tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20235993
Lý luận phê bình văn học
22.06.2017
Nhiều tác giả
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú



Văn nghệ. Số 6. 10/2/1990


Để triển khai kết quả của Đại hội nhà văn lần thứ IV, sáng ngày 11.1.1990, Tuần báo Van nghệ tổ chức một cuộc thảo luận về cuốn tiểu thuyết “Đám cưới không có giấy giá thú” của nhà văn Ma Văn Kháng. Đây là buổi họp, mở đầu cho những cuộc sinh hoạt phê bình dưới nhiều hình thức khác nhau sẽ thường xuyên được tổ chức trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng trang phê bình trên mặt báo, góp phần đẩy mạnh việc đổi mới công tác lý luận phê bình chung của chúng ta.


Tới dự cuộc thảo luận có các nhà văn, nhà phê bình quen biết: Xuân Cang, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Xuân Thiều, Huy Phương, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Từ Sơn, Phan Hồng Giang - Đồng chí Lê Thanh Tùng, và đồng chí Xuân Du đại diện Nhà xuất bản Lao động cùng tới dự. Ban biên tập có gửi giấy mời nhà văn Bùi Hiển, nhưng đến phút cuối vì có việc bận đột xuất, nhà văn không đến dự được.


Có mặt trong buổi họp còn có nhà văn Ma Văn Kháng, tác giả cuốn tiểu thuyết. Về phía chủ nhà, ngoài anh Hữu Thỉnh, nhà thơ, Tổng biên tập báo Văn nghệ, còn có các anh chị: Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Vinh, Phạm Tiến Duật, Hoàng Minh Tường, Phạm Đình Ân, Thiếu Mai.


Sau lời đề dẫn của anh Hữu Thỉnh, cuộc hội thảo bắt đầu. Sau đây là ý kiến của từng đồng chí.


Xuân Cang:


Tôi cùng với anh Lê Thanh Tùng và anh Xuân Du là những người chịu trách nhiệm chính trị về cuốn sách của anh Kháng.


Thú thật là khi mới được đọc qua một lần, tôi hơi hoảng. Tất cả các đảng viên cộng sản trong cuốn sách là những con người tồi tệ - tồi tệ thực sự chứ không chỉ là suy thoái. Vậy có phải là cuốn sách phủ nhận những người cộng sản, phủ nhận Đảng không? Sau khi đọc kỹ hơn, bình tâm suy nghĩ, tôi khẳng định là không phải như vậy. Thái độ đối với các tác phẩm văn học, nhất là những tác phẩm đa dạng, đa nghĩa là một sự thử thách mới đối với người đọc.


Trước đây khoảng chục năm, một cuốn sách như kiểu cuốn sách này ra đời quả là một sự gay go. Nhiều độc giả ở ngành giáo dục cũng chấp nhận tác phẩm này. Họ nói rằng cuốn sách đã nói đúng sự thật. Sự thật trong ngành giáo dục còn có những con người, những đơn vị suy thoái hơn nữa kia. Tuy vậy, họ tỏ ra băn khoăn, vì trong ngành còn có những nhân tố tích cực nữa. Miêu tả như thế này có phải là bôi bác không, có sợ người đọc hiểu nhầm ngành giáo dục


Tôi nói với anh em là cuốn sách này viết về ngành giáo dục, nhưng không phải chỉ đề cập đến những vấn đề của giáo dục mà là những vấn đề nhức nhối chung của xã hội. Ở đây có cuộc hôn phối không đúng quy luật giữa chúng ta và chủ nghĩa xã hội. Các bạn ấy còn băn khoăn: Vậy vai trò giáo dục của văn học là ở đâu?


Tôi nói văn học còn có chức năng cao cả là phát hiện, khám phá, dự báo, báo động nữa. Có thể khai thác vai trò giáo dục của nó ở đấy.


Đọc cuốn sách của anh Kháng không thể đọc một mạch. Từng trang, từng trang, nó cho người đọc nhận thức dần những điều tác giả muốn gửi gắm. Tôi đồng ý với Phan Hồng Giang, Ngô Ngọc Bội trước đây người sáng tác còn phải che chắn, rào đón quá nhiều. Ví dụ khi muốn xây dựng một nhân vật cộng sản, nhà văn thường tự hạn chế mình nhân vật này “đại diện” cho xã hội mới, nếu có khuyết phải có ưu, ưu là cơ bản, xây dựng một nhân vật tiêu cực là chỉ dám xếp anh ta vào chức phó. Ở đây anh Kháng đã mạnh dạn đưa ra những nhân vật chịu trách nhiệm chính để người đọc phán xét một cách bình đẳng. Nếu đọc theo lối truyền thống thì khó chấp nhận. Riêng tôi, tôi tán thành sự chuyển hướng về phương pháp này, sắp tới, hội đồng văn học công nhân khi xem xét vệc tặng thưởng các tác phẩm văn học đề tài công nhân không thể không tính tới cuốn sách này. Vừa ra đời, có ý kiến này ý kiến nọ, nhưng rồi cuốn sách đã đứng được, điều đó nói lên rằng cuốn sách đáp ứng với tình hình của xã hội chúng ta trong thập kỷ này. Nhà văn đã góp những suy nghĩ nghiêm túc về những vấn đề bức thiết đang đặt ra trong xã hội hiện nay.


PHAN CỰ ĐỆ:


Trong tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, nhà văn Ma Văn Kháng đã phản ánh được cái bi kịch của một nhà giáo, một tri thức: anh ta lúc thì đóng vai một nhà hiền triết, một nhân cách cao cả và thánh thiện nhưng lại bị ném vào một môi trường mà các giá trị tinh thần đang bị đảo lộn: một môi trường bị ô nhiễm, bị băng hoại về đạo đức và nhân phẩm: lúc thì hiện ra như một con người mơ mộng và lãng mạn, hay đỏ mặt vì mặc cảm và sĩ diện nhưng lại bị nhúng chìm trong cái biển đời thường dung tục, ở đó hàng ngày diễn ra cái cảnh chen lấn, cướp đoạt một cách trâng tráo, vô sỉ: lúc là một người say mê nghề nghiệp, nhiều hoài bão và khát vọng, muốn chiếm lĩnh các đỉnh cao khoa học nhưng lại bị vây bủa bởi một xã hội thực dụng và cơ hội, một xã hội tiêu thụ đang lên cơn sốt với những đam mê và khoái lạc, với khát vọng làm giàu, khát vọng chiếm đoạt quyền lực bằng bất cứ giá nào! Nhân vật anh giáo Tự phảng phất một mô-típ đã quen thuộc trong văn xuôi Việt Nam và thế giới: lúc là Đôn Ki-hô-tê một mình một dáo dũng cảm xông lên đánh nhau với lũ yêu quái, lúc lại là ông giáo Thứ đang sống mòn và chết mòn trong sạch một cách thụ động ở cái trường tư ngoại ô, lúc là một Hoàng thân Mưt-skin, một Pi-e Bô-du-khốp nhưng nhuốm màu sắc triết học phương Đông. Ma Văn Kháng đã viết về cái “bi kịch vỡ mộng” của một “bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ” đó một cách rất tâm huyết, với tất cả suy nghĩ và trăn trở, niềm khát vọng và nỗi đau của một nhà văn trước thời cuộc, trước tình trạng xuống cấp về trình độ tư duy và phẩm chất đạo đức ngay trong một số người tự cho mình là cán bộ lãnh đạo, là trí thức hoặc kỹ sư của tâm hồn. Ma Văn Kháng đã nói lên được cái tâm sự có thật của những trí thức có tâm huyết, có hoài bão. Cách lý giải có thể còn phải bàn cãi, nhưng điều đáng trân trọng là tấm lòng trung thực và trong sáng của người cầm bút, là những trang viết chân thành và xúc động.


Cuốn tiểu thuyết cũng bộc lộ khá rõ một số nhược điểm. Trước đây ta hay lý tưởng hóa một chiều các nhân vật đảng viên hoặc cán bộ lãnh đạo, gần đây lại có khuynh hướng biến họ thành những con rối, thành con người máy hoặc con người của dục vọng tầm thường (Những thiên đường mù, Ly thân, Những mảnh đời đen trắng). Tác phẩm của Ma Văn Kháng không rơi vào hai thái độ cực đoan đó. Tuy nhiên, cách nhìn những “nhân vật tiêu cực” trong hàng ngũ lãnh đạo ở đây có lúc còn đơn giản và phiến diện, đôi khi biến họ thành nhân vật của hài kịch, thành những tính cách bị phóng đại trong nghệ thuật biếm họa. Tính khái quát của loại nhân vật này chưa cao. Trong số này ngoài đời tôi thấy có những người xấu nhưng biết ngụy trang một cách thâm hiểm hơn hoặc có người tốt, chân thành, ngay cả trong sự ấu trĩ, máy móc của họ.


Tác phẩm có nhiều trang sinh động, hấp dẫn trong đối thoại, tranh luận hoặc dựng người, dựng cảnh nhưng cũng có nhiều trang chìm sâu một cách nặng nề vào những suy tư, vào những lời biện giải mang màu sắc duy lý của tiểu thuyết luận đề.


Xuân Thiều:


Nghe đồn cuốn sách “có vấn đề” tôi liền đọc ngay, hai đêm thì đọc xong. Và bây giờ, tôi sẵn sàng tranh luận với những ý kiến cho rằng cuốn sách “có vấn đề chính trị”, thậm chí tôi còn nghe có ý kiến nói cuốn sách “đi ngược lại nghị quyết 7” nữa kia.


Theo tôi thì cuốn sách đã thể hiện được tâm huyết của tác giả, ấy là lòng tha thiết mong mỏi được sống trong một xã hội tốt đẹp lý tưởng. Thấy rõ nỗi đau đớn của tác giả: mình yêu chủ nghĩa xã hội như vậy mà sao trong thực tế xã hội lại có chiều ngược với suy nghĩ, mong ước của mình. Tôi khẳng định là tính tư tưởng của tác phẩm rất cao. Tính hiện thực cũng rất cao, vì tác giả đã mạnh dạn phơi bày không né tránh những vấn đề gay cấn nóng bỏng của xã hội. Trước đây dăm bảy năm, người viết chúng ta phải né tránh nhiều vấn đề, nhiều sự việc. Có muốn xây dựng nhân vật tiêu cực để phê phán thì cũng chỉ dám đưa ra anh “phó”: phó chủ tịch, phó chính ủy, phó bí thư huyện ủy... Tóm lại, anh phó lãnh đủ những đòn phê phán trong lúc anh chính bao giờ cũng nghiêm túc, sáng suốt, đúng đắn. Bởi vì nếu phê phán anh chính thị sợ bị hiểu lầm là nói xấu Đảng, thì chính mình sẽ bị đánh! Ở đây anh Ma Vãn Kháng đã gọi thẳng những người chịu trách nhiệm chính ở môi trường mà anh miêu tả: hiệu trưởng, bí thư chi bộ nhà trường, bí thư thị ủy. Tác giả đã nói thẳng sự thật mà không sợ bị hiểu là nói xấu Đảng. Dựng lên những nhân vật lãnh đạo dốt nát, thô thiển như vậy, anh tha thiết mong muốn những người lãnh đạo ở các ngành, các cấp có văn hóa hơn, trí tuệ hơn, sáng suốt, thông minh hơn.


Đọc xong, ngẫm nghĩ về các nhân vật Dương, Cẩm, Lại, tôi lấy làm tiếc là các nhân vật này của anh còn giản đơn, chưa có chiều sâu. Chưa thấy bóng dáng của những nhân vật sai một cách chân thành, có ý đồ tốt, tưởng là đúng, là trung thành với lý tưởng cộng sản hóa ra lại sai lầm và mang lại những tác hại lớn cho xã hội.


Nhân vật Tự là một người tri thức đầy bi kịch, suốt đời thất bại. Đáng buồn là nhân vật nàyquá yếu đuối, quá bất lực, suốt đời chịu đựng. Người như anh mà không tự sát là lạ!


Đoạn viết về bộ đội có lẽ là chỗ yếu nhất, và hơi suy diễn đôi chút, chứng tỏ vốn hiểu biết về đời sống bộ đội của tác giả chưa nhiều và chưa sâu. Nói chung tôi thích cuốn sách này, một cuốn sách nhiều trăn trở, nhưng thiện chí.


Phan Hồng Giang:


Đặt tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú trong quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng: từ Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), ta thấy nổi bật lên một đặc điểm của cây bút này là thiên hướng nhạy cảm với mặt trái của cuộc sống, là khả năng đồng cảm của tác giả với nỗi đau của đồng loại. Nhân loại tồn tại đến ngày nay, có lẽ trước hết là nhờ nó chưa bao giờ bị đánh mất đi khả năng đồng cảm với nỗi đau của đồng loại. Trong đời sống, người chết đuối, người bị tai nạn rủi ro bao giờ cũng thu hút sự chú ý của thiên hạ hơn là sự kiện một người nào đó được thăng quan tiến chức, được huân chương. Năm nay anh Kháng còn cho ra mắt bạn đọc cuốn Côi cút giữa cuộc đời. Cuốn sách này, về một mặt nào đó, tôi đánh giá cao hơn cuốn Đám cưới không có giấy giá thú. Đây là cuốn sách trước tiên dành cho người lớn, mặc dù do nhà Kim Đồng xuất bản (hợp tác với Nxb Văn học). Nếu có một giải thưởng “Cây bút vàng” năm 1989 như kiểu “Quả bóng vàng” cho Van Ba-xten, theo ý tôi, anh Kháng với hai “bàn thắng” trên là “một ứng cử viên” nặng ký.


Ma Văn Kháng là một cây bút đầy tâm huyết. Chính vì vậy mà những chuyện tiêu cực ở đây tịnh không toát ra sự thỏa thuê; cay cú.


Tôi muốn nói thêm là tác phẩm của anh Kháng đã vượt ra ngoài sự quan tâm của một dân tộc, một xã hội cụ thể. Tôi được biết một số người nước ngoài đọc anh và đã đánh giá cao các tác phẩm của anh. Cuốn Mùa lá rụng trong vườn của đã được dịch ra tiếng Nga và được hoan nghênh. Điều này chứng tỏ khi văn học là văn học đích thực, nó trở thành mối quan tâm chung của nhiều người đọc các dân tộc khác nhau trên thế giới.


Ở ta, sự đánh giá tương đối thuận chiều trong dư luận đối với cuốn tiểu thuyết này của Ma Văn Kháng chứng tỏ một điều đáng mừng: ấy là sự trưởng thành của đông đảo công chúng trong sự tiếp nhận các đặc thù của Văn học.


Ngô Ngọc Bội:


Ma Văn Kháng là một nhà văn tôi rất quý mến. Tất cả tác phẩm của anh tôi đều đọc và yêu thích. Cuốn tiểu thuyết mới này tôi tìm mãi mới mượn được nên mới chỉ đọc qua một lần. Vì vậy chưa thể hiểu hết và hiểu sâu được. Tôi chỉ xin phát biểu một vài ý kiến, đúng hơn là một vài cảm nhận mà thôi. Tôi nhất trí với các ý kiến anh Phan Cự Đệ và anh Phan Hồng Giang vừa nêu lên về những ưu điểm đã rõ ràng của cuốn sách.


Tôi chỉ muốn trao đổi thêm với anh vài khía cạnh về kỹ thuật có tính chất nghề nghiệp. Cảm nhận khá rõ của tôi là tác giả có phần lúng túng. Anh chưa tạo ra cho mình một chỗ đứng, một vị trí vượt lên cao hơn “chúng sinh” - những con người mà anh miêu tả. Anh vạch mặt chỉ tên một số “chúng sinh”, theo tôi, thực ra họ cũng là nạn nhân của xã hội. Người viết chưa chỉ ra được tội đây là tội từ đâu. Muốn nhìn rõ cái chợ một cách toàn diện, toàn cảnh, phải trèo lên cây phi lao để nhìn xuống, có lẽ tác giả chưa tạo được vị trí đó.


Tôi băn khoăn về không gian của tác phẩm. Lấy bối cảnh là một trường cấp 3 tại một thị xã heo hút miền núi để từ đó nói lên những vấn đNội, tôi cho là rất eo hẹp. Nhà trường là một cái khung đã định hình. Những vấn đề tác giả muốn đặt ra, nhà trường cấp 3 không chứa nổi, y như một cái lồng chỉ có thế nhốt chim, anh lại đem đi nhốt dê. Anh dồn nén, khoác lên nhân vật quá nhiều yêu cầu, nội dung. Trong một không gian quá chật hẹp như vậy anh không cựa nổi cũng là tất nhiên thôi!


Về cách giải quyết vấn đề Ma Văn Kháng cũng tỏ ra lúng túng.


Nguyễn Kiên:


Có thể nói ngay rằng đây là một cuốn sách tích cực. Nó được viết với một ngòi bút tâm huyết, một thái độ nhập cuộc tích cực của tác giả. Trên bình diện chính trị xã hội, anh Kháng đã đề cập đến một vấn đề nóng bỏng không chỉ có ý nghĩa thời sự, mà còn có ý nghĩa thời đại nữa. Ấy là vai trò của trí thức và người trí thức trong đời sống xã hội, và nói rộng hơn, trong sự tiến hóa của đời sống nhân loại. Người đọc có thể đồng tình hoặc còn có chỗ nào đó chưa đồng tình nhưng không thể không suy nghĩ trước những cảnh đời, những mẫu người trong Đám cưới không có giấy giá thú của anh Kháng. Anh Kháng cũng đưa ra ở đây một kiến giải: kiến giải này, giống như một sư khêu gợi, có thể còn có chỗ trao đổi, bàn cãi. Riêng tôi, tôi nghĩ không nên đòi hỏi, trông chờ nhà văn đưa ra một bản thiết kế hoàn hảo cho những vấn đề chính trị - xã hội. Bằng sự nhạy cảm, bằng lương tri và trách nhiệm của người cầm bút, nhà văn gửi được vào trang sách cái tâm tình và những suy nghĩ nóng bỏng tương ứng với độ nóng bỏng của những vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống chúng ta, làm được như vậy đã là một đóng góp đáng quý rồi.


Trong cuốn sách này còn có vấn đề thân phận con người nằm ở nhân vật Tự. Anh giáo Tự mang cái dấu ấn hiện thực sinh động về một lớp trí thức. Anh ta có một thân phận vừa rất đáng trọng lại vừa đáng thương mà cũng đáng giận nữa. Trí thức gì mà thụ động, yếm thế đến như thế thì “chết” là phải! Tự là một nhân vật thiên về hướng nội, giá như sự hướng nội của Tự được tác giả bám chắc hơn và đẩy sâu hơn nữa thì chắc sẽ hay hơn. Đôi chỗ tác giả hình như có rời ra khỏi nhân vật của mình, và ở những chỗ đó, tác giả biện giải, luận thuyết hơi nhiều, gây cảm giác nặng nề khi đọc.


Tuy nhiên, hình ảnh anh giáo Tự vẫn cứ còn vương vấn, nó như một tiếng lòng bi thiết của tác giả gửi đến người đọc mà chắc là người đọc không thể thờ ơ.


Hà Minh Đức:


Anh Ma Văn Kháng là một trong những tác giả đổi mới đầu tiên trong văn xuôi. Tác phẩm Đám cưới không có giấy giá thú tiếp nối quá trình ấy và là tác phẩm sâu sắc nhất. Anh viết về nhà trường nhưng thực ra là đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn hơn. Những chuyện tiêu cực ở một nhà trường phổ thông trung học mang dấu ấn và là sản phẩm của một giai đoạn xã hội mang nặng tính chất giáo điều, máy móc, áp đặt. Lối làm việc chạy theo thành tích, giả dối trong công việc và quan hệ đối xử, thái độ xem thường trí thức bộc lộ nặng nề. Những kẻ nắm quyền ở địa phương và trường học đã tỏ ra không xứng đáng với trách nhiệm của mình và là những người tồi tệ. Người trung thực, có tri thức thì gặp nhiều đau khổ. Nhiều trang viết về người thầy giáo thật xúc động. Anh Ma Văn Kháng có vốn hiểu biết sâu về nhà trường. Anh nêu lên thực trạng đáng buồn đáng giận ấy với tinh thần trách nhiệm và rất tâm huyết để bảo vệ cái tốt đẹp. Có thể nhiều trường trung học hiện nay có phong trào tốt hơn nhưng vấn đề đặt ra không phải là chọn một điển hình xã hội phổ biến, có tích cực và tiêu cực, không phải là sự đối chiếu xã hội học mà là ý nghĩa sâu sắc của vấn đề đặt ra, của thực tế được phơi bày như một tiếng chuông báo động buộc mọi người phải quan tâm. Chúng ta cũng không thể đòi hỏi tác giả giải quyết vấn đề, đó là trách nhiệm chung của xã hội.


Đám cưới không có giấy giá thú là một tác phẩm có giá trị, có chiều sâu nhưng đọc còn nặng chất chính luận, triết luận tuy sắc sảo song còn bị lạm dụng.


Huy Phương:


Đây là một cuốn sách không tầm thường. Ma Văn Kháng tự vượt rất nhiều so với các cuốn trước. Anh đã có một phong cách khác với các cây bút khác, và khác cả với chính mình. Có được một tác phẩm như cuốn này, là rất đáng mừng. Có thể nói đây là một thành công đáng kể của tác giả.


Nhân cuốn sách này, chúng ta cùng nhau xem lại một số vấn đề trong sáng tác và lý luận văn học, có lẽ cũng là điều lý thú.


Chẳng hạn, vấn đề điển hình hóa. Anh Kháng đã dồn nén nhiều chi tiết, sự kiện vào nhân vật Tự. Như vậy có đúng là điển hình hóa không? Hay là một kiểu biểu tượng?


Ở cuốn sách này, tác giả đã đặt vấn đề một cách tỉnh táo, chính xác. Không thể đòi tác giả phải trả lời các câu hỏi, đề ra các biện pháp giải quyết. Nhà văn chỉ nêu lên những khả năng, chứ không thể đưa ra những giải pháp hoàn chỉnh.


Đây là một cuốn sách không tầm thường, buộc người đọc phải động não về những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Tuy nhiên bên cạnh mặt thành công, nó cũng còn những chỗ yếu.


Đọc anh Kháng, tôi cảm tình với nhân vật tiêu cực, (nhân vật Lý trong Mùa lá rụng trong vườn) hơn là nhân vật tích cực. Tự vị tất hay ho bằng Thuật. Thuật là một con người hành động, nhân vật này bị thoái hóa, nhưng nếu gặp thời gặp thế, nó có thể làm được một cái gì đó, hơn nhân vật Tự cũng nên. Bên Thuật, thì Tự quá yếu đuối. Nhìn chung, nhân vật chính của anh Kháng yếu đuối, có đạo đức nhưng là thứ đạo đức có phần hơi cũ.


Trong tác phẩm này, phần chính luận hơi nhiều, có phần không cân xứng với phần cốt truyện. Có những trang bình luận được tác giả huy động nhiều kiến thức khá đắt và thú vị. Tác động do phần bình luận nhiều hơn bản thân câu chuyện. Song, cái có thể sống lâu bền lại chính là vấn đề của câu chuyện, của đời sống tác phẩm chứ không phải là phần bình luận.


Đọc anh Kháng và nhiều tác giả khác, tôi nghĩ có lẽ văn chương cần tinh hơn chăng?


Lê Lựu:


Đọc các tác phẩm của anh Kháng, tôi thích cuốn này nhất. Từ đầu đến cuối không có chỗ nào gượng như ở cuốn Mùa lá rụng trong vườn trước đây (bức thư của người đi di tản gửi về ở cuối cuốn sách)


Về vấn đề không gian của cuốn sách, tôi có ý kiến ngược lại với anh Bội. Theo tôi thì anh Kháng đã huy động được toàn bộ sư hiểu biết quen thuộc về miền núi, về nhà trường để mượn nó mà nói những vấn đề lớn của xã hội. Nghĩa là anh Kháng khá nhuần nhuyễn về tài liệu. Về thi pháp tôi cũng học được ở anh nhiều điều. Ý của anh Bội bây giờ không phù hợp nữa. Trước đây trong văn học, cứ ngỡ là bối cảnh càng rộng, công tác càng lớn thì mới nêu được vấn đề lớn, có biết đâu là chi tiết nhỏ lại rất quan trọng và có khả năng nói lên được những vấn đề lớn lao!


Trước đây ở trường, các thầy dạy chúng tôi soi vào tác phẩm: chủ đề, nhân vật tích cực, nhân vật tiêu cực, cách giải quyết chủ đề… Vậy các nhân vật Kiều của Nguyễn Du, Chí Phèo của Nam Cao là nhân vật tích cực hay tiêu cực? Anh giáo Tự với một tính cách như vậy trở thành kẻ thừa ra, không được nhà trường và gia đình chấp nhận. Ta không nên hỏi đó là nhân vật tích cực hay tiêu cực, mà chỉ nên hỏi nhân vật này thật hay giả mà thôi.


Nhà văn nên để cho nhân vật của mình tự nó đứng giữa cuộc đời, không nên mất công sức và thời gian che chắn cho nó làm gì.


Nguyên Ngọc:


Có ý kiến cho rằng đây là bi kịch của trí thức. Đúng. Nhưng không chỉ có thế. Anh Ma Văn Kháng động đến một vấn đề có tính chất chung hơn, lớn hơn. Lý tưởng của chúng ta là muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, trong đó con người sống cho thật sự ra người, nhưng rồi không biết làm cách sao, xô đẩy thế nào mà bây giờ lại đến một thực trạng thế này! Nói cho cùng, mỗi người đều là nạn nhân theo một cách riêng, người tốt là nạn nhân đã đành mà kẻ xấu cũng là nạn nhân về một mặt nào đó. Bi kịch của anh giáo Tự cũng là bi kịch của mọi người. Đây không phải chỉ là bi kịch của một giáo viên, một trí thức, mà là của mọi người. Cũng không nên và không thể xem đây là cuốn sách về ngành giáo dục. Đã đến lúc nên chấm dứt lối phê bình theo đề tài, cái lối phê bình làm hạn hẹp ý nghĩa của tác phẩm, làm hiểu tác phẩm một cách thô thiển và lệch lạc.


Trong khi đọc một tác phẩm, thông thường người ta hay quên một nhân vật rất quan trọng, có thể nói là quan trọng nhất, đó là tác giả. Chính tác giả chứ không phải là ai khác đã phanh phui sự thật đời sống, mổ xẻ, phân tích nhân vật với chủ kiến của mình. Chủ kiến của nhà văn thể hiện qua toàn bộ tác phẩm chứ không phải chỉ qua chủ kiến của nhân vật. Có lẽ cũng nên thôi đi cái lối đơn giản chia nhân vật thành nhân vật tích cực, nhân vật tiêu cực. Các nhân vật như những tính cách, những số phận cụ thể, sống động phức tạp được soi sáng dưới cái nhìn sắc sảo mà đầy nhân ái của nhà văn, vậy thôi.


Vừa rồi anh Bội có nói đến không gian chật hẹp. Tôi thấy không phải như vậy. Truyện ngắn Đại đội lính mới của Lưu Chấn Văn chỉ là câu chuyện xoay quanh một đại đội bé tí làm cái công việc huấn luyện tầm thường trên sa mạc Gô-bi mênh mông mà nêu lên được cả những bi kịch lớn của cả xã hội Trung Quốc bây giờ... ghê gớm lắm. Cho nên trong văn học, không gian chật hẹp không có chuyện gì cả. Trước đây người ta thường hay nói đến tính sử thi. Khái niệm này cũng lôi thôi lắm. Theo tôi hiểu, Đại đội lính mới trông chừng nhỏ bé, chập hẹp thế mà có thể nói là rất sử thi, rất hoành tráng.


Đám cưới không có giấy giá thú là một cuốn sách hay và rất tích cực. Nó nằm trong dòng vận động chung của sáng tác hiện nay theo một xu thế tốt, tính thế sự mạnh mẽ. Từ sự thật được phơi bày trong văn học gợi cơ sơ để suy nghĩ những vấn đề lớn của xã hội. Đã qua rồi thời kỳ mà người viết không dám nói sự thật. Song từ sự thật còn ít nhiều có tính tư liệu, thời sự như ở nhiều tiểu thuyết của ta hiện nay, người đọc chờ đợi ở nhà văn sự phát hiện có tính nghệ thuật, sự cô đúc có tính nghệ thuật. Ma Van Kháng đang trên đường phơi bày ra sự thật không nhân nhượng, và đang hướng đến sự cô kết nghệ thuật. Song ở tác phẩm của anh, tính xã hội chính trị còn mạnh mẽ hơn, và có phần lấn át tính nhân sinh. Số phận anh giáo Tự được mô tả nặng nề về số phận chính trị xã hội, chứ số phận anh ta như một sinh linh thì còn mờ nhạt, yếu.


Đọc tiểu thuyết Một nửa đàn ông là đàn bà của Trương Hiền Lượng, ta thấy cái chính trị xã hội xấu xa ác độc đến nỗi làm anh chàng Chương Vĩnh Lân đến liệt dương - thành đàn bà. Hướng của chúng ta là phải làm sao cho mặt chính trị xã hội trở thành vấn đề của từng số phận con người. Bớt đi phần luận thuyết, phần chất liệu vật chất, tăng thêm phần tính chất hay đúng hơn, làm cho cái phần tư liệu vật chất cô đặc đến thành tinh chất, thành số phận, thân phận riêng của từng con người, như vậy tác phẩm sẽ tăng thêm tính văn học và sẽ có đời sống lâu dài trong công chúng độc giả.


Đọc Ma Van Kháng, tôi vui mừng và cảm phục anh, đồng thời cũng mong ước anh đi tiếp xa hơn trên con đường nhân bản mà anh đã hé mở.


Hoàng Minh Tường:


Những vấn đề xã hội, nhân thế mà tác phẩm Đám cưới không có giấy giá thú đặt ra, quả là bức xúc và đầy trách nhiệm nhà văn. Tôi muốn nói thêm hai điều:


1 - Đóng góp của anh Ma Văn Kháng trong tình hình văn học đang đổi mới của chúng ta hiện nay. Trong “thị trường” văn học rất đa dạng,cởi mở và xô bồ mà văn học đích thực có phần bị văn học thương mại lấn át, bị sách dịch chèn ép thì tác phẩm của anh Ma Văn Kháng quả là một “mặt hàng thứ thiệt” trình giữa “chợ sách”. Đây chính là một đóng góp của nhà văn trong việc định hướng thẩm mỹ cho công chúng. Công việc này đã được các nhà văn Lê Lựu với Thời xa vắng, Nguyễn Minh Châu với Cỏ lau, gần đây, Xuân Thiều với Gió từ miền cát, và nhiều nhà văn trẻ có tâm huyết đang nỗ lực đóng góp cho dòng văn học chân chính đầy ý nghĩa nhân văn. Nhưng dẫu sao ở thời buổi xóa bao cấp trong văn chương, trong khi hàng loạt nhà xuất bản chiều theo thị hiếu người đọc, thì việc định hướng thẩm mỹ cho công chúng quả là một công việc khó khăn. nhọc nhằn. Đám cưới không có giấy giá thú, một tác phẩm ít vẻ gay cấn, hấp dẫn so với Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn của cùng tác giả, nhưng quả là cần thiết và bổ ích với những người đọc không phải tìm đến văn chương như một công cụ giải trí mà muốn nhà văn mách bảo, chia sẻ những trăn trở nghĩ suy về thời cuộc, về nhân thế.


2 - Việc nhà xuất bản Lao động cho in Đám cưới không có giấy giá thú là một đóng góp cho nền văn học. Tôi biết, trước và sau khi đưa in tác phẩm này, các đồng chí lãnh đạo và biên tập Nhà xuất bản Lao động hồi hộp và lo lắng lắm… Một vệt sách khác của nhà xuất bản như Vua không ngai vàng, Nước mắt đỏ, Con hoang, cũng in trong tình trạng như vậy. Vấn đề là sách đã được ra. Nhà xuất bản đã dám dũng cảm chịu trách nhiệm, và đã đưa đến cho người đọc món ăn tinh thần bổ ích và cần thiết. Chúng ta không chỉ biết ơn tác giả Ma Văn Kháng mà cũng phải cảm ơn những người đã đưa món ăn tinh thần này tới bạn đọc.


Hữu Thỉnh:


Cuốn tiểu thuyết mới này của anh Kháng là một cuốn sách thú vị nhưng không đọc nhanh được. Tôi nhận được nhiều thông tin, mà thông tin lớn nhất là về chính bản thân tác giả.


Tôi cảm thấy anh Kháng đã diễn đạt hết sức tự do và trọn vẹn ý đồ nghệ thuật của mình, không có cảm giác nhà văn tự kiểm duyệt khi viết. Do đó khoảng cách giữa nhà văn và tác phẩm được rút ngắn rất nhiều. Theo tôi, đây là một thắng lợi về tự do sáng tác mà mỗi người viết đều rất quan tâm.


Ở tập sách này, anh Ma Văn Kháng có rất nhiều gửi gắm. Tôi nói không thể đọc nhanh là vì vậy, và vì có nhiều gửi gắm nên nhiều chỗ anh Kháng suy nghĩ tràn ra khỏi nhân vật, đó là điều khác so với những tập trước của anh. Biết đâu cái được lại là ở đó, ở chỗ nhà văn luôn vật vã để làm mới mình, còn hiệu quả nghệ thuật tới đâu lại là chuyện khác.


Thiếu Mai:


Đọc Đám cưới không có giấy giá thú sau các tiểu thuyết và truyện ngắn của anh Kháng, thấy hiểu kỹ thêm con người nhà văn với hai nét nổi bật: nỗi đau đớn, khắc khoải trước một thực trạng mà cái xấu, cái thấp hèn mặc sức hoành hành, trái ngược với khát vọng của mỗi chúng ta về một xã hội công bằng, nhân ái. Bên cạnh nỗi đau đó, trong anh cũng thường trực một niềm tin, tin ở những người tốt và tin vào mặt tốt của những con người đang bị thoái hóa trước những khốn khó, phức tạp của đời sống. Niềm tin thườ trực này đã giữ thăng bàng cho ngòi bút của anh, khiến nó không sa vào tuyệt vọng trong khi vạch trần, phơi bày sự thật không chút khoan nhượng, tránh né.


Hiểu kỹ con người tác giả, người đọc quý mến anh hơn, song cũng vì yêu mến anh hơn mà muốn yêu cầu cao hơn đối với anh. Chính vì vậy mà khi đọc xong cuốn sách, riêng tôi cảm thấy có điều chưa thật hài long, thỏa mãn. Cuốn sách còn bề bộn, nặng về luận thuyết, biện giải. Có cảm giác là tác giả lúng túng. Phải chăng dường như cảm thấy sự vận động của đời sống nhân vật chưa chuyển tải hết tư tưởng của mình, nhà văn bèn để cho nhân vật thuyết lý hơi nhiều; vẫn chưa đủ, lắm chỗ chính tác giả còn đứng ra thuyết lý khá thú vị, song dẫu sao nó cũng quá nhiều và quá nặng, không tương xứng với phần đời sống được miêu tả trong tác phẩm. Muốn đánh một hồi chuông thức tỉnh kịp thời, hình như tác giả còn thiếu thì giờ và điều kiện để chắt lọc, làm cho tác phẩm thoáng hơn, dung dị hơn mà vẫn chứa được nhiều gửi gắm bức xúc của người viết.


Ngẫm nghĩ về chỗ mạnh và chỗ yếu của cuốn sách, tôi băn khoăn, không hiểu vài ba chục năm sau, tác phẩm của anh Kháng có còn được người đọc tiếp nhận nồng nhiệt như bây giờ không. Thú thật, tôi e rằng thế nào cũng có phần hạn chế. Mong muốn của tôi là làm sao có được những tác phẩm văn học dẫu viết về những vấn đề của thời đại chúng ta, mà mãi nó vẫn được các thế hệ bạn đọc yêu mến.


Tôi không đồng ý với ý kiến của anh Bội. Nhược điểm của cuốn sách: chủ yếu là ở chỗ tôi vừa nói chứ không phải vì không gian chật hẹp. Hẹp thế chứ hẹp nữa thì vẫn không hề ảnh hưởng gì tới sự sâu sắc, ý nghĩa bao quát của vấn đề được miêu tả. Trái lại, đúng như lời anh Lê Lựu vừa nói, thường khi một sự việc, một chi tiết cực nhỏ nếu được chọn lọc và đặt đúng chỗ lại có sức mang được ý nghĩa cực lớn. Trong văn học đông tây kim cổ xưa nay chẳng đã có biết bao nhiêu tác phẩm chứng tỏ điều này đấy thôi!


Từ Sơn:


Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến biểu dương mặt mạnh cuốn tiểu thuyết của các anh chị.


Trong tiểu thuyết này, tôi băn khoăn nhiều về nhân vật Tự. Đó là một nhân vật “thánh thiện”. Nhưng, cái “thánh thiện” này theo cách kiến giải của tác giả thì hình như lại có vẻ bắt nguồn từ cách ứng xử với đời của các bậc túc nho thuở xưa. Gần đây trong một số tác phẩm khác, cũng xuất hiên một kiểu nhân vật thánh thiện na ná như Tự trong Đám cưới không có giấy giá thú. Càng ngẫm nghĩ về nhân vật này, càng thấy sự lúng túng của tác giả. Giờ đây, không thể xây dựng mẫu người lý tưởng khô cứng như cách đây mấy năm về trước nữa, mà phải tạo ra những nhân vật đẹp một cách khác, lý tưởng hơn mà cũng đời hơn. Tuy nhiên, loại nhân vật này nương theo triết lý nào để sống, để hành động vậy. Chưa rõ. Chính vì chưa xác định, chưa lý giải được điều này mà loại nhân vật như Tự chưa có được sức mạnh mà tác giả và người đọc mong muốn.


Ngoài trừ một vài ý kiến không đồng tình, theo tôi, cuốn sách của anh Kháng nhìn chung được đông đảo dư luận hoan nghênh, cho đó là tác phẩm đề cập một cách mạnh dạn những vấn đề nóng bỏng nhất của đời sống hôm nay với một ngòi bút đầy trách nhiệm. Rõ ràng là với sự thành công của mình, tác giả Đám cưới không có giấy giá thú đã góp vào sự nghiệp đổi mới văn học một giá trị đáng kể


*


Sau khi nghe ý kiến của 14 đồng chí, anh Ma Văn Kháng, tác giả cuốn tiểu thuyết đã nói lên một vài suy nghĩ có tính chất tâm sự:


Tôi có nhiều kỷ niệm và suy nghĩ về nhà trường, sau nhiều năm làm công tác giảng dạy và quản lý trường học. Tôi yêu nghề thầy, người thầy. Bảng đen, phấn trắng, ngói nâu, phượng đỏ, mùa thi, các mối quan hệ và số phận con người là những biểu tượng ám ảnh mãi mãi tâm trí tôi. Tôi viết vật vã, cố gắng đến kiệt sức để bộc lộ ước vọng tha thiết của mình, sao cho con người mà tôi yêu quý, ngưỡng mộ thấy được mình và thời đại của mình. Tại sao nhỉ, con người thì đẹp thế mà cuối cùng thì thảm hại, đớn hèn, yếu đuối! Tại sao nhỉ, điều chúng ta mong mỏi lại có khoảng cách xa đến là như thế với hiện thực? Tại thiết kế, tại thi công? Vì ảo tưởng sai lầm hay vì vụng về kém cỏi? Cuối cùng thì hình tượng là một tiếng nói, góp một kiến giải.


Tôi giữ cho mình cái tự do bên trong vô cùng quý giá của người viết, lăn lộn trong thế giới riêng của nghệ thuật, tuân theo cái quy luật cao nhất của sáng tạo là tự nhiên.


Tất nhiên, tôi đã có một sản phẩm phản ánh đúng sức mình, tạng mình, với tất cả ưu điểm và nhược điểm của nó. Không thể dối trá trong trang sách được. Đọc sách thấy được nhau, trao đổi, hiểu được nhau, thật là thú vị đúng như các anh chị đã nói. Cuộc đời thì rộng lớn. Hai mắt người dù to đến đâu, trí óc người dù sâu sắc đến đâu, cũng là có hạn. Văn bản đã hình thành. Bản mã hóa đời sống sẽ được dịch ngược lại tùy ở mỗi người. Tôi đã nhận được nhiềuời khen và nhiều lời chê bai, thậm chí tránh móc thậm tệ. Tôi rất muốn được nghe phán xét từ nhiều chiều. Lòng tôi hết sức thanh thản. Văn học cả nước đang trong tiến trình đổi mới, tính chất dân chủ của nó trong bàn bạc, đánh giá mỗi sáng tạo nghệ thuật là một thành quả hết sức lớn, phải gìn giữ. Tôi rất cảm ơn ý kiến nhận xét của tất cả các anh chị, nhiều ý kiến hết sức đặc sắc của các bậc đàn anh khiến tôi sung sướng bàng hoàng: trời, thì ra nghệ thuật luôn luôn là kỳ lạ và làm nghệ thuật lại có được cái hạnh phúc thần tiên đến như thế!


Đồng chí Lê Thanh Tùng giám đốc NXB Lao động:


Anh Xuân Cang, thay mặt ban thứ ký “Liên đoàn lao động Việt Nam” đã nói ý kiến và những suy nghĩ của chúng tôi về cuốn sách của anh Ma Văn Kháng. Thay mặt nhà xuất bản Lao Động, tôi chân thành cám ơn các đồng chí có mặt hôm nay đã cho nhưng ý kiến hết sức tinh tế, khách quan và thẳng thắn.


Là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước và trước bạn đọc về những ấn phẩm của mình, chúng tôi có nỗi nhọc nhằn và hồi hộp lo âu của một bà đỡ. Sách in ra, nhưng công chúng sẽ đón nhận thế nào đây? Với cuốn sách của anh Ma Văn Kháng, quả là một trường hợp mà cả nhà xuất bản chúng tôi đều “đặt cược” vào đó. Bởi vấn đề mà tác phẩm đặt ra không phải lúc nào và bao giờ người đọc cũng dễ dàng chấp nhận. Rất may mà cuộc đổi mới do Đảng khởi động đã là người đỡ tinh thần của tác phẩm.


Và bây giờ, Đám cưới không có giấy giá thú đã là sở hữu của bạn đọc. Chúng tôi chờ mong những ý kiến đóng góp không chỉ của các nhà phê bình mà là của các bạn đọc xa gần.


Nguồn: In trong phần Phụ lục của Đám cưới không có giấy giá thú. Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng. NXB Lao động in lần đầu năm 1989. Các NXB in nhiều lần.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trở lại với Thạch Lam - Khuất Bình Nguyên 10.08.2017
Có một tâm hồn thức trở với thi ca - Quang Hoài 04.08.2017
Giải huyền thoại hay phỉ báng Tổ tiên, xúc phạm dân tộc? - Hà Văn Thùy 02.08.2017
Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi - Trần Nhuận Minh 27.07.2017
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
xem thêm »