tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21065381
Lý luận phê bình văn học
07.07.2017
Phan Quang
Thời gian không đổi sắc màu (3)



TÂM HUYẾT VÌ NỮ QUYỀN


Đạm Phương nữ sử là một danh sĩ đầu thế kỷ XX. Cùng thời, ở trong Nam bà Sương Nguyệt Anh làm chủ bút báo Nữ giới chung (1918), được nhiều người ngưỡng mộ, tuy nhiên tiếng chuông giới nữ chỉ dóng lên trong năm tháng. Ở ngoài Bắc, nhà thơ Tương Phố sáng bừng với Giọt lệ thu (1928), tiếc là tia chớp tài hoa biến khỏi văn đàn ngay sau đó. Trong khi đó tại miền Trung, bà Đạm Phương trong hơn mười năm xuất hiện đều đều trên nhiều cơ quan báo chí trong Nam ngoài Bắc: Nam phong, Hữu thanh, Tiếng dân, Trung Bắc tân văn, Thực nghiệp dân báo, Đông phương, Phụ nữ tân văn, vv.


Hoạt động văn hóa, của bà Đạm Phương đa dạng. Bà làm thơ, viết báo, viết truyện, dịch truyện nước ngoài, sưu tầm tư liệu làm từ điển, khảo cứu tuồng cổ, là nhà hoạt động xã hội, giáo dục. Bài này chỉ tìm hiểu hoạt động báo chí của bà.


Bà Tôn nữ Đồng Canh, bút danh Đạm Phương nữ sử, là cháu nội vua Minh Mạng, con gái Hoằng Hoá quận vương Miên Triện, một vị đại thần đồng thời là một nhà thơ. Trong cảnh hỗn độn, đất nước rối ren, triều đình “bốn tháng ba vua”, tuổi thơ của cô quận chúa cành vàng lá ngọc không êm ấm. Cô lên ba, thân sinh cô bị hạ phẩm hàm, giam lỏng rồi đưa đi quản thúc (1883). Cô lên bốn, cả gia đình phải bồng bế chạy loạn do “thất thủ kinh đô” (1884).


     Năm 1917, người Pháp cho xuất bản tạp chí Nam phong. Chủ bút Phạm Quỳnh vào Huế, đến thăm bà mời bà cộng tác với tạp chí. Đấy là cú huých đầu tiên đưa nhà thơ đến với tân văn. Từ bấy, bà ít dùng chữ Nho mà viết bằng quốc ngữ là chính. Sự cộng tác của bà với Nam phong tạp chí không lâu, phải chăng tại tạp chí ấy nặng về chính trị - học thuật trong khi bà quan tâm đến các vấn đề xã hội hơn?


     Năm 1925, nhà yêu nước Sào Nam Phan Bội Châu bị Pháp kết án tử hình. Trước sự phản kháng kịch liệt của nhân dân ta, chính quyền thực dân phải xoá án, đưa cụ về giam lỏng tại Huế. Bà Đạm Phương cảm nhận: “Từ khi cụ Phan đặng về Huế, dư luận rất là phân vân… Nhưng coi ra cụ rất là trấn tĩnh, hành chỉ rất là lỗi lạc quang minh, có vẻ chân thực đáng kính… Cho nên cụ Phan vẫn là cụ Phan, mà cảm tình cũng tức là cảm tình chân chính hết thảy” (Thực nghiệp dân báo, ngày 3-2-1926). Tại lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh tổ chức ở Đàn Nam Giao, Huế, bà Đạm Phương được cụ Phan Bội Châu mời đọc bài điếu văn cụ viếng bạn. Mươi hôm sau, ngày 15-6-1926, “Nữ công học hội” do bà Đạm Phương làm Hội trưởng khai trương, đích thân cụ Sào Nam đến thăm và diễn thuyết về vấn đề vận động nữ giới. Đúng vào lúc nhiều người kỳ vọng ở học hội, bà Hội trưởng bị Pháp bắt giam, nhà cửa bà bị lục soát, bởi chúng nghi bà có liên quan đến đảng Tân Việt. Tuy không bị kết án tù, bà buộc phải từ chức Hội trưởng.


Họa vô đơn chí. Con trai đầu của bà đang dạy trung học bị Pháp buộc thôi việc và trục xuất khỏi thành phố Huế quê hương. Con trai thứ của bà là Hải Triều bị đuổi khỏi trường Quốc học vì tội tham gia bãi khoá, ít lâu sau bắt bị giam ở Sài Gòn khi chúng nghi ông tìm dịp xuất dương. Người con cả lại bị Pháp bắt lần nữa, đánh đập dã man, về nhà thì qua đời (1931). Năm sau (1932), phu quân bà Đạm Phương lâm bệnh từ trần. Nhiều nỗi đau dồn dập, cộng thêm các sức ép khác là những nguyên nhân khiến Đạm Phương nữ sử giã từ báo chí, tập trung vào việc làm sách. Từ cuối năm 1930 trở đi, vắng hẳn bút danh Đạm Phương trên các phương tiện truyền thông.


Quãng đời làm báo của bà Đạm Phương không dài, khởi đầu năm 1918 và ngưng lại năm 1930 sau khi gặp “sự cố” đã nói ở trên. Trong khoảng thời gian ấy, Đạm Phương nữ sử chứng tỏ bà là cây bút sung sức, tự tin, có mặt đều đặn với sức lao động cao. Bà cộng tác với mấy tờ báo nổi tiếng tại cả ba trung tâm Hà Nội, Sài Gòn, Huế. Cùng lúc, bà giữ chuyên mục “Lời đàn bà” của nhật báo Trung Bắc tân văn và góp bài đều đặn cho mục “Văn đàn bà” trên tạp chí Hữu thanh, đồng thời cộng tác với một số tờ báo khác nữa.


Làm báo hằng ngày vất vả, đã đảm nhận một “chuyên mục” thì kỳ nào đến hẹn cũng phải có bài. Bà Đạm Phương lại không làm việc ngay tại tòa soạn báo ở Hà Nội mà vẫn sống “trong Huế”. Bảo đảm đủ và kịp thời bài vở cùng một lúc cho bất nhiêu cơ quan báo chí trong hoàn cành giao thông bưu điện nước ta đầu thế kỷ XX, cường độ lao động đối với một phụ nữ là khá lớn. Bà tiến nhanh trên trong nghề báo. So sánh những bài đầu tiên ký Đạm Phương đăng tạp chí Nam phong (1918) với những bài bà viết về sau, trên báo Phụ nữ tân văn chẳng hạn những năm sau, có thể thấy bước tiến của tác giả cả về nội dung lẫn hình thức. Những bài bà đăng tạp chí Nam phong năm 1918 là văn biền ngẫu, thi thoảng điểm mấy vần thơ cảm hoài, thì các bài đăng trên các báo Trung Bắc tân văn, Phụ nữ tân văn năm 1929-1930 ý tứ sắc sảo, hơi văn mạch lạc - nhất là những bài luận chiến. Nói cách khác, tư tưởng và văn phong của bà ngày một “hiện đại” hơn.


Có thể nói, từ cây bút tài tử, Đạm Phương nữ sử mau chóng trở thành nhà báo chuyên nghiệp có bản lĩnh, có tay nghề. Từ nhà thơ tài hoa, bà trở thành nhà giáo dục học tâm huyết.


Con người sinh ra ở đời, có ai thoát khỏi dấu ấn hoàn cảnh gia đình và điều kiện giáo dục. Trường hợp bà Đạm Phương, đó là đẳng cấp xuất thân, là gia thế nhà chồng, là ý thức hệ phong kiến đã thấm vào xương tủy bà từ tuổi ấu thơ, cùng bao nhiêu tập tục lễ giáo cung đình, vọng tộc. Bà không được tiếp cận tư tưởng Âu Tây tại học đường. Dễ hiểu vì sao phương pháp tư duy của bà không bằng lớp sau, mà tiêu biểu là con đẻ của bà: cây bút chính luận Hải Triều.


 Vượt qua vô vàn ràng buộc, Đạm Phương nữ sử có đủ nghị lực và ý chí vươn lên. Từ lòng nhân ái và mong muốn có ích cho “nhân quần”, bà dần trở thành nhà hoạt động xã hội vì dân chủ, dân quyền. Đọc lại các bài báo sau cùng của bà, chúng tôi có cảm tưởng dường như nhà báo Đạm Phương đã sẵn sàng tiếp cận tư tưởng tiên tiến của thời đại.


Cùng với bà Sương Nguyệt Ánh, bà Đạm Phương là một trong hai nhà báo nữ đầu tiên lên tiếng đấu tranh vì nữ quyền và bình đẳng giới ở nước ta. Bà Đạm Phương không có điều kiện bày tỏ có hệ thống ngay từ đầu quan điểm của mình về nữ giới, nữ quyền, bình đẳng giới và bình đẳng xã hội. Lộ trình tư duy của Đạm Phương nữ sử đại thể như sau:


Con người sinh ra trên đời, nữ cũng như nam, bất cứ ai cũng có thể chất và tâm hồn, không ai là cây cỏ, không ai là thú vật. Về thể chất, phụ nữ không mạnh mẽ bằng nam giới song lại có thiên chức làm vợ, làm mẹ, giáo dục con cái từ thuở nằm nôi, thậm chí từ khi cái thai còn trong bụng mẹ. “Cái thiên chức ấy tùy theo thời thế hoàn cảnh mà cải tạo gia đình dính liền với xã hội, để gây hạnh phước cho quần chúng” (Báo Phụ nữ tân văn, ngày 6-3-1930). Sở dĩ phụ nữ phải chịu đè nén ngay từ trong gia đình và bị áp bức khi ra xã hội, chủ yếu do họ ít được học. Muốn tiến lên ngang bằng nam giới, phụ nữ cần có học thức. Mục tiêu cao cả của giáo dục là đem lại hạnh phúc cho mọi người. Cần phải thay đổi “quan niệm hủ lậu” cản trở phụ nữ tiến xa trên đường đời. “Đàn bà là người, đàn bà là phần nửa nhơn loại... Nếu tất cả đàn bà thế giới không có học thức, thì một nữa nhân loại có lẽ là thú cả” – bà quả quyết. Phụ nữ phải học suốt đời, học đi đôi với hành. Noi bình đẳng xã hội là nói có bình đẳng giới trong đó. Bà tâm đắc ý của Lương Khải Siêu, Trung Quốc: “Cuộc vận động nhân quyền theo nghĩa rộng tức là vận động nữ quyền (Báo Trung Bắc tân văn, ngày 25-9-1926).


Về hoạt động thực tiễn, thời gian đầu Đạm Phương nữ sử nặng về giáo dục các em nữ theo mô hình gia đình nền nếp công, dung, ngôn, hạnh (bà đặt ngôn và hạnh lên trước dung). Các em gái học thêu thùa, may vá, làm việc nội trợ, ai có điều kiện thì học cầm, thi, họa… Dần dà cái nhìn của tác giả tiến bộ hơn, sát nhu cầu cuộc sống hơn. Bà dần coi trọng các ngành thủ công, kể cả nghề vất vả như nuôi tằm ươm tơ, miễn là làm ra thêm thu nhập cho gia đình. Bà cổ vũ phụ nữ tham gia công tác xã hội. “Nữ công chẳng những giúp cho đàn bà về đường tự lập, mà lại về đường sinh kế, và thứ nữa là cái mầm mống của sự công nghệ thực nghiệp nước nhà sau này” (Báo TBTV ngày 21-6-1926). “Để bước lên cái bước thành nam nữ bình quyền, nữ giới cần có học thức rộng” (ngày 6-3-1930).


Nhà phê bình văn học Thiếu Sơn từ những năm 1930 đã nhận xét: “Đứng về phương diện nghệ thuật mà nói thì hai bộ tiểu thuyết (Kim tú cầu 1928, Hồng phấn tương tri 1929 của Đạm Phương nữ sữ) còn nhiều khuyết điểm lắm. Song nếu lấy nó để khảo thêm về tâm chí tác giả, thì ta sẽ thấy Đạm Phương nữ sử là một bậc nữ sử tiên giác đã biết rõ cái hoàn cảnh mình, cái xã hội mình, muốn kiếm những phương thuốc để sửa đổi lấy nó, và muốn nêu ra những lý tưởng hoàn thiện làm mục đích cho sự cải cách này”.


Từ gia đình phong kiến khép kín bước ra xã hội rộng mở, Đạm Phương nữ sử sớm khẳng định là một nhà hoạt động có tài tổ chức. Có thể coi là kỳ công cuộc vận động khéo léo của bà nhằm dựng lên “Nữ công học hội” (1926), tổ chức giáo dục tư nhân đầu tiên dành cho phụ nữ ở nước ta, lại mở tại kinh đô phong kiến dưới ách thực dân, mà vẫn tranh thủ được sự công nhận của nhà cầm quyền. Tổ chức ấy tạo thanh thế cho bà mở rộng giao lưu, liên kết với trí thức trong Nam ngoài Bắc.


Bà Đạm Phương không công khai bài bác chế độ phong kiến. Tuy nhiên, khách quan mà xét, nhiều quan điểm của bà về giáo dục, xã hội đi dần từ thấp tới cao, kết hợp lý thuyết với thực hành, là sự phủ định gián tiếp nhiều quan điểm vốn được coi là nền tảng của hệ ý thức phong kiến.


Theo bà Nguyễn Khoa Diệu Biên và ông Cửu Thọ, những người trong gia đình bà, Đạm Phương nữ sử còn có Năm mươi năm về trước, “một cuốn tiểu thuyết vạch trần những xấu xa thối nát của cuộc sống trong cung đình”. Cuốn sách bị Sở kiểm duyệt Pháp tiêu hủy ngay khi bản thảo được nộp để xin giấy phép xuất bản (1944). Có thể suy luận: Nếu cuốn tiểu thuyết của bà Đạm Phương đơn thuần vạch trần những xấu xa thối nát của cuộc sống cung đình, chưa chắc nó bị nhà cầm quyền Pháp tiêu hủy bản thảo. Ngược lại, họ còn có thể khuyến khích là khác, bởi người Pháp luôn tìm cách làm mất mặt hoàng triều trước nhân dân ta để họ càng dễ bề thao túng hơn, nhất là giảm thiểu khả năng một ngày nào đó từ cung đình chẳng đột ngột xuất hiện một Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân khác.


Với những hoạt động xã hội, văn hóa, giáo dục, báo chí của Đạm Phương nữ sử, sinh thời bà được dư luận đánh giá cao. Ngày nay, sau hơn nửa thế kỷ bà qua đời, chúng ta có đủ căn cứ để khẳng định: Đạm Phương nữ sử là một ngôi sao sáng của báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX. Bà là một trong số nhà báo được nhiều người biết nhất, bất luận nam hay nữ, thời bấy giờ. Bà là cây bút nữ thành danh cả trên văn đàn và báo chí. Bằng tài năng, nghị lực và cống hiến của mình, Đạm Phương nữ sử tự khẳng định là một trong số hiếm hoi những nhà văn, nhà báo lớn thuộc phái nữ nước ta trước Cách mạng tháng Tám 1945[1].


PQ.


(còn tiếp)


Nguồn: Thời gian không đổi sắc màu. Tập Phê bình – Tiểu luận của Phan Quang. NXB Văn học, 6-2017.


www.trieuxuan.info







[1] Những trích dẫn trong bài rút từ sách Tuyển tập Đạm Phương nữ sử, Lê Thanh Hiền sưu tầm, biên soạn, giới thiệu, Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa, Nxb Văn học, 2010.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »