tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21278816
22.06.2017
Nhiều tác giả
Những điều nên biết về Chiến tranh thế giới II



16/11/1945: Các nhà khoa học Đức bị bắt đưa sang Mỹ


Nguồn: German scientists brought to United States to work on rocket technology, History.com


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Vào ngày này năm 1945, trong một động thái gây nhiều tranh cãi, các tàu Mỹ đã đưa 88 nhà khoa học Đức sang Mỹ để hỗ trợ nước này nghiên cứu về công nghệ tên lửa. Hầu hết trong số họ đều đã phục vụ dưới chế độ Đức Quốc xã. Điều đó khiến các nhà phê bình ở Mỹ đặt ra câu hỏi về mặt đạo đức khi đưa những người này về phục vụ nước Mỹ. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ lúc này đang tuyệt vọng mong muốn có được bí mật đằng sau bộ đôi tên lửa hủy diệt V-1 và V-2 của Đức trong Thế chiến II, và còn lo sợ Liên Xô cũng sẽ bắt các nhà khoa học Đức với lý do tương tự. Do vậy, họ đã rất hoan nghênh những nhà khoa học tên lửa Đức.


Nhưng họ cũng hiểu rằng việc dùng các nhà khoa học đã từng làm việc cho Đức Quốc xã mà người Mỹ căm ghét là điều rất dễ gây kích động. Thế nên quân đội Mỹ đã che giấu các hoạt động bí mật này. Trong thông báo về kế hoạch, người phát ngôn của quân đội đơn thuần chỉ nói rằng một số nhà khoa học Đức, những người có kinh nghiệm phát triển tên lửa đã “tình nguyện” đến làm việc tại Mỹ với một “mức lương khiêm tốn.”


Thế nhưng, bản chất của sự “tự nguyện” này thực ra là “bị tạm giữ”, như chính phía Mỹ đã thừa nhận. Khi các nhà khoa học Đức đến Mỹ, cánh nhà báo và nhiếp ảnh gia không được phép phỏng vấn hay chụp ảnh họ. Vài ngày sau đó, một nguồn tin từ Thụy Điển khẳng định rằng các nhà khoa học này là thành viên của nhóm phát xít tại Peenemeunde, nơi các tên lửa dòng V đã được sản xuất. Dù vậy, chính phủ Mỹ tiếp tục mập mờ rằng “một số các nhà khoa học và kỹ thuật viên tài năng người Đức” đã được mời về nhằm “tận dụng những thành tựu đáng kể và vô cùng quan trọng đối với an ninh quốc gia.”


Sự kiện này là một trong những trớ trêu có liên quan tới Chiến tranh Lạnh. Mỹ và Liên Xô đã từng là đồng minh chống lại Đức và chế độ Đức Quốc xã trong Thế chiến II, nhưng nay lại tham gia vào cuộc tranh giành khốc liệt để có được các nhà khoa học tài năng nhất, những người đã từng làm việc cho quân Đức. Mục đích của họ đều là nhằm xây dựng hệ thống vũ khí để đe dọa lẫn nhau.


Hình: Wernher von Braun (1912 –1977) nhà khoa học Đức, sau chuyển quốc tịch sang Mỹ. Ông được gọi là “người tên lửa” (Rocketman) vì đã chế tạo thành công tên lửa V-2 cho Đức Quốc xã và Saturn V cho Mỹ.


Chiến dịch Cái Kẹp Giấy là gì?


Nguồn: “What is Operation Paperclip?”, History.com (truy cập ngày 28/10/2015). Biên dịch: Lê Hoàng Giang


Khi Thế Chiến II bước vào giai đoạn cuối, các tổ chức của Mỹ và Anh đã cùng nhau lùng sục khắp lãnh thổ nước Đức bị chiếm đóng để lấy tất cả những nghiên cứu phát triển công nghệ, khoa học và quân sự mà họ có thể tìm được. Theo sau các lực lượng chiến đấu của quân Đồng Minh, các tổ chức như Tiểu ban Mục tiêu Tình báo Hỗn hợp (CIOS) đã bắt đầu tịch thu các loại tài liệu và vật liệu có liên quan đến cuộc chiến, và thẩm vấn các nhà khoa học tại các cơ sở nghiên cứu của Đức mà quân Đồng Minh chiếm được. Một tài liệu quan trọng đã được tìm thấy trong một phòng vệ sinh tại ĐH Bonn, đó là Danh sách Osenberg: một bản danh sách ghi lại tên những nhà khoa học và kỹ sư đã phải làm việc cho Đế chế thứ Ba.


Trong một hoạt động bí mật ban đầu được gọi là Chiến dịch Sương Mù (Operation Overcast) nhưng sau được đổi thành Chiến dịch Cái Kẹp Giấy (Operation Paperclip), khoảng 1.600 nhà khoa học Đức trong danh sách đó (cùng gia đình của họ) đã được đưa sang Mỹ để làm việc cho nước này trong Chiến tranh Lạnh. Chương trình này được thực hiện bởi Cơ quan Mục tiêu Tình báo Chung (JIOA), một đơn vị mới thành lập có mục tiêu thu thập nguồn lực tri thức Đức để giúp phát triển kho vũ khí hóa học, sinh học và tên lửa cho Mỹ, và để đảm bảo những thông tin mật đó không rơi vào tay Liên Xô. Mặc dù đã chính thức phê chuẩn chiến dịch, song Tổng thống Harry S. Truman đã cấm cơ quan này tuyển những thành viên của đảng Quốc Xã hay những ai tích cực ủng hộ đảng Quốc Xã. Dù vậy, các quan chức JIOA và Văn phòng Dịch vụ Chiến lược (OSS – tiền thân của Cơ quan Tình báo Trung ương CIA) – đã lờ đi chỉ thị này và tiêu hủy hoặc thanh tẩy mọi bằng chứng về tội ác chiến tranh nếu có trong hồ sơ của các nhà khoa học này, vì cho rằng thông tin của họ có ý nghĩa sống còn với những công tác hậu chiến của Mỹ.


Một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất được tuyển chọn là Werner von Braun, giám đốc kỹ thuật tại Trung tâm Nghiên cứu Quân sự Peenemünde tại Đức, và là người có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển loại tên lửa nguy hiểm V-2 vốn đã tàn phá nước Anh trong thời chiến. Von Braun và các nhà khoa học tên lửa khác đã được đưa đến Fort Bliss, Texas và Bãi thử Tên lửa White Sands, New Mexico với tư cách “chuyên viên Bộ Chiến tranh” để giúp Quân đội Mỹ thử nghiệm tên lửa. Von Braun sau đó đã trở thành Giám đốc Trung tâm Phi hành Vũ trụ Marshall thuộc NASA và là người thiết kế chính của tên lửa đẩy Saturn V, loại tên lửa sau này đã giúp đưa hơn 20 phi hành gia Mỹ lên Mặt Trăng.


Mặc dù có nhiều người ủng hộ cho hoạt động mờ ám này và cho rằng cán cân quyền lực đã có thể dễ dàng nghiêng về phía Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh nếu Mỹ không đưa những nhà khoa học Đức Quốc Xã này sang Mỹ, song cũng có nhiều người phản đối chiến dịch này vì cái giá đạo đức phải trả khi không trừng phạt hay bắt những nhà khoa học này chịu trách nhiệm vì những tội ác chiến tranh ghê tởm của họ.


Tên gọi “Thế Chiến I” và “Thế Chiến II” có từ bao giờ?


Nguồn: “Were they always called World War I and World War II?”, History.com (truy cập ngày 3/11/2015). Biên dịch: Lê Hoàng Giang


Không phải ngay từ đầu hai cuộc chiến tranh thế giới đã được gọi là “Thế Chiến I” (World War I) và “Thế Chiến II” (World War II), hay “Chiến tranh Thế giới thứ Nhất” và “Chiến tranh Thế giới thứ Hai”, song rất khó xác định chính xác thời điểm mà những tên gọi này xuất hiện. Rõ ràng là trong Thế Chiến I, không ai biết rằng sẽ có một cuộc xung đột toàn cầu thứ hai diễn ra sau cuộc chiến thứ nhất, vì vậy không cần thiết phải xác định thứ tự cho cuộc chiến. Ban đầu các tờ báo ở Mỹ gọi đây là “Chiến tranh Châu Âu” (European War), nhưng sau đó đã đổi thành “Chiến tranh Thế giới” (World War) khi Mỹ chính thức tham chiến năm 1917. Trong khi đó ở bên kia Đại Tây Dương, người Anh sử dụng tên gọi “cuộc Đại Chiến” (the Great War) cho đến những năm 1940 – ngoại trừ một trường hợp đáng chú ý là khi Winston Churchill sử dụng tên gọi “Chiến tranh Thế giới” trong cuốn hồi ký “Cuộc Khủng hoảng Thế giới” của ông xuất bản năm 1927.


Thế Chiến II diễn ra sau Thế Chiến I 21 năm, song nhiều nhà sử học tin rằng cả hai cuộc chiến chỉ là hai giai đoạn cách nhau của một cuộc xung đột toàn cầu lớn duy nhất. Nguồn: History.com.


Mặt khác, tên gọi “Thế Chiến II” đã xuất hiện lần đầu trên văn bản từ tháng 2 năm 1919, khi một bài báo trên tờ Manchester Guardian sử dụng thuật ngữ này theo cách gần giống như ngày nay người ta thường tiên đoán giả định về một cuộc “Thế Chiến III”. Nhưng chính Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt mới là người công khai sử dụng tên gọi “Chiến tranh Thế giới thứ Hai” vào năm 1941, và người Mỹ sau đó đã nhanh chóng làm theo. (Người Anh vẫn chỉ sử dụng cái tên đơn giản “cuộc Chiến” [the War] cho đến cuối những năm 1940).


Dù Roosevelt là người đã giúp phổ biến cái tên này, nhưng ông dường như không hoàn toàn hài lòng với nó. Năm 1942 ông đã thỉnh cầu dư luận đề xuất tên gọi thay thế, và trong những tuần sau đó Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ đã nhận được 15.000 đề xuất, với những tên gọi như “Chiến tranh vì Nền Văn minh” (“the War for Civilization”) hay “Chiến tranh Chống Ách Nô dịch” (“the War Against Enslavement”). Những cái tên này, và cả chính tên gọi mà Roosevelt sau đó đề xuất là “Chiến tranh vì sự Sinh tồn” (“the Survival War”) đều không được sử dụng lâu dài. Như vậy tên gọi “Thế Chiến II” và “Chiến tranh Thế giới thứ Hai” đã tiếp tục được sử dụng và trở nên phổ biến cho đến ngày nay – và tương tự là tên gọi “Thế Chiến I” hay “Chiến tranh Thế giới thứ Nhất” của cuộc xung đột trước đó.


Chiến dịch Mincemeat là gì?


Nguồn: “What was Operation Mincemeat?”, History.com (truy cập ngày 3/11/2015).


Biên dịch: Lê Hoàng Giang


Trong Thế Chiến II, tình báo Anh đã thực hiện được một trong những điệp vụ thời chiến thành công nhất trong lịch sử: Chiến dịch Mincemeat. Tháng 4 năm 1943, người ta tìm thấy một thi thể đang phân hủy ngoài bờ biển Huelva, phía nam Tây Ban Nha. Theo giấy tờ tùy thân tìm được, thi thể này là của Thiếu tá William Martin thuộc Thủy quân Lục chiến Hoàng gia Anh, cổ tay được buộc với một chiếc cặp đựng tài liệu. Khi tình báo Đức Quốc xã biết đến chiếc cặp của viên sĩ quan tử nạn (cũng như biết đến những nỗ lực nhằm lấy lại chiếc cặp của người Anh), họ đã tìm mọi cách để lấy được nó. Mặc dù chính thức thì Tây Ban Nha là nước trung lập trong cuộc chiến, phần lớn quân đội của họ lại ủng hộ Đức, và phía Quốc xã đã tìm được một sĩ quan Tây Ban Nha ở Madrid chịu hỗ trợ.


Ngoài những vật dụng cá nhân và một số tài liệu trông có vẻ chính thức, tình báo Đức còn lấy được một lá thư từ giới chức quân đội ở London gửi cho một sĩ quan cấp cao của Anh ở Tunisia cho biết quân Đồng Minh đang chuẩn bị vượt Địa Trung Hải từ những vị trí đóng quân ở Bắc Phi để tấn công những vùng chiếm đóng của Đức ở Hy Lạp và Sardinia.


Chiến tích này của tình báo Đức đã khiến Adolf Hitler quyết định chuyển lực lượng Đức từ Pháp sang Hy Lạp để đón đầu cái được cho là một cuộc xâm lược lớn của kẻ địch. Vấn đề duy nhất là đó chỉ là một trò lừa. Thi thể của người chết đuối thực ra là của một người Wales vô gia cư, được lấy từ một nhà xác tại London bởi hai sĩ quan tình báo Anh là Charles Cholmondeley và Ewen Montagu, những bộ não đứng sau Chiến dịch Mincemeat.


Sau khi tạo được danh tính và lý lịch giả rất chi tiết cho “William Martin”, Cholmondeley và Montagu đã nhờ Charles Fraser-Smith (được cho là nguyên mẫu của nhân vật Q trong các tiểu thuyết James Bond của cựu sĩ quan tình báo hải quân Anh Ian Fleming) thiết kế một túi chứa đặc biệt để bảo quản thi thể trong thời gian đặt dưới nước. Một trong những tay đua xe hàng đầu của Anh đã vận chuyển thi thể đặt trong túi chứa đến một tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia, và con tàu này đã thả thi thể xuống vùng biển nam Tây Ban Nha.


Khi người Tây Ban Nha tìm thấy thi thể, quân đội Anh bắt đầu điên cuồng nỗ lực lấy lại chiếc cặp tài liệu, cho rằng những nỗ lực đó sẽ khiến Đức Quốc xã càng thêm tin vào tính xác thực của những tài liệu trong chiếc cặp đó. Kết quả là nhờ có những thông tin giả trên người “William Martin”, Đức Quốc xã đã bị bất ngờ khi 160.000 quân Đồng Minh đổ bộ lên đảo Sicily (Italia) vào ngày 10/7/1943.


Bên cạnh việc cứu mạng hàng ngàn binh sĩ phe Đồng Minh, Chiến dịch Mincemeat còn giúp đẩy nhanh sự sụp đổ của nhà độc tài Italia Benito Mussolini và thay đổi cục diện cuộc chiến theo chiều hướng có lợi giúp cho quân Đồng Minh giành chiến thắng ở châu Âu.


Vì sao binh lính Mỹ có biệt danh là “G.I.”?


Nguồn: “Why are American soldiers called G.I.s?”, History.com (truy cập ngày 11/11/2015).


Biên dịch: Lê Hoàng Giang


Nguồn gốc của biệt danh nổi tiếng này có phần bí ẩn. Một giả thuyết phổ biến cho rằng biệt danh này có nguồn gốc từ thế kỷ 20, khi đó “G.I.” là chữ được dán lên những thùng và xô rác của quân đội. Hai chữ cái này là tên viết tắt của nguyên liệu chế tạo ra những vật dụng đó: sắt mạ kẽm (Galvanized Iron). Về sau,  theo như cuốn “Origins of the Specious: Myths and Misconceptions of the English Language” (tạm dịch: Nguồn gốc của những Sai lầm: Những hiểu lầm và ngộ nhận trong Tiếng Anh”) của các tác giả Patricia T. O’Conner và Stewart Kellerman, nghĩa của từ G.I. được mở rộng và đến Thế Chiến I nó đã được dùng để gọi tất cả những thứ liên quan đến quân đội Mỹ. Khi đó, G.I. được diễn giải lại thành “vấn đề chính phủ” (Government Issue) hoặc “vấn đề chung” (General Issue).


Sự phổ biến của thuật ngữ này đã khiến các binh sĩ trong Thế Chiến II dần dần tự gọi mình là các G.I.. Một số binh sĩ nhập ngũ dùng thuật ngữ này một cách mỉa mai để biểu hiện niềm tin của họ rằng họ chỉ như là những sản phẩm sản xuất hàng loạt của chính phủ. Trong Thế Chiến II, G.I. Joe cũng trở thành một thuật ngữ để chỉ binh lính Mỹ. Họa sĩ biếm họa Dave Breger, nhập ngũ vào năm 1941, được cho là tác giả của tên gọi này sau khi ông bắt đầu đăng những mẩu truyện tranh có tiêu đề “G.I. Joe” trên tuần san quân sự Yank từ năm 1942. Năm 1964, công ty đồ chơi Mỹ Hashbro sau khi nhận thấy thành công lớn của công ty đối thủ Mattel với dòng đồ chơi búp bê Barbie (phát hành năm 1959) đã cho ra mắt “G.I. Joe”, dòng đồ chơi mô hình anh hùng quân đội cho các bé trai.


Trong khi đó, vào tháng 6 năm 1944, Tổng thống Franklin Roosevelt đã ký Đạo luật Tái Hội nhập Quân nhân, sau này thường được gọi là Luật G.I.. Đạo luật nổi tiếng này mang lại nhiều lợi ích cho các cựu quân nhân Mỹ sau Thế Chiến II, trong đó bao gồm các khoản tài trợ học phí đại học, hỗ trợ cho vay tiền để mua nhà và trợ cấp thất nghiệp.


nghiencuuquocte.org


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Mất 3 tiêm kích Su-27 cùng phi công tài hoa, người Nga sốc nặng! - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Giải mật vụ 3 tiêm kích Su-27 rơi ở Cam Ranh - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Cam Ranh trong mắt chuyên gia quân sự nước ngoài - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
4.000 tỷ đồng xây dựng nhà ga Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh - Tư liệu 12.12.2017
Cam Ranh - 'ván cờ địa chính trị' của các siêu cường - Tư liệu sưu tầm 12.12.2017
Hai bài về Gobbels (1897–1945), Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Hitler - Tư liệu sưu tầm 10.12.2017
Vài nét về tiểu thuyết nổi tiếng: Bác sỹ Jivago - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago từng “là vũ khí tâm lý chiến”! - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Cộng sản, Bạch vệ và kho báu Sa Hoàng - Tư liệu sưu tầm 09.12.2017
Thời báo Hoàn Cầu viết về tình cảm yêu - ghét của Việt Nam với Trung Quốc - Tư liệu sưu tầm 04.12.2017
xem thêm »