tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21065397
Lý luận phê bình văn học
06.07.2017
Phan Quang
Thời gian không đổi sắc màu (1)



Được sự đồng ý của nhà văn Phan Quang, từ hôm nay, www.trieuxuan.info sẽ post một số bài trong tập Phê bình - Tiểu luận "Thời gian không đổi sắc màu". 286 trang. NXB Văn học, tháng 6-2017.


www.trieuxuan.info


LỜI THƯA


Nỗi đam mê đọc sách trong tôi là cái tật bẩm sinh mang tính di truyền, lại bị bội nhiễm, từ thuở ấu thơ cho đến lúc về già tôi gần như sống trong môi trường sách, làm việc ở đâu, nhìn vào phía nào cũng thấy sách và sách. Do vậy, hễ có chút thời gian rảnh rỗi là tôi cầm cuốn sách. Trong công việc hằng ngày dù lúc xắn quần lội ruộng cùng nông dân hay vi vu đến một phương trời nào đó làm một việc được cấp trên giao, lại càng thấy không thể không đọc sách trước, trong và sau mỗi chuyến đi.


Sách dở sách hay, gặp là tôi đọc. Sách dở, hay nói chuẩn xác hơn, cuốn sách mình không thích thú lắm thì đọc qua loa; cuốn mình tâm đắc hoặc ngưỡng mộ, đọc kỹ, có khi đọc đi đọc lại, ngẫm ngợi và đánh dấu những trang, những dòng, những ý thú vị bên lề trang sách. Đọc sách là dịp cho tôi suy ngẫm về nghề và nghiệp, cũng có khi nhân đấy lan man luận bàn thế sự. Có sao đâu! Sách là đời. Nhiều trường hợp đọc xong, gấp sách lại tôi ghi mấy dòng cảm nhận. Ghi để khi cần, dễ tìm đọc lại, đỡ mất thời gian. Một số ghi chép ấy được sửa sang đôi chút, trở thành bài “đọc sách” dài ngắn bất kỳ. Sách của các danh gia đã đành, có nhiều cuốn của bằng hữu lẽ dĩ nhiên không phải cuốn nào cũng tuyệt tác nhưng dù hay nhiều hoặc không hay mấy vẫn mang tâm huyết và công phu của tác giả, vẫn cung cấp cho mình một số thông tin, nhất là nghĩ đến nghĩa tình bè bạn với nhau. Tôi nhớ mãi câu nói của nhà thơ Chế Lan Viên: “Chúng mình sống với nhau bốn mươi năm, chẳng lẽ không viết cho nhau được bốn trăm dòng”.


Tập sách này gộp lại một số bài đọc sách phần lớn mới viết gần đây, có chỉnh trang đôi chút trước khi trình bạn đọc, coi như tấm lòng một người suốt đời cầm bút bày lòng tri ân sách, người bạn muôn đời.


Hà Nội, Xuân 2017


 


 


 NGƯỜI BẠN MUÔN ĐỜI


 


Sách không chỉ là tập giấy


 


Sách không đơn thuần là “Tập hợp một số lượng nhất định những tờ giấy có chữ in, đóng gộp lại thành quyển”, như nhiều cuốn từ điển phổ thông định nghĩa. Trong số đó có “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1988, “Từ điển phổ thông Pháp ngữ”, NXB Hachette, Paris, được ấn hành nhân Hội nghị cấp cao Pháp ngữ họp tại Hà Nội tháng 11-1997, “Từ điển tiếng Pháp Larousse” quen thuộc với những ai ít nhiều có biết tiếng Tây. Tổ chức UNESCO còn chu đáo hơn, chuẩn mực hơn: Sách là “Xuất bản phẩm không định kỳ được in gồm ít nhất 49 trang, không bao gồm các trang bìa!”. Từ điển tiếng Pháp “Le Petit Robert” tương đối cập nhật (1973) viết, sách là “Tập hợp một số lượng tờ giấy mang những ký hiệu để cho người ta đọc”. Cách dẫn giải này phù hợp với quan điểm của Viện Hàn lâm Pháp, chế định có trách nhiệm ban hành tiêu chuẩn ngôn ngữ Pháp: “(Sách là) tập hợp những trang giấy chép tay hoặc in để đọc”.


Định nghĩa này thể hiện hai ý quan trọng: Sách bao gồm cả sách in và sách chép tay, và sách làm ra là để cho người ta đọc. Ý sau quán xuyến tất cả. Tuy nhiên, đó cũng mới  nói đến sách in hoặc sách chép trên giấy. Ngày nay một học sinh cấp 2 vẫn có thể nhún vai: “Cháu ngày nào chẳng đọc, có cần đến giấy đâu!”.


Tôi cố tình tầm chương trích cú nhằm đi tới nhận xét: Chữ, theo các nhà cổ học, xuất hiện với loài người cách ta chừng mươi thiên niên kỷ trở lại đây[1] và sách, phương tiện dùng để cố định và lưu truyền chữ viết cho hậu thế dưới nhiều dạng vật chất chứ không đơn thuần trang giấy, từ bảy, tám nghìn năm về trước, vậy mà vẫn có nghịch lý là chức năng chủ yếu (và cao quý) của sách cho đến nay hình như chưa hẳn được tất cả những người thường xuyên tiếp cận và sử dụng sách cảm nhận trọn vẹn.


Cuốn sách là vật dụng thường ngày như bát cơm ăn, tấm áo mặc, chiếc nón đội đầu, cây dao đi rừng của bà con miền núi hay chiếc xe gắn máy giúp người đô thị dịch chuyển và gây ùn tắc giao thông... Chức năng của sách, gắn liền với chữ, tồn tại ít nhất bốn vạn năm nay, gắn bó với người, thúc đẩy sự tiến triển của xã hội. Sách không một phút xa rời cuộc sống cơm áo (vật chất) và đời sống tinh thần (văn hóa) của người. Sách không đơn thuần là một tập hợp những trang giấy, hay ngược thời gian, những thanh tre, tấm lá cọ, những phiến đất sét nung từa tựa gạch ngói ta vẫn dùng..., sách có hồn, hồn của sách chính là hồn nhân loại.


Đối với người phương Tây, những dạng sách đầu tiên có thể xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà. Các nhà khảo cổ học đã khai quật và tìm thấy mười hai phiến đất sét nung thành gạch (tôi gọi gạch bởi nhìn thấy nó dày và bền chắc hơn những tấm ngói lợp nhà) chép một phần Trường ca Gingamet[2], thiên sử thi truyền tụng việc khai thiên lập địa không giống với cách được biết phổ cập hơn nhờ phần “Khai sáng” trong Cựu ước của Đạo Do Thái và Đạo Cơ Đốc.


Người A Rập, nhờ phát hiện những phiến đá khắc chữ cổ đã có thể hình dung thậm chí xác định những địa điểm hình thành các bộ lạc đầu tiên sống bằng du mục là chính, tổ tiên của họ, cũng như con đường tổ tiên họ đã từ phía Nam bán đảo A Rập đến Trung Đông và dừng lại để cùng người bản địa thành lập nước Syrie ngày nay.


Người Việt Nam tiếp cận nền văn minh Trung Hoa cổ đại từ hai ngàn năm trước, vì vậy chúng ta chẳng lạ gì chuyện chữ khắc trên mai rùa, phiến đá, thanh tre trước khi được in lên lụa và lên trang giấy. Nhiều nước phương Đông dùng chữ tượng hình có làm ra loại sách ghép bằng những tấm lá bằng vàng (Kim sách) hoặc bạc (Ngân sách) ghi chép đế phả, vương phả của dân tộc mình. Người viết bài này có lần được một người bạn Đài Loan cho xem rồi tặng một bản chụp lại bộ “Đồng sách” ghép bằng những tờ kim loại khắc dòng dõi họ tộc ông, vốn từ một miền núi cao trong đại lục, qua từng bước du cư về cùng đồng bằng, cuối cùng được các cụ mang theo khi “tùy nghi di tản” cuốn gói chạy sang đảo này cùng tàn quân Tưởng Giới Thạch năm 1949. Tại miền núi nước ta, một số dân tộc thiểu số nay vẫn giữ những bản sách gia truyền chép trên những thanh tre già kết nối bằng những sợi chỉ gai bền, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, lưu giữ thông tin về nguồn gốc và hành trình các chuyến di cư của tổ tiên trong lịch sử.


Đối với nền văn minh sông Nil ở châu Phi, sách in gắn liền với papyrus, nguồn gốc các từ papier, paper trong tiếng Pháp, tiếng Anh. Papyrus là tên một loài cói mọc hoang ven các bờ suối hoặc đầm lầy, thớ sợi cói rất mịn, người ta có thể xếp các cây cói sát vào nhau trên tấm ván, dùng chày đập nhẹ cho chúng bẹp lại và kết dính, rồi tiếp tục đập nữa, đập mãi cho đến khi hình thành tờ mỏng đều, đưa ra phơi nắng cho thật khô, thành một loại giấy mỏng và đẹp, rất bền. Du khách thăm Đất nước các Kim tự tháp có thể đăng ký nhập các tua lữ hành nội địa, sau hành trình du ngoạn trên con thuyền gắn máy len lỏi qua nhiều con suối, nguồn khe hoang dại, sẽ dừng lại một làng nghề truyền thống, xem người dân Ai Cập sản xuất giấy papyrus đúng lối cổ truyền như năm ngàn năm về trước. Bạn có thể mua một bức tranh dân gian nhiều màu sắc, in hình một đức Pharaon hoặc chân dung Nữ hoàng Nefertiti xinh đẹp và nổi tiếng về tài tham chính thời cổ đại, với cái giá chưa bằng một lon bia trong nhà nghỉ.


Người lục địa Ấn Độ theo đạo Ấn, đạo Bà La Môn, đạo Phật và muôn vàn tôn giáo khác - thi hào Rabinranath Tagore chẳng từng gọi đất nước ông là “xứ sở của triệu triệu thần linh” đó sao - chép kinh, sách của đạo mình trên một loại lá. Một số chùa thờ Phật giáo Nam tông ở miền Nam nước ta ngay nay vẫn còn lưu giữ được một phần nhỏ những trang Kinh Phật chép bằng chữ Phạn hoặc chữ Pali trên những tấm lá cọ khô theo lối ấy.


Đế quốc Ai Cập suốt mấy ngàn năm trị vì, giữ độc quyền sản xuất giấy papyrus. Người châu Âu thời trung đại, muốn có giấy để chép và truyền bá Thánh Kinh đạo mình buộc phải dùng loại giấy sản xuất bằng da bê hoặc da bò (giấy da bò không mềm, không mỏng bằng giấy da bê) nhưng giấy da bê hay giấy da bò loại nào cũng hiếm cũng đắt tiền. Thời ấy đã có người Âu châu phát minh cách làm giấy làm bằng giẻ bông, vải vụn, tuy nhiên sản phẩm chế biến từ thứ nguyên liệu phàm tục ấy không được phép dùng để sao chép và truyền bá lời dạy bảo của các đấng tối thiêng.


Châu Âu lẩn quẩn trong vòng khó khăn ấy mãi đến thế kỷ XII, các thương lái Trung Hoa và A Rập mới qua đường biển du nhập các loại giấy dó, giấy bản sản xuất từ bột thực vật vốn được dùng khá phổ biến từ nhiều thế kỷ trước tại Trung Hoa để in sách bằng những bản chữ khắc trên gỗ (mộc bản). Giấy từ Phương Đông cập bến đầu tiên vào bán đảo Sicile nước Ý và bờ biển Tây Ban Nha ngày nay, từ đó lan tỏa vào Lục địa Già. Người châu Âu mầy mò học theo ấy, làm ra giấy, tạo tiền đề để sau khi bác thợ thủ công người Đức mang tên Johannes Gutenberg (1395 - 1468) sáng chế thành công kỹ thuật ấn loát với cách xếp những con chữ chì đúc rời thành dòng thành cột (ta quen gọi in typo), nhờ đó số Kinh Thánh Đạo Cơ Đốc, theo Bill Gates[3], từ vài ba vạn bản trong toàn bộ châu Âu tăng vụt lên hơn mười triệu bản trong vòng mấy chục năm sau. Cái gọi là văn hóa đọc ở châu Âu thật sự ra đời là nhờ tài năng của bác công nhân Đức.


Văn minh loài người hình thành từ sách


 


Chữ Hán (thời trước dân gian ta gọi chữ Nho), phương tiện khởi đầu và chuyển tải một nền văn minh lớn ở phương Đông cổ đại không phải do Hoàng đế làm ra như vẫn lưu truyền suốt mấy ngàn năm nay trong mọi kinh sách Trung Hoa. Lý do đơn giản Hoàng đế chỉ là nhân vật hư cấu, Hoàng đế chưa từng tồn tại trên thế gian như chép trong sử sách nước Trung Hoa.


Gần đây các nhà khoa học dựa trên những di tích khảo cổ được phát hiện như mai rùa, khúc xương có khắc chữ tượng hình, phỏng đoán chữ viết ở Trung Quốc ra đời vào khoảng 1800 năm trước Tây lịch, tức cách chúng ta hơn 3800 năm.


Ai Cập cũng là một nước có chữ viết lâu đời nhất thế gian, sớm hơn chữ Hán nhiều. Các nhà cổ học Ai Cập cũng như Âu Mỹ đều gần như nhất trí cho là “tiếng Ai Cập” loại ngôn ngữ cổ nhất của Ai Cập, nay không còn dùng, ra đời vào khoảng năm 2690 trước Tây lịch - tức trước chữ Hán đến 900 năm[4]. Đó là ngôn ngữ hình thành xưa nhất sau tiếng Sumer ở miền Lưỡng Hà, mà thời điểm xuất hiện được phỏng định vào khoảng giữa thế kỷ 31 đến thế kỷ 26 trước Tây lịch - nói cách khác, cách chúng ta trên dưới năm ngàn năm!


Chữ viết ở châu Âu ra đời muộn hơn, tuy nhiên để lại dấu ấn lớn trong nền văn minh phương Tây với hai tác phẩm được cho là của Homère: Các sử thi Iliade kể về cuộc chiến thành Troie, và Odyssée, chuyến về quê của Ulysse một nhân vật trong sử thi kia, sau chiến thắng tại chiến trường vượt trùng dương trở về hòn đảo quê hương gặp người vợ yêu quý mười năm đằng đẵng chờ chồng. Hai thiên sử thi ấy được coi là những tác phẩm đặt nền tảng cho văn học Tây phương, ngày nay có nhà làm từ điển dám chốt lại một câu chắc như đinh đóng cột: “Iliade và Odyssée, hai thi phẩm sáng lập nền văn minh châu Âu”[5].


Ở Việt Nam ta, nhà thơ Chế Lan Viên viết:


Khi Nguyễn Trải làm thơ và đánh giặc


Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn,


phải chăng cùng chung cảm nhận?


Homère là một nhà thơ. Cái tên Homère đồng nghĩa với hai từ “thi nhân”. Nhưng định mệnh bắt ông phải mù. “Nữ thần Thi ca đã đoạt mất của ông đôi mắt, bù lại, ban cho ông giọng ngâm thơ kể chuyện tài hoa” - người xưa truyền tụng thế.


 Người mù thường có đôi tai thính, và đặc biệt trí nhớ tốt, đầu đuôi mạch lạc. Phải chăng những người hát xẩm của nước ta xưa ở miền Bắc hay những người nói vè ở miền Trung, định mệnh cũng đã bắt phần đông trong số họ phải chịu cảnh mù lòa. Một học giả nổi tiếng hùng biện thời Hy Lạp cổ là Dion Chrysostome quả quyết: “Tất cả các thi nhân đều là người mù, nếu không mù lòa thì làm sao có thể trở thành nhà thơ!”.


Theo truyền thuyết, Homère là ông già mù làm nghề đi hát thơ rong (tôi nghĩ gọi nói thơ có lẽ đúng hơn)[6], vào thế kỷ VIII trước Tây lịch, chuyên kể nội dung hai thiên sử thi vừa dẫn ở trên, Iliade và Odyssée. Ông là người hát, người ngâm, người kể tác phẩm do người khác làm hay là tác phẩm của chính ông sáng tác? Dường như lịch sử cổ đại Hy Lạp từ thời xa xưa đã thiên về thuyết Homère đích thực là tác giả. Vì vậy, sử sách châu Âu xưa cũng như nay, khi nói về hai thiên sử bất tử ấy thường dùng đại từ sở hữu của: “Iliade và Odyssée của Homère”.


Trời bắt thi nhân mù đôi mắt. Lẽ đương nhiên đã là người mù thì không thể tự tay mình viết ra tác phẩm. Thiên sử thi Iliade kể về cuộc chiến thành Troie diễn ra trước thời Homère sống những bốn trăm năm. Và các câu chuyện do nhà thơ vĩ đại nhất trong tất cả các nhà thơ từ xưa tới nay hát, ngâm hay nói, sẽ được chép thành văn bản hoàn chỉnh vào triều đại Pisistrate, thế kỷ IV trước Tây lịch. Sử thi Iliade gồm 84 thiên. Sử thi Odyssée tiếp nối Iliade được phân thành ba phần, gồm 24 thiên. Các nhà nghiên cứu khẳng định: Iliade và Odyssée thể hiện cái mốc truyền chuyển văn học từ dạng lời sang dạng chữ ở châu Âu.


Giá không có sự truyền chuyển bằng văn tự ấy, làm sao chúng ta ngày nay có thể thưởng thức các câu chuyện hùng tráng với cách thể hiện tài hoa về Cuộc chiến thành Troie và Chuyến viễn hành trên biển cả của chàng Ulysse, cùng bao nhiêu kiệt tác khác?


Như vậy, chữ viết là điều kiện hình thành và tồn tại nội dung cuốn sách. Và đổi lại, sách thể hiện mong ước và quyết chí của con người muốn vật chất hóa bền lâu một văn bản vốn chỉ được suy ngẫm trong đầu hay đang trong quá trình sáng tạo. Sách sáng lập nền văn minh của loài người.


Nói sách là thể xác, chữ là trí tuệ và tâm hồn, bởi một thể xác vắng trí tuệ và tâm hồn thì không phải là người, và ngược lại, tâm hồn và trí tuệ không hiện hữu trong thể xác thì chỉ có thể là thần linh mà thôi.


 


 


 NGƯỜI ĐÁNH THỨC MỘT THẾ HỆ THANH NIÊN


 


Tôi sẽ làm việc ngốc nghếch của một người không biết phận nếu dám giới thiệu đầy đủ trên phương tiện thông tin Tác phẩm của Nguyễn An Ninh. Nhà báo, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng sinh thời có lần được khẩn khoản mời viết bài về Nguyễn An Ninh, đã nói: “Từ trong tấm lòng, tôi tự thấy mình không đủ tư cách viết về chí sĩ Nguyễn An Ninh - một trong những khuôn mặt lớn của Việt Nam hiện đại”1. Giáo sư Trần Văn Giàu, nhà cách mạng lão thành thâm niên và anh hùng lao động thời đổi mới, cho biết: “Bản thân tôi những năm trẻ tuổi đi vào con đường cách mạng, tôi được nhiều người dìu dắt, mà người dẫn dắt trước hết, sâu sắc nhất, quyết định nhất chính là anh Nguyễn An Ninh”. Giáo sư khẳng định: Nguyễn An Ninh là một người trước năm 1930, “đã có công đánh thức cả một thế hệ thanh niên còn mê ngủ”2. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh viết: “Nguyễn An Ninh là một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà trí thức tầm cỡ, nếu chịu khuất phục bọn đế quôc, chắc chắn ông sẽ giàu có và sống vương giả. Nhưng vì yêu nước, thương dân, ông đã đi vào quần chúng lao động, vận động họ chống lại đế quốc và tay sai” (8-1993). Thủ tướng Phạm Văn Đồng bày tỏ với đoàn làm phim về Nguyễn An Ninh: “Nguyễn An Ninh là một nhà yêu nước, một chiến sĩ cách mạng kiên cường, kiên quyết đấu tranh vì tổ quốc và dân tộc cho đến hơi thở cuối cùng. Nguyễn An Ninh có tầm vóc một nhà lãnh đạo một cuộc cách mạng…” (tháng 7-1993).


Nhiều người Việt Nam nghe danh Nguyễn An Ninh là một chiến sĩ cách mạng kiên cường hy sinh tại nhà tù Côn Đảo, một nhà báo lỗi lạc bằng cây bút và lời nói, từng làm cho những tên thực dân cáo già điên đầu, song nói chung thường là “nghe nói”, “từng đọc ở đâu đấy”… Giáo sư Mai Quốc Liên có lý khi anh viết: “Rất ít người đọc Nguyễn An Ninh. Mà chưa đọc, mới chỉ nghe nói qua qua, thì làm sao hiểu ông được, nếu không nói là chưa hiểu gì hoặc hiểu sai…”3.


Vấn đề là ở chỗ: đọc ở đâu? Tìm đâu ra mà đọc?


May thay, có những người tâm huyết, trước hết là con gái và con rể cụ Nguyễn An Ninh, bà Nguyễn Thị Minh và ông Nguyễn Sơn, cùng anh chị em trong gia đình cụ và một số nhà trí thức tâm huyết. Bằng lao động âm thầm, các vị đã sưu tầm và đã chuyển sang Việt ngữ những bài Nguyễn An Ninh viết bằng tiếng Pháp từ đầu những năm 1920 cho đến khi ông bị thực dân Pháp bí mật đưa giam tại nhà tù Côn Đảo và hy sinh năm 1940, kể cả một số bài được lưu truyền là do ông viết trong nhà tù. Cho đến bây giờ, đây là bộ sưu tập công phu nhất. Chắc chắn sẽ chẳng bao giờ có bộ sưu tập thật sự đầy đủ, không chỉ vì nhiều tác phẩm của ông bị tản mác, khó tìm ra, mà còn con vô số bài, để tránh con mắt của mật thám Pháp, ông viết không ký tên, hoặc ký những bút danh chỉ có riêng ông cùng vài người bạn thân tín biết - mà tất cả nay đều đã là người thiên cổ. May mắn có một số bạn bè, đồng chí, người thân hoạt động cùng thời với Nguyễn An Ninh nhớ lại và ghi chép đôi điều về ông, có nhà báo miền Nam trước 1975 đã tốn công sưu tầm để kể lại những ngày cuối cùng của ông ở địa ngục trần gian Côn Đảo (còn gọi đảo Côn Nôn). Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã tài trợ một số tiền, góp phần để Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Văn học in và công bố một cuốn sách nghiêm túc, đồ sộ, dày gần 1400 trang khổ lớn, Nguyễn An Ninh - Tác phẩm (2009). Kèm theo, tập tư liệu quý: Nguyễn An Ninh qua hồi ức của những người thân, dày gần 500 trang in cùng khổ giấy.


 


Nguyễn An Ninh - Tác phẩm gồm 5 phần. Mở đầu bằng bài Tựa của Giáo sư Trần Văn Giàu cùng bút tích Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Phần nội dung gồm những tác phẩm báo chí của Nguyễn An Ninh viết bằng tiếng Pháp (khoảng 240 bài), bằng tiếng Việt (khoảng 130 bài) xếp theo thự thời gian, đăng trên các báo Le Paria, La Cloche fêlée, L’Annam, La Lutte, L’Avant-Garde, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Công luận, Đonnai, Đuốc nhà Nam, Trung lập, Dân chúng (trừ tờ Le Paria, các báo nói trên đều xuất bản công khai tại Sài Gòn). Về sách tiếng Pháp, có hai: Lý tưởng của thanh niên An Nam, và Nước Pháp ở Đông Dương. Sách quốc ngữ khá nhiều: Dân ước, Tuồng hát Hai Bà Trưng, Tôn giáo, Phê bình Phật giáo, cùng tám cuốn trong Tủ sách sưu khảo Phương Lan. Ngoài ra có nhiều tư liệu quý hiếm, cũng như toàn văn bản chụp lại cuốn La France en Indochine (Nước Pháp ở Đông Dương) do nhà in Debeauve, Paris ấn hành năm 1925.


Nguyễn An Ninh qua hồi ức của những người thân, gồm hai phần: Cùng anh đi suốt đời, hồi ký của bà Nguyễn An Ninh, và Nguyễn An Ninh “Tôi chỉ là cơn gió thổi”, hồi ức của bà Nguyễn Thị Minh về thân phụ mình. Trong tập này còn có bài phóng sự hồi ký dài của nhà báo Nguyễn Ngọc Danh  Những ngày cuối cùng của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh tại Côn Đảo đăng trên báo Tiếng dội miền Nam xuất bản tại Sài Gòn năm 1961, và bài của nhiều “chứng nhân” như Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Thị Lựu, Trần Bạch Đằng.


 


Nói Tác phẩm là nói Con người, nói thời đại người ấy sống và hoạt động. Các vấn đề ấy, như đã thưa, quá tầm của người viết bài báo này, và cũng vượt khỏi khuôn khổ bài giới thiệu sách. Để bạn đọc có cái nhìn khái quát về Tác phẩm, chỉ xin trích dẫn sau đây một số ý kiến của các bậc tiền bối nói về Nguyễn An Ninh.


Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Nguyễn An Ninh là người Việt Nam đầu tiên ở Nam Kỳ đã hô hào thanh niên hãy thoát ra khỏi cái hẹp hòi của Khổng giáo, thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình, đi thật xa để học hỏi và trang bị cho mình một lý tưởng cao cả, không có lý tưởng cao cả thì không làm nên việc lớn”. Ông nhớ lại: “Những ngày chập chững vào con đường cách mạng ở tuổi 14-15, tâm trí tôi lúc ấy như một tờ giấy trắng, mà người đầu tiên viết lên đó những dòng chữ về yêu nước, về lý tưởng, về hoài bão, không ai khác hơn là Nguyễn An Ninh…” Giáo sư kể tiếp: “Trong bài Cao vọng của thanh niên An Nam (tức Lý tưởng thanh niên), ông có lời phê phán: “Các bạn thử nhìn, thử quan sát đám thanh niên đầy tham vọng đang thả rểu ngoài đường, mặc đồ tây, thắt cà vạt, tướng đi như vịt đực…” Lời phê bình đó hay lắm, đúng lắm, mà thấm lắm. Tôi còn nhớ trong tác phẩm Bản án của chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc xuất bản ở Paris năm 1925 cũng có câu phê phán thanh niên thời đó khiến ta nhớ đời: “Hỡi Đông Dương đáng thương! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già hấp của người không sớm hồi sinh”.


Nhà cách mạng Hà Huy Giáp (1907-1995), Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ năm 1930, cho biết: Trong khi nghiên cứu sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ, ông đã đọc nhiều tài liệu, và đi đến nhận xét: “So sánh hai tờ báo La cloche fêlée xuất bản tại Sài Gòn 10-12-1923 với tờ Le Paria xuất bản ở Paris 1-4-1922, thấy như hai anh em sinh đôi ở hai thời điểm khác nhau. Nội dung đều tố cáo chế độ thực dân, giới thiệu nước Nga bônsêvich… Có những bài trong Le Paria đã đụng chạm tới thì sau La Cloche fêlée cũng lại nói tới… Đối với tờ Le Paria, Nguyễn Ái Quốc lo liệu hầu như tất cả: nội dung, tài chính, in, phát hành, thì đối với La Cloche fêlée Nguyễn An Ninh cũng lo tất cả mọi việc… Đầu năm 1925, Nguyễn An Ninh trở sang Pháp đánh chuông báo động. Anh xuất bản một tập sách nhỏ Nước Pháp ở Đông Dương… (Cuốn này) xuất bản cùng thời với Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc, là những bản cáo trạng vạch trần cái gọi là “sứ mạng khai hóa” của thực dân Pháp ở Đông Dương, là tiếng chuông cảnh tỉnh ít nhiều nhân dân Pháp và làm cho bọn thực dân hoảng hồn”.


Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Cho đến ngày nhắm mắt, anh Ninh vẫn chưa phải là đảng viên cộng sản. Nhưng những người cộng sản hoạt động cùng thời với anh, kể cả Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ và tôi đều coi anh như một người cộng sản - một người cộng sản ngoài Đảng… Từ cuối những năm 20 trở đi, trên chính trường Nam Bộ, Nguyễn An Ninh đã như là một người mácxít lêninnít hoạt động quần chúng, hoạt động trên lãnh vực văn hóa tư tưởng”.


Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đều có chung nhận xét về người bạn tù. Đồng chí Nguyễn Văn Linh: “Ở trong tù, ông Nguyễn An Ninh luôn luôn đoàn kết với chúng tôi, những người cộng sản, để chống lại bọn cai ngục dã man…”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Sống với nhau nhiều tháng ở trong tù, chúng tôi đã trải qua nhiều thời gian để thảo luận và tranh luận rất gay gắt về những vấn đề cực kỳ quan trọng, những quan điểm của học thuyết Mac-Lênin về đấu tranh cách mạng ở nước ta, về tổ chức cách mạng và về vai trò của quần chúng nhân dân. Chúng tôi tất nhiên có những ý kiến khác nhau nhưng càng thảo luận thì càng đi đến nhất trí, càng hiểu biết nhau, càng có tình cảm và lòng kính trọng lẫn nhau”.


Nhà nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Huy Giáp nhận định: “Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn An Ninh cùng từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Hai người cũng theo chủ nghĩa nhân văn với những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, rồi đến với Cách mạng Tháng Mười”.


 


Việc sưu tầm, dịch thuật và xuất bản Tác phẩm Nguyễn An Ninh là một hành động cao đẹp và có ích. Việc làm ấy gợi lên một vấn đề đáng suy nghĩ. Do hoàn cảnh nước ta: chiến tranh, nghèo thiếu, điều kiện bảo quản thô sơ…, và nhất là do chúng ta không phải ai cũng biết coi trọng các di vật tiền nhân để lại, vì vậy không ít tư liệu quý hiếm bị thất lạc. Một thí dụ gần đây là bộ ảnh 100 tấm về Bác Hồ và những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, vốn do Bộ trưởng Tuyên truyền Trần Huy Liệu cung cấp cho các nhà báo năm 1946, vậy mà tại nước ta không đâu giữ được. Kỷ niệm 65 Cách mạng Tháng Tám, nhà sử học Pháp Philippe Devillers đã tặng lại Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, bộ ảnh mà ông giữ nguyên vẹn hơn 60 năm, nhờ thế báo Nhân Dân và một số ấn phẩm mới có điều kiện công bố dần cho các thế hệ ngày nay được rõ. Mấy công trình đầu tiên nghiên cứu về lịch sử báo chí Việt Nam (đúng hơn là những luận văn tiến sĩ) đều được thực hiện tại nước ngoài, hay ít nhất các tác giả cũng phải tốn nhiều công phu “xuất dương” sưu tầm tư liệu. Trước Nguyễn An Ninh - Tác phẩm, bộ sưu tập duy nhất và tương đối đầy đủ tác phẩm báo chí của một tác giả có lẽ là Hải Triều toàn tập (Nxb Văn học 1996). Dù vậy vẫn còn không ít cuốn sách, bài báo và thuyết trình nổi tiếng của ông về chính trị, văn học, triết học… chưa tìm ra. Tác phẩm Dương Phượng Dực (1897-1958), một cây bút của báo Trung Bắc tân văn những năm 1920, dày tới 1200 trang, do con cháu ông thực hiện. Quy mô và bài bản nhất cho đến nay có lẽ là bộ là Tác phẩm Phan Khôi (1887-1959), nhà báo-học giả nổi tiếng từ những thập niên 20-30 thế kỷ trước.


Nguyễn An Ninh, Hải Triều, Phan Khôi… mỗi người một vẻ, đều là những ngôi sao sáng. Bầu trời có nhiều sao. Có những vì sao, nói theo lời Thủ tưởng Phạm Văn Đồng về nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, càng nhìn lâu ta càng thấy sáng hơn. Chúng ta ngày nay biết được những gì về bao vì sao sáng khác, về bao nhà báo tiền bối lỗi lạc đã có công xây đắp nền báo chí nước nhà từ thuở sơ khai? Chủ bút đầu tiên của Gia Định báo, Trương Vĩnh Ký được đời sau quan tâm là do công lao của ông đối với nền học thuật. Còn sự nghiệp báo chí của các vị như Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Diệp Văn Cương, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Trần Huy Liệu, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Hoàng Tích Chù, Phùng Bảo Thạch…, thế hệ chúng ta hiện nay biết được những gì? Tôi vừa nhắc đến một số tên tuổi, nhớ đâu kể đấy hết sức ngẫu nhiên. Đôi khi tình cờ đọc tác phẩm một vài vị được người khác trích dẫn, tôi ngạc nhiên tự hỏi: Làm sao vào thời ấy mà các cụ đã có đủ dũng khí viết nên những dòng mạnh mẽ đến thế này?


Không biết rõ về tác phẩm họ, làm sao có thể hiểu hết những cái hay của các bậc tiền bối để học tập, cũng như những cái còn chưa hay để rút ra bài học cho mình? Không bắt đầu từ những con người, làm sao hình dung nổi tiến trình của nền báo chí Việt Nam, cho dù nền báo chí ấy từ khi ra đời đến nay mới chưa tới 150 năm!


Hiện nay hằng năm Nhà nước và xã hội đầu tư một khoản tiền lớn cho việc tôn tạo, phát huy văn hóa dân tộc. Đầu tư cho văn hóa, không nên tính chuyện tốn kém. Vấn đề là ở chỗ làm sao cho đúng, cho có hiệu quả, chớ có nhân danh tôn tạo, phát triển…làm biến dạng hỏng di tích quý vô giá. Mỗi năm cả nước tổ chức hơn 8000 lễ hội, tiêu tốn đến bao nhiêu trăm, ngàn tỉ nhỉ? Có những lễ hội đánh thức tâm linh, tôn vinh tiền nhân, nâng cao tự hào dân tộc, song cũng không ít lễ hội phát huy cái lành mạnh trong di sản thì ít mà vỗ béo những kẻ kinh doanh qua khai thác mê tín dị đoan lại nhiều. Có những “hoạt động văn hóa” tốn kém vượt quá sức tưởng tượng của người bình thường. Báo Thời nay ngày 26-8-2010 thông tin: “Cuộc thi Hoa hậu Việt Nam vừa qua đã phải mất đến 7 tỉ đồng cho việc trang hoàng sân khấu để phục vụ cho một đêm ca nhạc tạp kỹ tìm kiếm nhan sắc”(sic). Tiền từ ngân sách Nhà nước hay “tiền xã hội hóa” cũng là tiền của dân, của nước cả mà thôi. Càng ngẫm ngợi càng băn khoăn: Làm sao các nhà nghiên cứu khoa học nhận được một khoản đầu tư vừa đủ để tiến hành công việc âm thầm là sưu tầm, tổng hợp, thực hiện… nhằm vinh danh đúng hướng văn hiến, bao gồm lịch sử báo chí Việt Nam trong đó?


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thời gian không đổi sắc màu. Tập Phê bình – Tiểu luận của Phan Quang. NXB Văn học, 6-2017.


www.trieuxuan.info







[1] Khoảng từ thiên niên kỷ IX đến thiên niên kỷ IV trước Tây lịch.




[2] Xem Sử thi huyền thoại Đông Tây, NXB Văn học 2009, 2011.




[3] The Road Ahead, bản dịch tiếng  Pháp của Nxb Robert Laffont: Laroute du futur, 1997.




[4] Ngôn ngữ chính thức của nước Ai Cập ngày nay là “tiếng A Rập Ai Cập”.




[5] “Poèmes fondateurs de là civilisation européenne” - www.gralon.net.




[6] Tiếng miền Trung nước ta gọi “nói vè”, nói vè chứ không phải hát vè, nói mà vẫn có nhạc điệu, đôi khi  còn có gõ phách hay đệm đàn.




1 Báo Nhân dân, ngày 19-9-1990.




2 Tựa cuốn Nguyễn An Ninh - Tác phẩm.




3 Bài Nguyễn An Ninh, nhà hoạt động cách mạng vĩ đại, nhà văn hóa lỗi lạc (2009).




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »