tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994685
09.02.2009
Vũ Bằng
Bốn mươi năm nói láo (11)

Ngô Đình Diệm bị giết,


Muôn năm Ngô Đình Diệm


 


Hiện giờ, chưa ai biết rõ là phe quân nhân cách mạng nổi lên đảo chánh Ngô Đình Diệm lần thứ ba có nghiên cứu về tâm lý của người dân trước khi tiến đánh dinh Độc Lập hay không, nhưng có một điều chắc chắn là tình thế lúc đó đã chín muồi và dân chúng đã thấy cách gì cũng phải hạ ngay Ngô Đình Diệm. Phe cách mạng được dân chúng ủng hộ và làm hậu thuẫn nên đã thành công rực rỡ; nhưng sửa soạn được tâm lý quần chúng như thế, muốn nói gì thì nói, muốn bài bác thế nào thì bài bác, ai cũng phải nhận rằng báo chí đã đi tiên phong trong công việc chuẩn bị cách mạng, triệt hạ Ngô gia để mở đầu cho một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên tự do, dân chủ – dù lúc đầu chỉ là một thứ tự do, dân chủ đi tập tà tập tễnh.


Như trên kia đã nói, báo lậu không ngớt kêu gọi dân chúng nổi lên chống Diệm. Cuối năm 1963, lúc nào xe thiết giáp cũng nằm ụ trước dinh Độc Lập và Gia Long, đề phòng các cuộc biểu tình. Ngô Đình Diệm vừa tiễn đô đốc Harry D.Felt, Tổng tư lịnh tại Thái Bình Dương, được một lát, chưa kịp ăn cơm, thì tiếng súng nổ ran ở nhiều nơi trong đô thành. Quân đội rầm rộ chiếm đóng Tổng nha Cảnh sát, Đài Phát thanh, Nha Truyền tin, Bộ Nội vụ… Các lực lượng tấn công gồm có một đội pháo binh 105, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 4 Thủy quân Lục chiến, các đội khác chuyển từ Biên Hòa, Thủ Đức, Long An, Bình Dương. Sẩm tối hôm ấy, quân Cách mạng tấn công mạnh vào thành Cộng Hòa: nhiều sinh viên, phật tử được phóng thích. Lịnh giới nghiêm được ban hành trên toàn quốc. Hôm sau, dinh Gia Long bị chiếm; có tin Nhu Diệm tự tử, nhưng thực ra thì họ trốn về nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn và buổi trưa hôm ấy, có tin Nhu Diệm đã bị hạ sát thê thảm trong chiếc xe bít bùng từ nhà thờ Cha Tam về Sài Gòn.


Người ta muốn biết ai đã giết Diệm Nhu, nhưng không ai biết đích xác; dù sao Diệm Nhu chết đi thì đại đa số dân chúng cũng mừng. Có người tế con heo; có người lập bàn thờ cảm tạ trời đất; còn thì hầu hết nhà nào cũng làm tiệc, rủ bè bạn, thân thích đến để nhậu nhẹt cho “phỉ chí tang bồng”.


Một vài tờ báo nổi tiếng trung thành với Nhu Diệm, hay làm tay sai cho “con khỉ đột” Lê Quang Tung, chỉ huy Lực lượng Đặc biệt, tự động đóng cửa; chủ nhiệm, quản lý, chủ bút trốn luôn; còn đa số bị bịt mắt, bưng miệng lâu ngày, bây giờ tha hồ nói hươu, nói vượn, chạy theo Hội đồng Quân nhân Cách mạng và chánh phủ lâm thời, và đá những “cú hậu” rất hăng vào hai cái xác chết thối ra là xác Nhu và Diệm. Bộ trưởng Thông tin lúc ấy, thiếu tướng Trần Tử Oai, bị các hồ sơ đè trĩu cả đầu cả cổ, không biết phải đối xử với các báo thân Diệm và chống Diệm ra sao, đành phải vừa làm việc vừa nghe ngóng. Trong khi ấy thì báo được phép xuất bản như nấm; những tờ bị Nhu Diệm đóng cửa cũng tục bản; nhiều ông không hề biết báo chí là gì, thấy làm báo “hay hay”, cũng gửi đơn xin phép ra một tờ chơi cho hả, thành thử chưa bao giờ ở đây người ta lại thấy sự cạnh tranh gay gắt đến thế, mà nghề ký giả lại được mua chuộc và chiều đãi đến như thế.


Báo “Dân Chúng” đóng cửa một thời gian khá lâu, bây giờ lại ra. Tôi lại làm việc lại cho “Dân Chúng”, và ngoài tờ này, tôi còn làm tổng thư ký cho nhật báo “Tin Điện” do Thanh Tùng làm chủ nhiệm và hợp tác với Nguyễn Kim Sinh làm tuần báo trào phúng “Vịt Vịt”.


Từ khi tờ “Hòa Bình” đóng cửa, Nguyễn Kim Sinh bỏ nghề báo, xoay sang thương mại, và cuộc đời một dạo lên hương. Anh đặt văn phòng tại một bin đinh đường Catinat, thư ký ra vào ồ ạt, máy chữ, máy tính suốt ngày lách cách như mưa: hách lắm. Thường thường vào buổi chiều, tôi đến tìm Sinh trò chuyện, có khi nhắc lại hồi còn đi học trường Hàng Vôi; có khi bàn về thời thế; lại cũng có khi nhắc những kỷ niệm cũ như làm báo “Quê Hương” với Bùi Đức Thịnh, hay anh em chia nhau viết diễn văn cho Nguyễn Văn Tâm, đến lúc đưa cho Tâm coi thì cả hai giật nẩy mình, vì thấy Tâm quắc mắt và la lên: “Merde alors, c’est drôle, je peux pas écrire comme vous!” (Kỳ cục, tôi không thể nào viết nổi như các ông!). Nhắc những chuyện ấy, chúng tôi cười không chịu được. Chỉ có hai thằng tối nào cũng ngồi ở một cái bàn nhứt định trên thượng tầng nhà hàng Bồng Lai, vừa ăn uống, vừa nghe tân nhạc, thỉnh thoảng lại cười ha hả như ma. Chắc chắn thể nào cũng có người ngồi ở gần đấy cho chúng tôi nếu không điên khùng hạng nặng thì ít ra cũng phải là những anh lẩm cẩm hạng cha. Thực ra, tính toán làm ăn, giao thiệp với ngoại quốc như Sinh, Bộ trưởng Kinh tế Âu Trường Thanh khi đó cũng chưa dễ gì ăn đứt; nhưng cũng như hầu hết các ký giả, Sinh chỉ muốn làm tiền đến một mức nào thôi; một phần lớn thời giờ, nhất là về đêm, anh muốn dành ra để sống cho mình, cho nội tâm mình, và cho đòi hỏi sinh lý của mình, “tội gì mà khổ mãi, chẳng ra gì cũng quá nửa đời người rồi, phải không Tây Tím?”. Cứ từ khoảng mười một giờ trở đi, bao nhiêu chuyện Mỹ, Cuba, hay nội các cải tổ, hoặc con Ngô Đình Nhu đã đi Pháp cả rồi, chúng tôi đều bỏ hết để lo việc khác quan trọng hơn nhiều… Thực ra, tôi cũng không muốn bàn luận nhiều về các vấn đề chánh trị cũng như xã hội, vì mặc dầu chúng tôi là bạn, chơi với nhau từ nhỏ, không bao giờ giận nhau, không bao giờ bỏ nhau, nhưng nhân sinh quan của Sinh khác hẳn tôi, nên thường cứ nói đến những chuyện “đứng đắn”, thì thường mâu thuẫn, và muốn cho không khí đỡ gay gắt, thể nào cũng có một anh phải nhịn… Chính vì lẽ đó, tôi quan niệm chỉ chơi bời với Sinh và nói phiếm với nhau thì được, còn hợp tác thì có phần khó khăn, cho nên một buổi sáng, lúc Sinh cho con trai đến báo cho tôi biết anh mới được phép ra tuần báo trào phúng “Vịt Vịt” và rủ tôi chiều đó đến “Bồng Lai” bàn chuyện, thì tôi cảm thấy hơi ngài ngại, vì tôi cũng muốn nghĩ như Phan Khôi: “Ôi, đôi ta tình thương nhau đã nặng, mà hợp tác hẳn đà không đặng; để cho tình trước phụ sau, chi cho bằng thỉnh thoảng gặp nhau tán phét một vài câu!”(1).


Tuy vậy, tối hôm đó tôi cũng đến nhà hàng “Bồng Lai” bàn việc ra báo “Vịt Vịt” với Kim Sinh, và chúng tôi quyết định rằng hai anh em chúng tôi sẽ xoay trần ra làm với nhau, trước là để chửi cho bõ ghét mấy thằng ấm ớ mà sau là để có một cái cớ gặp nhau thường xuyên cho đỡ “trống trải cái rỗng không” của lúc chiều tà bóng xế. Thế rồi, tôi cũng nhận hợp tác với Kim Sinh làm tờ “Vịt Vịt”, mặc dầu ngoài sự mâu thuẫn về ý kiến, lập trường, tôi lại còn chủ trương rằng không bao giờ nên làm một tờ báo trào phúng mà bao nhiêu tiền vốn lại do bạn bỏ ra, mà mình chỉ có công thôi.


Làm một tờ nhật báo hay tuần báo thường, trong trường hợp ấy, không sao; nhưng một tờ báo trào phúng, đánh đập lung tung bậy bạ dễ bị chánh quyền đóng cửa như chơi; nếu mình làm mà bốc đồng lên, ngộ xảy chân tay viết một bài gì dớ dẩn mà bị đóng cửa, làm sao khỏi buồn lòng bạn?


Chính vì nghĩ như thế, trước Kim Sinh, tôi đã từ chối không hợp tác với nhiều người bạn khác rủ tôi làm báo; người thì bảo có ba triệu, nếu cần có năm triệu; người thì bảo có cách làm mới lắm, chắc chắn “ăn” chín mươi chín rưỡi phần trăm; lại có người khuyến cáo tôi đừng ngại, cứ nhận đi, vì “đã có một bọn đỡ đầu và giúp đỡ mọi phương diện; chỉ ăn chết chớ không lo hết vốn”. Đối với những người ngất ngư như vậy, tôi đều kính nhi viễn chi vì không làm với nhau thì còn bạn, mà làm chung với nhau thì mất bạn – kinh nghiệm đã dạy cho như thế rồi – nhưng đối với Kim Sinh thì không nhận không thể được. Thế là tờ “Vịt Vịt” ra đời, hai anh em chia nhau ra viết bốn trang lớn với đủ các mục theo kiểu tờ “Vịt Đực”. Nhưng nói cho thực, làm một tờ trào phúng, phải có nhiều thì giờ suy nghĩ, tán gẫu, mới có chuyện lâm ly quy phượng, chớ lấy nó làm cái phụ thì không thể nào xứng ý. Mà lúc ấy, tôi lại không thể bỏ hai tờ nhật báo “Dân Chúng” và “Tin Điện” để dồn hết cả chủ lực vào cho tờ “Vịt Vịt”.


Lúc ấy, Trần Thế Xương từ Pháp qua Cao Miên về nước, cho tục bản tờ “Dân Chúng”, tòa soạn lại đặt ở 24, đường Nguyễn An Ninh, vì cách mạng vừa hoàn thành công cuộc hạ Diệm thì Ngô Quân tự ý đình bản tờ “Saigon Mai”. Mặt khác, một người bạn chung của chúng tôi là Thanh Tùng vừa được phép xuất bản tờ “Tin Điện”, và có lòng yêu, đến tìm tôi thực sớm để rủ về làm tờ báo ấy. Phải nói rằng hồi ấy làng báo như có loạn, ngày nào cũng có chuyện lạ xảy ra: hôm thì có tờ tự ý rút lui như “Saigon Mai”, “Đồng Nai”; hôm thì dân chúng, trong đó có sinh viên, phụ nữ, công nhân, kéo nhau rầm rầm rộ rộ đến phá những tờ báo mà họ cho là bợ đỡ nhà Ngô, như những tờ “Saigon Mới” của bà Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, “Tiếng Chuông” của Đinh Văn Khai, “Chuông Mai” của Huỳnh Hoài Lạc, “Dân Nguyện” của Hà Thành Thọ, “Việt Nam Pờ Rét”, báo của nhà nước, lúc đó do Tôn Tất Thiện làm giám đốc (sau này nổi tiếng vì đã đóng cửa nhiều tờ báo). Các ông ký giả, chủ nhiệm của mấy tờ báo đó chạy chí chết; có nhà báo bị đốt máy, bị đập phá, tủ két mở toang ra, giấy in báo chở đi đâu không biết, hết xe này đến xe khác; nhưng bù lại, báo mới được phép xuất bản vô số kể, một trăm đơn gửi tới Thông tin thì chín mươi đơn được chấp nhận, thiếu tướng Trần Tử Oai, tự do dân chủ một cây xanh rờn, cho ra tuốt, chỉ sợ không có sức mà ra thôi. Người dân, bất cứ nói chuyện gì cũng lấy tự do dân chủ làm câu đầu lưỡi; báo chí cũng vậy, chửi không chừa một ai, không chừa một cái gì, chỉ kiêng nói có một thứ là sinh viên, vì chánh phủ lâm thời lúc ấy cũng phải nể sinh viên, huống chi là báo: ủy ban chỉ đạo sinh viên liên khoa đòi thanh trừng hàng ngũ giáo chức bị coi là mật vụ của chế độ cũ; học sinh trung học An Giang, Long An, Kiến Tường, v.v… biểu tình đòi thay ban giám đốc; học sinh trung học Huế biểu tình đòi các giáo sư đã làm mật vụ phải từ chức; sinh viên Huế đả đảo những chó săn, gà chọi của Ngô Đình Cẩn. Số báo hàng ngày ở riêng Sài Gòn, vào tháng Chạp năm 1963 tăng lên con số kỷ lục: 44 tờ. Ngành ký giả lên hương. Làng báo lâm vào tình trạng mà có hồi “Báo Mới” ở Hà Nội đã nêu lên: trai thiếu gái thừa. Làng báo Sài Gòn 1963 đặt trong một tình trạng báo thừa mà ký giả thiếu, do đó, người ta thấy phát động phong trào ký giả phải lấy tiền lương một tháng, hai tháng hay ba tháng trước, tờ báo nào không theo nguyên tắc ấy thì không chơi.


Không thoát được công lệ lúc đó để làm cho báo chạy, báo “Dân Chúng” cũng có những bài to tổ bố chửi chế độ Ngô gia và đánh đập ra rít bọn mật vụ của chế độ cũ như Dương Văn Hiếu, Lê Quang Tung, Cao Xuân Vỹ… Một phần các tài liệu dùng để viết rút tỉa ở cuốn “Nhật ký” của Ngô Đình Lệ Thủy, đã lượm được trong lúc đánh phá dinh Độc Lập, trong đó có nhiều sự việc mà người ngoài không biết, đại khái vụ vợ chồng Ngô Đình Nhu lên nghỉ ở Ban Mê Thuột bàn về việc làm “săng ta” Mỹ; vụ mụ Nhu, cáo đau bụng, bắt con gái đi dự tiệc “làm quen” với đại sứ Nolting; vụ “mua chuộc” phái đoàn điều tra về Phật giáo do Liên hiệp quốc cử sang liên quan tới Phụ nữ Liên đới và Phụ nữ Bán quân sự ra sao; vụ Ngô Đình Lệ Thủy thi tú tài trong đó có sự xếp đặt, bợ đỡ của các giám khảo như thế nào… Tất cả những tài liệu đó, do chính tay Ngô Đình Lệ Thủy ghi lại trong một cuốn nhật ký dầy, “Dân Chúng” đem ra khai thác. Đến vụ Ngô Đình Lệ Thủy thi tú tài, chúng tôi kêu đích danh một người vẫn tự nhận là quốc gia chính cống (có khi lại tự nhận là đệ tử) làm giáo sư đại học, đặt thành vấn đề chất vấn, thì viên giáo sư ấy không trả lời, lại thừa dịp phong trào dân chúng biểu tình phá báo, xuyên tạc vấn đề, xúi giục một bọn đến làm dữ ở trước cửa nhà báo, áp dụng quyền dân, đòi đóng cửa báo và đe dọa lấy gân lấy huyết của chủ nhiệm, chủ bút và cả lò nhà “Dân Chúng”.


Vốn là một người không có sức tin tưởng mạnh, ngay lúc cách mạng lên hò hét dân chủ tự do, tôi chỉ tin nửa chừng thôi; nay được thấy dân chúng biểu tình đòi sử dụng quyền dân, cho báo được sống thì sống, bắt chết thì phải chết, tôi phát ớn và thực tình tôi đã phì cười muốn chết khi thấy Trần Thế Xương đi họp với các ông cao cấp ngành thông tin và Đô trưởng Sài Gòn – Chợ Lớn về, cho biết rằng các ông “tử tế lắm và khuyên báo nên tự tạm đóng cửa vài ngày, vì cách mạng bận rộn nhiều việc quá, mà công lực thì chưa thể làm việc gì quyết liệt, hãy cứ chiều họ đã rồi liệu sau”. Tôi có hỏi riêng Trần Thế Xương, anh có hỏi các ông cao cấp ấy “liệu sau” là bao giờ, trong thời hạn nào, đến giới hạn nào không, thì Xương cười vàng khè mà bảo là quên chưa kịp hỏi, nhưng “có lẽ đến Tết Công Gô thì các ông mới đối phó và có lẽ cũng đến tết ấy thì mới rửa hết được tàn tích phong kiến, mị dân”.


Thấy cách giải quyết công việc của các ông lớn lúc bấy giờ “lãng nhách” và biết rằng nếu cứ làm báo tằng tằng như thế mãi thì rồi cũng chỉ bị ăn hiếp mà thôi, tôi bèn bước hẳn cả hai chân sang tờ “Tin Điện” của Thanh Tùng. Nếu đứng về phương diện thượng mại, vét khách kiếm tiền thì tờ báo này là hạng cua rơ đèn đỏ; nhưng tôi không quan tâm về điểm đó lắm bằng việc phải làm một tờ báo của những người đã nhúng tay vào mấy cuộc đảo chánh hạ Diệm, đã bị tù đày khổ sở, đã thoát chết và đã thành công. Tờ “Tin Điện” hội đủ những điều kiện ấy. Thêm nữa, tờ báo này thực ra không phải là của một người nào, nhưng là của một bọn anh em đã vào sinh ra tử với nhau, gồm có nhiều tướng tá, gom công góp sức tạo thành, để cho Thanh Tùng đứng trông nom, điều khiển, vì anh đã từng ra vào làng báo và thông thạo đặc biệt về việc lập mạng lưới thông tin, lại có sẵn những “ăng ten” tin tức không “chê” được.


Thanh Tùng biết tôi từ hồi còn làm báo ở Hà Nội. Vào đây, anh em ít gặp nhau, nhưng tôi nhớ có một việc làm cho tôi cảm xúc rất nhiều và do đó, anh em tuy hàng năm chẳng gặp nhau mà có thể sống chết với nhau bất cứ lúc nào. Một buổi sáng mùa thu, Thanh Tùng gọi điện thoại cho tôi báo cho biết là có một người bà con với Nguyễn Phổ, theo Ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến mới vào đây, muốn tìm tôi nói chuyện. Các bạn đọc thừa biết là mật vụ của Ngô Đình Nhu lúc đó đông đảo và gian ác đến chừng nào, nếu lộ ra thì tất nhiên Dương Văn Hiếu sẽ cho xuống hầm nằm suốt đời ở miền Trung. Nhưng biết rằng Thanh Tùng hiểu rõ cái tình tôi với Phổ keo sơn như thế nào rồi, và dù có thế nào đi chăng nữa cũng đành, tôi nhận lời với Thanh Tùng và ngày hôm sau anh đã sắp xếp rất chu đáo cho người bà con với Phổ gặp tôi tại một địa điểm rất kín ở ngoại ô Sài Gòn, nói chuyện trong hai mươi phút. Hai mươi phút trò chuyện, tuy chẳng có gì, nhưng đối với tôi rất quý, và vì nhờ Thanh Tùng, tôi đã gặp được một người thân và cũng nhờ anh, tôi tránh khỏi mang tiếng là một thằng hèn, có bạn nhắn gặp mà phải tìm đường lẩn tránh. Tôi giữ mãi kỷ niệm tốt đẹp ấy của Thanh Tùng, cho nên lúc anh đến tìm tôi rủ về giúp báo “Tin Điện”, tôi không ngần ngừ gì hết và sau này có lúc báo không có tiền, tôi cũng chẳng hỏi một lời nào để cho Thanh Tùng phải băn khoăn trong bụng. Là vì ngay từ lúc bắt đầu vào làm tổng thư ký nhật báo “Tin Điện” tôi đã biết rằng bọn người đứng ở đằng sau Thanh Tùng, cũng như chính Thanh Tùng, làm báo này không phải vì tiền, nhưng muốn lấy tờ báo ra làm cơ quan tranh đấu cho độc lập và dân chủ, và đưa ra cương lĩnh của nhóm, cho thế giới nói chung và người Mỹ và các nước bạn đồng minh nói riêng, biết đường lối hành động của anh em. Tất nhiên, một tờ báo như thế không thể bị chánh phủ cách mạng lúc đó coi thường mà những anh em bịp bợm mượn đầu heo nấu cháo, ném đá giấu tay, đội lốt cách mạng xúi giục biểu tình, đập phá đều không thể ấm ớ giở trò lếu láo.


Vì nhiệm vụ của tôi lúc ấy là thu thập bài vở, làm tít, làm mi, tôi có dịp được biết thêm nhiều anh em trong quân đội và cũng nhờ đó một phần lớn, tôi được làm quen với nhiều tài liệu mật, nhiều bức hình “quá xá” và thu thập được nhiều thư từ kín của những bộ trưởng, võ quan, thương gia “kính gửi bà cố vấn” hoặc xin ân huệ, hoặc xin che chở, hoặc báo cáo về các công việc mà “ông bà cố vấn đã rủ lòng thương mà ủy thác cho làm”… Nhà báo, thực ra, ngoài mấy cô thư ký đánh máy và phụ trách về quảng cáo, chỉ còn có một họa sĩ, một bỉnh bút, và Thanh Tùng với tôi. Trời nóng, chui xuống gầm bàn nằm cho mát để xem các bức hình và các tài liệu đủ các loại của các nơi gửi về rất kín, chúng tôi phải lắc đầu, chịu là sức người không thể nào tưởng tượng được lại có thể có những con người và những sự việc “mê ly, rùng rợn” đến như thế được.


Tính ra hơn một năm làm “Tin Điện”, tôi đã gặp được mấy cái lợi tinh thần. Thứ nhất, tôi được nghe và thấy những sự việc lạ lùng mà người ngoài tức chánh phủ, được thành lập, thành phần có năm tổng ủy viên, mười ủy viên, hai thứ ủy, lại cũng chẳng làm được trò gì, tháng Hai năm 1966, chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ lại cải tổ.


Rồi các vụ rối loạn ở miền Trung xảy ra, các báo lậu lại một phen hoạt động, truyền đơn rải như bươm bướm ở Sài Gòn, Gia Định đòi chánh quyền chấm dứt ngay các vụ rối loạn ấy. Trung tướng Thiệu kêu gọi rát cổ bỏng họng, các vụ rối loạn cứ tiếp diễn. Ông xác nhận tình trạng chiến tranh và ra lịnh đóng cửa các trường học mọi cấp. Các cuộc biểu tình diễn ra khắp nơi: ở Trần Quốc Toản, Đài Phát thanh, Bộ Thông tin. Đám nào cũng bị giải tán bằng lựu đạn cay. Xe jeep cháy vèo vèo. Nhà bị đốt; người chết nằm lăn ra đường cả đêm mới có người đưa đi. Sinh viên mười bốn phân khoa đại học Sài Gòn tuyệt đối chống các cuộc xáo trộn. Viện Hóa Đạo đóng cửa. Báo “Lập Trường” binh Thích Trí Quang. Báo “Sống” binh Thích Tâm Châu. Một nhóm chừng hơn một ngàn người tụ tập và biểu tình ba lần gần khu Trần Quốc Toản – Hiền Vương, kéo đến tờ báo “Sống” của Chu Tử đập phá và đốt cháy giấy in và xe máy. Phật tử và tăng ni đập phá nhà của Mỹ kiều, xung đột với lực lượng an ninh. Bị giải tán bằng lựu đạn cay, họ tràn ra ngả Cao Thắng, Trần Quý Cáp; nhiều truyền đơn chống chánh phủ, chống Mỹ tung ra khắp ngả đường.


Lúc ấy, tôi giúp Quốc An tổ chức nhật báo “Sao Trắng” của một đảng chánh trị ở đây. Anh em giúp việc gồm cả già lẫn trẻ, mục đích chính là đưa đảng lên, đứng vào hàng ngũ Phật tử chống lại đường lối của chánh phủ lúc bấy giờ.


Thực ra, làm một tờ báo như thế, phải là một người trong đảng, mà tôi thì không hề tuyên thệ hay đi lại với đảng bao giờ. Sở dĩ anh em chiếu cố là vì tình của Quốc An, giám đốc báo “Sao Trắng”; ngoài ra tôi lại cũng biết Xuân Tùng, người cầm chịch ở bên trong và Vũ Hồng Khanh, một người bạn cũ thường đi lại với tôi lúc ở Hà Nội, dưới thời Nguyễn Văn Tâm và Trần Văn Hữu. Sau nhiều cuộc hội họp ở những địa điểm khác nhau, anh Phương Hữu đứng ra làm tổng thư ký tòa soạn, còn bỉnh bút thì gồm cả trẻ lẫn già cho vui lòng… thiếu tướng Kỳ, vì ông này hăng lắm. Cũng như tổng thống Johnson, ông mới phát minh ra rằng những anh già từ ba mươi lăm tuổi trở lên đều là đồ ăn hại đái nát, chỉ có những tên trẻ mới làm việc và giúp nước được thôi. Tôi không biết tuyên bố trịnh trọng như thế, thiếu tướng có ý nói móc gì ông thủ tướng không, nhưng tôi nghiệm thấy rằng thiếu tướng Kỳ nói cũng đúng một phần nào: chẳng ai quá ba mươi lăm làm được trò gì; hết ngày ấy sang ngày khác chỉ xác nhận đi xác nhận lại rằng “chánh phủ không hề kỳ thị Nam Bắc hay tôn giáo”. Lòng dân trong nước lúc ấy chia rẽ vô cùng. Về mặt ngoại giao, tổng thống De Gaulle, nhân dịp đầu năm, chơi cho Hoa Kỳ một búa nặng trong thông điệp đầu năm gửi nhân dân Pháp:


“Chiến tranh bất công, bởi vì thực ra đó là do sự can thiệp vũ trang của Mỹ trên lãnh thổ Việt Nam; chiến tranh đáng bỉ, bởi vì nó dẫn dắt một đại cường quốc tàn phá một nước nhược tiểu. Nhân danh lý trí, lòng ưu ái của chúng tôi đối với Đông Dương, và tình thân hữu từ hai thế kỷ nay của chúng tôi đối với Mỹ quốc, chúng tôi thấy Mỹ cần phải chấm dứt cuộc thử thách bằng cách rút quân đội ở Việt Nam về nước”.


(còn tiếp)


Nguồn: Bốn mươi năm nói láo. Vũ Bằng Toàn tập, tập I. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu, trọn bộ 4 tập, hơn 4000 trang, khổ 16 x 24 cm. NXB Văn học, 1- 2006.


 


 


 







(1) Nguyên văn mấy câu thơ “Tình già” của Phan Khôi như sau:


                Ôi, đôi ta tình thương nhau thì đã đặng


                Mà lấy nhau hẳn đà không đặng


                Để cho tình trước phụ sau,


                Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »