tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21278810
Lý luận phê bình văn học
22.06.2017
Nhiều tác giả
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú



CÁI ĐẸP TRONG Đám cưới không có giấy giá thú


HOÀNG NGỌC HÀ


Tôi đã đọc cuốn sách Đám cưới không có giấy giá thú của anh Ma Văn Kháng một cách chăm chú, say mê và hết sức trân trọng, nâng niu. Vì thế mà tôi đã không bỏ qua bài tường thuật về cuộc thảo luận về cuốn sách trên tại tòa soạn báo Văn nghệ. Xin được có mấy lời nói thêm.


Tôi rất thú vị với lời phát biểu của một đồng chí tham dự cuộc thảo luận: “Nhân loại sở dĩ tồn tại được là nhờ nó chưa bao giờ bị đánh mất đi khả năng đồng cảm với nỗi đau của đồng loại”. Tôi muốn nói thêm một vế nữa: “Con người sở dĩ tiến lên được là nhờ khả năng cảm thụ được cái đẹp của tâm hồn”. Cuốn sách của anh Kháng trước hết là vẻ đẹp tuyệt vời của tâm hồn mỗi con người được thể hiện qua từng nhân vật. Mà cái đau ở đây là sự đánh mất, sự đập nát cái đẹp.


Cái đẹp của giáo Tự là sựquằn quại ôm giữ cái đẹp. Anh ta không hèn yếu đâu, anh ta gìn giữ cái đẹp đến cùng, mặc cho những kẻ mạnh thế chà đạp. Anh dẻo dai trong cuộc chiến đấu này.


Cái đau đớn nhất là Thuật, một tài năng đã bị bẻ gãy quá trớ true, một sức vươn lên mạnh và cứng, nhưng quá giòn nên bị nát vun.


Cái đáng tiếc là vợ Tự, cô Xuyến mộc mạc, tốt lành như cây lúa đồng nội - dường như ngoài ý muốn của chính mình, cô đã đánh mất đi cái đẹp chân chất để chịu biến thành cỏ rác trong vũng bùn.


Ông Thống là vẻ đẹp của một tư duy triết lý về cuộc đời rất nhân đạo, ông thật đẹp trong cách sống và ông là thầy của mọi ông thầy trong tác phẩm.


Cả Cẩm và Dương vốn cũng không phải là xấu, chỉ vì đặt nhầm chỗ mà trở nên hư hỏng và làm hại bao người. Chính qua họ ta thấy đối với một số người bị đặt nhầm chỗ như vậy, chức quyền đã có khả năng làm thui chột cái đẹp như thế nào.


Liệu một mầm xanh như cái Hoạt rồi có giữ được vẻ đẹp không? Đó là một trong bao câu hỏi ám ảnh mỗi chúng ta khi gấp cuốn sách lại…


Tôi tiếp nhận cuốn sách của anh Kháng như vậy, mà tôi xót xa đau đớn; bởi cảm thấy tội lỗi của tất cả chúng ta đang hàng ngày vô tình dày xéo lên cái đẹp của cuộc đời. Đó cũng là điều mà anh Kháng, qua cuốn sách của mình, đã thốt lên bằng cả tấm lòng trăn trở và day dứt để góp ý cho Đảng.


Và vì thế, tôi xúc động về ý kiến phát biểu của anh Kháng: “Tôi viết vật vã, cắng đến kiệt sức để bộc lộ ước vọng tha thiết của mình… Và tất nhiên tác phẩm phản ánh đúng sức của mình, tạng mình với tất cả ưu điểm và nhược điểm của nó”. Lời bộc bạch đó nghe thật chân thành, khiêm tốn và tự hào biết bao! Có thể nói, qua những trang viết ấy, ta thấy tác giả có tấm lòng nhân hậu, có trí tuệ sắc sảo, nhưng trên hết- anh là một con người trung thực.


Với một tác phẩm như vậy thì mọi sự phân tích về cấu trúc, về không gian rộng hẹp, về cái gọi là tích cực, tiêu cực đều có vẻ gì đó không thích hợp lắm. Bởi vì - không biết tôi có quá cực đoan không, khi muốn nói rằng đem bất cứ cái đẹp nào ra mà mổ xẻ, phân tích thì đều khó tránh khỏi xúc phạm nó (ở đây có cái gì đó gợi nhớ tới một nàng Ăng-giê-lích kiều diễm bị phơi trần ra để phẩm bình và bán đấu giá!). Nếu không khéo thì ngay ca ngợi cái đẹp cũng có thể làm tầm thường nó.


Quả là tôi không thích thú lắm với hai chữ “phê bình”. Cái đó chỉ có tác dụng ngăn chặn cái xấu và nâng đỡ nhân tố mới mà, kết quả, tiếc thay, hình như cũng không nhiều nhặn gì! Suy rộng ra, cái ta thường nói “phê bình và tự phê bình là động lực phát triển...” xem ra cũng chỉ đúng một phần. Theo tôi điều quan trọng hơn cả để đảm bảo cho xã hội tiến lên là sự phân công lao động hợp lý, người nào được đặt đúng chỗ, đúng với năng lực, sở trường, phẩm chất của mình, làm việc say mê, làm việc hết sức mình người ấy sẽ ngày càng tốt đẹp hơn. Còn ngồi mà khen hoặc chê nhau chỉ dễ dẫn đến sự chủ quan thỏa mãn hoặc hậm hực thù hằn.


Bởi vậy theo tôi, không nên gọi là bộ môn “phê bình văn học”, mà nên gọi là bộ môn “cảm thụ văn học”. Tri thức của các nhà văn, các bậc uyên bác được cần đến trước tiên là để giúp mọi người cảm thụ cái đẹp. Vitamin quý là ở trong hoa quả chứ các viên thuốc Vitamin vừa chua vừa đắng thì đáng ngán biết bao!...


Mấy lời cảm tưởng ghi vội, có gì nông cạn, sơ suất mong Tòa soạn Báo và bạn đọc lượng thứ.


Văn nghệ 17/3/1990


Đám cưới không có giấy giá thú - MỘT CÁCH NHÌN NHẬN VỀ NGƯỜI THẦY


ĐÀO THANH TÙNG


Đời là vại dưa muối hỏng. Luận đề ấy cứ day dứt mãi khi tôi đọc tác phẩm mới nhất của nhà văn Ma Văn Kháng: tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú.


Thật khủng khiếp khi thấy một hội đồng nhà trường, một giới trí thức thu nhỏ, một xã hội thu nhỏ mà đầy rẫy những bi kịch cá nhân, những cá tính trái ngược nhau tạo nên một bứ tranh ám ảnh ma quái. Ông Dương, bí thư chi bộ nhà trường, một kẻ giáo điều, luôn luôn nhắc đi nhắc lại lí luận cũ rích. Ông Cẩm, hiệu trưởng, một kẻ xuất thân từ mõ, thèm khát địa vị. Đó là những kẻ “bất tri” nhưng lầm tưởng là “tri” và tự giao cho mình cái quyền dạy cách làm người cho giáo viên và học sinh. Ấy thế mới sinh ra những nghịch lý. Cái xấu ngồi trên cái tốt, cái vô văn hóa dẫm đạp lên cái có văn hóa, cái ngu dốt ngự trị tài năng. Sự đảo ngược của các giá trị cơ bản đã làm cho những người có tâm huyết trở nên bị dằn vặt và chính nó đã tạo nên những ẩn ức không thể lường tới trong thế giới tâm linh của con người. Cái ác, cái trơ tráo đang từng ngày, từng giờ tấn công vào mỗi số phận người thầy. Tín hiệu thứ nhất của tác phẩm “con thuyền chở đạo” gặp sóng gió giữa cuộc đời đang chao đảo dữ dội có thể đắm lúc nào không hay. Trong số những người chèo lái có Tự, có Thuật... Họ đang sống ở thời hiện tại, nhưng tiếng vọng của quá khứ, những “vết đen” trong lí lịch cứ gõ nhịp vào cuộc đời hiện tại, để lại trong họ những bóng ma ám ảnh. Thuật đầy năng lực và nhập cuộc hết mình, luôn khẳng định mình và phủ định kẻ ngu dốt, nhưng đã vấp phải bức tường đá của sự ngu dốt, cuối cùng, đi tới một kết cục không thể khác, anh ta bị điên. Dẫu xót hơn cả là anh Tự. Anh là “một cuốn sách hay để lầm chỗ”, “một bữa tiệc dang dở”. Quá khứ với những kỷ niệm xót xa theo chân anh tới mọi ngóc ngách tinh thần. Rồi hoàn cảnh kinh tế gia đình thúc ép. Ở nhà, thói đam mê sắc dục, khao khát vật dục ngự trị. Ở trường, thói thành tích và hô khẩu hiệu bạo hành, sự ngu ngốc và vô văn hóa lạm phát. Không còn cách nào khác, Tự đành phải chui vào trong “tháp ngà”. Căn gác xép vài mét vuông, với thánh đường thiêng liêng, rút cục cũng bị xâm phạm. Đối với anh, con đường đi đến cái đẹp trong các áng văn thơ của cổ nhân thì gần gũi mà con đường đi tới cái đẹp trong cuộc đời lại quá xa vời và lắm chông gai. Tự cô đơn, cái cô đơn của trí thức không hợp quần. Là người có văn hóa, có khả năng tự nhận thức, anh vừa hợp quần, vừa siêu quần, vừa bình dân vừa cao ngạo. Bị ám ảnh bởi trạng thái cô đơn, anh càng ngày càng tách mình ra. Sự nhận thức “không thế hòa hợp” nằm ở nguyên do này. Hơn nữa, với bản chất nho học, anh là người cố chấp, mối hận của quá khứ còn chưa trả cứ sờ sờ trước mắt để rồi tự dày vò mình. Dường như tác giả đã gợi mở một điều sâu xa: cái quá khứ là cái không thể sống lại được, bởi nói ra chẳng ích gì chỉ gây thêm đau khổ mà thôi, hãy cứ để nó nằm yên ở đó, cái cần cho ngày mai cũng chỉ cần bắt đầu từ ngày hôm nay là đủ. Được như thế, mỗi người sẽ thanh thản hơn mà nhập cuộc, xã hội hiện đại không cho phép một ai được trốn chạy vào trạng thái nhập thiền đầy bí ẩn của đạo Phật, hoặc là anh nhập cuộc, hoặc là anh đứng bên lề đường.


Dễ nhận thấy ở Tự mối quan hệ nhiều chiều trong không gian và thời gian. Cái vĩ mô, cái vi mô của cuộc đời, của mỗi người được cắt ra thành từng mảnh nhỏ để người đọc tự soi vào đó thấy bộ mặt hiện thực của chính mình. Cái tôi cô đơn và vị kỷ có trong những ai? Cái tôi bản năng của loài thú hiện có trong những ai? Ngày hôm qua ta sống như thế nào và ngày hôm nay ta sống ra sao? Các vấn đề ấy xoay đi xoay lại trong không gian chật hẹp của văn phòng hội đồng nhà trường hoặc trong không gian huyền thoại của những cuốn sách cổ xưa chứa đựng những tư tưởng của nhiều người, nhiều thời. Tất cả chỉ để làm bật ra một câu trả lời muôn thuở về sự tồn tại: ta đang sống hay ta đã chết. Tính thời sự và tính vĩnh cửu của các luân lí trong tác phẩm đều nhằm hướng tới mục đích nói trên. Người ta có thể dùng nhiều chữ nghĩa, nhiều nhân vật trong tác phẩm để lí giải tới tận căn nguyên nhiều hiện tượng, nhiều con người trong xã hội, qua đó có thể hiểu được thế giới tâm linh đầy bí ẩn, đầy mâu thuẫn của con người, có thể hiểu được nguồn gốc của các loại trạng thái tinh thần, của sự ngu dốt, của sự giáo điều...v.v. Như thế Đám cưới không có giấy giá thú đã vượt qua được cái ngưỡng triết lí trống rỗng, triết lí vụn vặt để đạt tới tính phổ biến mang màu xã hội và nhân văn mà không phải tác phẩm nào cũng có đủ sức để vượt qua và vươn tới.


Đám cưới không có giấy giá thú thuộc loại tiểu thuyết triết lí, nên các nhà tư tưởng cùng với các luận lí của họ xuất hiện với mật độ dầy đặc. Mác, Lênin, Khổng Tử, Lão Tử, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Freud... được viện dẫn. Tử vi tướng số cũng xuất hiện. Rất tiếc, hình như tác giả muốn kế thừa tất cả mà không muốn phủ định một cái gì, mặc dù trong tác phẩm tác giả đã nhắc tới qui luật kế thừa phủ định. Để chuyển tải được khối lượng tư tưởng lớn đó, các nhân vật hầu như không phải làm gì ngoài tranh cãi với nhau. Các cuộc cãi vã khi thì có văn hóa, khi thì vô văn hóa, hễ có 2,3 người y rằng là cãi cọ. Họ ưa nói sách, ưa triết lí (âu cũng là nhược điểm của anh trí thức). Công thức: 1 anh trí thức + 1 anh trí thức + rượu chè, thuốc lá = chợ = triết lí, hóa ra lại đúng trong khá nhiều trường hợp. Các loại lí luận lúc thì đơn giản cụ thể, lúc thì phức tạp bí hiểm với những từ ngữ Hán Việt (có cả nguyên từ ngữ) hoặc từ ngữ vay mượn để nguyên thể hay đã Việt hóa - tạo nên sự gián cách khá lớn với người đọc. Theo gót chân Freud, tác giả chủ yếu khai thác khía cạnh tâm sinh lí để mổ xẻ một thế giới không thể nhìn thấy, sờ thấy mà chỉ có thể cảm thấy, luận đề “đời là cơn điên loạn” thật chông chênh, khó có thể chấp nhận hoàn toàn. Thuật hoang tưởng. Tự khủng hoảng tinh thần, ông Thống trầm uất, Cẩm bạo dục (libidô), Thảnh ixtêri, những căn bệnh tâm thần khiến cho các thứ triết lí và hành vi của họ trở nên đi cầu khỉ. Tôi điên, anh điên, chúng ta điên, xã hội là nhà thương điên, nếu đúng vậy, theo tôi, xã hội không đủ tư cách để tồn tại. Tất nhiên, trong một phạm vi hạn hẹp nào đó, trong thời điểm bình thường, con người bình thường luôn luôn có khát vọng, chí ít cũng phải là được sống bình thường trong các mối quan hệ xã hội, chẳng ai dại gì sống dở điên dở khùng. Đó là chân lí của số đông mà mỗi quyển sách, theo tôi bao giờ cũng nên hướng tới.


Đọc Đám cưới không có giấy giá thú tôi cứ day dứt mãi và băn khoăn tự hỏi không biết cuộc đời sẽ đi về đâu, đi theo con đường thô thiển của Cẩm, giáo điều của Dương, hay đi theo con đường bệnh hoạn của Thuật, hay đi theo con đường duy mỹ của Tự? Sự gợi mở và định hướng của tác phẩm dẫu sao còn mù mịt và dường như cái đẹp trong cuộc đời phải chăng đang thoi thóp giữa những khuynh hướng hoặc là tàn nhẫn hoặc là giáo điều hoặc là bế tắc như trong tác phẩm? Cái “chợ” trí thức thu nhỏ mà gớm guốc và nhơ nhuốc đến thế thì hậu quả ra sao, nhất là một khi họ là nhà giáo, những bản sao nhân cách và tư tưởng của họ là học sinh, sẽ có hình dạng như thế nào? Và nếu cuốn sách này rơi vào tay học sinh họ sẽ nghĩ gì về bộ mặt bệnh hoạn của người thầy? Cổ nhân nói: “Quá do bất cập”, sự thái quá (hay sự nhập thần tới mức không thể điều khiển được ngòi bút?) thiết tưởng cũng là điều cần phải bàn bạc thêm. Cũng do quá say với ngòi bút mà tác giả cứ đay đi đay lại cái “thân phận mõ”. Tự, Thuật, Thống trước đây đã từng là nạn nhân của cách đánh giá con người bằng nguồn gốc của người đó sinh ra, cuối cùng chính tác giả lại sa vào bãi lầy đó qua việc khẳng định đã là “mõ” bao giờ cũng vẫn là “mõ”. Đành rằng “Sơn hà, dị cải, bản tính nan di”, nhưng các khái niệm tốt - xấu, có học - vô học, có văn hóa - vô văn hóa không phải bao giờ cũng cố định, nó luôn di chuyển và giao hòa vào nhau. Nếu như có anh “mõ” nào đó nhờ vào tài năng thực sự mà vươn lên tới những chức vị những học hàm, học vị cao thấp khác nhau thì họ có chạnh lòng không nhỉ? Thực tế, ở một đất nước có tới 90% là nông dân (tính từ khí bắt đầu xây dựng CNXH) thì hiện tượng đó không hiếm. Trong văn nghiệp của mỗi tác giả, mỗi tác phẩm là một đỉnh cao. Với Ma Văn Kháng, Đồng bạc trắng hoa xòe,. Vùng biên ải có thể là 2 ngọn núi ở Hoàng Liên Sơn; Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn có thể là 2 tòa nhà cao tầng ở Hà Nội. Còn chiều cao của Đám cưới không có giấy giá thú? Hãy để người đọc và thời gian th định.


Giáo viên nhân dân số 16. 18/4/1990.


MỘT DƯ LUẬN ĐÃ TỰ ĐỔI KHÁC


VƯƠNG TRÍ NHÀN


(Chung quanh tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng Tiền Phong Chủ nhật số 3, 1990...)


Trên báo Lao Động, số 45, ra ngày 9-11-1989 trong mục văn hóa, văn nghệ, người ta đọc được mấy dòng thư bạn đọc:


Trong Đám cưới không có giấy giá thú, tác giả đã đưa ra một loạt nhân vật tiêu cực mà các nhân vật này phần lớn là các cán bộ quản lý, cán bộ Đảng. Như vậy, có phải nhà văn coi những nhân vật này là đối tượng chính để đả kích hay không? (...) Tôi thấy hiện nay chưa có sách báo nào nói rằng phải chuyển đối tượng đả kích sang những người lãnh đạo...


Những ngư̖ã từng kinh qua trường văn trận bút ở nước ta mấy chục năm nay đọc đến những dòng thư nói trên hẳn không khỏi giật mình. Nhiều vụ việc căng thẳng trong đời sống văn học trước đây thường chỉ dạo đầu một cách êm ả vậy. Mấy dòng thư bâng quơ của một bạn đọc ở đâu đó. Nhưng đây là ý kiến quần chúng cơ mà! Khi bạn đọc bình thường đã phải lên tiếng thì hẳn là cuốn sách có những chỗ phạm húy rõ rệt (!) Thế là những người lính gác (danh hiệu mà những nhà phê bình văn học lúc ấy tự nhận) quây vào mà tìm cách “trị” bằng được quyển sách nọ. Khúc dạo đầu êm ái thường kết thúc bằng những phút cao trào quyết liệt. Trong tư thế què lê kéo rệt, tác giả chỉ còn có cách cạch đến già, đôi khi bán xới đi làm nghề khác. Bởi như cách hiểu trong dư luận trước đây, đả kích lãnh đạo là cái tội mà người ta nghĩ rằng giá có mang tùng xẻo thì cũng đáng. Sau “vụ án” ồn ào đó, giới văn nghệ được một phen hú vía. Tổng biên tập các nhà xuất bản sẽ đắn đo thật lâu trước khi ký vào các bản thảo đưa in; còn các nhà văn thì căng thần kinh ra mà tự duyệt, cốt không ai có thể hiểu lầm, suy diễn trên cuốn sách của mình. Trong nghề này, chưa có chế độ bảo hiểm. Ai kia có quyền sai, chứ nhà văn, không được!


Sự tự đổi khác của dư luận bộc lộ khá rõ qua những ồn ào chung quanh cuốn Đám cưới không có giấy giá thú mà chúng ta đang nói.


Ngay trong số báo có đăng lá thư bạn đọc nói trên, báo Lao Động còn đăng một bài đọc và nghĩ về Đám cưới không có giấy giá thú. Bài viết chưa đạt tới sự rõ ràng trong ý kiến, song đã có một lý do khiến cho sự lúng túng ở đây không trở nên đáng ghét: Ngòi bút viết nên bài báo ấy muốn dè dặt. Người viết không tính tới chuyện đưa ra kết luận cuối cùng, vì còn cảm thấy chưa hiểu hết còn muốn nghĩ thêm về những điều nhà văn đã viết trong quyển sách.


Đó cũng là tinh thần chính toát ra qua các bài viết về Đám cưới không có giấy giá thú in ở một số báo khác. Cuộc thảo luận bàn tròn trên Văn nghệ có xu thế khẳng định những tìm tòi của Ma Văn Kháng là đáng khuyến khích. Mấy bài liên tiếp trên Người giáo viên nhân dân thiên về nêu những điểm người đọc cảm thấy phân vân và còn muốn trao đổi thêm với tác giả, nhưng thái độ cũng đúng mực, phải chăng.


Ở đây, lại phải mở một dấu ngoặc: xưa (mấy năm trước), một quyển sách viết về giới nào mà người trong giới ấy “có ý kiến” là đã lôi thôi rồi, người trong giới phản đối nữa thì ôi thôi, cứ gọi là đi đời nhà ma, sách đắp chiếu sớm! Suốt một thời gian dài, ai cũng nghĩ rằng đã là nông dân là hiểu nông dân đúng nhất, chỉ có thợ mỏ mới đánh giá đúng những tác phẩm văn chương viết về nghề thợ mỏ của mình. Lối nghĩ ấu trĩ mà lại độc đoán, hẹp hòi ấy nay không còn mấy ai theo nữa. Nhân vật chính trong Đám cưới không có giấy giá thú ai là những người làm nghề dạy học, nhưng giờ đây ai cũng hiểu đấy chỉ là đề tài cụ thể, còn vấn đề mà cuốn tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nêu ra thì to lớn hơn, không chỉ nằm riêng trong một giới nào cả.


Vậy là đến nay dư luận chưa hoàn toàn nhất trí về Đám cưới không có giấy giá thú, ngoại trừ những ghi nhận về tâm huyết của tác giả khi sáng tác. Và chẳng, có nhất trí mấy đi nữa, thì đi luận cũng hiểu rằng đó chỉ là cách nghĩ của người hôm nay. Cuốn sách còn có cuộc sống lâu dài của nó. Mai đây, người ta có thể nghĩ khác về nó. Không quyết đoán và không cần lấy sự nhất trí sáng tạo, lại không hợm hĩnh nghĩ rằng lời khen chê của mình là bản án chính xác còn mãi với thời gian - một dư luận như thế so với trước kia, đã là tự đổi khác nhiều lắm. Nó là chặng đầu trên đường đi tới để có một dư luận trưởng thành.


Tiền phong chủ nhậ số 3-1990


VỀ NGƯỜI TRÍ THỨC TRONG “Đám cưới không có giấy giá thú”


LÊ THÀNH NGHỊ


Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn gần đây được dư luận chú ý. Anh viết khỏe, cứ một năm lại cho ra một cuốn sách mới, thường là những vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm. Tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú nói về tình cảnh những người trí thức, trong nhà trường, một lĩnh vực mà anh có điều kiện hiểu biết sâu sắc, một lĩnh vực chắc chắn liên quan mật thiết đến con em trong mỗi gia đình chúng ta.


Sẽ lầm lẫn nếu cho rằng trí thức và nhà trường với sự ngăn nắp, mô phạm truyền thống, học đường tôn nghiêm với những công việc được sắp xếp theo thời khóa biểu, theo giáo án, chương trình tĩnh lặng, ít đột biến, xa cách với những vang vọng của “đời thường” và do vậy không phải là “môi trường tiểu thuyết”. Thật ra, bên trong cánh cửa nhà trường vẫn có những giọt lệ, đằng sau những kỷ niệm đẹp về phấn trắng, bảng đen, mùa phượng vĩ... cũng có những điều buồn thảm của sự đau khổ để bảo vệ phẩm giá, và càng có những day dứt, trăn trở trhời cuộc.


Phản ánh thực tại ấy, Đám cưới không có giấy giá thú làm nổi rõ đã có sự pha tạp trong đội ngũ những người trí thức, sự tha hóa của nhân cách, những xung đột gay gắt trong quan hệ đồng nghiệp, sự đảo lộn kỷ cương, phạm quy nghiêm trọng ở chốn học đường, những chen lẫn phàm tục trong lời ăn tiếng nói của những người thầy giáo.


Lộn sòng vào những người trí thức - thầy giáo, trang sổ điểm danh ở cái trường trung học số 5 được mô tả trước hết phải kể đến họ và tên của hiệu trưởng Cẩm và bí thư chi bộ Dương. Với thành phần xuất thân rất cơ bản, ba đời làm mõ (giống hệt nhân vật Huy ba đời đi ăn xin trong Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập), Cẩm hiện thân của sự thô lậu, ngô nghê, dốt nát, được mệnh danh là Cẩm đẽo-cày-giữa-đường! Bản chất “mõ” thường khi trở lại trong ngôn ngữ, hành vi của y: “Thành phần cơ bản” ấy đã bao phen “cứu” Cẩm khỏi những rắc rối bởi chính Cẩm gây ra trong cái lý lịch không mấy sạch sẽ của mình. Một hiệu trưởng như vậy đang điều hành công việc dạy học ở một trường trung học.


Cùng loại với Cẩm là bí thư chi bộ Dương “một chân dung ổn định” (vào Đảng năm 17 tuổi), “được bào dũa sau cả một quá trình tu luyện” (nay đã hơn 30 tuổi đảng), đã trở nên công thức, cứng nhắc, xơ cứng và thô thiển đến kỳ lạ. Luôn mồm nói “xét theo quan điểm toàn diện” như một con vẹt, mà vẫn thuộc vào hạng người thường nhầm lẫn Mác-xít là Các Mác và Xít-ta-lin viết cộng lại. Thực chất Dương là “tên đầu cơ sinh mệnh chính trị của người khác, hắn chỉ làm được cái việc thô bạo của tên “cai ngục”, hoặc “hủy hoại tàn nhẫn những tâm hồn thánh thiện tràn dầy khát vọng mà thôi”. Một bí thư chi bộ như vậy đang canh gác phần linh hồn sinh mệnh chính trị của người khác


Hai nhân vật phản diện nắm vai trò điều hành trường học số 5 báo hiệu những pha bi hài đẫm nước mắt.


Thầy Thuật là một trong những hiện diện của sân khấu cuộc đời kia giữa những năm tháng vô cùng khó khăn vừa qua. Là một thầy dạy toán có tài, “bằng hai ông tiến sĩ cộng lại”, hiển nhiên Thuật sẽ đối đầu với Cẩm và Dương. Ghê sợ thay cái môi trường Thuật đang sống, với những khó khăn, tiêu cực đầy rẫy, với sự dốt nát của Cẩm và Dương, đủ để làm Thuật “hóa thân” thành một gã cục cằn, trắng trợn và thô phàm quá quắt trước khi vào bệnh viện tâm thần.


Bên cạnh Thuật là nữ giáo viên dạy hóa Thảnh, và xa hơn một tí: những người có quan hệ ràng buộc với ngôi trường như Xuyến, Trình, Quỳnh, cũng hệt như Thuật “trước khi rơi vào các cám dỗ, rồi trở nên thấp hèn, biết chửi đổng, biết dùng các tiếng lóng “hạ lưu” và trượt đài trên “tử lộ” của sự tha hóa, mỗi người một số phận, nhưng lại gặp nhau ở cái chung cục của sự đổ vỡ bi đát; để lại những trận cười-ra-nước-mắt.”


Tâm huyết nhất là những trang viết dành cho cuộc đời Tự, “người còn lại” sau một đám cháy lớn, nạn nhân đầy thương tích sau cuộc hỗn chiến giữa lý tưởng thiêng liêng và thực trạng thô phàm của xã hội. Cũng như Thuật, Tự là một giáo viên văn học có tài, yêu nghề, yêu đời, yêu người một cách thánh thiện. Đã có lúc Thuật và Tự sóng với nhau như hai người bạn. Nhưng khác với Thuật, Tự là sự trong sạch thuần khiết, không một tì vết. Tự là hiện thân của con người lý tưởng đã trở nên hiếm hoi trong xã hội. Chính điểm khác nhau này đã đẩy Thuật mỗi ngày một xa Tự.


Nhưng những con người lý tưởng làm sao để có thể sống bình yên bên cạnh cái ác? Phẩm chất tốt đẹp ở Tự dường như thuộc về bản năng vô thức, còn cái ác luôn hiện hình trong những âm mưu trong sự rình rập một cách có ý thức. Tự bị biến thành nạn nhân của cái ác, một nạn nhân trở nên tội nghiệp, yếu đuối với triết lý sống cố “giữ gìn phẩm giá” giữa thời buổi phân rã đến mức người ta bảo: “chưa có thời buổi nào trí thức lưu manh hóa nhiều như thời nay”.


Thống cũng là nạn nhân phải kể đến trong cuốn sách: Cùng một hoàn cảnh như Tự, “phẩm tiên sa xuống tay phàm” Thống đành chôn vùi khát khao; dự định cũng như mọi tức tối, bất mãn vào sự khinh bạc, châm chọc. Một lần khi phát hiện ra chủ tịch hội đồng thi Cẩm mở trộm khóa vào phòng chữa điểm thi, Thống bị biến thành nạn nhân của sự vu cáo trắng trợn; rồi lên cơn áp huyết và phải vào viện để cấp cứu, cũng như Thuật và Tự!


Những nhân vật ta vừa nhắc dĩ nhiên không thể “hoạt động” ở sân khấu chính kịch. Ngôi trường của họ thật tang thương, đầy cảnh oái oăm: đốt cháy trường để vu họa cho người khác, những con chó giống của Thuật “đi tơ” ngay giữa sân trường, giáo viên và hiệu trưởng mắng lộn nhau, có bán sách; bán lốp xe sau những giờ lên lớp. Một cuộc sống khá nhộn nhịp, nhốn nháo, ô trọc và trắng trợn hệt như một cái chợ ẩn dưới những hàng phượng vĩ vô tư mỗi năm mùa hoa đỏ rực.


Chỉ điểm sơ qua một số chân dung và một vài vụ việc như ở trường trung học số 5 cũng đủ thấy hiện trạng “bên trong cánh cửa trường” đã trở nên đau xót đến mức nào! Nó không chỉ là nguyên nhân dẫn đến những kết cục buồn thảm của từng cá nhân cụ thể trong ngôi trường, mà còn là một thực trạng xã hội liên quan đến những điều lớn lao chung quanh việc đào tạo, giáo dục của vấn đề “trồng người”, của chiến lược con người. Ma Văn Kháng rút ra kết luận: “đời là một vại dưa muối hỏng”, và số phận làm người của những người khát khao lý tưởng như Tự trong thảm trạng đó chỉ là “cuộc hôn phối không có giấy giá thú”, chỉ là “một cuốn sách hay để lầm chỗ”. Cho dù đây là những trang hiện thực thì ngòi bút của nhà văn đã không giữ được chừng mực cần thiết. Ý nghĩa không chỉ nằm trong một hợp từ mà nhiều khi nằm ngay trong giọng nói, trong ngữ điệu. Ma Văn Kháng nhiều lúc bị xô lệch đi bởi sự phẫn nộ thái quá, bởi sự hài hước cay độc; ác khẩu. Sự “thiên vị nào cũng dẫn tới sự không công bằng”, và sự “thiên vị” ở Ma Văn Kháng rất dễ gây cảm giác vu buộc, làm tổn hại đến tính chân thực của hình tượng nghệ thuật, nhân vật trở nên sơ đồ phân tuyến rõ rệt, không thuyết phục về điều anh định nói: Những vấn đề của quá khứ - trí khôn của một thời - không thể “mặc xác” mà cần xem xét thật khoa học, chứ không thể tùy tiện gán ghép. Nếu không, ắt chúng ta sẽ “quên mình hôm qua là ai, ở đâu mà ra, mặt mũi, tâm hồn lúc ấy thế nào”, rồi có cách xử lý “tiễn đưa một thời” sao cho hợp đạo lý.


Trong cuốn sách, Cẩm và Dương, hai người giữ cương vị lãnh đạo nhà trường hình như là nơi để tác giả quẳng vào đó tất cả những rác rưởi nhặt được trong ngành giáo dục. Lấp ló đằng sau câu chữ là thái độ “băm chặt” của ngòi bút (một vài nhân vật cán bộ, bộ đội trong cuốn sách này cũng như trong cuốn Mùa lá rụng trong vườn trước đây của anh cũng được viết theo cách ghét bỏ như vậy). Trong khi đó, Tự được vẽ nên hầu như không một tì vết, hoàn hảo tuyệt đối, “vô trùng” như một thứ nước cất trong ống nghiệm. Cả hai loại người không thể nói là “dễ gặp” trong đời sống! Muốn gặp, một là xin giấy vào thăm trại tù, một là vào nhà thờ, chữ người ở cạnh ta chắc phải khác hơn.


Ma Văn Kháng tỏ ra rất tâm đắc; đặc biệt ở những chương cuối, dành khá nhiều thời giờ để triết lý “một cách khá dài dòng”, làm một lời kiến nghị tc thời cuộc. Dưới hình thức bức thư của một học sinh cũ gửi Tự, nhà văn viết những dòng “không phải văn của mình” để triết lý về những cái gọi là “duy tín”. Những khái niệm này mặc dù được rào đón song vẫn không tránh khỏi sự phân lập cực đoan gần giống sự sao chép một thứ suy luận mà ta đã biết trong một tài liệu truyền tay đầy ác ý. Trong cuộc sống hôm nay, đối với một số người, những niềm tin thiêng liêng hầu như đã trở nên khô cạn, lý tưởng tốt đẹp về xã hội, về con người hầu như đã tiêu tan. Không thể sống trong những niềm tin mù quáng đã đành, nhưng cũng không thể sống trong sự báng bổ, vì sự báng bổ có khi là mầm mống của cái ác. Cũng như không thể sống “phi vật chất”, nhưng triết lý thực dụng, duy lợi đâu phải là lối sống của tất cả mọi người! Có thể chia sẻ với niềm ao ước và nhiệt tình của tác giả mong muốn có một người lãnh đạo hoàn thiện. Tuy nhiên, không thể khoanh tay ngồi chờ hoặc chỉ nặng lời trách cứ, phê phán.


Vậy có cách nào khác để làm bạn đọc yên lòng hơn không, một sự đồng bộ, một sự hợp lực vẫn đã từng có trong lịch sử chẳng hạn?


Trên đây là một số vấn đề mà Đám cưới không có giấy giá thú tập trung thể hiện, có mặt đúng, nhưng còn xa mới thấu tình đạt lý.


Nhân Dân 4/8/1990


VỀ TIỂU THUYẾT Đám cưới không có giấy giá thú (NXB LĐ-8/89) CỦA MA VĂN KHÁNG


HỒNG DIỆU


LTS: Gần đây, Tòa soạn nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc, nhất là các thầy giáo, cô giáo về tiểu thuyết “Đám cưới không có giấy giá thú” của nhà văn Ma Văn Kháng. Ý kiến khen rất nhiều, ý kiến chê cũng không ít. Có người vừa khen vừa chê và mức độ có khác nhau. Chúng tôi nghĩ, việc một cuốn sách ra đời, có những ý kiến khen chê khác nhau là điều bình thường, là hiện tượng lành mạnh của sinh hoạt văn nghệ. Trong số báo này và ở một vài số báo sắp tới chúng tôi chọn giới thiệu với bạn độc một số ý kiến. Chúng tôi cũng sẽ giới thiệu với bạn đọc những lời tâm sự của tác giả về cuốn sách đó.


Nếu tôi không lầm thì không phải đến bây giờ, mà đã lâu, chúng ta hầu như thống nhất với nhau nhận định này về tình hình giáo dục từ phổ thông cho đến đại học: bên cạnh những thành tích không phải nhỏ là rất nhiều sa sút biểu hiện ở phẩm chất, ở đạo đức, kiến thức... của cả học sinh và thầy giáo; ở nhiều nơi trường không ra trường, lớp không ra lớp, thầy không ra thầy, trò không ra trò… Tình trạng này nảy sinh từ nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan và gây ra những tác hại cực kỳ nghiêm trọng.


Có thể thấy, tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Vãn Kháng muốn đề cập những vấn đề đó, và lớn tiếng báo động được dư luận -ĩ nhiên không phải bằng những nhận định, những sơ kết, tổng kết của những người có trách nhiệm khác, mà bằng tiếng nói nghệ thuật của một nhà văn.


Ở cái trường trung học (được điển hình hóa) của thành phố nói trong tiểu thuyết, bí thư chi bộ thì chỉ chăm lo ngắm nghía bằng khen, trình độ chính trị hạn chế đến mức giải thích mácxít là Các Mác cộng với Xíttalin (!). Lúc nào cũng tìm cách biểu hiện địa vị lãnh đạo ở cả những công việc không phải của mình; hiệu trưởng thì được đặt vào cương vị chỉ có lý lịch “ba đời nghèo khổ”, học đại học văn mà trình độ chuyên môn non yếu đến mức bắt học sinh chữa mấy chữ hào khí Đông A thành hào khí Đông Nam Châu Á (!) Giáo viên cũng đủ loại: người năng lực kém, người tắc trách với công việc; những người thật sự có năng lực thì hoặc phải lao vào cuộc sống thực dụng, hoặc bị nhìn nhận một cách xét nét bất công, oan ức không thể nào làm được công việc chuyên môn mà mình say mê. Học sinh phần đông hoặc lười nhác, hoặc vô lễ với thầy cô, hoặc nói tục, bạc bài, trộm cắp. Cái trống báo giờ rách đến phải đánh vào tang trống mãi không được chữa, đến lúc chữa thì người trả tiền không được thanh toán vì hóa đơn viết tay! v.v...và v.v...


Những hiện tượng lớn nhỏ đó, đau lòng đó được thể hiện một cách sinh động, có sức thuyết phục. Chúng không gây cho người đọc ấn tượng tác giả bôi đen chế độ, bôi đen ngành giáo dục, vì bên cạnh đó, người viết thể hiện lòng khâm phục những người thầy có nhân cách, thà chịu sống nghèo đói chứ quyết không bán rẻ phẩm giá của mình, và những học sinh nặng tình, nặng nghĩa với nhà trường cùng ý thức tôn sư trọng đạo… Nhưng điều quan trọng hơn là ở chỗ, dù nói về nhưng nhân tố tích cực hay những biểu hiện tiêu cực, tác giả tiểu thuyết nói với tinh thần trách nhiệm cao. Anh cũng đề cập đến đủ mọi biểu hiện, kể cả những lời lẽ hết sức thô tục, kể cả những chuyện sinh l vẫn thấy chấp nhận được, chính vì chúng đều được viết bởi một nỗi đau thật của người trong cuộc, chứ không giống như những cây bút khác tự nhiên nhi nhiên, lạnh lùng, hằn học như một kẻ đứng ở bên ngoài. Đáng chú ý nữa là, Đám cưới không có giấy giá thú gắn mật thiết chuyện nhà trường với chuyện xã hội, vì vậy vượt khỏi phạm vi một ngành giáo dục, những vấn đề quyển sách đặt ra cũng là hiện thực chung của các ngành khác.


Tôi có cảm giác, tác giả đã đưa tất cả vốn hiểu biết của mình trong những năm dạy học và tất cả vốn hiểu biết của mình về nhà trường, về thầy giáo, về học sinh... nói chung vào tiểu thuyết. Lượng thông tin đậm đặc ít thấy có khi gây cảm giác cường điệu, và tập trung quá nhiều vào một trường có khi làm người ta nghi ngờ tính chân thực của tác phẩm, nhưng theo tôi, nếu đúng đó là nhược điểm và quyển sách rất có thể còn những nhược điểm này khác thì đó chỉ là phụ. Đám cưới không có giấy giá thú cuối cùng vẫn đạt được cái đích mà nhà văn muốn đi tới: vạch ra đến mức tối đa những gì nhức nhối đang tồn tại trong ngành giáo dục cũng như trong xã hội hiện nay mà anh thấy cần phải quan tâm, để từ đó đánh thức ý thức trách nhiệm của những người lãnh đạo, và của mỗi chúng ta.


Các nhân vật; chính và phụ trong tiểu thuyết đều có cá tính. Nhân vật chính - thầy giáo Tự dạy văn - được xây dựng khá công phu, đi suốt từ trang đầu đến trang cuối làm cái trục chính để xâu chuỗi các mối quan hệ, làm nổi bật một yêu cầu quan trọng vào bậc nhất trong ngành giáo dục: phải làm gì để giữ được nhân cách của những người thầy có tài năng, tâm huyết, và giúp họ hoàn thành trách nhiệm cao cả được xã hội giao.


Cái kết quả tiểu thuyết không phải là kết thúc “có hậu” thậm chí còn được một không khí sầu thảm, như muốn lưu ý chúng ta điều này: vấn đề chính đNập trong tiểu thuyết còn treo ở đó chưa được giải quyết, và do vậy, tiếng nói của Đám cưới không có giấy giá thú còn dư âm và có sức gợi mở. Tiếc là trong quyển sách có đôi chỗ đề cập những tri thức có phần hơi cao xa, ít hợp với một trường trung học cho dù đó là trường trung học ở một thành phố lớn. Cái tên sách có gì hơi khiên cưỡng trong việc liên hệ, so sánh. Một hai chỗ, có lẽ vì sơ ý, có những “chữ Tây” đã không được giải nghĩa liền sau đó.


Báo Giáo viên nhân dân - 1/1990


Tâm sự với tác giả “Đám cưới không có giấy giá thú”


PHONG THU


Bạn Ma Văn Kháng ơi! Tôi đã đọc ba hơi liền hai đêm cuốn sách 376 trang chữ “Đám cưới...”, của ông. Tới dòng cuối cùng thì đã 3 giờ sáng ngày 31- 3- 1990. Giá mà ông ở gần nhà tôi, thì tôi đã đến gọi ông dậy để nói ngay cái điều do cuốn sách đã gây huyên náo những gì trong lòng tôi.


Ông Ma à, tôi không có ý định đọc để “phê” tác giả Văn Kháng, mà chỉ hào hứng thử xem lần này ông lại cho ra một cái gì nữa đây sau bốn cuốn được ông chọn đưa vào mục lục tiểu thuyết. Ở bìa tư quyển sách (hẳn còn thiếu “Côi cút giữa cảnh đời”).


Trước hôm đọc cuốn này, trong giáo giới (mà tôi xuất thân cũng là giáo học thôi) có một vài ý kiến đã phản ứng, bảo là ông “bôi bác” đã “đánh” vào ngành, vào nghề dạy học; là những gì nữa kia!


Riêng tôi, tôi đau quặn từng khúc, từng khúc khi đọc ông ở cuốn này và không nghĩ thế. Thực lòng, tôi vừa hiểu vừa trách ông sao chẳng viết sớm hơn cuộc hôn nhân của cả ông lẫn tôi và nhiều nhiều người khác nữa với ý nghĩa nghiêm túc nhất.


Ra, Ma Văn Kháng, ông bạn tôi đã nấu nung lắm về cuộc kết duyên sự đời mà tôi cũng đã nghĩ, đã nhận biết, nhưng không viết nổi bởi không tìm ra cách thể hiện.


Có người liên hệ nhân vật chính của ông với Thứ trong “Sống mòn” của cụ Nam Cao. Sự so sánh ấy tôi cho là khập khiễng. Bởi lẽ, cụ Nam Cao đã viết hẳn về đời gõ đầu trẻ ở thời buổi ấy. Còn ông, ông chỉ đưa Tự ra làm nhân chứng mà thôi. Cả cái ngành giáo dục và nghề dạy học cùng nhóm nhà giáo, nhân viên, viên chức nhà trường, cũng vậy. Bởi, tình hình, thân phận người trí thức nhỏ, trí thức lớn ở nước ta hàng nghìn năm nay - và cà trên thế giới nữa, vốn lận đận, long đong, nổi chìm, yếu ớt lắm, phải đâu chỉ có nhà giáo. Mà ngay cả cái có thực trong sự xấu tốt của nhà trường cùng cuộc đời nhà giáo mà ông đã miêu tả, đâu phải đã dầy đủ, đã ở đỉnh cao cay đắng, ngọt ngào.


Tìm riêng trong lịch sử nước ta, suốt ngần ấy năm dựng nước và giữ nước. trải qua bao triều đại cùng thể chế, chưa có một ai là trí thức đứng ở thang, bậc cao nhất của quyền lực. Cũng chưa có tên ác bá nào mang tước danh quân vương - trùm sỏ lại xuất thân là trí thức. Song, nạn nhân là những trí thức thì than ôi, thời nào cũng có. Cũng phải đâu chỉ từ sau Cách mạng Tháng 8 đến nay, giáo giới nước ta mới có chuyện “trầm luân trong bể khổ”?


Cả ông lẫn tôi và nhiều bạn đồng khoa, đồng khóa với chúng ta, đã lặng lẽ rời khỏi nghề dạy học, những tưởng chỉ ở ngành giáo dục mới thế, song chúng ta đã nhầm ở điểm này vì khi ấy chúng mình còn thơ ngây quá, dù đã ở tuổi 30 hoặc 40.


Nói cho công bằng, thân phận nhà giáo ở nước ta, không phải chỉ bây giờ, ai bắt nạt cũng được.


Khổ các anh chàng Tự, “yếu” đến nỗi có mỗi việc ăn nằm với vợ cũng không xong, vì lạ, vì run, vì hết cả hồn. Ông tài thật.


Vậy đấy, hẳn một kho đạo lý, một tầng kiến thức trong đầu ông Thống, thầy Thuật, đều trở nên bất lực, vô ích khốn nạn trước những mánh khóe lươn lẹo của Cẩm hiệu trưởng, của Dương bí thư! Rõ là, kiến thức trong đầu người trí thức không phải là vũ khí của họ. Một ngón tráo trở của lão Cẩm, giáng ngã quị một lúc ba đồng nghiệp hơn hẳn gã về kiến thức và chỉ kém có sự thớ lợ, ranh ma.


Bằng kinh nghiệm nghề văn của mình, ông đã hé cái xuất xứ ra đời của mấy người đáng khiếp ấy, đoạt lấy quyền lực để hành sự tàn bạo đó là: do sự sơ hở trong công tác đào tạo quản lý cán bộ của Đảng và Nhà nước ta. Sự ấu trĩ ban đầu trong việc phân định giai cấp và bổ nhiệm người làm việc của Nhà nước công nông non trẻ đã gieo tai hoạ không chỉ cho một thời, một đời, một thế hệ. Ông cha ta đã nói rồi, “con chị nó đi, con dì nó đến” mà. Nảy ra cái gã đồ tể Lại đã kinh, đến khi Lại bố chưa thất thế, đã sinh Lại con gớm ghiếc.


Sự “đổi đời” từ thân mõ, kiếp đồ tể đoạt lấy quyền lực, núp dưới uy tín của Đảng cộng sản và phá sự nghiệp của Đảng bằng chính sự ngu dốt của mẻ ấy, quả là một thứ kết hôn không giá thú. Bởi lẽ, nếu biết rõ ngay rồi bọn hắn là như thế, không bao giờ Đảng trao gươm vào tay cho chúng chặt đầu trí thức - một vốn quý của Đảng.


Rồi, cả đến sự có mặt của Cẩm, của Dương trong nhà trường XHCN ở cương vị lãnh đạo cao nhất, cũng là một cuộc hôn phối nhầm, không có giấy chứng nhận từ gốc, từ lò đào tạo sư phạm ban đầu mà ra.


Cái hướng, cái đích, mục đích khởi đầu đề ra trong mọi việc của Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục... đều đúng. Nhưng đến khi thực hiên thì bị những kẻ như Cẩm, như Dương bẻ vặt đi, trật khấc hết.


Ấy, cũng như Tự lấy Xuyến làm vợ, vi phải lòng, vì yêu, vì cả lòng vị tha, chứ đâu phải là để cho thằng Quỳnh nó hớt, nó đè lên. Tư đã nhầm trong việc ấy. Và, cái cô Xuyến kia, cô ấy như thế cũng phải thôi. Đúng qui luật.


Thế là cái bộ ba: thành phần chủ nghĩa + quan liêu + kẻ buông tuồng đã kết thành cỗ pháo bắn tơi bời nhóm nhà giáo - trí thức vốn say mê yêu quí nghề nghiệp không hề có chút gì là chống Đảng đã phải chịu mỗi người một thứ tội và cả một thứ nợ tàn phá sự nghiệp của họ như Tự, Thống, Thuật.


Để thực hiện ý tưởng vạch mặt thế lực hắc ám tàn Đảng, hại dân, ông đã phải lí giải và triết ngẫm không ít trang để thay cho “văn học hóa” bằng những chi tiết, sự việc chắc chán sẽ làm loãng và dài cuốn sách ra. Đây cũng là một cách khéo chộn cách thể hiện mà người đọc chấp nhận được. Khéo lắm chứ, khi ông “gói” biết bao dữ kiện, sự kiện, sự đời vào ba bức thư người học trò cũ gửi cho Tự để “mở” nút và những uẩn khúc đến đứt ruộ


Còn về các tuyến nhân vật, ông Ma Văn Kháng ạ, ông hóm lắm. Ông đã cho ra một mớ người không tên không hình hài, chỉ đôi ba lời thấp thoáng mà nổi rõ lắm một tính cách ơ hờ bàng quan trước nhân tình thế thái là cái tập thể của trường ông Cẩm - cái trường số 5 ấy. Họ luôn luôn có mặt trong các tình huống, sự việc của nhà trường, nhưng không ai nom thấy họ đâu hết cả. Chính vì họ như thế nên đã góp phần làm cho cái trường và cái cuộc thi hết cấp nó thế. Họ không làm điều gì sai, họ không đụng tới các chuyện xấu, tốt, họ chỉ dửng dưng thôi. Tài thật.


Còn cái cô Thảnh giáo viên hóa; dào ôi, ông cho cô ấy hóa ra vậy là đúng. Trong đời, thiếu giống. Cứ vợ trẻ chồng già, thì… bố ai mà chịu được. Tôi thấy, chua chứ không thấy ghét cái nhà cô ấy.


Tôi nảy ý so sánh các nhân vật ở tập này với một số quyển khác (trừ Cảnh đời côi cút ông chưa cho nên tôi chưa được đọc) thì tại Đánh cưới không có giấy giá thú này họ lên đều hơn. Các nhân vật của ông thiên về hành động nhiều hơn là tâm trạng. Với phụ nữ, miêu tả như vậy thì chưa tròn đầy. Cô Phượng, quý hóa quá, mà ông lại nhẹ tay thế. Cô Xuyến còn khối ấm ứ nữa kia. Cô Thảnh, có phần là món ghém của bữa cỗ, có hay không có cũng được. Đã có, thì khía thêm cho sâu. Bởi vì, một cô giáo nửa tây, nửa ta như cái cô Thảnh này, lý thú lắm ở môi trường ấy.


Một tác giả ngót chục năm (hay hơn thì tôi không nhớ chắc) làm phó giám đốc một nhà xuất bản mà vẫn lao động nhà văn: như ông, tôi kính phục quá.


Viết nữa đi ông. Viết tiếp những cuốn bảo vệ Đảng và ưu ái người trí thức như cuốn sách này đi ông! Sao mà tôi yêu ông thế!


Hà Nội chủ nhật 6/5/1990


Đám cưới không có giấy giá thú


CÓ TÍNH LUẬN ĐỀ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI


MAI THỤC


Tiểu thuyết bao giờ cũng quan tâm đến số phận nhân vật để thỏa mãn nhu cầu tự bộc lộ và tự nhận thức lại mình của con người.


Với tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, Ma Văn Kháng đã xây dưng nhân vật Tự trong sự săn đuổi trớ trêu của số phận, bàng ngôn ngữ ẩn chứa cả trực giác, lý tính, cảm tính… Tự hiện ra trong những trạng thái tâm lý đa dang: khi là những ẩn ức bị dồn nén, khi bay bổng thăng hoa, khi là những đột khởi trực giác... Sự xô đẩy, chà xát tận đáy ngầm trong thế giới tâm linh, đã giúp Tự tìm thấy giá trị đích thực của mình: “Con người còn giá trị tự thân của chính nó. Không kẻ nào tước đoạt được”.


Song, đằng sau nhân vật trí thức “trong suốt, dễ vỡ” này, cuốn tiểu thuyết còn mang tính luận đề về mối quan hệ giữa những giá trị văn hóa với đời sống con người.


Tính luận đề này không chỉ nằm trong bản thân sự vận động của nhân vật mà còn là những câu văn, đoạn văn, có tính lý luận, chính luận có khi dài hàng trang về vấn đề văn hóa. Ví dụ: “Cách mạng xã hôi. Đó chính là kết quả của sự canh tranh giữa hai thế lực lãnh đạo xã hội, ứng với hai trình độ phát triển khác nhau của khoa học, tri thức của loài người. Thế lực lãnh đạo nào có trình độ cao hơn thì sẽ thắng thế lực kia” (trang 358).


Gần 400 trang sách, dù miêu tả, kể chuyện, đối thoại hay độc thoai nội tâm, luôn xuất hiện những lí lẽ, luận bàn về những giá tri văn hóa trong mối quan hệ với con người và xã hội.


Văn hóa hiểu nôm na là tổng thể các quan hệ nhiều chiều giữa con người với tự nhiên và xã hội. Khái niệm văn hóa này được Ma Văn Kháng thể hiện qua thân phận của Tự (người trí thức không may bị săn đuổi, bị cô lập, kết tôi, bị tước đoạt). Nhà văn lý giải: “Thù ghét, đối xử tàn tệ với người trí thức là làm trái qui luật, là dã man, sơ khi, vô văn hóa và cản trở bước tiến của xã hội” (trang 263).


Hiện thân của văn hóa ẩn chứa trong cách miêu tả căn gác xép chật chội hình vuông (9m2). Căn gác xép là linh hồn của tác phẩm, nó chập chờn ẩn hiện trong thế giới tâm linh của Tự. Căn gác xép đầy ắp tâm linh của muôn đời “trên cái giá sách gỗ lim chạm trổ cầu kỳ. Một rừng kiến thức và tư tưởng”. (Những bộ từ điển Khang Hy, La Rousse, Những bộ sưu tập đồ sộ có hệ thống về các nền văn minh của nhân loại. Các tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn hóa lớn…). Với Tự, đây là một thánh đường tôn nghiêm; tháp ngà cao quí, CLB văn hóa, năng lực và ý chí con người trú ngụ. Ở nơi đây, Tự thành con người tự do. Anh thoả ngụp trong đại dương mênh mông của kiến thức. suy nghĩ, mơ mộng, thầm thì, tri kỷ, ngân nga cùng Thôi Hộ, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Ba Quát... Hồn anh tỏa rộng, bầu không khí giãn nở, không gian mở... Anh được sống trong cái lạc thú vô biên. Lạc thú đi tìm cái chưa biết, chưa đạt tới, qua những cuốn sách chứa đựng, gợi mở, kiến thức nền tảng, tư tưởng khai sáng... Anh đã sống trong một khoái cảm được biểu hiện năng lực người của mình. Sự giải tỏa, thăng hoa này giúp Tự tìm thấy cái thiên chức làm người. Bởi vì “Học vấn xây dựng trên can bản đạo lý làm người”.


Văn hóa có mối liên hệ linh điệu với con người là thế. Nhưng trong một bối cảnh nào đó, văn hóa đã bị săn đuổi, tiêu diệt một cách vô thức.


Văn hóa bị xua đuổi trong cảnh ngộ bất lực trước cuộc mưu sinh, người trí thức “nghiến răng” bán từng cuốn sách quí.


Văn hóa bị khước từ ở một trường trung học nghèo nàn, hỗn độn, tiếng la hét, bảng tin lộn xộn câu què cụt, hình vẽ tục tĩu, trống thủng, chiêng long…. Trong lớp không khí kháng, tảng, đầy mâu thuẫn mập mờ, học sinh vây bủa thầy bằng những câu hóc búa, bí ẩn, thúc ép...


Văn hóa bị giày đạp bởi những thầy cô giáo nhìn nhau đầy khúc mắc qua những trò đả kích, nịnh hót, vu cáo, rình mò, giả trá, ba hoa… dạy học sai như cơm bữa, mua bán đề thi trắng trợn… Thêm ông hiệu trưởng học ít, giáo điều, độc quyền, thích nói chính trị…


Văn hóa bị tước đoạt bởi sự dồn đuổi những người thầy học vấn trọn vẹn, ý chí hơn người, lấy trí làm thầy, lấy đời làm gốc, khắc khoải lo âu về sự sa sút nhân cách của ông thầy và nghề thầy có ng cơ bị cào bằng vì một kế sinh nhai, có khát vọng tự do tỏa sáng và nhân mình lên qua công việc cao quý là giáo dưỡng con người...


Nhìn thấu những thực trạng này, nhà văn đặt ra những câu hỏi đầy trí tuệ và nhân ái: “Chẳng nhẽ vì chúng ta vô học, vô học nên sinh ra bạo chúa? Hay bạo chúa chính là tên vô học không biết quý trọng con người?”


Văn hóa đã làm nên nhân cách con người, ở nơi nào các giá trị văn hóa bị chà đạp, con người sẽ không còn nhân cách, đời sống trở nên hoang vu, tăm tối. Nhưng cuộc sống bao giờ cũng có vùng sáng và vùng tối. Những con người ở vùng sáng đã nhìn nhận sư vận động tất yếu của tiến bộ xã hội qua những dòng văn chính luận. “Dòng gia tăng tri thức của xã hội loài người là cái lõi phàn ánh bản chất của sự tiến hóa và tồn tại mãi mãi cùng loài người. Nhưng tiếp thu được tri thức cao cả của nhân loại không dễ dàng”. (trang 358).


Thông qua hình tượng văn học của mình, Ma Văn Kháng đã lý luận về một vấn đề có tính chất quyết định cho tiến bộ xã hội. Đó là cuộc gặp gỡ giữa chàng trai cuộc sống gân guốc và nàng tiên văn hóa huyền diệu. Cuộc hôn nhân có màu đỏ như “những vũng máu đỏ của một cuộc huyết chiến bi thương và quyết liệt”. Nó đòi hỏi những chàng trai đừng bao giờ để những giá trị cá nhân mình bị tước đoạt.


ĐỌC “Đám cưới không có giấy giá thú”


LÊ NGỌC BẲO - giáo viên Ngữ Văn trường P.T.T.H Trần Đăng Ninh Ứng Hòa - Hà Sơn Bình.


Tôi đã tìm đọc cuốn tiểu thuyết mới này của Ma Văn Kháng, ngay sau khi có ý kiến phê bình trên báo “Nhân dân chủ nhật” cách đây hàng tháng. Đúng là như anh Hữu Thỉnh nói “không đọc nhanh được” với tác phẩm này. Nhưng cực khổ thay, sách thì phải đi thuê, đi mượn, làm thế nào để khi nói không bị mang tiếng là hời hợt, trước nỗi vất vả, nhọc nhằn đến “kiệt sức” của nhà văn. Tất nhiên tình yêu có trăm ngàn lối đi của nó, cũng chẳng e sợ khi hôn nhân không thành.


Đọc nhiều lần cuốn sách, đặt trong thứ tự những tiểu thuyết và truyện ngắn của Ma Van Kháng tôi nghĩ đến anh là một con người khổng lồ. Khổng lồ về nhiều mặt. Khổng lồ trong nắm bắt hiện thực, trong xây dựng nhân vật điển hình. Khổng lồ trong hướng đi có tính chất đột phá cho văn học nước nhà ở thời kỳ mới. Khổng lồ về tấm lòng nhân hậu, ưu ái của anh, trước số phận đau khổ của con người. Con người ấy lại là trí thức. Cái tầng lớp mà một thời nói đến người ta luôn e ngại, né tránh. Cứ nhìn các ông đeo kính trắng là người ta đã không ưa thích lắm rồi. Càng xa trung tâm, càng xa ánh sang, quan niệm ấy của người đời, nhất là các vị giữ trọng trách, có liên quan đến sinh mệnh chính trị của con người, mà đầu óc đã định kiến, thì những trí thức rơi vào vòng vây bủa của họ càng cực kỳ đen tối và đau khổ, chỉ là đồ bỏ đi.


Cách đây mấy trăm năm, Nguyễn Du đã khóc thương cho số lênh đênh, chìm nổi của nàng Kiều tài hoa, hương sắc đến điều. Bây giờ lại đến anh. Anh Kháng đã khóc thương cho một kiếp người, một số phận hẩm hiu, cay đắng, không chút vinh quang, khương cho “một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ, một ngôi trường nhỏ với những chấn thương nặng nề. Bị bít các lối. Bi dồn tới chân tường… Bị tước đoạt hết”…


Chao ôi! Nếu không có lòng tin yêu mãnh liệt của con người, không có sự trân trọng cao cả trước những số kiếp long đong, sao anh có thể thấu hiểu được “các nỗi đau nhân thế, nỗi đau tâm thể này”, trước “thập loại chúng sinh” chứ đâu còn là nỗi đau của riêng thầy giáo Tự.


Tôi thấy Ma Văn Kháng đã thể hiện, đã phanh phui, đã biện giải, những gì phá phách, đã làm thui chột những tài năng trong cuốn sách của mình, đúng như lời đề từ anh ghi ở đầu tác phẩm: “Phong vận kỳ oan khách tự cư” (cái oan của người phong nhã do người ấy gây ra, chuốc lấy) (Nguyễn Du).


Thật thế, Tự là khuôn mẫu của nhà giáo ở thời kỳ bao cấp về kinh tế, bao cấp về tư tưởng, bao cấp về nhìn nhận đánh giá con người. Loại trừ những tài năng đi thẳng đến vũ đài nhưng cũng phải có những con mắt xanh, những bà đỡ mát tay và đầy sức mạnh đặt vào đúng chỗ. Số ấy là rất ít. Còn lại là hằng hà sa số nhưng con người, những mảnh đời, những “thiên tài tỉnh lẻ” phải chịu những quằn quại đớn đau như Tự trong xã hội chúng ta, chứ đâu riêng ngành giáo dục. Cái lớn lao của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết này là như vậy. Sức khái quát cao, độ điển hình lớn, khiến ai chỉ đọc một lần, cũng thấy như tác giả, đang nói về mình, đang cãi hộ cho mình, cho những thua thiệt của mình, mà người đời nhất là các vị “cầm quyền cai trị” luôn tỏ ra rất vô tình và tàn bạo; hay cũng biết đấy mà lại không đủ mạnh, để cản phá những ý tưởng đen tối và cơ hội muốn trùm lấp, đè bẹp những tài năng như Đặng Trần Tự.


Khắc họ chân dung của một nhà giáo ở thời đại chúng ta (ít nhất mấy thập kỷ chúng ta xây dựng nền giáo dục XHCN ), anh Kháng đã không chọn những mẫu người, mà từ trước đến sau, luôn luôn gặp may mắn, để xây dựng nhân vật của mình, mà anh đã chọn đúng một số phận, một cuộc đời, chỉ nhìn vào đó đủ thấy ông giáo của chúng ta, nền giáo dục của chúng ta, nhà trường XHCN của chúng ta, mấy chục năm qua là thế nào. Bởi vì soi vào Tự, thấy trong làng giáo của chúng ta, nhiều số phận i xì như Tự, mà phải như Tự thì mới là nhà giáo chân chính. Còn Thuật đã trượt sang lĩnh vực, sang địa hạt khác của nghề nghiệp mất rồi. Loại như Thuật ở trường nào không có. Loại giáo viên như Thuật nên chuyển sang làm việc khác, như chính anh đã nói:


“Thầy ra thầy. Khẩu hiệu hay tuyệt. Nếu vậy, ở đây, anh Tự ở lại trường. Còn thì: tôi cút, ông cút, ông Dương cút, bà Thảnh cút!”.


Và đây nữa:


“Ví dụ, thầy Tự đây được 10 điểm. Tôi chỉ đáng 5, bà Thảnh 2. Còn ông, ông Cẩm? Điểm 1 hay là dêrô?!”.


Hay quá! Nhân vật nói hộ Ma Văn Kháng đầy đủ cái điều anh định nói. Thuật là nhân vật, nhà giáo, có tài đấy nhưng không gặp thời, bị lỡ trớn, do đó sinh ra phá phách. Nhân vật nổi loạn này thực sự ra cũng nhan nhản ngoài đời. Có tài năng đấy, nhưng bị vùi dập. Giá trị tinh thần đã mất, thì chuyến sang làm kinh tế. Ở nông thôn thì người ta định nghĩa lại: nhà giáo là người nông dân có nghề phụ là dạy học! Nhưng ở thành phố, cố nhiên là một cách như Thuật để tự cứu lấy mình. Nhưng vẫn cay cú lắm sinh ra đập phá. Y như Chí Phèo sau khi bị Thị Nở “cắt đứt” (cũng là một đám cưới không có giấy giá thú), bởi vì đã bị xã hội bóp méo cả nhân hình và tha hóa về nhân tính. Uống rượu không thấy say, chỉ thấy “thoang thoảng mùi cháo hành”. Chí quyết định xách dao đến nhà Bá Kiến, kết liễcuộc đời kẻ đã xô đẩy mình vào con đường đau khổ.


Tôi lấy làm tiếc là anh Kháng cho cuộc đời Thuật, tạm dừng lại ở bệnh viện tâm thần. Nếu như anh, nếu thêm vài chi tiết nữa, chẳng hạn Dương, Cẩm bày mưu đưa Thuật vào nhà tù vì một phi vụ nào đấy, sau khi mãn hạn tù liệu Thuật có hành động như Chí Phèo ở phần chót?! Thảnh là loại giáo viên đào tạo theo lối gốc tre, gốc mít, vào trường nhờ vận may nào đó, học thì thi lên, thi xuống, dạy thì í ới qua ngày. Chỉ được, cái hay to mồm, quang quác mỗi khi quyền lợi “được” đáp ứng không đầy đủ, hay thiệt thòi tí chút. Ma Văn Kháng say sưa với nhân vật trung tâm nên phần nào, những nhân vật kiểu này còn giản đơn, sơ lược. Nhưng thoáng qua là thấy ngay, sờ thấy ngay, mỗi khi người đàn bà này xuất hiện.


Người đúng gọi là thầy, vâng, đúng như thế, chỉ có một mình Tự. Tại sao lai nực cười như một nghịch lý như vậy. Lẽ ra thầy Tự phải là vai chính, giữ vai trò trọng trách trong nhịp điệu giáo dục, mà kết cục thì nhiều người đã rủa “chết” là phải, “tự sát” đi có hơn không? Nói như thế chẳng khác nào kẻ có tiền giữa lúc này, hay trước đây vài năm (trước Đại hội Đảng VI) sỉ nhục ông thầy: không có tiền thì chết đi!


Chúng ta thử lần lại hành trình của đời Tự. Đây là một thầy giáo tài năng và đây tâm huyết. Điều đó anh đã được đồng nghiệp và nhân dân thừa nhận. Sản phẩm của anh là 41 học trò, y như đứa con đầu lòng, tác phẩm đầu tay - ngày anh mới vào nghề và không ngần ngại lên dạy học, tận một thị xã miền núi xa xôi - là những tấm gương phản chiếu con người, nhân cách và tài năng sư phạm của anh. Duy chỉ có một cậu học trò ngỗ ngược: thằng Tuẫn - con quan lớn Lại” “ngang nhiên đóng vai thằng phá đám” “là tên Juđa phản nghịch”, đã là nhân tố trực tiếp làm hỏng đời thầy. Thầy giáo dạy Văn là người tái tạo lại tác phẩm của nhà văn thông qua giy. Đã dạy thì say, chỉ cần một tiếng động nhỏ đã làm mất hứng. Huống chi nó lại nói với thầy, những lời này giữa giờ dạy:


“Ôi, chó chết hết chuyện. Chứ có đếch gì mà cao cả với vĩnh hàng! Lằng nhằng!”


Thầy giáo tâm huyết, ai không nổi giận. Nhưng có ngờ đâu lời nói của một học trò mất dạy lại là mở đầu bi thảm của cuộc đời anh: “Ông Tự! Còn ông thì hết đời chó chết cũng không được là thằng đảng viên dự bị đâu!”. Từ đó đời Tự trượt dài, trên con đường đời đầy đau khổ. Tưởng chừng ra trận cũng là cơ hội để anh có thế đứng lên được. Nhưng rồi lại bị níu xuống bởi chưa gặp vận. Kể ra thì anh vẫn là người đạo đức, muốn giữ gìn nhân cách của mình, chứ 8 năm trời quân ngũ thiếu gì thời cơ cho anh, thực hiện lý tưởng của mình, nếu anh chỉ cần khác đi một chút (như ối kẻ đã làm, để rồi lên ông nọ, bà kia). Về thành phố, tưởng cơ may đã đến (vì gặp lại bạn đồng học, đồng môn là Cẩm - người có đầy quyền lực trong nhà trường, thời trường học còn rất dân chủ), thế mà như thế đấy...


Tự là tấm gương của ông thầy truyền thống, đòi cuộc đời phải công nhận từ thực tế tài năng và nhân cách của mình, mà không cần một chất xúc tác nào để tiến thân.


Còn đời thường ư? Lẽ đương nhiên thôi! Ông thầy chỉ trở thành siêu nhân đối với học trò một khi, giữa nói và làm phải là một mệnh đề thống nhất. Ông thầy sẽ mất thiêng, khi trên bục giảng “thao thao” về những lý tưởng mà trong đời thường lại có thể làm những việc trái với thiên chức. Chạy hàng, phe phẩy; dạy thêm; tìm điểm hở các học trò cho vào bẫy, để bố mẹ phải hối lộ; cho tăng điểm nếu có cái gì...ả đều không có đất ở chỗ ông thầy. Tự chỉ mang bán đi cuốn sách, cũng là sự hổ thẹn. Vì bán sách và đốt sách thực ra cũng gần nhau… Vậy thì lấy gì để sống, ở cái thời bao cấp: 13 kg gạo đầy tro, đầy sạn và đồng lương chát chiu chỉ đủ có 10 ngày, còn lại ăn đâu! Vậy muốn giữ được phẩm chất ông thầy ở giữa cái thành phố sầm sập những nhịp điệu khác thường trong lối sống, trong tranh giành, cướp giật miếng ăn, anh phải làm gì? Mác nói: “giá trị vật phẩm càng tăng lên bao nhiêu thì giá trị con người càng nhỏ bé bấy nhiêu!”. Do vậy Tự phải co lại để gìn giữ phẩm chất của mình là tất yếu. Ngay cả khi vợ ngoại tình (nghĩa là bội phản tình yêu của anh), anh cũng đành bất lực. Vì sao vậy: đồng tiền đã cuốn hút niềm say mê ở Xuyến (vợ anh) mất rồi. Xuyến cũng là một dạng ở sự tha hóa trong xã hội tiêu thụ. Cái tình yêu tự nhiên, đầy chất phù xa giữa anh và Xuyến (khi cô còn là một gái quê nơi xa thành phố), sẽ trở thành một thứ giẻ rách khi hai người có nhận thức lối sống khác nhau.


Dương và Cẩm lại là những mẫu người luôn luôn ngộ nhận về mình, mà ta chỉ cần quan sát kỹ một chút, thì cũng như vỏ hến ở trong các trường học, kể từ cấp cơ sở cho đến cấp cao nhất của ngành giáo dục. Anh Kháng đi sâu vào lai lịch của Cẩm và nhấn mạnh đến “tư cách mõ” của ông ta là cũng mong chúng ta trực tiếp là những người có thẩm quyền, mau mau hãy cho thôi đi những ông “quan đánh rậm”: Sự nghiệp giáo dục của chúng ta xuống cấp đến thảm hại, cũng bởi, một thời chúng ta đã bị những loại người này cầm cân nảy mực. Sự lật lọng, trắng trợn của Cẩm trong việc bị bắt quả tang đang chữa điểm thi, khiến ông Thống phải cấm khẩu, thật là một chi tiết nặng đồng cân. Chỉ một chi tiết đó thôi, đủ thấy rõ bản chất của loại người này. Song dẫu sao tôi vẫn tiếc cho anh Kháng, ở chỗ: thấy nhân vật leo lên đến cương vị như Cẩm, thì anh ta phải là kẻ gian ngoan, xảo quyệt, khôn lường và biến hóa như một mụ phù thủy cao tay, phải có những thầy quỉ cốc cao thủ mới trị nổi. Thế m.


Có lẽ nhà văn thuộc gương mặt này hơn, nên khi đọc tiếu thuyết, chúng tôi thèm muốn ở anh, một nhân vật đa diện, đa thanh hơn là chỉ có một ông hiệu trưởng mang dòng máu mõ.


Ngược lại Cẩm, thì Dương là một mô hình của sự cực đoan, cũng ma lanh dạng con vẹt, nhưng máy móc, câu nệ mà thời kỳ bao cấp tư tưởng, đã sản sinh ra họ.


Sống trong môi trường đó, với những con người như vậy, thì thầy Tự (lại cứ bám lấy những gia giáo,... đạo đức cổ truyền) bị thui chột, tàn lụi đi là phải!


Ngay như tất cả chúng ta nếu không có ngọn gió đổi mới liệu sẽ đi về đâu?...


Đám cưới không có giấy giá thú là pháo hiệu đèn xanh, mở đường cho văn học hiện đại nước nhà bước qua một trang mới. Giá trị trường tồn của nó, khoan hãy nói đến, nhưng trong lúc nước sôi lửa bỏng này phải khẳng định sự có mặt.


Cảm ơn nhà văn đã cho ra mắt kịp thời. Cảm ơn những ai làm bà đỡ cho tác phẩm ra đời đúng năm, đúng tháng. Giá như nó có mặt sớm hơn dăm bảy năm trước, liệu có tốt hơn không, cho những cuộc đời đang là nạn nhân của thời kỳ còn đầy đen tối của xã hội. Thật khó thay. Tiếc thay!


Nhưng nói gì thì nói Đám cưới không có giấy giá thú vẫn là tác phẩm cần phải đọc sớm, đọc ngay của tất cả mọi người, mọi nhà, mọi ngành, chứ đâu riêng các nhà giáo...


ĐỌC: Đám cưới không có giấy giá thú


LÊ NGỌC Y - Trưởng ban sách Văn học NXB Giáo dục


Từ lâu, có nhà nghiên cứu phân chia tiểu thuyết ra thành nhiều loại: tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết hoạt kê, tiểu thuyết luận đề v.v... Trong các loại ấy thì tiểu thuyết luận đề là tiểu thuyết khó nhận biết hơn cả. Ngày nay, Ma Văn Kháng viết cuốn tiểu thuyết hiện đại mang tựa đề: Đám cưới không có giấy giá thú theo tôi nghĩ, cũng có thể xếp vào loại tiểu thuyết luận đề.


Với 381 trang viết, tác giả miêu tả cuộc sống giảng dạy ở một trường trung học số 5. Trong một không gian bình thường ở một thị xã nhỏ xa xôi, cũng đủ mọi thiết chế của xã hội, và không hề biệt lập với xã hội bên ngoài. Bằng cách nhìn tinh tế vào hiện thực đời sống, tác giả đã mô tả những người giáo viên sống và làm việc gặp quá nhiều khó khăn. Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào những trang tiểu thuyết trở nên sống động, hấp dẫn


Sự hài hước, khiên cưỡng của Cẩm, Dương và nỗi đau buồn của đời giáo Tự, Thuật, Thống... đã nói lên phần nào luận đề cuốn tiểu thuyết.


Thiết chế của trường học cũng giống mô hình xã hội; có người lãnh đạo, rồi đến các thầy giáo, học trò và nhân viên phục vụ. Người lãnh đạo cao nhất của trường là hiệu trưởng Cẩm, bí thư chi bộ Dương. Những người này thay mặt Nhà nước, Đảng để hướng dẫn sự nghiệp giáo dục phát triển. Ông Cẩm được tác giả diễn tả theo một quá khứ nghề nghiệp rất chập chững, chắp vá: học hết lớp 7, bí thư đoàn xã, giật giải chạy thi 1000 m, vào dạy thể dục ở trường phổ thông cấp II. Vì là đảng viên duy nhất nên Cẩm được cử làm hiệu trưởng. Sau vài thâm niên, Cẩm được cử đi học đại học sư phạm. Biết sức học của mình, Cẩm xin học môn địa lý. Nhưng lại vì là đảng viên, Cẩm được điều đi sang học bên khoa văn. Ba năm học, mặc dù thi lại nhiều môn, vẫn được lĩnh bằng tốt nghiệp là giáo viên văn học. Với quan niệm: “lãnh đạo là khó nhất mà còn làm được thì có việc gì mà chịu bó tay” (trang 117).


Làm giáo viên văn học, Cẩm lên lớp giảng thì giải thích sai từ này, từ khác là chuyện cơm bữa. Kiến thức nông cạn sơ sài không hiểu nổi nghĩa của cụm từ, đứng trước học sinh: Cẩm chữa Hào khí Đông A thành hào khí Đông nam châu Á (113). Vì thiếu một bề dày trí thức của một người thầy, không đủ trình độ để diễn giảng nên khi giảng văn Cẩm có một công thức: Đại ý, dàn bài, phân tích, kết luận. Phân tích thì cục cằn, mách qué. Bình phẩm thì chỉ quanh quẩn mấy câu: Bài “Đại cáo Bình ngô” như thế là rất tốt. Bài “Ngôn chí” như thế là rất có ý nghĩa (114). Và tư cách của Cẩm bị anh em giáo viên khinh thường quá mức. Có lần xô xát với Thuật, Cẩm nói: “Đồ chó, đồ khốn”, Thuật đáp lại: “Mày bảo ai đồ chó, hở thằng mõ?”.


Với chức vụ hiệu trưởng, đã dốt lại ưa thành tích nên Cẩm tìm cách báo cáo láo. Biết môn toán thi hỏng nhiều, ban đêm nhân lúc ông Thống đi vắng, Cẩm đã lẻn vào văn phòng mở tủ lấy bài sửa điểm để hôm sau báo cáo trước hội đồng: “Ta thắng giòn giã. Dứt khoát năm nay ta lại tiên tiến xuất sắc”. Còn bí thư chi bộ Dương thì cũng chẳng


kém: “trước cách mạng tháng Tám, Dương là học sinh “Moyen” (lớp nhì) trường huyện. Sau cách mạng Dương tham gia tuyên huấn huyện, rồi sang công an huyện. Năm 1960, được cử đi học lớp lý luận cao cấp chín tháng, Bộ giáo dục xin về làm giáo viên chính trị cấp 3. Người giáo viên cần có một kiến thức vững chắc, chu đáo về giảng dạy thì Dương không có bề rộng lại thiếu chiều sâu. Hàng mấy chục năm nay, tự đắc một cách nông cạn về vai trò thống soái của bộ môn mình, ông không bao giờ nghĩ tới việc phải trau dồi học hành thêm. Ngay trong địa hạt ông vẫn tự hào, hiểu biết của ông cũng chắp vá, thiếu cơ bản và lắm chỗ lỗi thời. Ông lại không có cái tinh khôn uyển chuyển, bột phát của tư duy học thuật, không quen với những biến thái nửa chừng, mu mơ, hư huyền của thực tại. Cẩm là cái thô kệch tầm thường của đời sống vật chất bỗ bã. Ông là cái thô cứng, giản đơn và tự thị quyền uy mù quáng của đời sống tinh thần”. Có lần Dương đã bộc lộ cái nông cạn, đơn giản, mù quáng ấy với Tự: “Văn chương tự cổ vô bằng cứ. Văn chương là tư tưởng. Mà tư tưởng nó như con lươn rúc bùn, như anh chàng Tôn Ngộ Không bảy mươi hai phép thần thông biến hóa, sai đấy, cũng đúng đấy, lập lờ phản trắc cũng là đấy. Văn chương là chỗ dễ mất lập trường nhất đấy, đồng chí Tự ạ”.


Quan niệm của Dương về văn học thật là thô thiển và quái gở. Con người ông còn thể hiện ở việc làm: “ông giải tán mấy lớp tiếng Anh với lý do đang chống Mỹ học tiếng Anh, tiếng Mỹ làm gì hay là để nghe đài Hoa Kỳ và vượt tuyến vào Nam”. Khi giảng dạy chính trị giải thích chữ Mácxít là tên gọi của hai lãnh tụ cộng sản là Các Mác và Stalin. Giáo viên của trường đi gặt giúp dân, Tự cao hứng làm bài thơ “Mùa cốm” dán ở báo tường công đoàn. Dương bóc luôn và phán: “bài thơ có vấn đề chính trị, cụ thể là vi phạm chủ trương bài trừ tục ăn cốm làm thâm hụt sản lượng lương thực của huyện ủy”. Dương thường nghĩ mình là người có quyền, khi không vừa ý điều gì là ông quát: “quá trớn hết sức! Phải chuyên chính, phải chuyên chính!”. Mà chuyên chính là đồng nghĩa với việc gọi công an vào trấn áp giáo viên trong trường.


Dương còn một thói xấu nữa là nhân danh cán bộ Đảng có quyền bóc thư người khác để xem trộm. Thật là một hiện tượng kỳ quặc, một sự thiếu văn hóa lạ lùng.


Trong tác phẩm, ta còn gặp những người cán bộ Đảng như phó ban tổ chức tỉnh ủy ngấp nghé tỉnh ủy viên lại chỉ học hết lớp 3, bí thư thị ủy xuất thân từ một người làm nghề đồ tể. Ông phát biểu nhân ngày khai giảng một trường cấp 3 rồi sẽ mở cấp 4, cấp 5, cấp 6 (trang 99). Bí thư tỉnh ủy xuất thân là bần nông, chưa bao giờ đọc hết một bài báo trong tạp chí Học tập, thời gian ông đi bộ đội được làm giám mã. Một người như thế thì làm sao chỉ đạo được phong trào của một tỉnh về kinh tế, văn hoá, xã hội? Vì thực tế, nếu để ông tự lực, ông cũng không đủ khả năng nuôi nổi bản thân mình. Bí thư một con tàu đi ra trùng khơi mà văn hóa lớp 4. Rặt những người như thế mà một thời đã tự nhận là người thay mặt Đảng để đem lại cơm no áo ấm cho dân! Họ tự cho mình là những người đại diện cho một lực lượng sản xuất tiền tiến, một nền văn hóa mới của chủ nghĩa xã hội. Thật là khiên cưỡng đến thảm hại!


Viết về nhà trường và viết cuộc đời người trí thức, tác gi Ma Văn Kháng đã có một kiến giải khá phong phú. Những hiểu biết của anh đã được thể hiện hằng những trang viết đầy xúc động, thương cảm về thầy giáo Tự, Thuật và Thống v.v... Họ là những người có tài năng thực sự, say sưa với nghề, tận tình với học sinh. Đó là những người thầy chân chính nhưng đã bị hoàn cảnh chi phối, gây cho họ nhiều biến động đau lòng.


Để người đọc nhận thức rõ cảnh thương tâm của Tự, tác giả đã xây dựng một người thầy giáo dạy văn có tài, thông minh. Tự đi vào đời với những cảnh ngộ thật éo le. Tự yêu Phượng nhưng không thành. Tự gặp Xuyến làm thủ thư một thư viện, văn hóa vừa hết lớp 7. Hai người quen nhau, Xuyến dẫn Tự về quê mình chơi và cuộc hôn nhân của hai người được tác thành. Xuyến là vợ Tự, đáng lẽ phải là niềm vui, hạnh phúc, nhưng Xuyến đã vượt ra ngoài cái khuôn khổ bình thường ấy. Gặp hoàn cảnh khó khăn, Tự phải bán dần số sách của cha cho mình để lấy tiền sinh sống hàng ngày. Xuyến không thông cảm được cảnh sống ấy, cô bỏ việc đi buôn và đi ngoại tình. Xét về ý nghĩa hạnh phúc thì Xuyến chưa có đủ tri thức để kiến giải và đối với cô chỉ có một tầm nhìn rất gần như người ngồi trước mâm cơm nhận biết có những món ăn nào mà thôi. Còn Tự thì khác, anh đọc nhiều sách, hiểu biết cũng nhiều nên tầm suy nghĩ khác xa với Xuyến. Điều gì anh cũng tìm hiểu cặn kẽ, kiến giải mạch lạc. Bởi vì anh đã quen với nghề dạy học vã đã trở thành một thầy giáo giỏi. Chính vì có công mài sắt như thế nên hôm Thuật giáo viên dạy Toán đến dự lớp, hết giờ Thuật đã nói: “Tự ơi, người thay đổi kiến trúc tâm hồn tôi” (248). Trong cuộc đời làm giáo viên có một lần Tự đã nóng nảy tát một học sinh hỗn. Chết nỗi cậu học sinh ấy là con một ông bí thư thị ủy. Thế là cuộc đời Tự “ba chìm, bảy nổi”. “Giáo Tự vốn ương, chỉ có cách gọi đi nghĩa vụ quân sự là lão chết cứng”. Mặc cho sức khỏe chỉ xếp loại B2 nhưng vẫn được ra mặt trận. Tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, có lần anh bị thương. Sau khi ra viện anh đư̖ếp việc nhẹ: cần vụ cho một trung tá. Sau mười năm làm lính, anh được trớ về nghề cũ. Cuộc sống anh vẫn thế, vẩn nghèo khổ và hẩm hiu. Anh tìm cách làm thêm để sống. Có người mách anh để dạy cho 2 cô con gái của một gia đình nọ, không ngờ lại là gia đình anh ruột mình. Người anh gặp Tự nói: “nghe nói giáo viên dạy giỏi được thưởng nhiều lắm! Sao ăn mặc như thằng xích lô thế”. (trang 334)


Nhà văn xây dựng nhân vật vừa là phong cách nghệ thuật vừa là phương tiện để nhận thức cuộc sống. Giáo Tự lận đận như thế, còn Thuật thì sao? Giáo Thuật giảng Toán lại rơi vào cảnh tồi tệ khác. Thuật khi trước có thân với Tự, nhưng vì quan niệm về cuộc sống mỗi người có một cách riêng mà họ không gần nhau. Đến cuối cuốn tiểu thuyết, cả Tự và Thuật đã từng trải thì họ lại gần nhau. Tính tình của Tự khác với Thuật. Một bên thì trầm tư, kín đáo, còn một bên thẳng thắn, thực dụng nhưng cả hai bên đều là giáo viên dạy giỏi. “Ngay từ ngày mới lên 5 tuổi Thuật đã là thần đồng về trí nhớ. Lúc 8 tuổi Thuật giải được phương trình bậc 1; đọc thuộc lòng cả tập thơ “Gió tây” của thi hào Shelley trong nguyên bản Anh ngữ. Vào đại học, năm thứ 1 đó là thiên tử toán học và hết khóa, tốt nghiệp hạng ưu”. Thuật đã có những quan điểm làm ta suy nghĩ: “Một tạ chất xám không bằng một đám mồ hôi”. Nhân xét học sinh kém của trường, Thuật nêu: “Gieo cái gì gật cái ấy. Gặp bài toán khó, nghĩ ba phút không ra, 100 đứa không nổi một đứa tiếp tục suy nghĩ. Học trò chúng ta, bây giờ là thế đấy, các vị ạ!”. Thuật không đồng ý quan điểm của trường xác định đối tượng dạy học là: phân loại học sinh làm ba loại: giỏi: trung bình và kém, rồi lấy số trung bình và kém làm đối tượng rồi đề ra nội dung và phương pháp giảng dạy.


Trong cuộc sống hàng ngày, Thuật cũng phải xoay để kiếm sống. Khác với Tự, Thuật nuôi chó giống, theo Tự đó là một hành vi thiếu văn hóa đối với nhà giáo. Vì vậy, Thuật đã xa Tự, Thuật đã trải nhu những nỗi cay cực nên sinh tâm lý bất mãn, khó chịu. Tâm lý ấy nó thường trực trong người Thuật, chỉ chờ có điều kiện là bùng ra. Xô xát với Cẩm, Thuật đã nói: “Chính nó và thằng Dương đã hại đời tôi. Lãnh đạo gì chúng nó... Ối giời ơi, bọn lưu nhanh khoác áo cộng sản”. Vì vậy, Thuật bị xử lý. Sau đó, người ta đồn ràng Thuật bị điên và phải vào nhà thương. Điên hay thế nào cũng chẳng ai biết rõ.


Trong tác phẩm còn một nhân vật nữa mà tác giả cũng gửi gắm nhiều tâm sự, đó là ông Thống: “Ông là con một nhà nho, nghề dạy học. Hồi dầu cách mạng tháng Tám, ông tham gia cướp chính quyền làm chủ tịch xã. Sau đó phải từ chức vì lí do là con địa chủ ác bá. Ông làm giáo viên dạy văn trường trung học, bị bắt ngay trên bục giảng vì hai tội lớn: giảng bài “Thúy Kiều mắc oan” là có ý nói móc cách mạng và tội thứ hai là “say sưa đề cao văn học cổ, đạo đức phong kiến lỗi thời phục vụ cho giai cấp bóc lột”. Vì vậy ông bỏ nghề lên miền núi dạy trẻ nhỏ kiếm ăn. Trên 50 tuổi ông trở về quê gặp Cẩm xin việc. Cẩm nhận vào trường làm thủ trống với ba điều kiện: “không đòi nhà, không đòi tăng lương, không vào Đảng”. Cũng chẳng yên, vào một hôm ông Thống và Tự đi chơi về gặp Cẩm tự tiện mở tủ lấy bài thi chữa điểm. Cẩm lấn át Thống để thoát tội, Thống đã ngã xỉu và được đưa vào bệnh viện. Tai họa đè lên đầu, Thống phải thốt lên: “Bao giờ hết thói đời, hễ cứ giành được quyền thế là thỏa sức hạch sách đưa đẩy kẻ yếu nhược... Tôi không ngờ khi vào đời thì hùng tráng thế mà bây giờ ra về lại buồn thảm thế này”.


Cẩm đối xử với Thống tàn nhẫn như vậy là điều dễ hiểu, nhưng ta hãy xét một trường hợp ở mặt trận: Tự bị thương, gặp người học trò cũ: Phiêu cùng là lính, biết Tự là thầy giáo cũ, anh nhóm bếp đun nước sôi để tiêm thuốc cho thầy. Lúc đó, có viên đại tá đi xe Jép qua, chẳng hỏi nguyên cớ, cầm súng bắn luôn vào bếp, người lính hỏi tại sao? Anh ta quát: “Tao Đảng, tao là chính phủ, tao cao nhất ở đây Hỏi nữa hay thôi”.


Tác giả đã trình bày trước người đọc chúng ta một hiện tượng ở một trường học và một phần ngoài xã hội. Nếu như trước đây chưa có nghị quyết VI của Đảng và bài nói chuyện của đ/c Nguyễn Văn Linh với văn nghệ sĩ thì chắc Ma Văn Kháng cũng cùng chung số phận như giáo Thuật. Bởi vì đó là.nỗi đau của con người, mà trước đây ta không được nói tới.


Đám cưới không có giấy giá thú là tác phẩm tiểu thuyết luận đề. Nội dung tác phẩm đã phê phán những sai sót về công tác giáo dục. Ngành giáo dục đã xuống cấp đến nỗi: thầy chẳng ra thầy, trò chẳng ra trò. Nội dung ấy được thể hiện, thứ nhất là ở công tác cán bộ trong nhà trường đã không làm đúng những quy trình đào tạo cán bộ giáo dục. Thứ hai là công tác giảng dạy và học tập sa sút, vì vất bỏ những nguyên tác tối thiểu dẫn tới đơn giản và tùy tiện.


Bằng cách xây dựng nhân vật điển hình, tác giả muốn tâm sự với bạn đọc rằng, chúng ta đã sống với nhau suốt một thời gian dài trong một cuộc sống đơn giản, thô thiển, hẹp hòi song song với cuộc sống anh hùng vĩ đại nhưng chúng ta cứ ngộ nhận là tốt đẹp hoàn toàn, là kỳ diệu, là tuyệt đối. Sự trình bày của tác giả khá tập trung vào những thói xấu, những căn bệnh đã lấn át một phần cơ thể sinh động của chúng ta. Tác giả muốn cùng người đọc nhìn lại cuộc sống đã qua, nhìn lại chính con người ta, xét lại toàn bộ những suy nghĩ và hành động của ta để chuyển theo tinh thần đổi mới của Đảng. Tác giả có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị những thói xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong một xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy một chiều này thì u ám mà không thấy một chiều khác đầy nắng rực rỡ.


Cái hiện thực mà tác giả muốn đề cập ấy là một xã hội hỗn độn mà chúng ta đã thấy. Bởi vì, chúng ta đã không quán triệt sâu sắc những nguyên lý xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác- Lê nin; chúng ta đã khiên cưỡng xây dựng xã hội mới dựa vào một lực lượng sản xuất thấp kém về nhiều mặt: “Lực lượng ấy chỉ quen với nông thôn, thích hợp với một xã hội tự nhiên, đơn giản, không phù hợp với một xã hội phát triển cao, phức tạp. Họ chỉ là những kẻ bất lực ngây thơ, thiện chí mà bất lực, họ không có sức chiến đấu, hay chờ đợi dùng dằng, dễ cầu an, dao động, thối chí…”. Tác giả muốn đặt lại nhận thức về giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo, nhưng Mác đặt ra một điều kiện: “Đó phải là giai cấp công nhân đại công nghiệp. Cũng có nghĩa rằng, đó là một giai cấp công nhân trí thức”. Về người cộng sản, Lênin đã nêu: “Chỉ có thể đem toàn bộ kho trí thức của nhân loại làm giàu cho bộ óc của mình, chúng ta mới có thể trở thành người cộng sản”. Cũng có nghĩa rằng, chất cộng sản và chất trí thức trùng khít làm một”.


Để làm sáng tỏ luận đề của mình, tác giả xây dựng hình tượng con tàu. Người lãnh đạo con tàu phải có một chương trình hành động trình bày trước quần chúng. Người lãnh đạo ấy phải được đào tạo về trí tuệ và dạn dày với thực tiễn.


Viết Đám cưới không có giấy giá thú, tác giả muốn hướng người đọc tới một chân trời mới. Đó là việc rũ bỏ quá khứ còn có nhiều buồn tẻ, thô thiển so với một xã hội văn minh như lý tưởng của chúng ta đã xác định. Ngày nay, chúng ta đã trưởng thành nhìn lại quá khứ thấy còn nhiều điều không hài lòng. Chúng ta phải tự sửa chữa và sẵn sàng sửa theo hướng đổi mới của Đảng, nhất định chúng ta không chìm đắm trong quá khứ dẫn tới tiêu cực này khác. Hiện tại mới là con đường chúng ta cần đi tiếp. Không cầu toàn, tác giả nêu một phương cách với người đọc về lý luận ta nên chọn duy lý và về thực tiễn bỏ hẳn quan niệm xét cán bộ vào bộ máy quản lý một cách đơn giản, máy móc. Tuyển chọn cán bộ quản lý theo chế độ bầu cử trực tiếp. Quần chúng sẽ chọn những người có chính kiến rõ ràng và có biện pháp tích cực.


Đề xuất được những phương hướng, biện pháp cho hiện thực tuy nhiên không phải là duy nhất đúng, nhưng đó là cả sự suy nghĩ lao lung, sâu sắc của tác giả, vì một cuộc đời mới. Những hình tượng nghệ thuật tác giả hư cấu trong tác phẩm: Đám cưới không có giấy giá thú vừa nhằm phê phán hiện thực vừa là một cách nhìn tỉnh táo. Nên chăng người đọc chúng ta có thể xếp tiểu thuyết của Ma Văn Kháng là tác phẩm thuộc dòng hiện thực phê phán tỉnh táo.


Đám cưới không có giấy giá thú là một cuốn tiểu thuyết hay bởi vì sau khi đọc, những hình tượng nghệ thuật của tác phẩm vẫn làm cho người đọc trăn trở suy nghĩ tiếp. Đó là chiều sâu của trí tuệ, sự phong phú về tâm lý của nhân vật và một chiều rộng bao quát cả một giai đoạn lịch sử. Đọc đến trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết người đọc cảm thấy thương cảm cho số phận những nhân vật (cả tích cực lẫn tiêu cực) mà tác giả đã suy ngẫm nhiều để tạo dựng thành; nhưng đồng thời lại thấy cái hướng, cái đường đi ra khỏi đám mây mù của quá khứ.


28 tháng 3 năm 1990


 


BẲN LĨNH NGƯỜI THẦY VÀ NGÒI BÚT CHIẾN ĐẤU CỦA NHÀ VĂN


MINH DƯƠNG


Đọc tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, người đọc dễ dàng nhận ra hai thái độ, sự phê phán nghiêm khắc, và tấm lòng xót thương, thông cảm. Đấy cũng là mặt mạnh, mặt cơ bản và mặt yếu, mặt hạn chế của tác phẩm. Đã có nhiều bạn biết khẳng định những thành công và đồng tình với thái độ phê phán nghiêm khắc của nhà văn trước những tiêu cực trong nhà trường nói riêng và trong cuộc sóng hiện nay nói chung. Ở bài viết này, chúng tôi xin bàn đôi điều về những hạn chế của cuốn tiểu thuyết. Với cái đề từ “Phong vận kỳ oan khách tự cư” (cái oan của người phong nhã do người đó gây ra, chuốc lấy), Ma Văn Kháng đã tập trung bút lực rọi sáng ở nhiều góc độ trong thế giới tinh thần và cuộc sống vật chất của nhân vật chính - thầy giáo Đặng Trần Tự - và một số nhân vật khác, để từ đó triết luận về hai vấn đề: bản lĩnh người thầy nói riêng và một phương diện “đời sống, vận mệnh” trí thức Việt Nam xưa và nay, nói chung.


Thầy giáo Tự từng được bạn bè ca ngợi là “khối kiến thức quảng bác, là những bất ngờ của những khám phá mới mẻ”. Bản thân anh từng ôm ấp hoài bão được “tỏa sáng” tới học sinh. Vậy mà, qua từng chặng đường đời, trong việc nước cũng như việc nhà, ông giáo này sao... bạc nhược, yếm thế; nếu chưa nói là... hèn kém quá! Thời kỳ ở miền núi những năm 60, không nói làm gì. Đó là những năm lầm lỡ của một giai đoạn lịch sử, những hạn hẹp của một cơ chế sống và tư duy. Khi chuyển về thành phố, ở một trường phổ thông trung học cỡ lớn, sống những năm 80 (theo nhà văn miêu tả là năm học 1981-1982) thời kỳ nhà trường bắt đầu cuộc đổi mới, mà Tự tỏ ra lúng túng, gần như buông xuôi. Rồi những cuộc hội đồng, bàn về thi cử, đánh giá chất lượng giáo dục và giảng dạy... Chính mắt Tự trông thấy hiệu trưởng Cẩm vi phạm qui chế thi, bí thứ Dương lạm quyền, ông nhân viên Thống bị vu oan, thầy giáo Thuật bị hiểu lầm... mà lại “ngoảnh mặt ra sân” hoặc “cúi mặt ngậm ngùi…? Với gia đình, nhất là đối với đứa con gái rất đáng yêu, với các em học sinh, Tự cũng xa rời, hờ hững. Trong tâm hồn và trí tuệ anh, dường như không đọng lại một hình ảnh đẹp nào của thế hệ trẻ mà anh đang dìu dắt: nguyện dâng hiến cả cái tâm lẫn cái tài như dâng hiến cho một tình yêu lý tưởng. Thỉnh thoảng, Tự nhận được thư của một học sinh cũ, nhưng tiếc thay, người học trò này rất sính lý luận, nên không giúp gì cho anh gắn bó với hiện tại. Từng đi qua những năm tháng chông gai ở miền núi, từng vật lộn trong máu lửa của chiến tranh, từng làm hiệu trưởng, từng được suy tôn là “giáo viên giỏi”, “được cả phần tâm lẫn phần tài mà sao thầy giáo Tự vô tâm, vô trách nhiệm đến thế. Tất nhiên anh gặp khó khăn là ở đời sống vật chất, kinh tế gia đình thiếu thôn. Đã có lúc anh cố vùng vẫy để thoát khỏi tròng. Anh bán cả cuốn sách quí, bán cả chiếc lốp xe được phân phối. Nhưng chỉ một va vấp nhỏ - cuốn sách bị mất cắp, kẻ mua hàng dè bỉu - anh cũng cảm thấy... bế tắc. Trước những ngạo ngược, quắt quay đến trắng trợn, thô thiển mất hết tình người của vợ, của tên hàng xóm... anh chỉ đành lặng im, nằm bẹp trên cái tháp-ngà-gác-xép như không, một lời phản bác cũng không, một hành động nổi loạn cũng không. Quá hơn, tác giả còn để Thuật triết lý: “Trí thức Việt Nam hèn đi rồi, hèn từ Nguyễn Trãi kia. Đã về ở ẩn rồi lại làm quan”. Rồi Kha bình luận, “Trên thực tế, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du luôn dùng dằng giữa xuất và xử... Cho đến Nguyễn Công Trứ thì đẳng cấp này thêm một nhà thơ tài tử. Họ đa tình và thị tài. Họ đấu tranh cho tự do, bình đẳng, nhằm giữ gìn phẩm giá, chứ không phải để giành lấy phẩm giá. Họ bất lực ngây thơ... họ không cố sức chiến đấu, họ chờ đợi dùng dằng để cầu an... Chua cay, tự nhạo và thúc thủ. Kẻ sĩ, quân tử, nhà nho là thế đấy... Thế hệ chúng mình phảng phất cái vẻ đẹp của cha ông”. Và Tự kết luận: “ình ảnh những nạn nhân. Hình ảnh những chú rể không có giấy giá thú”.


Thưa thầy Tự, thầy Thuật và nhà báo Kha! Ở tuổi các bạn, trên dưới 40 tuổi, tài năng và sức lực đang độ thăng hoa, sao các bạn sớm già nua, sớm rút lui về “ở ẩn” thế. Các bạn hẳn biết nhà giáo Chu Văn An từng dâng “Thất trảm sớ” mà không sợ đầu mình có thể rụng. Quan đại phu Tô Hiến Thành dám đem cả mạng sống của mình để giữ vững cán cân công lý, Ngô Thì Nhậm không nệ mình là danh sĩ Bắc Hà theo đoàn quân áo vải Tây Sơn. Nhà thơ Cao Bá Quát thà chết, không quy phục cái triều đình thối nát, Nguyễn Đình Chiểu “Kiến ngãi bất vi vô dũng giã”, Phan Bội Châu thì “Non sông đã chết sống thêm nhục”. Các cụ là những kẻ sĩ không hổ danh kẻ sĩ Việt Nam đấy! Trong lịch sử hiện đại, chúng ta cũng từng biết không ít những trí thức Việt Nam có nhân cách cứng cỏi, hiên ngang, sống hết mình cho lý tưởng của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân. Họ không thị tài, bất lực hoặc ngây thơ. Đó là những Hà Huy Tập, Ngô Gia Tự, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, những Lương Định Của, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng và nhất là thầy giáo Nguyễn Tất Thành... Ngay với Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, các bạn cũng mới nhìn thấy phần nhạt của bức chân dung. Lần nhập cuộc thứ hai của Ức Trai đâu phải vì danh vọng, mà chính là muốn đem “hổ phách, phục linh” ra “trợ dân”. Còn Nguyễn Công Trứ, cả một vùng Tiền châu rộng lớn ngày nay như còn tươi nét vàng son dấu chân và công đức của vị Hà đê chánh sứ kiêm nhà thơ đó. Kẻ sĩ Việt Nam xuất xử chủ yếu theo cái lý tưởng “Dân vi bản”, theo thiên tính “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không bị chuyển lay, uy vũ không chịu khuất phục). Dẫu phải lúc nào họ cũng tự thị mình là “một cuốn sách hay để lầm chỗ”. Tất nhiên, kẻ sĩ Việt Nam xưa và nay không thiếu loại “Sĩ khí dụt dè gà phải cáo”. Nhưng đấy không phải đa số, cũng không phải đó là bản tính chung như Thuật và Kha nhận xét. Phải chăng chính những nhà giáo như Tự, Thuật, ông Thống và nhà báo Kha, sĩ quan quân đội Vọng... là những người sẵn mặc cảm về cái vòng “kim c” oan nghiệt trên đầu? Họ thiếu một bản lĩnh cần thiết để tồn tại trong cuộc sống bình thường, nói gì đến việc họ muốn “dạy giỏi”, muốn “tỏa sáng” tới học trò, tới nhân dân. Nếu giữa cuộc đời này của chúng ta có thật hạng người như thế thì... đáng buồn làm sao! Chả trách, giáo Tự nói con sên thu mình trong vỏ, để rồi bỏ gia đình đến ở nhờ nhà trường như người lính bỏ trận địa. Có lẽ vì quá cao ngạo trong cái triết lý Phong vận kỳ oan... mà ông giáo trên 40 tuổi này sống như một thày chùa cô đơn, một con chiên còi cọc ốm yếu. Vậy mà, bạn bè cứ ca ngợi anh là “cuốn sách hay để lầm chỗ”. Vậy mà sau hàng loạt thất bại, Tự vẫn không thức tỉnh, trái lại vẫn cố gân lên thuyết lý về nhân cách của mình: “Thi nhân và lý tưởng. Đó là cuộc hôn phối tự nhiên. Đám cưới ấy dẫu không có giấy giá thú vẫn cứ thành”. Tự là “thi nhân” của ai? Cho ai? Thật là... lãng mạn, siêu hình! Sau đó Tự rủ Kha rời thành phố, đi nghỉ mát ở bãi biển Thịnh Long, để tìm lại em học sinh cũ - nay là phó tiến sĩ hàng hải, tìm lại người yêu cũ, nay là bác sĩ một bệnh viện quân y. Liệu đó có phải là một quyết định lột xác một quyết tâm làm “đám cưới” đích thực của đời mình hay chỉ là thột sự trốn chạy tiếp theo? Trong cuộc sống cũng như trong nhà trường hiện nay có thể tồn tại loại người như thầy giáo Tự. Thành công của Ma Văn Kháng là đã khác họa được một số phận bi kịch. Dường như nhà văn rút nhân vật từ trong trái tim mình, vẽ nó thành một chân dung tím đỏ trên trang giấy, cùng lớp lớp những đường viền trữ tình ngoại đề, thống thiết: “Nỗi đau này có thể làm mất nhân tính. Nỗi đau này có thể làm mất lương tri. Nỗi đau này là nỗi nhục trần ai”. Người đọc có thể cảm động bởi văn chương, nhưng không dễ đồng cảm với nhà văn vì thấy nhân vật có cái gì thiếu sinh khí, vừa đáng thương, vừa đáng trách. Với các nhân vật khác như thầy giáo Thuật, nhà báo Kha, ông Thống, trung tá Vọng… tác giả cũng miêu tả vòng đời, phác họa chân dung và bản lĩnh họ tương tự, họ chung một khuôn “Cái oan của người phong nhã do người đó gây ra...” mà! Dường như nhà văn cố gò các nhân vật vào một định mệnh nghiệt ngã, bắt chúng phải chấp nhận, riêngạn bè của anh nói chung bị “muối” đến “khú” mà nói: họ vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm, chí ít cũng là đồng phạm để cho cái ác hoành hành.


Tiếc thay, khi khắc họa các nhân vật chính diện - cũng là thông điệp về lý tưởng thẩm mỹ của mình - Ma Văn Kháng quá thiên về cảm xúc xót thương, thông cảm, quá nhiều khúc ai ca, mà ít, dường như không có một lời phê phán cần thiết. Anh quá chiều chuộng, vuốt ve những đứa con tinh thần của mình theo kiểu một người cha bất lực, buông xuôi thiếu một bản lỉnh tỉnh táo, thông minh của một người thầy, một nhà sư phạm.


“Tâm hồn mình, đó là cái giá tri của riêng mình. Dương đừng hòng hủy hoại nổi”, thầy giáo Tự nói đúng. Song cần thấy thêm: “Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác, nặng đến nỗi mỗi người không mang nổi. Bởi thế người đời chúng ta chừng nào còn sống, phải ra sức giúp đỡ nhau, “cố làm cho tâm hồn trở nên bất tử” (Nođar Dumbaze - tiểu thuyết “Quy luật của muôn đời”). Giúp đỡ nhau không có nghĩa chỉ xót thương, thông cảm, ve vuốt, yêu chiều nhau như Kha, Thuật đối với Tự, Tự đối với chính mình. Phải giúp nhau để đứng lên tại chỗ, tức thời, bằng trí tuệ, tâm hồn và những hành động cụ thể, chứ không nên đợi chờ ở “thế hệ mai sau sẽ khá hơn chúng ta”.


Trở lại ý kiến mở đầu, chúng tôi rất trân trọng mặt thành công của Ma Văn Kháng khi anh phê phán những tiêu cực trong cuộc sống, khi anh kêu cứu cho nhà trường, nhưng rất đáng tiếc là ngòi bút tài năng của anh lại tỏ ra yếu duối, pha chút ngậm ngùi, buông thả theo bản lĩnh của con người, nhất là các thầy giáo, những người lao động trí óc đang cần được động viên, khích lệ để xứng đáng với vị trí của họ trong nhà trường, trong cuộc sống hiện nay.


Xuân 1990


(Báo GVND số 6- 2/1990)


Đám cưới không có giấy giá thú...


MINH HẠNH


Gấp lại trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, tôi có cảm giác như Ma Văn Kháng cố ý muốn người đọc tìm hiểu bài toán so sánh cuộc đời Tự - một anh giáo trường “công” hiện nay với cuộc đời anh giáo Thứ - một anh giáo “trường tư” thời trước trong Sống mòn của Nam Cao.


Cảm giác đầu tiên của người đọc là anh giáo Tự nghèo khổ; có lẽ còn nghèo hơn cả anh giáo Thứ. Nếu như anh giáo Thứ đã có lúc phải cam uất kêu to: “Sao mà cõi đời nó tù túng, nó chật hẹp, nó bần tiện thế…. Hình như tất cả nguyện vọng, tất cả mong ước, tất cả mục đích của đời chúng mình chỉ là mỗi ngày hai bữa... Bao nhiêu tài trí, sức lực, lo tính chỉ dùng vào việc ấy…”. Anh giáo Tự có khác gì: Quanh năm suốt tháng phải “trốn” lên căn gác xép để “điềm nhiên đánh cái quần đùi vá lấy rú rõ, mặc cái áo bộ đội xã vai...”. Cái nghèo suốt ngày day dứt Tự. Phải tìm mọi cách để có tiền đưa cho vợ - từ việc đau xót bán đi những bộ từ điển quí giá cha mình để lại đến việc đem chiếc lốp được phân phối bán cho con phe.


Hai anh giáo này còn giống nhau ở điểm nữa: họ cùng có tài, cùng ước mơ được làm những việc có ích cho học trò của mình, cho cuộc đời mà họ sống khá hơn lên. Thứ của Nam Cao đã ôm ấp bao “mộng mơ” xây dựng ngôi trường của mình, sao cho “Trường sạch sẽ hơn, có vẻ hơn. Nhà trường có phòng giấy tiếp khách. Học sinh có tủ sách, hội thể thao, những cuộc chơi giải trí... Y thành thực yêu nghề và vêu trẻ. Y rất tận tâm, y dạy có phương pháp và chăm. Y đã làm cho cái trường này được tín nhiệm, nhiều học trò thêm...”


Còn anh giáo Tự của Ma Văn Kháng thì “được cả phần tâm lẫn phần tài. Tự là cái khối kiến thức quảng bác, là sự bất ngờ của những khám phá mới mẻ”. Tự đã hết lòng truyền thụ những kiến thức cho học sinh của anh; giúp cho biết bao học sinh trở thành con người có ích... Tự đã dám phản đối bí thư thị ủy Lại khi ông ta không cho 36 học sinh của anh dự thi tốt nghiệp chỉ vì “lý lịch không rõ ràng...” Nói tóm lại thầy Tự là mẫu mực của một người thầy giáo “tất cả vì học sinh thân yêu”. Anh yêu nghề, suốt đời tận tụy hiến dâng tài năng và sức lực cho sự nghiệp giáo dục thế hệ tương lai.


Thế nhưng, hai anh giáo Thứ và Tự đã được những gì? Nam Cao chua xót viết: “Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra. Ở một xó nhà quê... Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!...” Ma Văn Kháng thì nhờ Kha (bạn Tự) nói hộ mình về Tự bằng những lời cay đắng, não nề... “Tự đây, kẻ tuẫn nạn của sở nguyện, tin cậy? Bị khinh rẻ, bị bạc đãi, bị đọa đầy, bị ruồng rẫy. Bị chà đạp, bị vây bủa bốn bề, bị phản bội, bị vu cáo, bị tước đoị cướp bóc, mất hết. Tiền tài không, quyền lực không. Một chỗ yên thân cũng không. Rồi đây một chỗ đứng trên bục giảng cũng không nốt. Chút ước ao định danh không được chấp nhận. Bị chặn các ngả đường. Bị bít hết các lối thoát. Có cuộc hãm hại nào triệt để đến thế! Nỗi đau này là nỗi đau nhân thế”.


Người ta đã lý giải sự bế tắc, mòn gỉ của anh giáo Thứ là do sự khao khát muốn thoát ra khối thực tế bi thảm của đời sống thời bấy giờ. Còn anh giáo Tự thì sao? Những nguyên nhân nào dẫn đến “thảm cảnh” của đời anh giáo Tự? Phải chăng vì xã hội chúng ta hôm nay vẫn tồn tại những cái độc ác, bạo tàn mà đại diện của nó là một nhóm người ngu dốt, thiển cận nhân danh này nọ, núp dưới những tín điều, những lý luận cao siêu để làm việc xấu xa thấp hèn? Đại diện cho nó là bí thư thị ủy Lại “một gã đồ tể do theo cách mạng 2 năm, hơn 700 ngày là có thể đủ vốn riêng để trở thành một đấng quyền năng cao cả”. Quyền lực của bí thư Lại đã “di truyền” sang Tuẫn - con trai ông. Cậu ta hỗn láo với thầy Tự, xúc phạm đến sự thiêng liêng của giờ giảng, thầy Tự trừng phạt bằng một cái tát thì Tuẫn nói: “Đời ông từ nay khốn khổ rồi”... Ngoài cha con bí thư Lại, còn phải kể đến Cẩm - hiệu trưởng - ba đời mõ. Từ một anh giáo thể dục chỉ biết nhảy cao, nhảy xa.... do “là đảng viên duy nhất”, Cẩm đã được chọn đi học đại học khoa văn, rồi thành giáo viên văn, mà cả đời “chưa đọc hết lượt truyện Kiều”. Vì sợ chức hiệu trưởng có thể bị lung lay do kết quả thi, Cẩm đã “lẻn” vào văn phòng chữa điểm thi cho học sinh. Khi bị phát hiện, “lật ngược” vấn đề, đổ “tội” cho bác Thống để bác Thống vì quá căm uất mà “xuất huyết não”, mang bệnh suốt đời.


Đó là bí thư chi bộ Dương. Một cái “máy”, một điển hình của sự giáo điều chỉ biết nhai lại mấy từ “xét trên quan điểm toàn diện” - nhưng hết sức nông cạn, ngu ngốc, núp dưới daảng để gây họa cho người tốt như Tự.


Đó còn là ông trưởng phòng giáo dục thị xã, con người có biệt hiệu “không xương sống”, là cô giáo Thảnh - dạy môn hóa luôn tự nhận mình “có con mắt cú vọ, sống buông thả với mình, và độc ác với học sinh. Hay còn là thầy giáo Thuật một tài năng toán học tương lai bị mai một do sự ham muốn vật chất của đời thường, cuối cùng mắc bệnh “thần kinh”… Một loạt nhân vật tiêu cực ấy được Ma Văn Kháng xây dựng theo phong cách dân gian, họ xấu từ trong ra ngoài, xấu từ cội nguồn lý lịch đến cách nói năng, cư xử và việc làm hàng ngày. Họ đã là cái nền cho nhân vật đẹp nhất, yêu quí nhất, bi thương nhất là anh giáo Tự.


Ma Văn Kháng có phần “dữ dằn”, “cay độc” khi anh miêu tả cuộc đời anh giáo Tự và hiện thực chung quanh người thầy giáo “tài đức song toàn” này. Hiện thực này có trong đời sống nhưng phải chăng là phổ biến, điển hình cho ngành giáo dục và cho các thầy, cô giáo của chúng ta? Phải chăng tác giả chỉ muốn “mượn” ngành giáo dục để phản ánh hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống nói chung?


Tiểu thuyết sẽ hấp dẫn hơn, nếu như tác giả không quá lạm dụng khi để các nhân vật phát ngôn những tư tưởng, những triết lý, những luận thuyết của anh. Hầu như các nhân vật của cuốn tiểu thuyết đều rất “thích” triết lý, thích phô trương kiến thức qua cách nói năng của họ. Chính những triết lý này đã làm chất hiện thực của tác phẩm; đặc biệt, lá thư thứ ba của người học sinh cũ, với những thuyết lí dài dòng, đôi khi khó hiểu về các thuyết duy lí, duy tín, duy lợi...


Để cho bức tranh về đời anh giáo Tự bớt ảm đạm, Ma Văn Kháng hé mở cho người chất hy vọng, đó là niềm tin vào thế hệ tương lai qua các học sinh cũ, qua em Quyên (con bác Thống), em Hoạt (con anh Tự).. Và ngay anh giáo Tự cũng được tác giả rọ một chút sáng le lói bằng hình ảnh “bãi biển Thịnh Long”. Nhưng cả thế hệ dau, cả bãi biển Thịnh Long xa xôi kia cũng không xóa được cảm giác nặng nề cho người đọc về thân phận bi thảm của anh giáo Tự. Và một câu hỏi cộm lên với người đọc:


Chẳng lẽ thế hệ hôm nay, những người như Tự, Kha... không còn có ích gì trong cuộc sống hay sao?


Báo G.V.N.D số 1. 1/1990


CẲM NHẬN HỌC TRÒ CHÂN DUNG NGƯỜI THẦY QUA TÁC PHẨM Đám cưới không có giấy giá thú


PHẠM TRƯỜNG SƠN


Có thể coi Đám cưới không có giấy giá thú là một tác phẩm khá điển hình đã phản ánh đầy đủ, chi tiết, rõ nét cuộc sống đầy những lo toan của giới nhà giáo một thời chưa xa. Nhưng nhân vật thầy giáo Tự mà tôi muốn đề cập dường như không phải là một nhân vật điển hình. Quả thật, nhân vật ấy đẹp quá, cao thượng quá, khó có thể tìm thấy trong cuộc sống thực, mà được tạo nên chính nhờ sự đặc cách của ngòi bút Ma Văn Kháng. Ngòi bút ấy cẩn thận, nắn nót mà cũng xiết bao hào phóng, yêu thương. Một thân thể yếu ớt, mảnh khảnh nhưng đầy tự tin, tự hào khi đứng trên bục giảng, một gương mặt thanh thoát, nho nhã với đôi mắt biết đau đời, một giọng nói sang sảng mà tròn trịa, ấm áp như chính tấm lòng người nói vậy - đó chính là thấy giáo Tự, người truyền bá kiến thức và cũng là kẻ “cùng đinh” nhất trong xã hội. Và lạ thay, sống trong một môi trường giáo dục, thực chất là một xã hội nhố nhăng thu hẹp, Tự vẫn cứ nguyên là một thầy giáo nghèo trong sạch đến tận chân tơ kẽ tóc. Một Thuật.bợm bãi, thực dụng và tai ác đến rợn người, một Thảnh đỏng đảnh, lăng loàn, một Cẩm đê tiện, lố bịch, một Dương cơ hội giả dối... tất cả những con người ấy dường như không thể chạm đến, dù là rất khẽ, nhân cách sống cao cả của Tự, mà chỉ làm cho thấy thêm đau đớn, xót xa, một nỗi xót xa, một nỗi xót thương cho thế thái, nhân tình. Có thể nói, toàn bộ con người của thầy giáo Tự đã được đánh giá một cách ngắn gọn qua mấy dòng của học sinh Hữu:


“Em phục kiến thức thầy 5, phục nhân cách thầy 5, xin phép thầy, em cho thầy 10 điểm, điểm tuyệt đối”.


Nhưng thầy Tự ơi! Người viết bài này cũng xin phép được cho điểm thầy, tiếc thay đó không phải là điểm 10 tuyệt đối. Thầy cao cả lắm, thầy hoàn toàn không phải là hệ quả của hoàn cảnh, nhưng dẫu sao ở trong thầy vẫn còn điều gì đó chưa ổn. Từa tựa như Thứ trong Sống mòn của Nam Cao. Thầy Tự nghèo, cái nghèo ấy có thể phần nào thông cảm được, nhưng thử hỏi có thể có cách gì để không phải nghèo không? Thầy Tự có thể cực kỳ là hoàn thiện khi đứng trên bục giảng, nhưng trong đời sống bình thường, kể cả trong quan hệ vợ chồng, dường như vẫn chưa đủ bản lĩnh sức mạnh của một người đàn ông thực thụ. Chính sự yếu ớt đó đã không thể làm thầy can đảm vạch mặt Xuyến và Quỳnh, một kẻ phản bội và một kẻ ma cô, lừa đảo, mà thầy chỉ biết xấu hổ và ngượng ngập nằm im thin thít trong cái “hang động” của mình.


Thầy giống như một cuốn sách hay đặt lầm chỗ, âm thầm khao khát một xã hội toàn những người tốt đẹp, có thể chấp nhân cho thầy làm một thành viên? Dù vẫn còn là nỗi day dứt không nguôi của người đọc khi khép trang cuối cùng của Đám cưới không có giấy giá thú.


NHÂN CÁCH CỦA NHÀ VĂN TÁC PHẨM: Đám cưới không có giấy giá thú


TRẦN ĐỨC CÔNG


(Phó tiến sĩ khoa học kỹ thuật Đài Tiếng nói VN)


Thật hiếm có tác phẩm có giá trị như tác phẩm “Đám cưới không có giấy giá thú” của nhà văn Ma Văn Kháng! Ở đây tôi không dám bàn đến giá trị nghệ thuật mà chỉ nói đến nhân cách của người cầm bút. Ma Văn Kháng là tượng trưng của tinh thần dũng cảm và lòng tin. Anh đã tự thoát khỏi những trói buộc hiện tại để vươn xa nhìn lại quá khứ, nhìn vào hiện tại mô tả đầy đủ sinh động những tiêu cực xã hội. Nhà văn tuy không phải là nhà chính trị, song anh đã tự trang bị cho mình hệ thống quan điểm vững vàng. Bằng tác phẩm của mình Ma Văn Kháng đã tự khẳng định được như thế nào là văn nghệ. Nghề viết văn của anh là niềm vui vĩnh cửu, không phải viết để nhuận bút, để nổi danh hay để nịnh hót theo đuôi. Anh viết từ lương tâm, từ cả quá trình lao động gian khổ, tìm hiểu nhân tích lũy kiến thức và kinh nghiệm. Thông cảm nỗi đau của người có lương tri không được làm điều tốt, trái lại bị xô đẩy vào tội lỗi. Bằng những hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm chúng ta thấy nguyên nhân sâu xa của tiêu cực xã hội, từ đấy giúp cho quần chúng cảm nhận được mặt trái của vấn đề, để rồi nhìn thấy rõ sự thật.


Đặc biệt đại đa số quần chúng lao động rất thích tác phẩm này. Vì tác phẩm như một hình tượng sống động mà lại chân thực, tình tiết tỷ mỷ mô tả rất đúng những cốt cách tham nhũng, giả tạo. Nó chữ thấy hiện lên trước mắt một bọn lưu manh hiện đại trà đạp lên cuộc sống của người có lương tri. Tác phẩm đã đặt cho quần chúng nhiều suy nghĩ phải giải quyết, nếu ai có tấm lòng nhân ái sẽ được tác phẩm thúc dục và trở nên can đảm, dũng cảm đấu tranh cho lẽ phải.


Trái lại với quần chúng lao động, nhiều người có quyền chức lại công kích tác phẩm, cho là tác phẩm bôi nhọ xã hội, xa lìa chính trị. Riêng tôi muốn nói lại là: chỉ có những ai không bị ràng buộc với lợi ích của quyền lực, dám hòa mình vào cuộc sống bình dị nhất của nhân dân lao động, và chỉ có những ai đã nếm mùi với những bất công trong xã hội thì mới thực sự khách quan đánh giá tác phẩm. Riêng bản thân tôi không những thích tác phẩm, mà còn cảm ơn tác phẩm đã cho tôi nhân cách của nhà văn. Tác phẩm đã thể chế hóa nguyên nhân của sự bê tha thoái hóa bằng các hình tượng nghệ thuật. Thông qua đó chúng ta đều thấy đảng viên rất non kém trình độ, sa sút phẩm chất không thể lãnh đạo bằng những quan điểm chung chung được mà phải là những người có trình độ, có lương tâm phẩm chất, cách mạng, kịp thời biểu hiện đầy đủ nguyện vọng quần chúng, do quần chúng khẳng định.


Tôi rất mong tác phẩm đến tay nhiều bạn đọc, tác phẩm sẽ giúp bạn đọc cảm nhận được nhiều vấn đề nóng hổi của thời đại. Nó sẽ là người bạn gần gũi của bạn đọc nếu bạn đọc thực sự yêu quý nó.


Nguồn: In trong Phụ lục,  Đám cưới không có giấy giá thú. Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng. NXB Lao động in lần đầu năm 1989. Các NXB in nhiều lần.


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »