected Reading in the Philosophy of Perception, MIT Press


16. Phạm Trần Châu Âu 2017, [The image of soldier in the novel Distored World by Bich Ngan] Hình tượng người lính trong tiểu thuyết Thế giới xô lệch của Bích Ngân, Bachelor degree thesis in Literature, University of Tây Đô in Cần Thơ


17. Silverstone, Roger 2006, Media and Morality – on the Rise of Mediapolis, Wiley


18. Taylor, Philip ed. 2004, Goddess on the Rise: Pilgrimage and Popular Religion in Vietnam, University of Hawaii Press


19. Taylor, Philip ed. 2007, Modernity and Re-enchantment: Religion in Post-revolutionary Vietnam, Institute of South East Asian Studies


20. Trần Hoài Anh 2016, [From existentialism perspective thinking about creative approach of Bich Ngan in Distorted World] Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong Thế giới xô lệch, National Conference on Writer Generation afer 1975, University of Culture in Hanoi, 28.4.2016


21. Trần Xuân An 2010, [Distored World with distances full of darkness and wind] Thế giới xô lệch' với những khoảng cách đầy bóng tối và gió, VnExpress 25/2/2010, http://giaitri.vnexpress.net/…/the-gioi-xo-lech-voi-nhung-k…


22. Trịnh, Bích Ngân (2010) 2017, [Distorted World] Thế giới xô lệch, 6th edition, Hanoi: NXB Hội nhà văn, (page numbers in this essay are from a 266-pages MS Word version that the writer send to the researcher) Audio book read by Việt Hùng on radio frequency of Voice Of Vietnam, https://www.youtube.com/watch?v=FGIWTtXe2bs&t=555s


23. Võ Tấn Cường 2010, [Distorted World and a writer view point about the dimension of internal mind and human character] Thế giới xô lệch" và cái nhìn của nhà văn về chiều kích thế giới nội tâm và tính cách con người, 16/3/2010, http://votancuong.vnweblogs.com/…/the-gioi-xo-lech-va-cai-n…


24. Znaniecki, Florian 1934, Method of Sociology, University of Michigan Press


Bài dịch có sự đóng góp của tác giả tham luận, TS. Lê Thanh Hải.


Nguồn: Bích Ngân facebook


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
xem thêm »