tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20518400
19.06.2017
Trần Thanh Phương
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc



Nhà văn Đoàn Thạch Biền viết: Tại Đại hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh khóa IV (2001-2005), nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã rút tên khỏi danh sách đề cử. Ông làm Tổng Thư ký của hội từ năm 1981 đến nay đã 20 năm và ông xin từ chức ở tuổi 69. Sau lễ bế mạc Đại hội, một số bạn mời ông đi nhậu. Ông cười khà khà: “Làm công chức tới tuổi phải về hưu, nhưng làm nhà văn thì chính hắn cho hắn nghỉ hưu, chứ không ai có thể cho hắn nghỉ hưu được. Dù còn trẻ nếu hắn không viết được nữa, hắn đã nghỉ hưu. Tôi không có ý niệm về hưu vì còn nhiều chuyện để viết. Tất cả nằm ở đây nè”. Ông gõ vào cái trán rộng và cao của mình.


Trong bữa nhậu, mọi người thường gọi ông là “anh Năm” cho thân mật. Còn ông chỉ “mày, tao” vui vẻ. Như nhân vật Tấn trong truyện Người bạn lính: “Nhiều lúc thèm chửi thề hơn thèm hút thuốc”. Trong các bữa nhậu ông đã giải tỏa được “cơn thèm”. Người chưa biết tính ông dễ bị dị ứng chuyện này. Ông cười biện hộ: “Nhà văn Nga Ehrenburg có viết, người nói tục biểu lộ một tinh thần khỏe mạnh”. Ông không những khỏe mạnh về tinh thần mà còn khỏe mạnh về thể xác. Nhiều người ở tuổi ông phải nhuộm tóc đen để được ‘trẻ hóa”. Còn ông vuốt ngược mái tóc bạc về sau và nói: “Quan trọng là sức khỏe và suy nghĩ có “bạc” hay không, chứ mái tóc nhằm nhò gì”.


Nhiều người nhậu để tìm quên, còn với ông nhậu là nhớ. Ông nhớ lại chuyện xưa kể cho các bạn trẻ nghe và nhớ những điều các bạn trẻ tâm sự, để khi viết về giới trẻ hiện nay ông không bị lạc hậu. Ông có một trí nhớ rất tốt. Chẳng bao giờ thấy ông rút sổ tay ra ghi chép. Vậy mà khi kể lại, viết lại ông chẳng quên điều gì. Hỏi bí quyết, ông nói: “Hãy nhớ những chi tiết “đắt” và quên đi những chi tiết thừa. Trong truyện ngắn nếu không có chi tiết đắt sẽ không thành truyện. Đấy là những hạt bụi vàng làm nên Bông hồng vàng của Pauxtôpxki”. Đọc và xem những tác phẩm của ông, ít ai quên được những chi tiết rất “đắt”: Đứa bé bị bỏ vào bịch ni lông và dìm xuống nước tránh máy bay Mỹ (Cánh đồng hoang). Con gà trống bị may cổ để không thể ngẩng đầu lên gáy (Con gà trống). Đứa bé đeo vòng kiềng bằng sắt ở chân (Con ma da)…


Văn là người. Điều đó đúng một phần nào đối với ông. Văn ông ngắn gọn, chắc nịch và không hoa mỹ như con người ông. Ông không thích viết dài dòng và nói dài dòng. Các nhân vật một phần nào cũng mang cá tính và suy nghĩ của ông.


(Báo Người Lao động, 17-6-2001)


Tháng 2 năm 1978, Nguyễn Quang Sáng ra Huế chơi với Trịnh Công Sơn, qua Sơn ông quen thêm vài người bạn: họa sĩ Đinh Cường, họa sĩ Tôn Thất Văn, Bửu Chỉ, Bửu Ý, Đinh Giang, Lữ Quỳnh vừa là bạn thân vừa là bạn rượu, bạn nghệ thuật của nhau. Năm ấy nghèo, toàn rượu… đế. Vào Sài Gòn vài năm sau, bạn Huế nghe tin bà bán rượu thường bán cho cánh Sơn nhậu bị bắt vì bỏ thuốc trừ sâu vào rượu để rượu trắng tinh, dễ gây ngộ độc. Sơn hết hồn. Sơn không có rượu như xe không có xăng dầu, không nổ máy được, nói năng lập dập, có rượu vào thì lưu loát, duyên dáng, lời lẽ sâu sắc uyên thâm nữa. Không chỉ viết ca khúc, Sơn viết báo cũng nhanh. Phóng viên đến đặt báo, phóng viên cứ ngồi đó, Sơn đặt giấy lên bàn, rót một ly rượu vừa nhâm nhi vừa viết, viết một mạch.


Từ ngày vào Sài Gòn, hầu như buổi trưa nào, có khi cả chiều và tối, Sơn và bạn bè thường lai rai dưới gốc hai cây mận nhà Nguyễn Quang Sáng, vừa yên, vừa thoáng và mát. Bạn bè gồm có: Sơn, nhà thơ Nguyễn Duy, nhạc sĩ Hoàng Hiệp, nhạc sĩ Trần Long Ẩn, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi. Thỉnh thoảng có họa sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung, nhà văn Sâm Thương và một số bạn văn họa sĩ vãng lai. Nguyễn Trọng Khôi là họa sĩ nhưng hát rất hay. Khi nào Sơn mệt thì anh hát thay, hát nhạc của Sơn, trước mặt Sơn mà không ngán. Những sáng tác mới, nhạc hay thơ chưa xuất bản, chưa đưa ra công chúng thì được trình diễn dưới gốc cây mận. Anh em nói chuyện nghệ thuật, chuyện đời, chuyện tào lao qua ly rượu, họ mỗi ngày mỗi phát hiện những điều sâu kín của nhau. Dưới gốc mận là một câu lạc bộ không có tổ chức, nhưng là một câu lạc bộ đúng nghĩa. Những người đồng điệu tìm đến nhau, trao đổi, chia sẻ, không có sự ràng buộc nào. Mùa xuân, bông rụng trắng sân, trên bàn, thỉnh thoảng hoa lại rơi xuống trang điểm cho bàn nhậu, trái mận cũng thỉnh thoảng rơi xuống bàn cái bộp cho thêm chất tươi.


Nhà văn Trần Nhã Thụy nói cụ thể hơn chuyện dưới tán cây mận này. Nằm dưới “mặt đất’, cách chung cư 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nơi cư ngụ nhiều anh chị em nghệ sĩ ở Thành phố, là ngôi nhà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Một ngôi nhà không có gì đặc biệt nhưng lại có một góc sân với cây mận thật đẹp. Dưới gốc mận đó, nhà văn Nguyễn Quang Sáng hay mắc võng nằm đong đưa. Cũng dưới gốc cây mận đó thường vang lên tiếng máy đánh chữ gõ lốc cốc. Và cũng ở chỗ này, ông làm nơi “thù tạc” với “chiến hữu” của mình. Trước đây, văn nghệ sĩ thành phố Hồ Chí Minh hình thành tự phát một “nhóm nhậu chiều thứ sáu”. Mỗi người tự nguyện “đăng cai” một bữa, cứ thế giáp vòng. Tất cả những bữa cụng ly đều diễn ra ở quán xá, riêng tới lượt Nguyễn Quang Sáng là ông kéo về nhà mình. Cũng dưới gốc cây mận đó. Có người kêu: “Ông này khôn dễ sợ”. Nhưng cũng có người nghĩ, ông Sáng “kết” cái gốc đó quá rồi, nên đến phiên ông là ông “định đoạt” luôn. Để rồi sau cơn ngà ngà hơi men, ông lại mắc võng đong đưa một mình. Hoặc có thể sau đó vang lên tiếng lốc cốc máy đánh chữ. Lại những trang văn sắp sửa ra đời. Tôi đã từng ngồi ở cái gốc ấy và tôi nghĩ rất có thể cây và người đã thở vào nhau, hơi thở của sự bí ẩn và kỳ lạ. Kỳ lạ cũng là điều mà con người tạo ra ở nơi chốn của mình.


Trở lại Trịnh Công Sơn. Nguyễn Quang Sáng thường nói trong mâm rượu: Sơn có mấy đặc điểm: sáng tác nhiều, hát nhiều, uống nhiều, hút nhiều, bạn nhiều, bạn khắp nơi, bạn gái cũng nhiều, xài tiền nhiều, ăn thì… ít.


Về rượu, Sơn thay đổi theo từng giai đoạn, bỏ rượu đế, Sơn và nhóm bạn chuyển sang Vodka Nga, Vodka Ba Lan, nối tiếp Vodka và Ararat của Armenia. Thị trường hết Ararat thì chuyển sang Whisky, những năm cuối cùng thì Chivas… đổi rượu theo mức sống của mỗi người và xã hội. Có một dạo Sơn bị gan, phải kiêng rượu nhưng Sơn không thể nào kiêng được, Sơn chuyển sang rượu vang cũng được một lúc. Có một người nói, hễ nói Sơn chết thì Sơn sống vì tưởng là chết thì Sơn kiêng rượu, sức khỏe được phục hồi. Nói Sơn sống là Sơn khỏe và lại rượu, rượu thì lại ốm, cứ xà quần như vậy. Trịnh Công Sơn, một tâm hồn lớn trong một cơ thể gầy gò. Bệnh thì phải uống thuốc, Sơn cũng uống thuốc nhưng uống chẳng giống ai. Uống thuốc tây thì phải kiêng rượu. Theo liều lượng của bác sĩ cho, thứ này một viên, thứ này hai viên, Sơn uống gấp đôi. Sơn lập luận: “Một phần cho bệnh, một phần cho rượu!”. Cứ như thế cho đến “Một cõi đi về”.


Tác giả kịch bản phim truyện Cánh đồng hoang (chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên), sống ở thành phố Hồ Chí Minh. 35 năm nay, bàn nhậu dưới hai gốc mận ở sân nhà ông không bao giờ thiếu vắng bạn văn nghệ đến lai rai, có khi cả ngày đêm, đã lôi cuốn cả các bạn trẻ như nhạc sĩ Từ Huy, nhạc sĩ Bảo Phúc và nhiều nhà văn trẻ khác. Không phải họ muốn dựa dẫm ông vì ông không còn “quyền” hay trước đây có “quyền”, mà họ tìm thấy sự đồng cảm của một nhà văn đi trước với những người đi sau. Đâu phải nhà văn lớn tuổi nào cũng có được niềm vui đó. Sau những bữa nhậu như vậy, ông buông một câu gọn lỏn: “Đã”. Còn các bạn trẻ thì dài dòng hơn: “Nhậu với anh Năm vui ghê!” - Đoàn Thạch Biền, báo Người Lao động, 17-6-2001.


Trong thành phố nhiều hàng quán nhưng Nguyễn Quang Sáng chỉ uống vài nơi quen như quán 6A Trần Cao Vân, quận I, ông thuộc từng mặt khách quen hay đến đây. Ông nói: “Quán đó không sang cũng chẳng hèn, không xô bồ mà cũng không quá nghiêm túc. Nó vừa vặn với tôi”. Một người bạn nhận xét: “Nhậu như Nguyễn Quang Sáng là nhậu ra công ra việc. Trên bàn nhậu, biết bao công việc được nói, biết bao câu chuyện được kể, và từ đó nó hình thành nên những kế hoạch và công việc tiếp sau”. Nguyễn Quang Sáng uống rượu không bao giờ say. Ông luôn biết được điểm dừng của mình. Trong mâm rượu, bạn bè thường nhắc đến truyện ngắn Quán rượu người câm của Nguyễn Quang Sáng viết trong kháng chiến. Trong truyện, ông viết: “Rượu đế thì thứ rượu ở kinh Ông Kho, ngon nhất tỉnh Long Châu Sa. Rượu trong veo, sủi bọt, trong xanh, cay mà ngọt, uống say lúc nào chẳng biết; lúc say người như lịm đi. Rượu cất bằng mía, màu rượu như trái hồng quân, không ngon, uống mau say”.


Báo Người Lao động số ra ngày 30-4-2003, Nguyễn Quang Sáng kể:


Chiều 23-4-2003, nhà thơ Nguyễn Duy khập khiễng đến chơi với tôi. Nguyễn Duy đi khập khiễng vì bị tai nạn giao thông, bạn bè trong giới và bạn đọc của anh đều biết.


Hai chúng tôi vẫn ngồi dưới gốc hai cây mận, cũng như bao nhiêu năm trước, bạn bè cùng ngồi với nhau. Nhưng những lần sau này thì có khác, vắng Trịnh Công Sơn, nhưng Sơn vẫn còn đó. Pho tượng Trịnh Công Sơn - pho tượng bằng đồng với vầng trán thông minh, đôi kính cận đặt trên cái bàn giữa hai gốc cây mận, như Sơn đang ngồi đó với chúng tôi, tác giả của pho tượng là nhà điêu khắc Ngô Xuân Lai - là “tài sản” của nhạc sĩ Từ Huy. Nhạc sĩ Từ Huy mang pho tượng này đến nhà tôi nói: “Anh Năm, anh cho em gởi pho tượng ở nhà anh, vì trước đây, anh Sơn và anh em thường ngồi dưới hai gốc cây mận này. Em gởi pho tượng anh Sơn ở đây, để anh em đến thăm anh Sơn và chơi với anh”. Mỗi lần ngồi với nhau, lần nào chúng tôi cũng rót cho Sơn một ly, đúng liều lượng như lúc Sơn vẫn còn ngồi với bạn bè.


Chiều nay, cùng tôi ngồi bên pho tượng của Sơn, Nguyễn Duy bồi hồi nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm với Sơn. Nguyễn Duy nhắc, cái phòng nhỏ trong ngôi nhà tập thể của tôi, trước ngày anh Sáu (Võ Văn Kiệt) ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới, anh Sáu, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Duy, Trần Long Ẩn và tôi có một buổi cơm chia tay (Trần Long Ẩn chạy ngược đường, bị công an thổi còi). Trong buổi vui đó, Nguyễn Duy đòi hát, Trịnh Công Sơn cản: “Ông đọc thơ thôi chớ!”. Nguyễn Duy cự lại. Cuối cùng, Nguyễn Duy cũng hát, hát lời hai, lời ba theo dòng thời sự mà chúng tôi chưa từng nghe, vừa nghịch vừa duyên, không ai nín cười được… Trịnh Công Sơn quá thích.


Nguyễn Quang Sáng nhớ: Mùa nước lũ năm ngoái (2002), tôi về Đồng Tháp. Các đồng chí lãnh đạo Bưu điện Đồng Tháp đưa tôi vào vùng sâu trên chiếc “hô bo”. “Hô bo” chạy với tốc độ trên 50 cây số/giờ. Chiếc “hô bo” chạy trên cánh đồng nước mênh mông. Nơi nào có xóm nhà, rặng cây thì đó là con kênh, nơi nào không có hai hàng cây, thì đó là đồng lúa, đồng cỏ. “Hô bo” như chạy trên biển sóng nước dập dềnh.


Chiều, trở về trụ sở Bưu điện Đồng Tháp, tôi nghe các anh nói có mời anh Tư Hữu đến dự buổi cơm, trước khi tôi về thành phố - anh đang ngồi ở phòng khách. Anh Tư Hữu nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp. Tôi vội vàng chạy đến anh. Hơn hai mươi năm mới gặp lại anh, và anh đã xấp xỉ tuổi tám mươi. Tuổi già, anh có thể quên tôi. Tôi ghét những người trẻ mỗi lần gặp người già thì hay đố: “Đố chú cháu tên gì?”. Sao lại đố trí nhớ của người già mà không gợi cho chú bác nhớ mình là ai!


Vì lẽ đó, khi tôi đứng trước anh, một con người cao to, tuy có già hơn 20 năm trước nhưng gương mặt vẫn rạng rỡ lúc nhìn thấy tôi, tôi bèn xưng:


- Em là Sáng, anh Tư!


Anh cười:


- Ba chữ “S”, bây giờ chỉ còn một chữ phải không?


Sao anh Tư hỏi tôi như vậy? Vì trước đó, sau khi bộ phim Cánh đồng hoang ra đời, nhiều bạn bè bảo bộ phim này có ba chữ “S” - Sơn, Sến, Sáng. Sơn, Sến đã ra đi rồi, chỉ còn một “S” là tôi.


Nhớ năm 1977, tôi đưa Sơn về quê tôi chơi. Đến Nha Mân thì xe hỏng, hai chúng tôi phải đi xích lô cho kịp chiều.


Đến Sở Văn hóa Thông tin Đồng Tháp, tôi bảo Sơn đứng ngoài cổng, tôi vào trước. Gặp anh em, tôi bảo rằng tôi đi với Trịnh Công Sơn, anh em reo lên anh Sơn đâu, anh Sơn đâu?”.


Tôi bảo:


- Ở ngoài cổng có cái bảng “Không tiếp người có tóc có râu!” làm sao tôi dám đưa vô. Năm đó, tóc Trịnh Công Sơn phủ đến vai với một bộ ria mép.


Một vài anh em chạy ra, đón anh: Trịnh Công Sơn là một ngoại lệ!


Tình cờ, buổi chiều hôm đó, Sở Công an Đồng Tháp có buổi liên hoan, anh Hai Hòa là Giám đốc sở, (nguyên Thứ trưởng Bộ Công an) mời chúng tôi đến chơi. Các anh xếp chúng tôi ngồi cùng bàn với anh Tư Hữu. Rượu chưa uống thì có một ông bạn già trông có vẻ đã ngà say, ông bắc cái ghế ngồi trước mặt Trịnh Công Sơn, nhìn Sơn lom lom rồi cà khịa mái tóc với bộ râu của Sơn. Mất vui. Anh Tư Hữu, Sơn và tôi thấy khó xử quá, Anh Tư không nói gì, cầm chai rượu đế rót đầy hai ly xây chừng, đặt một ly trước mặt người bạn già:


- Cạn!


Hai cái ly nâng lên, cạn. Anh Tư rót thêm ly thứ hai, hai người cùng cạn. Anh rót thêm ly thứ ba. Đến ly thứ ba (ba ly cấp tập), ông bạn già ngả lưng ngáy pho pho. Ông được dìu vào chỗ nghỉ. Anh Tư cười. Anh Tư “giải thoát” cho Sơn bằng cái cách của anh thật tuyệt vời…


Và còn biết bao nhiêu chuyện nữa trong chuyến đi. Đi là đi chơi chớ không hề nghĩ sẽ cùng nhau làm chuyện gì.


Tôi kể dài dòng để nói Trịnh Công Sơn đã làm nhạc cho phim Cánh đồng hoang như thế nào.


Nhà văn Nguyễn Quang Sáng còn là bạn rượu lâu năm của doanh nhân Nguyễn Tiến Toàn, sản xuất xe lăn cho người khuyết tật. Hai ông đã ký hợp đồng uống rượu như sau:


Hợp đồng uống rượu ngày 1-11-2006


Bên A: Nguyễn Quang Sáng (đã ký).


Bên B: Nguyễn Tiến Toàn (đã ký).


Cùng ký Hợp đồng uống rượu với nhau 10 năm. Để chỉnh lý Hợp đồng cũ đã ký năm 2000 đến nay đã được 6 năm. Sau quá trình thực hiện Hợp đồng, hai bên cảm thấy chưa đã thèm. Nay theo đề nghị của đôi bên, xin gia hạn Hợp đồng dài dài. Nhân chứng cùng hùa vô uống gồm có: Thiên Hà (đã ký); Hà Sơn (đã ký); Nguyễn Ngọc Thạo (đã ký).


Đây là bản Hợp đồng có một không hai, mới lạ, độc đáo của giới văn nghệ sáng tạo bên bàn rượu!


Gần như trở thành thông lệ từ nhiều năm nay, chiều tất niên nào nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng rủ một số bạn bè thân đến uống rượu trước sân nhà anh. Câu chuyện cuối năm thường là câu chuyện của cả năm sắp cũ. Trong không khí lãng đãng của đất trời, có chút men nồng sau vành môi đang ngậm kín nỗi gì gần như sự nuối tiếc nhẹ nhàng thời gian, các anh nói chuyện râm ran, nhỏ nhẹ hơn mọi ngày, thỉnh thoảng nhìn lên bầu trời đêm… Mỗi người bắt đầu cảm nhận sự di chuyển của thời gian bằng âm thanh, không phải bằng kim đồng hồ trên tay nữa.


Cây mận cuối năm mỗi cao thêm, đến nay đã cao quá mái, cành lá sum suê, trái đỏ mọng. Còn mái tóc của bạn bè thì ngày bạc trắng, tiếng cười ít lại, rượu trong ly cũng vơi đi trên bàn tay héo úa.


Tuổi đời thì có chồng chất, nhưng việc làm không giảm. Nhưng con dê đứng trước cổng chuồng (mà Nguyễn Quang Sáng đang cầm tinh) anh làm việc khá khỏe. Ở tuổi 60 còn bận rộn chuyện học hành, học Anh văn say mê tuần mấy buổi, cần mẫn hơn cả một cậu học sinh trung học. Năm mới, ngoài một số truyện ngắn phải viết ra, anh viết kịch bản phim Tượng Phật với người lính Mỹ, câu chuyện do Larry Rottmann một cựu chiến binh Mỹ kể lại, và phát động cuộc thi Truyện ngắn hay năm 1991…


Dưới gốc mận, mà anh em vẫn thường gọi đùa là Quán Cây Mận của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, năm nay hẳn cũng như những tất niên năm trước, có thể thiếu vắng một hai giọng nói bạn bè, nhưng mùi của đêm tối, tiếng sỏi cát trên lối đi, và những bước chân chập choạng giã từ nhau về kịp giao thừa, tưởng như không thay đổi.


Chắc là Nguyễn Quang Sáng phải ốm lăn lóc ra nếu như ngày nào cũng “thâu nạp” đủ thứ lời thỉnh của bạn bè từ Nam ra Bắc. Khà khà, trời lại phú cho ông Sáng một khả năng “đấu tửu” và “đấu trí” tuyệt vời.


Nguyễn Quang Sáng ưa rượu hơn bia, cái chậm rãi, trầm ngâm của người “thưởng” rượu nom cũng hay hay. Với rượu, lại càng dễ khiến cho Nguyễn Quang Sáng gần hơn với những người bạn tri kỷ. Cũng góc sân nhỏ hẹp ấy, ông trang trọng để bức tượng bán thân cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Mỗi lần có bạn quý đến chơi, ông lại rủ họ ra vườn, vợ ông nhanh tay chuẩn bị đồ nhắm, khi là thanh dưa chuột, bát lạc, khi lại rượu trơn. Sau khi Trịnh Công Sơn mất, ông rót chén rượu đầu bao giờ ông cũng mời Sơn trước, mỗi lần nâng chén, ông lại trầm ngâm nhớ bạn. Đôi khi một mình, rất một mình, ông ngâm nga mãi Một cõi đi về của Sơn (cách gọi thân mật của ông với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn). Phục bạn, nhưng ngay chính ông cũng là người khiến bạn phải phục. Mỗi lần, sau khi nghe xong bài hát Như cánh vạc bay của Sơn, ở câu kết có đoạn… “Là biết xa ngàn trùng”… Ông Sáng vỗ tay khen hay, nhưng ngay lập tức “chẹn lại”, nên “Lá biếc xa nghìn trùng”… Tuyệt, tuyệt, đúng là ông nhà văn có lối tư duy rất hình ảnh trên “R”. Trịnh Công Sơn cũng hết lòng cảm mến ông Sáng.


Đã coi là bạn, Nguyễn Quang Sáng không “kẻ cả” tuổi tác. Chẳng biết có phải vì rượu “thêm lời” không, mà có khá nhiều lần ông tâm sự chuyện tình cảm (người vợ), cái chuyện ngày xưa… lâu rồi với người bạn rất trẻ của ông, bạn Nguyễn Quang Dũng. Buồn cười thật đấy! Quang Dũng là con trai của ông cơ mà?


Ừ thì là con trai, nhưng nó là bạn tôi. Chí thú lắm. - Trần Ngọc Lan, báo Gia đình và Xã hội, 1-6-2002.


Mới đây, cuối năm 2015, nhà báo Xuân Ba ghi chép lại một buổi rượu của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Xuân Ba cho hay: Trời thương còn cho cái tuổi bảy ba như Nguyễn Quang Sáng còn khà được tiếng rõ chi là dài sau hớp rượu mật nhệch mà như ông than là quá đã, quá đã… Nhà văn Đoàn Minh Tuấn, cũng đồng tuế với ông và như ông, lưng vẫn thẳng tăm tắp và cũng cấm có chối từ ly nào! Quả là thương riêng yêu riêng theo cái cách nào đó của trời, của tạo hóa thì hai ông mới có được kiểu nghiêng nghiêng sang giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Đào, con trai thứ nhà văn Nguyễn Tuân và nhà văn Nguyễn Đình Chính, con trai nhà văn Nguyễn Đình Thi, đồng thanh mà rằng như mới hôm qua tụi tao ngồi hầu rượu hai ông già bây… Nhưng cứ như Nguyễn Quang Sáng thở dài thì mỗi bận họp nho nhỏ như thế, Nguyễn Tuân không cho kêu Nguyễn Đình Thi vì cụ thẳng đuột theo khẩu khí phương Nam là uống với ông này hổng có vô… Rồi ông nhướng đôi mày đã bàng bạc trên cặp mắt hãy còn hau háu tinh tường chiếu vào ly rượu mật nhệch biếc xanh vẻ săm soi như một gã phù thủy lành nghề đang triệu hồi âm binh của quá khứ. Chắp nối lại những âm thanh khi khẽ khàng khi vổng vót của nhà văn, tôi láng máng biết rằng hồi mới ra Bắc tập kết, nhà văn Nguyễn Tuân ngay từ đầu đã thân thiết với anh em Nam Bộ. Bây giờ mới gặp nhau đây/ Mà lòng chắc đã… Y chang như câu Kiều, hình như chất lãng tử pha chút giang hồ hiệp khách của cụ Nguyễn nó hạp với tính cách phóng khoáng bộc trực không ưa màu mè của người phương Nam? Cụ Nguyễn là một trong những người đã khích ông, mà khích thật lực rằng có viết chi thì viết nhưng phải bật ra được chất Nam Bộ. Đó là cái lạ. Cái lạ đã hàm cái hay. Gẫm ông già nói chí lý! Nhưng khó… Khó cũng ráng làm tới! Ông già ngắm ngó Con chim vàng, truyện ngắn đầu tiên của ông trên đất Bắc, gật gù mới đang bàng bạc cái chất cái lạ, ráng nữa lên, mậy? Và ông đã ráng… Chẳng thể chơi chơi khơi khơi được thứ lao động khổ sai mà như ông già từng than, ngồi trước trang giấy như ngồi trước pháp trường trắng… Mồ hôi. Và biết bao lao tâm khổ tứ. Kể cả những đống đầu mẩu thuốc lá Tam Đảo, Trường Sơn… vun trên bàn viết và hình như thêm vô đó chả phải là ít sự khích của ông già độc đáo Nguyễn Tuân để Nguyễn Quang Sáng làm nên cái lạ sau đó những là Ông Năm Hạng (Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất năm 1959), Người quê hương, Tư Quắn (Giải thưởng Văn Nghệ Quân đội 1959). Đất lửa, v.v… Và cuộc hành trình đi tìm cái lạ ấy sau này đã khiến Nguyễn Quang Sáng bật trội những cái mốc trên lộ trình gian nan đi tìm cái lạ cái hay của văn chương. Đã găm đã đeo bám vào nhiều thế hệ bạn đọc những Dòng sông thơ ấu, Con mèo của Fujita, rồi Cánh đồng hoang.


Người con trai thứ nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Đào với cái bật lửa lạ mắt đang nghiêng sang mồi điếu thuốc cho Nguyễn Quang Sáng hút đi, chú em hụt… Mới thoáng nghe, tôi nẩy cả người vì giật mình! Vẫn cái dáng thân thiết lẫn chất giọng hom hóm như thường lệ của vị giáo sư tiến sĩ này nhưng vừa bật ra cái câu ấy rõ ra là không được! Đành một nhẽ ông giáo sư tiến sĩ này vốn vui tính (ông làm như chơi chơi mà hiệu quả việc phụ trách một Viện quan trọng của Bộ Giao thông vận tải trong nhiều năm. Hình như cái gene tài tử, cái máu văn chương của cụ thân sinh không biết đang nương náu và lặn ở trực hệ nào nhưng đã chơi trồi lên ở ông con trai thứ vào cái tuổi đã hưu này? Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Đào tự lái lấy chiếc xe con cóc thi thoảng lại rong ruổi Nam Bắc như thế và có hẳn mấy album nhạc mà nhiều ca khúc ông phổ thơ rất nhã đã được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam trên Đài truyền hình TW) với lại thường nhật, ông cư xử với rượu mực thước lắm, chưa khi nào thấy ông méo tiếng hay chuệch choạc để có một câu kém nhã với cái người đã từng là bạn vong niên với bố mình như thế kia? Thoáng ngay thấy có người chiếu cái nhìn gừ gừ về phía giáo sư tiến sĩ, Nguyễn Quang Sáng cười ngất chả nói đúng đó… Cái sự đúng ấy qua cái cười ngất của Nguyễn Quang Sáng thế này. Những năm ngày Bắc đêm Nam ấy, lui tới thường xuyên căn gác của Nguyễn Tuân ở cuối đường Trần Hưng Đạo có không ít anh em viết người Nam. Nguyễn Quang Sáng không biết có phải thường xuyên không và được hầu rượu cụ Nguyễn bao bận nhưng hình như có dạo ngắm ngó cụ Nguyễn thì ít mà liếc cô con gái cụ Nguyễn, em gái Nguyễn Xuân Đào thì nhiều!? Nguyễn con không tuột trên mâm bữa nay những lần hò hẹn, hay những sự chỉ non thề biển nào cả và cũng chả nói ra đây thái độ của Nguyễn cụ hồi ấy thế nào; nhưng có mấy bận Nguyễn cụ nheo mắt cười cười với Nguyễn con, rồi nhắc lại cái băn khoăn của bà vợ, cái hồi Nguyễn Quang Sáng mới tới căn gác Trần Hưng Đạo, cũng lạ cho ông cứ trịnh trọng với cái thằng con nít ấy (chỉ Nguyễn Quang Sáng)! Rồi nghe mà đâm thương thương cho chất giọng bồi hồi của Nguyễn con rằng, nếu không có đợt đi chiến trường đột xuất năm 1966 mãi năm 1972 mới ra ấy, biết đâu…


Đã lâu lắm rồi, nhà văn Nguyễn Thái Sơn kể: Lần đầu tiên đến Sài Gòn, tôi hỏi một người bạn viết văn: “Ông Nguyễn Quang Sáng là người thế nào?”. Đáp: “Ổng chịu chơi và chơi được”. Chịu chơi là chẳng ngán cái gì, kể cả công việc. Theo cách nói của cụ Mác, là tất cả những gì thuộc về con người đều không xa lạ với người chịu chơi. Chơi được thì ai cũng hiểu, chẳng cần bàn.


Đến nay, mấy nhà văn ở Hà Nội vẫn còn nửa đùa nửa thật hỏi tôi về cái “vụ” đi bia ôm với ông Sáng ở Khâm Thiên lần đó, khiến tôi cũng muốn nhân đây nói rõ thêm về chuyện này. Trong dịp Đại hội Nhà văn Việt Nam, cũng chẳng nhớ là lần thứ mấy, vào khoảng 1995, 1996 gì đó, một buổi tối tôi đang tiếp chuyện mấy người cùng ở trong nhà khách Hùng Vương, chợt nhà văn Nguyễn Quang Sáng đến. Vừa vào cửa ông đã nói: “Buồn quá, tao với mày đi chơi”. Hỏi đi đâu, ông đáp tỉnh queo: “Bia ôm”. Là Tổng thư ký Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, lại là Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn cả nước, ông nói cái chuyện đi bia ôm một cách tự nhiên, chẳng e dè gì. Cứ như nhiều vị quan chức mà tôi biết, lúc nào cũng lo “quan trên ngó xuống người ta trông vào”, có rủ nhau đi bia ôm bia ấp cũng chỉ thầm thầm thì thì, đi lén đi lút; chẳng ai như ông Sáng, nói oang oang giữa chốn đông người.


Dạo đó, tôi cho rằng mình còn trẻ, cái chuyện bia bọt ôm ấp chút đỉnh cũng chẳng chết ai. Ngày xưa, các bậc danh sĩ danh nho như cụ Nguyễn Công Trứ, cụ Tản Đà, cụ Ngô Tất Tố, cụ Nguyễn Tuân, và có thể cả “cụ” Vũ Trọng Phụng nữa, nào có lạ gì cái thú tiêu khiển vừa uống rượu (ngày ấy chưa sẵn bia) vừa nghe mấy cô đào non ngồi hát ả đào, hát cô đầu (nay gọi là ca trù). Cũng nhờ một lần mất ô khi đi cô đầu mà cụ Tú Xương viết được bài cực hay Mất ô, có những câu: Hỏi ô ô mất bao giờ/ Hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa/ Chỉn e rày gió, mai mưa/ Lấy gì đi sớm về trưa với tình. Bởi vậy mà tôi nghĩ giá có mất xe máy, nhờ vậy mà viết được bài thơ “Mất xe” chỉ hay bằng một góc Mất ô của cụ Tú, tôi cũng hả.


Phải nói ngay rằng, cuộc bia ôm hôm ấy làm tôi thất vọng. Chọn được một quán ưng ý ở Khâm Thiên, vừa dựng xe đã thấy hai cô gái từ trong xông ra tận cửa: “Chúng em mời hai anh vào”. Ông Sáng nói liền: “Chỉ có một anh thôi, tao là… ba”. Hai cô bảo lên gác ông phảy tay: “Khỏi, ngồi dưới này”. “Em tắt bớt đèn cho đỡ… chói mắt”. Nhà văn lại thủng thẳng: “Cứ để cho sáng”. Trời ạ, đi bia ôm là đi “thư giãn”, đã ngồi ngay ở quầy lễ tân, lại để đèn sáng, thì uống bia ở Nhà khách Hùng Vương, chứ đến đây làm gì.


Biết phận, tôi nháy cô sắc nước hơn sang ngồi với ông phía bên kia bàn, nhận cho mình cô tiếp viên coi bộ “già” hơn. Phía bên kia bàn “ba ba con con”, thành ra dù có “anh anh em em” ở bên này bàn, cũng chẳng tự nhiên chút nào. Mất cả thú. Ông toàn hỏi chuyện thời tiết, thời sự, giá cá giá rau ở Hà Nội. Thì ra cụ này đi bia ôm là để… lấy thực tế cho một truyện nào đó đang viết. Ngồi hơn tiếng đồng hồ - khoảng thời gian dài cho một bài diễn văn ở Đại hội nhưng lại quá ngắn với cuộc bia ôm, ông ra hiệu tính tiền rồi bảo tôi: “Tao chịu tiền chợ và boa cho con gái tao, mầy boa cho… bà xã mầy”.


Sẵn tiền lớn trong túi, ông thanh toán tiền bia, đồ ăn và boa cho “con gái” tờ năm chục ngàn. Ở Hà Nội thời điểm đó, giá này cao gấp hai lần giá “chuẩn”. Tôi bấm bụng noi theo đàn anh, hai tờ năm ngàn. Thời gian còn lại ở Đại hội Nhà văn, nhiều người nhìn ông Sáng, nhìn tôi với ánh mắt rất… đáng ngờ. Cỡ như ông Nguyễn Quang Sáng mà còn “mo phú”, thì tôi, là cái đinh gì mà phải bận lòng.


Con người ta, nếu có tham vọng về quyền chức, cũng là chuyện thường tình. Ở lĩnh vực khác, Nguyễn Quang Sáng có vọng có tham không, tôi chưa nghe ai nói. Đại hội Nhà văn Việt Nam cuối thập niên tám mươi, trúng Ban chấp hành Hội với số phiếu cao nhất, Nguyễn Quang Sáng chỉ chịu là “Phó tổng”. Bị nhiều anh em trẻ “chất vấn”, ông cười: “Tao ham vui, ở Sài Gòn quen hơn, ra hẳn ngoài Hà Nội không hạp”.


Tôi chợt cười một mình, nghĩ: cụ mà ra Hà Nội làm lớn, chẳng biết rồi sẽ ăn mặc ra sao mỗi khi chủ trì những buổi họp to, lễ trọng, những khi gặp lãnh đạo cấp cao. Mấy chục năm, kể cả những lần gặp ông ra Hà Nội vào mùa đông, chưa thấy ông mặc “đồ lớn” (complê) bao giờ. Thắt cà vạt, ông kêu vướng cổ. Tôi lại hỏi: “Nhiều người bảo anh ngang, là văn nghệ sĩ duy nhất vào Nam không chịu thay bút danh, chỉ chịu bỏ chữ Quang ở khúc giữa”. “Ai nghĩ vậy là chưa hiểu - Ông Sáng nói từ tốn - Đúng là mình tiếc cái tên đã quen với độc giả, không muốn đổi, nhưng nếu không có ông Thanh, sức mấy được”. Thì ra, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, khi lãnh đạo phong trào ở miền nam, đã có lần phát biểu, rằng cả thế giới người ta biết có hàng triệu chiến sĩ từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu, đổi bút danh văn nghệ sĩ là việc không thật cần thiết.


Nhà văn Nguyễn Quang Sáng được nhiều anh chị em viết trẻ ở phía Nam xếp vào nhóm sư phụ. Vuông chiếu lá dừa dành cho mấy vị tiên chỉ của làng văn bút có một chỗ dành cho ông. Ở góc chiếu hay giữa chiếu, chẳng ai lẩn thẩn xác định làm gì, và ông có chịu ngồi vào chiếu, hay thích xoa chân ngồi trên đám cỏ xanh, cũng khó mà biết. - Báo Văn nghệ công an, 20-11-2006.


Nhằm tôn vinh những nhà văn có những thành tựu to lớn trong sự nghiệp phát triển văn học của đất nước và khuyến khích những hoạt động sáng tác trong thời kỳ mới, ngày 29-7-2008, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Nhóm văn chương Hồn Việt tổ chức Hội thảo về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Sau báo cáo đề dẫn của nhà văn Triệu Xuân, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học như Hoài Anh, Lê Văn Duy, Trần Thanh Giao, GS. Nguyễn Văn Hạnh, Phan Hoàng, Lê Quang Trang, hai TS. Phạm Ngọc Hiền và Frank Gerke (người Đức, còn có tên tiếng Việt là Trịnh Công Long)… đã trình bày tham luận và phát biểu ý kiến nêu lên những thành tựu nổi bật về quá trình sáng tác văn học và nghệ thuật của Nguyễn Quang Sáng, trong đó thống nhất đánh giá cao tư tưởng chủ đề đặt ra trong tác phẩm, đặc biệt là cách viết, cách kể chuyện thoải mái, sinh động, có duyên, với lối văn có hình, cách sử dụng ngôn ngữ địa phương Nam Bộ đắc địa, tinh tế và hiệu quả. Chính vì vậy, nhiều tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng đã được dư luận đánh giá cao, có sức sống lâu bền và được bạn đọc yêu mến như Đất lửa, Nhật ký người ở lại, Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch, Chiếc áo thằng hình rơm, Mùa gió chướng, Cánh đồng hoang, Dòng sông thơ ấu…


Nhà thơ Lê Thị Kim đã đến dự hội thảo bằng quà tặng là một chai rượu Tây. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng nói vui, đã có hoa còn có rượu. Mọi người đều cười vang. Vui hơn nữa là bài Thơ tặng Nguyễn Quang Sáng do nhà thơ Nguyễn Duy gửi lại và nhờ Ban tổ chức - Nhà văn Triệu Xuân - đọc giùm, thay cho tham luận của mình, vì anh bận công tác:


“Nam Kỳ có bác Nguyễn Quang


Sáng dân Chợ Mới gốc làng Mỹ Luông.


Phong lưu từ thuở ở truồng


Vừa cầm bút đã ngoáy Con chim vàng.


 


Qua thời Đất lửa gian nan


Thênh thang một Cánh đồng hoang tung hoành


Mấy Mùa gió chướng qua nhanh


Dòng sông thơ ấu chảy thành ngày xưa


 


Còn Bông cẩm thạch đong đưa


Lược ngà chải tóc cho mưa… vẫn còn


Vẫn ngày mấy cữ rượu ngon


Và còn… đủ các loại Con trên đời


 


Con chim quên tiếng hót rồi


Thì Con gà trống gáy chơi vang nhà


Thêm Con Mèo Fu-ji-ta


Có mèo, có cả đôla đãi mèo


 


Kệ ai giả khổ, giả nghèo


Dù ai khen ỏng chê eo mặc lòng


Con ngoài hòa thuận con trong


Phúc-Lộc-Thọ được như ông… nhất đời!”.


Trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Quang Sáng tự nhận: “Tôi làm thơ từ nhỏ, nhưng thơ tôi dở, không dám đưa in, đành quay về viết văn xuôi. Rượu là một trong những bài thơ dở của tôi. Trên báo Văn nghệ số ra ngày 22-8-2009, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã bình luận:


RƯỢU


Trong mâm rượu


Nếu nói xấu người vắng mặt


Rượu sẽ thành thuốc độc.


 


Trong mâm rượu


Nhắc nhớ người vắng mặt


Rượu sẽ thành nước thánh


Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương.


Chỉ biết Nguyễn Quang Sáng qua văn xuôi, tôi ngạc nhiên thấy ông viết bài thơ trên trong tập thơ giấy dó bán đấu giá trong ngày Thơ Việt Nam lần thứ 5 của ban thơ đương đại, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh (thu được 286 triệu đồng làm quà tặng trẻ em nhiễm chất độc da cam). Tôi hỏi ông về bài thơ này, ông nói:


“Tôi làm thơ từ nhỏ, nhưng thơ tôi dở, không dám đưa in, đành quay sang viết văn xuôi. Rượu là một trong những bài thơ dở đó của tôi. Tôi cho là từ chất liệu cuộc đời trở thành văn chương giống như gạo nấu thành cơm và rượu. Văn xuôi của chúng tôi là cơm, thơ là rượu. Thơ là tinh chất của cuộc đời”.


Thơ và rượu, cổ kim đông tây đã đề cập đến nhiều, nhưng so sánh như trên, vẫn là những ý mới mẻ lý thú.


Trong bài Rượu, Nguyễn Quang Sáng đặt vấn đề về giao tiếp ứng xử bên mâm rượu, qua đó mỗi người tự thể hiện mình một cách rõ ràng nhất: hay dở, đúng sai, cao thượng hay thấp hèn… bộc lộ hết mình khó có gì che đậy.


Trong mâm rượu


Nếu nói xấu người vắng mặt


Rượu sẽ thành thuốc độc.


Chữ “thuốc độc” có quá nặng không? Tác giả hơi bị cực đoan chăng? Để dễ chấp nhận, thử thay bằng chữ nào đó nhẹ hơn một chút, chẳng hạn như: “cay đắng’. Thì chính rượu đã có vị đó rồi còn gì! Suy ngẫm kỹ thì thấy đây là câu nhắc nhở nghiêm khắc rất cần thiết đối với tất cả mọi người. “Rượu vào lời ra”, lời hay và lời dở; nói xấu người vắng mặt, nói sau lưng là tự bộc lộ cái chất tiểu nhân hèn mọn của bản thân. Từ đó rượu lại dễ dẫn dắt ta tới những động thái bất thường khác, dễ đưa ta vượt qua cái ngưỡng từ tốt qua xấu, từ sang thành hèn, mất nhân cách thậm chí thành thú tính chỉ trong một thoáng chốc! Trong thực tế thiếu gì những chuyện đau lòng do rượu gây nên. Như thế không nguy hiểm chết người sao? Chữ thuốc độc có tác dụng như ly rượu mạnh trở thành từ rất đắc địa. Văn chương giống như rượu vậy, không chấp nhận sự nửa vời, trung tính, pha loãng.


Trong mâm rượu


Nhắc nhớ người vắng mặt…


Chưa phải là ngợi khen hay nói tốt, chỉ cần “nhắc nhớ” thôi, cũng đã quý lắm rồi. Chữ “nhắc nhớ” rất gợi, dễ rung lên những sợi ân tình từ thẳm sâu tiềm thức.


Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh


Cũng một ly rượu mà sự khác biệt ghê gớm quá: thuốc độc giết người với nước thánh cứu người. Đoạn trên nghiêm khắc nhắc nhở, đoạn dưới thủ thỉ tâm tình chan hòa nhân ái:


Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương


Là nước thánh, trong đó nỗi nhớ thương hòa vào ly rượu thấm đậm tâm hồn ta. Nguyễn Quang Sáng trải nghiệm nhiều, ông đúc kết tình người, lẽ đời trong một bài thơ ngắn; từ đây, lại đặt ra vấn đề không nhỏ trong cuộc sống có thể khái quát thành một phạm trù văn hóa, đó là văn hóa trong tiệc rượu, gọi một cách dân dã là văn hóa nhậu. Giống như bản tính thẳng thắn bộc trực của tác giả, bài thơ không hoa lá màu mè, đi thẳng vào cốt lõi nhân văn, đụng đến điều gan ruột trong giao tiếp ứng xử, giản dị mà sâu sắc.


Nguyễn Quang Sáng cho đây là “một trong những bài thơ dở nhất’ khiến ông không làm thơ nữa mà quay sang viết văn xuôi. Nếu được phép đổi chục bài thơ “hay” khác lấy một bài thơ “dở” này, tôi cũng đổi!


(còn tiếp)


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »