tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21075334
Tiểu thuyết
02.06.2017
Henry Fielding
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1



CHƯƠNG XI


Môly Xigrim hút chết; cùng một vài nhận xét, nhân đó mà chúng tôi bắt buộc phải ngụp sâu vào trong lòng Tự nhiên.


Sáng hôm ấy, Tôm Jôn cưỡi một con ngựa của ông Wêtxtơn để đi bắn thành thử lúc này không có ngựa của anh trong chuồng ngựa nhà ông. Tôm đành đi bộ về nhà. Anh hối hả chạy hết ba dặm đường chỉ trong vòng chưa đầy nửa giờ đồng hồ.


Vừa về đến cổng ngoài, anh đã gặp ngay người cảnh vệ và bọn đi theo đang bắt giải Môly đến cái nhà nơi bọn người thấp cổ bé họng có thể học được một bài học hay, nghĩa là bài học biết kính nể các bậc bề trên; vì phải cho họ thấy rõ sự phân biệt sâu sắc số mệnh đã ấn định giữa những kẻ bị trừng phạt vì phạm tội, và những người phạm tội mà không bị trừng phạt. Nếu họ không học được bài học ấy thì tôi e rằng cũng rất khó mà họ học được một bài học có ích nào khác, hoặc rèn cho đạo đức của họ được tốt đẹp hơn tại nhà trừng giới.


Có lẽ một nhà luật học có thể nghĩ rằng trong trường hợp này, ông Oluơtdi đã phần nào vượt quá quyền hạn của mình. Và, thực ra tôi cũng tự hỏi rằng liệu ông hành động như vậy có phải là hoàn toàn chính đáng không, trong khi ông không có một nguồn tin đích xác nào hết. Tuy nhiên, bản tâm ông thực quá là thẳng thắn, vì vậy, ông cũng nên được tha thứ in foro conscientix( ) bởi lẽ hàng ngày biết bao nhiêu vị quan tòa đã có những hành động độc đoán mà không thể tự biện hộ bằng lý do trên.


Tôm vừa được người cảnh vệ cho biết họ sẽ đi đến đâu (chính anh cũng đã đoán biết rồi), liền ôm chầm ngay lấy Môly và âu yếm hôn cô ả ngay trước mặt tất cả mọi người, anh thề rằng anh sẽ giết chết đứa nào dám động đến người Môly. Tôm bảo cô lau mắt và cứ yên trí, vì cô đi đến đâu anh sẽ đi theo. Đoạn, quay lại người cảnh vệ lúc này đang trật mũ cầm tay, đứng run lẩy bẩy, Tôm lấy lời lẽ thật dịu dàng ngỏ ý yêu cầu anh ta hãy cùng đi về gặp cha mình một lát thôi (Tôm vẫn gọi ông Oluơtdi là cha); Tôm bảo chắc chắn hễ anh trình bày lý lẽ để bênh vực Môly thì cô gái sẽ được tha.


Người cảnh vệ sẵn sàng ưng thuận; tôi tin chắc ví thử Tôm đòi tha ngay Môly thì thầy cũng sẵn sàng tha ngay. Thế là mấy người quay lại phòng đợi nhà ông Oluơtdi. Tôm bảo họ chờ mình ở đó, đoạn đích thân đi tìm nhà điền chủ. Vừa thấy ông Oluơtdi, Tôm quỳ ngay xuống chân ông, xin ông hãy bình tĩnh nghe mình trình bày; rồi Tôm thú nhận rằng chính mình là cha đứa bé hiện Môly mang trong bụng. Tôm nài xin ông hãy thương lấy người con gái khốn khổ, và hãy nghĩ rằng trong việc này nếu có tội lỗi gì, thì chủ yếu là do anh gây nên.


Ông Oluơtdi giận dữ đáp:


"Nếu trong việc này có tội lỗi gì!" Mày lại phóng đãng sa đọa đến mức còn nghi ngờ không rõ việc vì phạm điều răn của Chúa trời và con người đặt ra, việc quyến rũ làm hại một người con gái đáng thương, có phải là một tội lỗi hay không à? Quả thật, ta thấy trách nhiệm về việc này, mày phải gánh lấy, mà trách nhiệm ấy quá nặng, mày cũng nên biết rằng nó sẽ làm cho mày không ngóc đầu lên được.


Tôm nói:


- Dầu số phận con ra sao đi nữa, con cũng xin cha chấp nhận lời con cầu xin tha người con gái khốn khổ kia. Con thú nhận rằng con đã quyến rũ cô ta; song cô ta có bị tàn hại hay không ấy là do cha quyết định. Thưa cha, vì lòng kính Chúa, xin cha hãy thu hồi lệnh tống giam và chớ bắt giải cô ấy tới một nơi mà chắc chắn cô ấy sẽ bị hủy diệt.


Ông Oluơtdi bảo Tôm lập tức đi gọi một người hầu. Tôm đáp rằng không cần thiết vì lúc nãy may mắn, anh đã gặp đám người nhà ở ngoài cổng lớn và tin tưởng vào lòng tốt của ông, anh đã đưa họ quay về phòng đợi, và hiện giờ họ đang ở đó chờ ông quyết định dứt khoát. Tôm quỳ xuống xin ông hãy rủ lòng thương Môly, cho cô ta được phép trở về nhà với bố mẹ, khỏi phải phơi mặt chịu đựng thêm sự nhục nhã và sự khinh bỉ quá mức cần thiết.


Tôm nói:


- Con biết rằng như thế là con đã cầu xin quá đáng, con biết chính con là đứa tồi tệ đã gây ra chuyện này. Con sẽ hết sức mình cố gắng chuộc lỗi; và từ rày nếu như cha rộng lượng tha thứ cho con, con hy vọng sẽ sống xứng đáng với sự khoan dung ấy.


Ông Oluơtdi ngần ngừ một lúc, cuối cùng, ông nói:


- Được, ta sẽ hủy bỏ lệnh tống giam. Gọi viên cảnh vệ về đây cho ta.


Lập tức thầy cảnh vệ được gọi đến, nhiệm vụ giao cho thầy bị xóa bỏ, và người con gái được tha.


Thực ra, ông Oluơtdi cũng không quên nghiêm khắc thuyết giáo cho Tôm nghe về chuyện này. Nhưng không cần thiết phải đưa bài thuyết giáo ấy vào đây, vì chúng tôi đã chép lại một cách trung thành những lời ông nói với Jenny Jôn trong quyển một phần lớn những lời ấy có thể áp dụng cho đàn ông cũng như cho đàn bà. Những lời trách mắng ấy đã có tác dụng rõ ràng đến chàng thanh niên, vốn không phải là một kẻ tội lỗi dạn dày. Anh ta lui về phòng riêng, ngồi suy nghĩ một mình suốt tối hôm ấy, coi bộ âu sầu.


Ông Oluơtdi đã rất bực mình vì việt Tôm làm bậy; mặc dầu những lời ông Wêtxtơn nói trên kia, song chắc chắn con người quý hóa này chưa hề bao giờ buông thả mình theo những thú vui phóng túng với đàn bà, và ông vẫn hết sức phê phán những hành vi trác táng của người khác. Quả thật, có rất nhiều lý do để cho rằng những lời ông Wêtxtơn nói là không đúng sự thật chút nào, đặc biệt là theo lời ông ta, những chuyện nhảm nhí ấy lại diễn ra tại trường đại học, là nơi ông Oluơtdi chưa hề bước chân tới bao giờ. Thực ra thì nhà điền chủ quý hóa có phần nào hay thích nói đùa theo lối ta thường gọi là "chớt nhả", song ta có thể dùng một tiếng ngắn hơn nhiều mà rất đúng nghĩa để chỉ lối nói đùa ấy; và có lẽ nhiều khi chúng ta vẫn dùng những tiếng khác thay thế cho cái tiếng này; vì rất nhiều điều vẫn được người đời coi là trí xảo và hài hước, thật ra, nếu như dùng một ngôn ngữ thật là chính xác, cũng nên nhận lấy cái tên gọi ngắn ngủi ấy, mà vì tôn trọng những quy tắc lịch sự của thói quen, chúng tôi không dẫn ra đây làm gì.


Song, dẫu rằng ông Oluơtdi có ghê tởm thói xấu này hay những thói xấu khác đến thế nào đi nữa, thì cũng không vì thế mà ông mù quáng. Nếu kẻ phạm tội có bất cứ một đức tính nào, thì ông cũng có thể nhận thấy ngay, rõ ràng như trường hợp trong con người ấy không có phần tội lỗi xen vào. Do đó, ngay khi ông đang tức giận vì hành trác táng của Jôn, ông cũng không kém vui lòng thấy anh là người biết trọng danh dự và trung thực, điều đó biểu lộ qua lời anh tự kết tội. Lúc này trong đầu ông đã bắt đầu hình thành ý kiến đánh giá anh chàng trẻ tuổi, ý kiến mà chúng tôi hy vọng bạn đọc cũng đã có. Đem cân nhắc tội lỗi cùng những đức tính tốt đẹp của anh, thì hình như cán cân nghiêng về phần đức tính tốt đẹp.


Lão Thoăckơm được cậu Blifin kể lại câu chuyện, bèn dồn tất cả sự thù hằn vào đầu anh chàng Tôm đáng thương, song cũng vô hiệu. Ông Oluơtdi kiên nhẫn nghe lão chỉ trích Tôm, đoạn lạnh lùng đáp: Đây là thói xấu mà những thanh niên có thể chất giống thằng Tôm thường thường vẫn mắc phải, song ông tin rằng Tôm đã xúc động một cách chân thành trước những lời ông răn dạy nhân việc này, và ông hy vọng nó sẽ không tái phạm nữa. Thành thử, ông thầy giáo đành chỉ biết nói cho hả cơn tức, theo cách thông thường của kẻ bất lực không trả thù được, vì thời đại của roi vọt đã chấm dứt rồi.


Xque là một tay khôn khéo hơn, tuy không nóng tính bằng Thoăckơm. Có lẽ lão còn thù ghét Tôm hơn cả Thoăckơm, nên lão ngấm ngầm bày mưu tính kế cho ông Oluơtdi ghét bỏ Tôm nhiều hơn nữa.


Bạn đọc hẳn còn nhớ những chuyện lặt vặt về con gà gô, về con ngựa và về cuốn kinh thánh đã được kể lại trong quyển 2 của cuốn truyện này. Hầu như vì những chuyện ấy mà Jôn lại được ông Oluơtdi thương yêu hơn trước chứ không phải là bị ông ghét bỏ. Tôi tin rằng nhất định nhiều người cũng có thái độ như vậy đối với Tôm, nếu họ có một chút ý niệm về tình bạn, về lòng cao thượng, về sự cao cả của tinh thần, nghĩa là những người còn có chút ít dấu vết của sự tốt đẹp trong tâm hồn.


Bản thân Xque cũng không phải là không biết tới cái ấn tượng thực mà những thí dụ về lòng tốt kia đã gây ra trong trái tim quý báu của ông Oluơtdi. Bởi vì nhà triết học hiểu rất rõ đạo đức là gì, mặc dầu có lẽ lão thường không kiên định trong việc noi theo đạo đức, còn như Thoăckơm thì, vì lý do gì tôi không khẳng định, không hề có một ý nghĩ nào tương tự nảy ra trong đầu lão. Lão nhìn Tôm với con mắt thù ghét; lão tưởng rằng ông Oluơtdi cũng ghét Tôm như lão, và sở dĩ ông quyết định không chịu từ bỏ đứa trẻ mà ông đã có hồi rất âu yếm, ấy là do sĩ diện và ngang ngạnh, bởi lẽ làm như vậy, ắt ông phải mặc nhiên công nhận rằng ý kiến của ông trước kia là sai lầm.


Do đó, Xque bèn vồ ngay lấy cơ hội này để giáng cho Tôm một đòn vào chỗ dễ cảm thấy đau nhất, và trình bày những sự việc đã kể ở trên với những màu sắc hết sức đen tối.


Lão nói:


- Thưa ngài, tôi rất ân hận mà nhận rằng tôi cũng như chính ngài đều đã lầm. Tôi thú nhận rằng trước kia, tôi đã không thể không vui lòng vì cái mà theo ý tôi cho là động cơ của tình bạn, mặc dầu tình bạn ấy đã đi đến chỗ quá trớn, mà phàm cái gì quá trớn cũng là tội lỗi và xấu xa; song về điểm này tôi cũng thông cảm cho là do tuổi trẻ. Tôi có ngờ đâu việc che giấu sự thực mà chúng ta vẫn tưởng nhằm phục vụ cho tình bạn, thực ra lại là đem đánh đĩ tình bạn, nhằm một dục vọng sa đọa và thấp hèn. Bây giờ thì ngài đã thấy rõ ràng cái xem như cao thượng mà người thanh niên kia đã tỏ ra đối với gia đình bác coi rừng là nhằm mục đích gì. Hắn nâng đỡ ông bố cốt để quyến rũ con gái, hắn giúp cho gia đình họ khỏi chết đói cốt đưa một người con trong gia đình này đến chỗ hổ nhục và tàn hại. Tình bạn đấy! Hào phóng đấy! Như tôn ông Richơc Xtiu có nói: "Kẻ phàm ăn trả giá cao những món ăn ngon, rất xứng đáng được gọi là hào phóng". Tóm lại, nhân việc này, tôi đã quyết định sẽ không bao giờ còn nhượng bộ sự yếu đuối của bản tính con người nữa, cũng không cho là đạo đức bất cứ điều gì không thật sự khớp với quy tắc không hề lầm lỗi của điều phải.


Lòng tốt của ông Oluơtdi đã giữ cho những ý nghĩ trên không tự nảy nở ra trong đầu ông. Song, một khi những ý nghĩ ấy lại do một người khác nói ra, mà xem ra có lý thì thực sự không thể tuyệt đối hoặc vội vã gạt đi. Quả thật, điều Xque nói đã ăn rất sâu vào tâm trí ông, và gây ra một tâm trạng băn khoăn mà Xque nhận thấy rất rõ, mặc dầu nhà điền chủ không muốn công nhận điều đó, ông chỉ đáp lại một câu qua loa, và cố lái câu chuyện sang một vấn đề khác. Có lẽ cũng là may cho anh chàng Tôm đáng thương mà những lời gợi ý tương tự đã không diễn ra trước khi anh ta được ông Oluơtdi tha thứ, vì nếu không, nhất định những lời ấy đã khắc sâu vào tâm trí ông một ấn tượng ban đầu rất xấu về Jôn rồi.


 


 


CHƯƠNG XII


 


Gồm những vấn đề sáng sủa hơn nhiều nhưng cùng chung một cỗi nguồn với những vấn đề nêu ra ở chương trên.


 


Tôi tin rằng bạn đọc sẽ vui lòng cùng tôi quay trở về với cô Xôfia. Sau lúc chúng ta gặp cô lần cuối cùng, cô đã trải qua một đêm không lấy gì làm dễ chịu lắm. Giấc ngủ đến đánh bạn với cô rất ít, và những giấc mộng lại càng ít hơn. Sáng ra, khi người đầy tớ của cô là chị Hônơ đúng giờ thường lệ đến hầu, thì đã thấy cô trở dậy và ăn mặc xong rồi.


Ở nhà quê, những người ở cách xa nhau hai ba dặm đường được coi là láng giềng sát nách, và tin tức về những chuyện xảy ra trong nhà này lan sang nhà kia nhanh chóng một cách không thể tưởng tượng được. Do đó, chị Hônơ đã nghe được toàn bộ câu chuyện nhục nhã của Môly. Vốn tính hay chuyện, vừa bước vào phòng cô chủ, chị đã bắt đầu kháo lại như thế này:


- Này, tiểu thư ạ, tiểu thư nghĩ thế nào? Cái con bé ta nom thấy ở nhà thờ hôm chủ nhật mà tiểu thư cho là xinh đẹp ấy mà - tuy rằng giá nhìn gần thì tiểu thư cũng chẳng cho là xinh đẹp đến thế đâu - nhưng chắc chắn đúng là nó đã bị đưa ra tòa xử tội vì tội chửa hoang. Cứ như cháu thấy thì con bé nom rõ ra một con đĩ trơ tráo; thật thế, nó đã gán cho cậu Jôn là cha đứa bé. Cả xứ đạo đồn ầm lên rằng ngài Oluơtdi giận cậu Jôn lắm, không thèm nhìn mặt cậu ta nữa. Đúng thế, cậu ấy ai mà không thương, nhưng đi tằng tịu với cái hạng người như vậy thì thật cũng không đáng thương lắm. Một công tử thượng lưu dễ thương quá, thế mà phải đuổi đi thì cháu cũng lấy làm buồn thay. Cháu dám thề rằng cái con đĩ kia cũng tấn công chẳng kém gì cậu ấy; xưa nay nó vốn là một đứa trâng tráo mà lại. Mà một khi con gái lại cứ sán đến như thế thì cũng chả nên trách phía người con trai; bởi lẽ, nhất định thế, việc họ làm chẳng qua cũng là lẽ tự nhiên thôi. Kể ra chung đụng với cái bọn "chó lê đuôi" ấy cũng mất giá trị thật, mà có xảy ra chuyện gì thì cũng đáng đời. Nhưng mà, nhất định thế, tội lỗi chủ yếu là về phần bọn đê tiện vô tích sự kia. Cháu thành thực mong cho chúng nó bị mang ra đánh đòn một lượt; vì chúng nó mà một vị thượng lưu bị tàn hại thì cũng đáng thương thật. Mà ai là người không thừa nhận cậu Tôm không phải là một thanh niên đẹp trai nhất xưa nay...


Chị ta đang thao thao nói đến đấy thì Xôfia kêu lên, giọng bực tức như chưa bao giờ nói với chị:


- Cớ sao chị lại đem những chuyện dớ dẩn ấy đến làm rác tai tôi? Cậu Jôn làm thì có liên quan gì đến tôi? Tôi thấy tất cả các người giống nhau hết; theo tôi, hình như chị tức giận vì nỗi sao không phải là trường hợp của chính chị.


Chị Hônơ đáp:


- Cháu ấy à, thưa tiểu thư! Cháu rất buồn vì tiểu thư lại có ý kiến như vậy về cháu. Cháu chắc chắn không một ai có thể nói về cháu như thế. Với cháu, tất cả mọi chàng trai trẻ trên đời đều có thể cho quỷ bắt hết đi. Chỉ vì cháu bảo rằng cậu ấy đẹp trai! Cháu nói cũng như mọi người ai cũng nói thế... mà nhất định thế, cháu chẳng bao giờ nghĩ rằng bảo một chàng trẻ tuổi là đẹp trai lại có gì xấu, nhưng thôi, nhất định thế, từ rày cháu sẽ không bao giờ cho cậu ấy là đẹp trai nữa; đẹp nết hơn đẹp người. Cái con đĩ đại ăn mày ấy!


Xôfia gắt lên:


- Thôi đừng có thao thao nói hỗn nữa. Xem cha tôi có đợi tôi xuống ăn sáng không?


Chị Hônơ vùng vằng đi ra, lẩm bẩm nói một mình, chỉ nghe rõ mấy tiếng: "Chết người thật. Thực đúng thế!".


Có thật chị Hônơ đáng bị cô chủ nghi ngờ như lời nói bóng gió vừa rồi không, đó là một vấn đề chúng tôi không thể giải quyết để thỏa mãn trí tò mò của độc giả. Tuy nhiên, chúng tôi cũng muốn đền bù lại bằng cách hé lộ ra những ý nghĩ trong đầu cô Xôfia.


Xin bạn đọc vui lòng nhớ lại hộ rằng một mối cảm tình kín đáo đối với Jôn đã dần dà len lỏi vào trong lòng cô thiếu nữ lúc nào mà cô không hề hay biết. Khi bản thân cô khám phá được điều đó thì cảm tình này đã phát triển đến một độ khá lớn mạnh rồi. Lần đầu tiên khi cô nhận ra những triệu chứng của nó, thì những cảm giác lại quá êm đềm thú vị; khiến cho cô không đủ cương quyết để kiềm chế hoặc đẩy lùi nó, và thế là cô tiếp tục ấp ủ một mối tình nồng nàn mà không hề xét tới những hậu quả của nó.


Chuyện cô ả Môly lần đầu tiên làm cho cô sáng mắt ra. Lần đầu tiên cô nhận thấy mình đã mắc một lỗi lầm yếu đuối. Sự nhận biết này tuy có gây ra một xáo động ghê gớm trong tâm hồn cô, nhưng cũng lại có tác dụng như một thứ thuốc làm cho người ta nôn, mửa và lập tức xua tan ngay được cơn bệnh.


Sự tác động này tiến hành nhanh chóng kỳ lạ và chỉ phút chốc, trong lúc chị hầu gái vắng mặt, đã xóa bỏ mọi triệu chứng. Lúc chị Hônơ quay lại báo tin cha cô cho gọi, thì cô đã hoàn toàn thanh thản, và đã có thể trở lại thái độ hết sức dửng dưng với Jôn.


Hầu như những căn bệnh của tâm hồn diễn ra giống hệt những căn bệnh của thể xác về mọi chi tiết. Vì lý do ấy chúng tôi hy vọng rằng các nhà y học uyên bác, mà chúng tôi vô cùng kính trọng, sẽ tha thứ cho chúng tôi, về sự cần thiết đã lạm dụng nhiều tiếng, nhiều câu mà chỉ các ngài mới có quyền sử dụng, nhưng không thế thì việc miêu tả của chúng tôi nhất định nhiều khi cũng thành ra khó hiểu.


Vậy thì trường hợp mà những căn bệnh về tâm hồn đặc biệt giống hệt những căn bệnh gọi là về thể xác chính là khả năng dễ dàng tái phát của cả hai loại. Điều này thật quả rõ ràng trong những thứ bạo bệnh như thói cao vọng và thói biển lận. Tôi từng thấy có kẻ chữa lành bệnh cao vọng tại triều đình nhờ những chuyện bất như ý liên tiếp (tức là thứ thuốc duy nhất chữa bệnh này), thế mà bệnh cũ lại tái phát trong vụ giành nhau ghế chủ tịch Ban hội thẩm tòa đại hình; và tôi lại nghe nói có một người đã thắng được thói biển lận khá đến nơi đến chốn, đến mức đã nhiều lần phân phát cho cả những đồng sáu xu, vậy mà cuối cùng, khi sắp từ giã cõi đời, còn tự an ủi bằng một cuộc mặc cả rất khôn khéo và có lợi về việc ma chay của chính mình với một bác chủ đòn đám ma là chồng người con gái độc nhất của lão.


Trong chuyện yêu đương, mà do triệt để tôn trọng triết lý khắc kỷ, ở đây chúng tôi sẽ coi như một căn bệnh, thì khả năng dễ dàng tái phát ấy lại cũng rõ ràng không kém. Điều ấy đã xảy ra với cô Xôfia đáng thương; sau đó, ngay lần đầu tiên gặp lại Tôm Jôn, bao nhiêu triệu chứng trước lại phát ra, và từ đó trở đi, những cơn kịch bệnh khi nóng khi lạnh cứ thay phiên nhau mà giày vò trái tim cô.


Bây giờ cảnh ngộ của cô thiếu nữ khác trước nhiều lắm. Mối tình nồng nàn trước kia êm đềm thú vị biết bao, may lại hóa thành một con bò cạp trong lòng. Cô đem hết sức lực ra chống cự lại, viện đủ mọi lý lẽ mà lý trí (ở tuổi cô, thế là có lý trí mạnh mẽ một cách kỳ lạ rồi) có thể gợi ý, để chế ngự và xua đuổi mối tình ấy. Cô đã thành công khá nhiều trong việc này, đến mức bắt đầu hy vọng rằng thời gian và sự vắng mặt sẽ chữa cho cô khỏi hẳn bệnh. Do đó, cô quyết định hết sức tránh mặt Tôm Jôn; và muốn thế, Xôfia tính chuyện đi thăm bà cô một chuyến; cô tin chắc cha cô sẽ ưng thuận cho cô đi.


Nhưng số mệnh vốn còn nuôi những dự định khác, đã lập tức chấm dứt ngay những hành động này bằng cách run rủi cho một sự ngẫu nhiên xảy ra, như sẽ được kể lại trong chương sau.


 


 


CHƯƠNG XIII


 


Xôfia gặp một tai nạn ghê gớm. Cử chỉ hào hiệp của Jôn và cái hậu quả còn đáng sợ hơn của cử chỉ ấy đối với cô tiểu thư, cùng mấy lời bàn rộng về nữ giới.


 


Ông Wêtxtơn mỗi ngày một yêu quý Xôfia hơn, đến mức ngay cả những con chó yêu dấu của ông cũng phải nhường chỗ cho cô trong phần tình cảm của ông. Nhưng ông cũng không đành lòng rời bỏ được chúng, cho nên ông mới nghĩ ra một cách rất khôn ngoan là cứ nhất định buộc Xôfia cùng cưỡi ngựa đi săn với ông, để vừa được gần bầy chó, lại vừa được gần con gái.


Xôfia coi mỗi lời nói của cha là một pháp lệnh; cô sẵn sàng chiều theo ý muốn của cha, mặc dầu không thấy thú vị một chút nào trong việc săn bắn, vốn là một thú chơi "đàn ông" không thích hợp với tính tình cô. Tuy nhiên, cô đi theo nhà điền chủ già trong cuộc săn chẳng những vì vâng lời mà còn vì một lý do khác; cô hy vọng nếu cô có mặt thì sẽ kìm được tính sôi nổi của cha, và ngăn ngừa ông khỏi quá liều lĩnh mà gặp tai nạn.


Trở ngại lớn nhất lại chính là điều trước kia đã hấp dẫn cô, nghĩa là cứ phải luôn luôn gặp mặt chàng Jôn trẻ tuổi, người mà cô đã quyết định tránh mặt. Nhưng hồi này mùa săn cũng sắp chấm dứt, cô hy vọng rằng qua một thời gian vắng mặt ngắn ngủi để đi thăm bà cô, sẽ có thể nhờ lẽ phải giúp mình thoát khỏi mối tình say mê bất hạnh kia; và nhất định sẽ có thể gặp mặt chàng ta trên cánh đồng trong mùa săn tiếp theo mà không ngại gì nguy hiểm.


Ngày thứ nhì cô đi săn, trên đường về, còn cách nhà ông Wêtxtơn chỉ một quãng đường ngắn, bỗng nhiên con ngựa cô đang cưỡi lồng lên; rõ ràng cô sắp ngã nhào xuống đất; con ngựa này vốn bất kham, phải là người giỏi hơn cưỡi nó thì mới trị nổi. Tôm Jôn đi sau một quãng ngắn thấy thế lập tức phi ngựa lên giúp sức. Vừa tới nơi, anh ta nhảy phăng xuống đất, nắm lấy cương ngựa của Xôfia. Con vật bướng bỉnh liền đứng dựng lên hai vó sau, hất người kỵ sĩ xinh đẹp hỏi lưng; Tôm vội đỡ ngay cô vào cánh tay mình.


Jôn cứ sắn đón hỏi xem Xôfia có bị thương ở đâu không, nhưng đang quá xúc động vì sợ hãi, cô không trả lời ngay được. Một lát, sau khi đã hoàn hồn, cô cho anh chàng biết rằng cô không việc gì, và cảm ơn anh đã săn sóc cô.


Jôn đáp:


- Thưa tiểu thư, nếu nhờ tôi mà tiểu thư vô sự, ấy là tôi đã được đền bù rồi; và tôi xin hứa với tiểu thư rằng, để tránh cho tiểu thư một sự tổn thương dù nhỏ nhất, tôi sẵn sàng chịu nhận một tai họa lớn hơn là tai họa đã xảy ra cho tôi nhân dịp này.


Xôfia băn khoăn hỏi lại:


- Tai họa gì vậy? Tôi hy vọng rằng công tử không gặp điều gì bất hạnh.


Jôn đáp:


- Xin tiểu thư chớ quan tâm, ơn Chúa, tiểu thư đã tai qua nạn khỏi. Nếu cánh tay tôi có bị gãy thì tôi cũng coi là việc không đáng kể so với điều tôi lo cho tiểu thư lúc nãy.


Xôfia liền kêu to lên:


- Công tử bị gãy tay? Lạy Chúa!


Jôn đáp:


- E rằng tay tôi quả có bị gãy; nhưng xin tiểu thư, hãy cho phép tôi được săn sóc tiểu thư trước đã. Tôi còn có cánh tay phải để hầu hạ tiểu thư, để đỡ tiểu thư sang tới cánh đồng bên kia; từ đó, ta chỉ đi một quãng đường ngắn là về tới nhà.


Nhìn thấy cánh tay trái anh chàng lủng lẳng bên sườn, lúc anh chàng dắt cô đi bằng tay kia, Xôfia không còn nghi ngờ gì nữa. Bấy giờ mặt cô tái nhợt, hơn cả lúc cô sợ cho chính mình. Tay chân cô run bần bật đến nỗi khó khăn lắm Jôn mới dẫn cô đi được. Và vì những ý nghĩ trong đầu cô cũng đang rối bời, nên không kìm giữ được mình, cô đưa mắt nhìn Jôn một cái nhìn đầy âu yếm, nó chứng tỏ rằng tâm hồn cô đang có một mối cảm xúc mạnh mẽ; mối cảm xúc mà ngay lòng biết ơn và sự thương xót kết hợp với nhau cũng không tạo nên được trong tấm lòng dịu dàng nhất của một người đàn bà, nếu không có một tình cảm mãnh liệt thứ ba nồng nàn hơn giúp sức.


Lúc tai nạn xảy ra ông Wêtxtơn đã đi quá lên phía trước một quãng đường. Lúc này ông cùng những người bạn săn khác đã quay lại. Cô Xôfia liền nói cho mọi người rõ Tôm đã gặp sự không may thế nào, và yêu cầu họ săn sóc anh. Lúc nãy thấy ngựa của con gái không có người cưỡi, ông Wêtxtơn sợ hết hồn; bây giờ biết Xôfia không việc gì, ông mừng quá vội kêu lên:


- Chỉ bị có thế thôi là mừng rồi. Nếu Tôm gãy tay, ta sẽ tìm một ông lang nắn xương chữa lành cho anh như cũ.


Nhà điền chủ xuống ngựa, cùng đi bộ về nhà với Jôn và con gái. Một người vô tình, gặp họ giữa đường, cứ nhìn nét mặt khác nhau của họ, ắt kết luận rằng chỉ có một mình Xôfia là nóm đáng thương hại, Jôn thì còn đang phấn khởi vì đã cứu được tính mệnh cho cô thiếu nữ mà chỉ bị gãy có một cái xương, ông Wêtxtơn tuy không thờ ơ trước tai nạn xảy ra cho Jôn, nhưng cũng còn đang hết sức vui mừng vì con gái được tai qua nạn khỏi.


Xôfia vốn tính rộng lượng nên đã coi cử chỉ vừa rồi của Jôn là một hành động vô cùng dũng cảm, nó để lại trong trái tim cô một ấn tượng sâu sắc. Rõ ràng không một đức tính nào lại thường khiến cho đàn ông được đàn bà ưa thích bằng đức tính này; nếu như ta tin được ý kiến thông thường thì ấy là vì phụ nữ bẩm sinh nhút nhát quá đến nỗi theo Ôxbooc tiên sinh thì một người đàn bà "là một sinh vật hèn nhát nhất mà Thượng đế đã tạo ra". Ý kiến này đáng chú ý vì tính chất bộc trực nhiều hơn vì giá trị chân lý. Tôi tin rằng trong cuốn chính trị học, Arixtôt đã tỏ ra công bằng hơn đối với họ khi nói: "Tính e lệ và chịu đựng của đàn ông và đàn bà khác nhau. Vì sức chịu đựng thích hợp với đàn bà, nếu ở người đàn ông sẽ chỉ là hèn nhát; và tính khiêm tốn thích hợp với đàn ông thì ở người đàn bà là trâng tráo". Có lẽ ý kiến cho rằng sở dĩ đàn bà đặc biệt có khuynh hướng ưa thích những người can đảm vì đàn bà quá nhát sợ, về mặt đúng cũng không có giá trị hơn. Tôi nhớ rằng Bailơ tiên sinh (trong bài viết về Hêlen) đã giải thích điều đó một cách đáng tin hơn, là do đàn bà rất yêu thích sự vinh quang. Về giá trị chân lý của ý kiến này, chúng ta đã có thẩm quyền của tiên sinh đảm bảo, vì hơn ai hết, tiên sinh có cái nhìn sâu sắc nhất về bản tính con người. Tiên sinh đã đưa nữ nhân vật chính của tập Ôđytxê do tiên sinh viết, ra mắt độc giả với tư cách một mẫu mực lớn lao về tình yêu và lòng chung thủy giữa vợ chồng; tiên sinh cho rằng tình yêu thương của Hêlen đối với chồng chỉ có một nguồn gốc duy nhất là sự vinh quang của anh.


Dù thế nào đi nữa, chắc chắn là vụ tai nạn ấy đã tác động đến tâm hồn Xôfia rất mạnh, và xét vấn đề cho kỹ hơn, tôi muốn tin rằng ngay lúc bấy giờ, cô Xôfia kiều diễm cũng để lại một ấn tượng không kém sâu sắc trong trái tim cậu Jôn. Sự thực thì ít lâu nay trái tim anh chàng đã rung động trước sức mạnh không thể cưỡng lại được của sắc đẹp cô nàng.


 


 


CHƯƠNG XIV


 


Một ông thầy thuốc tồi. Việc điều trị của ông, và một cuộc đối thoại dài giữa Xôfia và người hầu gái.


 


Khi mọi người về tới gian phòng lớn nhà ông Wêtxtơn, cô Xôfia, từ nãy vẫn lảo đảo bước đi một cách khó khăn, lúc này ngồi sụp ngay xuống một chiếc ghế; nhưng nhờ người nhà cho uống dung dịch nước đái quỷ và uống nước đá, cô không đến nỗi ngất đi; lúc ông thầy thuốc được mời đến chữa cho Jôn tới thì cô đã tỉnh táo hẳn. Ông Wêtxtơn cho những triệu chứng ấy là do con gái ông ngã ngựa, nên ông khuyên cô nên chịu cho chích ngay ít máu để đề phòng. Ý kiến này được ông thầy thuốc ủng hộ. Ông ta đưa ra nhiều lý lẽ khuyên nên chích máu, và dẫn ra nhiều trường hợp những người bị sẩy thai vì không chích máu. Nghe nói, nhà điền chủ đâm ra hết sức lo lắng, cứ một mực đòi con gái phải để chích máu.


Xôfia cũng chiều theo ý cha, tuy cô không muốn chút nào; tôi tin rằng cô không lo vì sợ hãi mà đến nỗi nguy hiểm như cha cô hoặc ông thầy thuốc nghĩ. Cô bèn duỗi cánh tay xinh đẹp ra, và nhà giải phẫu bắt đầu sửa soạn tiến hành công việc.


Trong khi người nhà bận rộn chuẩn bị dụng cụ, ông thầy thuốc nghĩ rằng sở dĩ cô còn ngần ngại là vì sợ, nên ông khuyên cô cứ yên tâm vì không có gì nguy hiểm cả; ông ta bảo không bao giờ xảy ra tai nạn do chích máu, trừ phi do sự dốt nát quái gở của bọn mạo danh thầy thuốc gây ra; ông lại nói ý một cách khá rõ ràng rằng trong trường hợp hiện tại không đáng lo về điều này. Xôfia nói cô không ngại điều gì hết, và cô nói thêm: "Nếu ngài có cắt đứt phải một tia động mạch, tôi xin hứa vẫn sẽ tha thứ cho ngài".


Ông Wêtxtơn kêu lên:


- Thật không? Mẹ kiếp! Lão mà làm con tôi bị tổn thương một tí gì, mẹ kiếp! Ta sẽ rút hết máu trong tim lão.


Viên thầy thuốc đồng ý chích máu cho Xôfia với điều kiện ấy, đoạn ông ta tiến hành công việc một cách vô cùng khéo léo như đã hứa, và cũng rất nhanh. Ông chỉ lấy ra một ít máu thôi, bảo rằng chích làm nhiều lần thì an toàn hơn là lấy ra ngay một lúc nhiều máu quá.


Cánh tay được băng bó lại xong, Xôfia lui về buồng riêng, vì cô không muốn có mặt lúc chữa cho Jôn (mà có lẽ như thế cũng không tiện chút nào). Thực vậy, một lý do khiến cô phản đối không chịu để chích máu (tuy cô không nói ra) vì công việc chích máu sẽ làm chậm lại việc băng bó cánh tay gãy của Tôm. Còn với ông Wêtxtơn, một khi có sự gì xảy ra cho Xôfia, ông chỉ quan tâm đến một mình cô con gái của ông mà thôi. Còn Jôn, anh ngồi như tượng "thần Nhẫn nại ngồi mỉm cười trước cái đau khổ". Tình thực mà nói, khi nhìn thấy máu vọt ra từ cánh tay xinh đẹp của Xôfia, anh cũng hầu như quên hẳn chuyện không hay đã xảy ra cho chính mình.


Bây giờ ông thầy thuốc mới ra lệnh cởi bỏ áo ngoài cho nạn nhân, chỉ để lại cái áo lót. Đoạn ông vạch áo để trần toàn bộ cánh tay, bắt đầu duỗi nó ra để xem xét, làm cho Jôn đau quá, nhiều lần phải nhăn mặt lại. Ông thầy thuốc thấy vậy, rất lấy làm ngạc nhiên, kêu lên:


- Làm sao thế, công tử? Không lẽ tôi lại làm cho công tử đau?


Đoạn ông nhắc cánh tay bị gãy giơ ra, bắt đầu một bài giảng dài dòng và uyên bác về khoa giải phẫu. Ông dẫn ra những trường hợp gãy xương đơn và gãy xương kép một cách rất chính xác, ông lại luận cả về việc Jôn đã có thể bị gãy tay trong nhiều tình huống khác nhau như thế nào, kèm thêm những lời chú thích về những trường hợp nào là nhẹ hơn, những trường hợp nào là nặng hơn so với trường hợp hiện tại của Jôn.


Cuối cùng, khi chấm dứt bài giảng thuyết vất vả, bài giảng mặc dầu cũng khiến cho đám người nghe rất chăm chú và khâm phục, song họ không thấy bổ ích gì lắm, vì thực ra những điều ông nói họ không hiểu lấy được một chữ, ông mới tiến hành công việc, và kết thúc nhanh chóng hơn cách ông bắt đầu rất nhiều. Ông ra lệnh cho Jôn phải nằm nghỉ. Ông Wêtxtơn buộc anh ta phải nghỉ ngay tại nhà ông, và quyết định anh phải ăn cháo loãng.


Trong số những người có mặt tại gian phòng lớn lúc chữa xương gãy cho Jôn, có chị Hônơ. Mọi việc vừa xong thì chị được cô chủ gọi lên gặp ngay để hỏi xem tình hình Jôn ra sao. Chị ta ra sức tán dương cái mà chị ta gọi là những cử chỉ hào hùng của anh chàng, những cử chỉ mà chị cho là rất hấp dẫn ở một người điển trai như vậy. Đoạn, chị lại ca tụng một cách nồng nhiệt hơn vẻ đẹp trai của Jôn, nêu lên nhiều nét đặc biệt, và cuối cùng, chị khen cái nước da trắng của anh.


Nghe cô hầu gái kể lại, vẻ mặt Xôfia lúc mừng, lúc lo; có lẽ điều này thoát khỏi cặp mắt sắc sảo của người hầu gái, nếu như trong lúc nói, chị ta chỉ nhìn vào mặt cô chủ một lần thôi. Nhưng vì có một tấm gương treo đối diện với chị một cách rất thuận tiện, tạo cho chị cơ hội quan sát những nét mặt mà chị vô cùng ưa thích, cho nên suốt trong lúc nói chuyện không một lần nào chị rời mắt khỏi đối tượng đáng yêu ấy.


Vậy là chị Hônơ hoàn toàn bị cuốn hút vào vấn đề chị đang trổ tài trình bày, và vào cái gương trước mặt, cho nên cô chủ đã có thì giờ tự trấn tĩnh. Đoạn, Xôfia mỉm cười, bảo với cô hầu gái:


- Đúng là em đã phải lòng cậu ta rồi.


Chị Hônơ đáp:


- Cháu mà yêu cậu ta; thưa cô! Cháu xin thề, xin thề có quỷ thần là cháu không hề yêu cậu ta.


Xôfia bèn nói:


- Em yêu cậu ta thì đã sao, việc gì phải xấu hổ vì chuyện ấy; cậu ta điển trai lắm cơ mà.


Chị kia đáp:


- Vâng, thưa tiểu thư, cậu ấy là người đẹp trai nhất, chưa từng thấy trên đời... Vâng, nhất định thế, cậu ấy đẹp trai thật, và như tiểu thư vừa nói, cháu cũng không hiểu sao lại xấu hổ vì yêu cậu ấy, mặc dù cậu ấy cao sang hơn cháu. Nhất định thế, những người thuộc dòng dõi thượng lưu thì cũng là xương là thịt như bọn kẻ hầu người hạ chúng cháu thôi chứ gì. Vả lại, về cậu Jôn thì, tuy tôn ông Oluơtdi đã nâng cậu lên địa vị thượng lưu, nhưng dòng dõi thì cũng chẳng hơn gì cháu. Cháu nghèo thật, nhưng cháu là con gái một người lương thiện; bố mẹ cháu lấy nhau có giấy giá thú tử tế, còn hơn vô khối người khác tuy họ vẫn cứ vác mặt lên. Úi dào ôi! Tôi nói cho mà biết chứ này, ông anh họ tôi ơi! Da cậu ta trắng thật đấy, nhất định thế, cháu chưa trông thấy ai có nước da trắng như vậy; nhưng cháu cũng là con chiên ngoan đạo như cậu ấy; đố ai dám bảo dòng dõi nhà cháu là hèn kém, vì ông nội cháu là một tu sĩ( ); cháu tin rằng ông cụ sẽ rất giận nếu thấy trong đám con cháu lại có một đứa nào đi kết hôn với cái hạng người bẩn thỉu, ăn thừa của con Môly Xigrim.


Có lẽ Xôfia cũng có thể dằn lòng nghe người hầu của mình cứ thao thao bất tuyệt về vấn đề này, vì cô không đủ can đảm chặn lại không cho chị ta nói nữa, mà bạn đọc chắc cũng đoán rằng việc này không phải là dễ. Quả thật, trong lời chị ta nói, có những câu cô thiếu nữ nghe không lọt tai chút nào. Tuy nhiên, rồi cô cũng ngăn cái dòng thác kia lại khi xem ra như nó cứ chảy mãi không cùng.


Cô nói:


- Tôi lấy làm lạ, sao chị dám cả gan ăn nói như vậy về một người bạn của cha tôi. Còn về cái con đĩ kia, tôi ra lệnh cho chị từ nay không bao giờ được nhắc đến tên nó với tôi nữa. Và chuyện dòng dõi của người thanh niên thượng lưu ấy, những kẻ nào không biết nói thêm điều gì để bôi nhọ người ta thì cũng nên im đi; tôi muốn từ giờ trở đi chị cũng thế.


Chị Hônơ đáp:


- Cháu rất ân hận đã làm cho tiểu thư phật ý, cháu chắc chắn tiểu thư thù ghét con Môly Xigrim thế nào thì cháu cũng thù ghét nó như vậy; còn như nói xấu cậu Jôn thì cháu có thể gọi tất cả những người làm trong nhà này ra làm chứng rằng bất cứ khi nào họ nói với cháu về chuyện con hoang, cháu đều bênh vực cậu ấy. Cháu vẫn bảo anh hầu việc thế này: "Bọn các anh, nếu là một đứa con hoang mà được thành một người thượng lưu, thì đố không muốn làm". Cháu lại bảo: "Tôi chắc chắn rằng cậu ấy là một người rất thương lưu lịch sự, cậu ấy có hai bàn tay trắng lắm và...", cháu lại bảo thế này: "Cậu ấy là một người tính tình dịu dàng, ôn hòa, tốt bụng nhất trần đời", và cháu còn bảo: "Tất cả mọi người làm trong nhà này và những người láng giềng quanh vùng đây ai cũng yêu mến cậu ấy". Mà, nhất định thế, cháu có thể kể cho tiểu thư nghe một câu chuyện nhưng chỉ sợ tiểu thư phật ý.


Xôfia nói:


- Chị có thể kể cho tôi nghe chuyện gì đấy, chị Hônơ?


- Tiểu thư ạ, quả có thế, cậu ấy cũng chẳng có ý gì đâu, nhưng cháu không muốn làm cho tiểu thư phật ý.


Xôfia nói:


- Chị cứ nói cho tôi nghe. Tôi muốn được biết ngay bây giờ.


Hônơ đáp:


- Thưa tiểu thư, tuần trước, một hôm cháu đang thu dọn thì cậu ấy bước vào phòng, cái bao ủ tay của tiểu thư để trên ghế; quả có thế, cậu ấy thọc luôn tay vào chính cái bao ủ tay hôm qua tiểu thư mới cho cháu ấy. Cháu bèn bảo: "Kìa, cậu Jôn, cậu làm doãng hỏng mất bao tay của cô tôi đấy". Nhưng cậu ấy vẫn không rút tay ra, lại hôn cái bao nữa, quả có thế! Từ bé đến giờ ít khi cháu được thấy ai hôn đằm thắm như cậu ấy hôn cái bao tay của tiểu thư.


Xôfia đáp:


- Tôi chắc cậu ấy không biết là bao tay của tôi.


- Tiểu thư hãy nghe đã. Cậu ấy cứ hôn đi hôn lại mãi, và nói rằng cái bao tay ấy đẹp nhất trần đời. Cháu mới bảo: "Kìa, cậu nhìn thấy nó hàng trăm bận rồi còn gì". Cậu ấy kêu lên "Phải, chị Hônơ ạ, nhưng trước mặt tiểu thư nhà chị thì ngoài chính tiểu thư ra, còn ai thấy được cái gì là đẹp nữa". Không phải là chỉ có thế đâu, nhưng cháu mong rằng tiểu thư không lấy làm phật ý, vì chắc cậu ấy cũng không có ý tứ gì đâu. Một bữa khác, tiểu thư đang ngồi dạo đàn cho cụ chủ nghe, cậu Jôn ngồi trong phòng bên, cháu thấy cậu ấy như có vẻ âu sầu, cháu mới bảo: "Kìa, cậu Jôn có chuyện gì vậy? Cậu nghĩ ngợi gì mê mải thế?". Cậu ấy như bừng tỉnh dậy, đáp: "Ô hay, cái nhà chị này, cô chủ thiên thần của chị đang chơi đàn, thì tôi còn nghĩ đến chuyện gì khác được nữa". Rồi cậu ấy xiết mạnh tay cháu, bảo: "Ôi, chị Hônơ, cái người đàn ông ấy sẽ hạnh phúc biết bao!". Rồi cậu ấy thở dài, cháu thú thực, hơi cậu ấy thở ra thơm cứ như mùi hoa... nhưng quả có thế, cậu ấy cũng chẳng có ý gì xấu. Cháu mong tiểu thư đừng nhắc lại chuyện này nữa nhé, vì hôm ấy cậu ấy đã cho cháu một đồng cua ron bảo cháu đừng có kể lại cho ai nghe, và lại bắt cháu thề trước một cuốn sách, nhưng cháu tin chắc không phải là cuốn kinh thánh.


Tôi sẽ không nói gì đến sắc mặt Xôfia lúc bấy giờ, cho tới khi nào người ta tìm ra được một màu gì đỏ đẹp hơn màu đỏ thắm. Cô ta nói:


- Hônơ, nếu chị đừng nhắc chuyện ấy nữa với tôi cũng như với bất cứ người nào khác, tôi cũng sẽ không bội ước với chị... tôi muốn nói là tôi không giận chị, nhưng tôi sợ cái mồm chị lắm. Mà này, về sau chị có lại dám tự do nói năng như thế nữa không?


Chị Hônơ đáp:


- Thưa tiểu thư, nhất định, thà cháu chịu bị cắt lưỡi còn hơn làm cho tiểu thư phật ý... chắc chắn như vậy, cháu sẽ không bao giờ hé môi nói nửa lời nếu tiểu thư không cho phép.


Xôfia bảo:


- Tôi không đời nào muốn chị nhắc lại chuyện ấy vì có thể câu chuyện sẽ lọt đến tai cha tôi, và người sẽ giận cậu Jôn mặc dầu tôi tin cậu ấy cũng chẳng có ý từ gì, đúng như chị nói. Chính tôi cũng sẽ tức giận, nếu như tôi nghĩ rằng...


Hônơ đáp:


- Không, thưa tiểu thư, cháu tin rằng cậu ấy không có ý tứ gì đâu. Lúc ấy cháu nghĩ cậu ấy nói năng như người mất trí, mà chính cậu ấy cũng bảo cậu ấy không tự chủ được khi nói ra những lời kia. Cháu mới nói: "Ấy, thưa cậu, tôi cũng tin thế". Cậu ấy đáp: "Đúng vậy, chị Hônơ"; nhưng xin tiểu thư tha lỗi. Cháu muốn cắt lưỡi cháu đi vì tội làm cho tiểu thư phật ý.


Xôfia bảo:


- Cứ nói đi. Chị cứ kể lại những gì lúc nãy chưa nói với tôi.


- Cậu ấy nói: "Phải, chị Hônơ ạ (ấy là ít lâu sau khi cậu ấy cho cháu đồng cua ron). Tôi không phải là một chàng công tử bột hay là một tên mạt hạng để nghĩ đến cô ấy với ý đồ nào khác mà chỉ coi cô ấy như một nữ thần của tôi; và chừng nào còn sống tôi sẽ còn tôn sùng, phụng thờ cô ấy như một nữ thần". Chỉ có thế thôi, thưa tiểu thư; cháu xin thề chỉ có ngần ấy. Thực tình, lúc đầu cháu giận cậu ấy quá đi mất, cho mãi tới khi biết cậu ấy không có tâm địa xấu cháu mới hết giận.


Xôfia nói:


- Chi Hônơ ạ, quả thật tôi tin là chị thành thực yêu mến tôi. Hôm nọ, tôi dọa đuổi chị là vì tôi đang bực mình. Nhưng nếu chị vẫn muốn ở lại với tôi, thì cũng được.


Chị Hônơ đáp:


- Nhất định, cháu chả bao giờ muốn xa tiểu thư. Thật thế, lúc bị tiểu thư dọa đuổi, cháu khóc tưởng đến hết cả nước mắt đấy. Nếu cháu có bụng muốn bỏ tiểu thư mà đi thì thật cháu là kẻ vô ơn bạc nghĩa quá, vì có bao giờ cháu kiếm được một chỗ làm tốt bằng ở đây. Cháu tin rằng cháu sẽ sống hầu tiểu thư cho đến lúc chết... vì, đúng như lời cậu Jôn tội nghiệp nói, sung sướng thay cái người đàn ông...


Đến đây, tiếng chuông báo giờ ăn vang lên cắt đứt câu chuyện đã tác động mạnh đến Xôfia, đến nỗi cô còn cảm ơn việc chích máu sáng nay hơn là ngay lúc bấy giờ cô đã sợ hãi không muốn để chích máu. Còn như tâm trạng cô lúc này ra sao, thì tôi sẽ theo quy tắc của Hôraxơ, không miêu tả nói ra, vì không hy vọng gì thành công. Đa số bạn đọc cứ tưởng tượng lấy cũng dễ dàng thấy rõ; một số ít còn lại không thể tưởng tượng nổi thì bức họa tôi vẽ ra có đúng đến đâu, họ cũng sẽ không hiểu, hoặc ít nhất cũng không công nhận bức tranh ấy là tự nhiên.


 


 


 


QUYỂN NĂM: GỒM MỘT KHOẢNG THỜI GIAN DÀI HƠN NỬA NĂM MỘT CHÚT


 


CHƯƠNG I


 


Về sự nghiêm túc trong việc viết văn;


vấn đề này đưa ra nhằm mục đích gì.


 


Cũng có thể trong tác phẩm dày cộp này, những phần khiến cho bạn đọc ít thích thú nhất lại là những phần đòi hỏi tác giả nhiều gian lao nhất mới viết nên được. Trong số đó, có lẽ có thể kể tới những bài tiểu luận mở đầu cho đoạn chép việc trong mỗi quyển. Chúng tôi đã quyết định rằng những bài tiểu luận ấy đặc biệt cần thiết cho loại văn chương này, như đã ấn định ngay từ đầu tác phẩm.


Chúng tôi thấy không nhất thiết phải gán cho quyết định nói trên một lý do nào hết. Chỉ nên biết rằng chúng tôi đã coi đó là một quy tắc cần được tôn trọng trong mọi sáng tác thuộc loại văn xuôi có tính chất vừa hài hước vừa hùng tráng, thế là đủ. Đã bao giờ có ai đòi giải thích lý do vì sao lại có cái quy tắc tinh vi về sự duy nhất của thời gian và không gian mà hiện nay được coi là cần thiết trong thể kịch thơ đâu? Đã có nhà phê bình nào bị chất vấn rằng "Tại sao sự việc trong một vở kịch lại không thể diễn ra trong hai ngày mà cứ phải là một ngày?". Hoặc "Tại sao không thể chở khán giả đi xa năm mươi dặm mà cứ phải là năm dặm (miễn là giống như các ứng cử viên, họ đi xa không mất tiền)? Đã có một nhà bình luận nào giải thích đầy đủ về sự hạn định mà một nhà phê bình cổ đại đã đặt ra cho thể kịch, nghĩa là cứ phải có năm hồi, không hơn không kém? Hoặc đã có ai trên đời này dự định giải thích điều mà các vị thẩm phán hiện đại về kịch gọi bằng từ "hạ cấp"; họ đã nhờ từ ấy mà thành công trong việc loại hẳn khoa hài hước ra khỏi sân khấu, và khiến cho kịch trường tẻ ngắt như một phòng khách?". Trong tất cả những trường hợp này, hình như thiên hạ đều theo một châm ngôn thể hiện quy tắc của chúng tôi đặt ra, đó là Cuicunque in arte sua perito credendum est( ). Có lẽ hình như khó mà quan niệm được lại có kẻ trâng tráo đến mức dám đặt ra những quy tắc giáo điều cho một ngành khoa học hay nghệ thuật mà không có một chút cơ sở nào hết. Do đó, trong những trường hợp ấy, chúng tôi dễ dàng muốn kết luận rằng về căn bản có những lý do chân chính và tốt đẹp, mặc dầu không may thay, chúng tôi lại không nhìn được xa thế.


Trong thực tế, người đời đã ca tụng các nhà phê bình nhiều quá, và cứ tưởng họ là những người sâu sắc lắm; kỳ thực đâu phải thế. Được chiều chuộng, mấy nhà phê bình ngày một táo gan dám tự ban cho mình một thứ quyền hành độc đoán, và đã khá thành công, đến nỗi bây giờ họ trở thành những ông chủ; nghiễm nhiên ban hành luật lệ cho các tác gia mà thoạt kỳ thủy chính những bậc tiền bối của các tác gia ấy đã ban hành luật lệ cho họ theo.


Nghĩ cho cùng thì các nhà phê bình cũng không hơn gì người thư lại, mà công việc là ghi chép những quy tắc, luật lệ được ấn định bởi những vị thẩm phán vĩ đại do sức mạnh rộng lớn của thiên tài đặt vào địa vị các nhà lập pháp trong nhiều môn học mà họ chủ tọa. Công việc ấy các nhà phê bình thời xưa khát khao đạt tới; họ cũng chẳng bao giờ đưa ra một lời phán quyết nếu không dựa vào thẩm quyền của vị quan tòa, từ đó có được lời phán quyết kia.


Nhưng rồi thời gian diễn biến và trong thời đại của sự ngu dốt, người thư lại bắt đầu lạm quyền, giành lấy cương vị ông chủ. Những quy tắc của việc sáng tác không còn được xây dựng trên cơ sở thực hành của tác gia nữa, mà theo mệnh lệnh của các nhà phê bình. Viên thư lại trở thành nhà lập pháp; ấy thế là những người thoạt đầu chỉ làm công việc ghi chép lại những luật lệ mà thôi, nay lại chính họ ban hành luật lệ một cách kiên quyết nhất.


Từ đó nảy ra một sự sai lầm hiển nhiên và có lẽ cũng là tất yếu không thể tránh được: bởi vì những nhà phê bình này vốn trình độ nông cạn, rất dễ lầm lấy hình thức làm nội dung. Họ hành động y như một vị quan tòa, cứ bám chặt lấy từng chữ khô cứng của điều luật mà bỏ mất tinh thần. Những nhà phê bình này xem những chi tiết vụn vặt, có lẽ ngẫu nhiên mà có trong một tác gia vĩ đại, như làm nên giá trị chủ yếu của tác gia ấy, rồi truyền đạt lại, coi đấy là những điểm cơ bản mà mọi người kế tục sự nghiệp của nhà văn kia phải noi theo. Thời gian và sự dốt nát, hai kẻ phụ tá đắc lực của sự lường gạt đã ban quyền lực cho những việc lấn quyền đó. Và cứ thế, nhiều quy tắc về sáng tác thế nào cho tốt được ấn định mà không hề có lấy chút cơ sở chân lý hoặc cơ sở tự nhiên nào, những quy tắc ấy, nói chung, chỉ có tác dụng gò ép và kìm hãm thiên tài cũng giống như giả sử những cuốn sách rất hay viết về nghệ thuật khiêu vũ, lại định ra một quy tắc cơ bản là mọi người đều phải đeo xiềng mà nhảy, thì sẽ kìm hãm ông thầy dạy khiêu vũ đến đâu.


Do đó, để tránh bị mang tiếng ấn định ra một quy tắc cho hậu thế, mà chỉ dựa trên cơ sở quyền lực ipse dixit( ), nói cho đúng sự thực chúng tôi cũng không tôn sùng gì quyền lực này lắm - ở đây chúng tôi sẽ khước từ đặc quyền nói trên mà nhiều kẻ đã cạnh tranh muốn có; và chúng tôi sẽ trình bày với độc giả vì lý do gì chúng tôi sẽ rải rắc xen khá nhiều đoạn tiểu luận lan man vào trong cuốn truyện này.


Và ở đây, vì cần thiết, chúng tôi đành phải mở ra một nguồn kiến thức mới mà, nếu như đã được khám phá ra rồi, thì theo tôi nhớ, cũng chưa từng được một nhà văn cổ đại hoặc hiện đại nào khai thác. Cái nguồn ấy chính là cái lối nêu tương phản, nó quán xuyến mọi công trình sáng tạo và xem chừng cũng có thể góp một phần quan trọng vào việc hình thành trong chúng ta ý niệm về mọi vẻ đẹp, vẻ đẹp tự nhiên cũng như vẻ đẹp nhân tạo: bởi vì cái gì chứng minh rõ rệt cho rẻ đẹp cũng như tính ưu việt của một vật, nếu không phải là mặt trái của chính nó. Cũng vậy, vẻ đẹp của ban ngày, vẻ đẹp của mùa hạ được nêu bật bởi những sự hãi hùng của ban đêm và của mùa đông. Và tôi tin rằng giả thử có trường hợp một người nào đó chỉ trông thấy ban ngày về mùa hạ, ắt họ cũng chỉ có một ý kiến rất thiếu sót về cái đẹp của những khoảng thời gian này.


Song, để khỏi có vẻ trang trọng quá, có nên ngờ rằng trước mắt một người đàn ông chưa hề bao giờ nhìn thấy một người nào thuộc nữ giới, thì vẻ duyên dáng của một người đàn bà xinh đẹp nhất cũng không bổ ích gì chăng? Hình như chính các bà các cô hiểu rất rõ điều này, cho nên họ tốn công phu kiếm bằng được những vật làm nền; hơn thế, họ còn lấy chính bản thân họ để làm nền cho họ. Vì tôi đã từng quan sát (đặc biệt ở Suối Tắm) thấy họ cố sức làm ra vẻ cực kỳ xấu xí vào buổi sớm, cốt để tối đến làm nổi bật được cái sắc đẹp họ muốn phô trương ra cùng các bạn.


Nhiều nhà nghệ sĩ đã nắm được bí quyết trên trong thực hành, mặc dầu, có lẽ có người cũng chưa nghiên cứu về mặt lý thuyết. Người thợ kim hoàn hiểu rằng một viên kim cương đẹp nhất cũng cần đến một vật làm nền, và nhà họa sĩ do vẽ những bức tranh có hình ảnh tương phản thường được công chúng nhiệt liệt tán thưởng.


Một thiên tài lớn trong bọn chúng tôi sẽ minh họa cho vấn đề này một cách đầy đủ. Quả thật, tôi không thể xếp thiên tài ấy dưới một đề mục chung với những nhà nghệ sĩ tầm thường, vì thiên tài ấy xứng đáng được đặt lên hàng:


Inventas, qui vitam excoluere per artes


Những người làm phong phú cuộc đời bởi nghệ thuật họ đã sáng tạo ra.


Ở đây, tôi muốn nói tới nhà sáng tạo ra cái trò giải trí thú vị tuyệt vời, gọi là kịch câm Anh.


Trò giải trí này gồm có hai phần mà người sáng tạo ra nó gọi phân biệt bằng hai danh từ: phần nghiêm trang và phần hài hước. Phần nghiêm trang trình bày một số vị thần và anh hùng ngoại đạo; rõ ràng là đám người chán ngắt và tẻ nhạt nhất được giới thiệu với khán giả; và đây là một bí quyết ít người biết thực sự người ta chủ trương làm thế, cốt cho nó tương phản với phần hài hước của trò giải trí, và để trình bày những trò ảo thuật của Haclơcanh( ) được nổi bật có ý vị hơn. Như thế, có lẽ cũng là đối xử không được lịch sự lắm với những nhân vật ấy; tuy nhiên, sự phát minh này cũng khá tài tình và đã có hiệu quả. Bây giờ điều này sẽ bộc lộ ra rõ ràng, nếu như đáng lẽ dùng chữ nghiêm trang và hài hước, chúng tôi lại dùng chữ tẻ hơn và tẻ nhất; vì rõ ràng phần hài hước là phần tẻ nhạt hơn bất cứ cái gì trước khi được trình bày trên sân khấu, và nó chỉ có thể được làm cho nổi bật bằng cách dùng cái mức độ tẻ nhạt cao hơn bao hàm trong loại nghiêm trang. Quả tình, các vị thần và anh hùng kia nghiêm trang một cách không thể tha thứ được, đến nỗi Haclơcanh (tuy rằng vị thượng lưu nhân vật người Anh trùng tên không hề có họ hàng gì với nhân vật người Pháp này, bởi lẽ anh ta thuộc loại tính tình nghiêm trang hơn nhiều) luôn luôn được tán thưởng trên sân khấu, vì đã cứu khán giả thoát khỏi những ông bạn chán ngấy.


Những nhà văn khôn ngoan thường thực hiện nghệ thuật tương phản này hết sức thành công. Tôi đã rất ngạc nhiên không hiểu sao Hôraxơ lại bắt bẻ chê bai nghệ thuật này ở Hôme; nhưng thật ra ngay ở dòng tiếp theo, Hôraxơ đã lại mâu thuẫn với chính mình:


Indignor quaudoque honnus dormitat Homerus


Verum operi longo fas est obripere somnum


Tôi cho rằng giả sử có khi nào Hôme vĩ đại ngẫu nhiên ngủ quên đi,


Thì những giấc ngủ thiu thiu cũng có quyền lần mò vào tác phẩm dài.


Ở đây, chúng ta không nên hiểu rằng một tác gia thực sự lại ngủ quên đi trong khi đang viết văn, như có lẽ có một số người hiểu. Thực ra thì độc giả mới là người dễ bị buồn ngủ; song nếu tác phẩm quá dài như tác phẩm của Onmixơn thì chính bản thân tác giả cũng lấy làm dễ chịu nếu như được ngủ thiếp đi một chút. Nhà văn là người như Pôpơ tiên sinh nhận xét:


Bản thân mất ngủ để giúp cho độc giả được ngủ.


Nói cho đúng sự thật, những đoạn văn gây ngủ này là những màn kịch nghiêm trang được xen kẽ một cách khéo léo nhằm gây tác dụng tương phản làm nổi bật phần còn lại, và đó cũng chính là ngụ ý của một nhà văn khôi hài đã quá cố, khi nói với người đọc rằng, hễ khi nào văn ông ta tẻ nhạt, người đọc hãy yên trí đấy là ông có chủ ý.


Như vậy dưới ánh sáng ấy, hay đúng hơn dưới bóng tối ấy, tôi muốn độc giả suy nghĩ về những đoạn tiểu luận giáo đầu này. Và sau đó, nếu độc giả lại có ý kiến là có thể tìm thấy nhiều đoạn khá nghiêm trang trong những phần khác của câu chuyện thì độc giả có thể bỏ qua những đoạn, trong đó chúng tôi thừa nhận mình đã ra công làm tẻ nhạt, và chuyển sang đọc những quyển tiếp theo, ở chương hai.


 


 


CHƯƠNG II


 


Cậu Jôn được nhiều người thân mật thăm hỏi trong thời gian nằm bệnh; một vài nét bút vẽ tình yêu mắt thường khó thấy.


 


Tôm Jôn được nhiều người đến thăm trong thời gian điều trị; tuy có lẽ cũng có vài người anh không thú vị lắm. Hầu như ngày nào ông Oluơtdi cũng gặp anh. Nhưng mặc dầu thương Tôm phải chịu đau đớn, và cũng hết sức tán thưởng cử chỉ hào hiệp đã khiến anh gặp không may, nhưng ông cũng nghĩ rằng đây là một cơ hội thuận tiện để giúp anh ta có ý thức đúng đắn hơn về thái độ thiếu suy xét của mình. Mà không có lúc nào lời khuyên bảo hữu ích nhằm mục đích kia lại có thể đem dùng một cách thích hợp hơn lúc này, khi tâm hồn Tôm đang dịu đi trong cơn đau đớn và lo lắng vì nỗi nguy hiểm, và khi sự chuyên chú của tâm hồn không bị khuấy động bởi những tình cảm mãnh liệt sôi nổi, vốn dễ khuyến khích ta theo đuổi lạc thú.


Do đó, hễ lúc nào nhà điền chủ có dịp ngồi một mình với chàng thanh niên, đặc biệt những khi anh ta hoàn toàn thư thái, là ông cũng nhân dịp nhắc nhở anh về những sai lầm anh đã phạm trước kia; song, với thái độ hết sức dịu dàng thân ái, chỉ cốt anh dè chừng trong cách ăn ở sau này. Ông bảo Tôm "Hạnh phúc của con chỉ phụ thuộc vào điều ấy thôi, cùng với lòng yêu thương mà con vẫn còn có thể hy vọng nhận được ở người cha nuôi; nếu từ giờ về sau, con không quên những lời cha khuyên bảo; vì cha sẽ quên và tha thứ hết mọi chuyện đã qua". Do đó, ông khuyên anh nên nhân tai nạn này mà rút ra một bài học có ích, sao cho cuối cùng chứng minh được rằng đấy là ơn Chúa ban cho anh.


Thoăckơm cũng rất chăm chỉ trong việc đến thăm Tôm. Lão cũng coi giường bệnh là một nơi thuận tiện cho việc lên lớp. Nhưng giọng điệu của lão nghiêm khắc hơn ông Oluơtdi. Lão bảo Tôm: "Anh phải coi việc bị gãy cánh tay là sự phán xử của Trời về tội lỗi anh đã phạm phải. Hàng ngày anh nên quỳ xuống đất mà dâng lời tạ ân Trời đã cho anh may mắn chỉ bị gãy tay chớ không bị gãy cổ, tức là điều rất có thể xảy ra trong một dịp sắp tới, mà có lẽ cũng không xa lắm đâu". Lão bảo "Về phần lão, lão vẫn ngạc nhiên không hiểu tại sao trước đây lại chưa có một sự phán xử nào giáng xuống đầu anh; song từ việc phán xử này, cũng có thể nhận thấy rằng sự trừng phạt của Thượng đế tuy chậm, song bao giờ cũng chắc chắn". Do đó, lão khuyên anh "hãy nên tiên liệu một cách không kém chắc chắn về những tai họa trong tương lai, và cũng như lần này, chắc chắn nó sẽ giáng xuống đầu anh là người đã bị Chúa ruồng bỏ". Lão nói: "Chỉ có thể tránh khỏi những tai họa ấy bằng cách thành tâm triệt để hối cải, nhưng cũng không hy vọng chờ đợi điều này ở một kẻ đã hư hỏng ngay khi còn trẻ và ta ECDIS rằng, tâm hồn anh đã hoàn toàn bị mục ruỗng. Tuy nhiên, ta vẫn có nhiệm vụ khích lệ anh hối cải, mặc dầu ta cũng thừa rõ rằng mọi sự khích lệ đều là vô hiệu. Song, liberavi animam mean( ), ta không thể lên án lương tâm ta về tội thờ ơ, mặc dầu đồng thời, với thái độ hết sức quan tâm, ta nhìn thấy anh đang đi trên con đường dẫn tới một thảm họa chắc chắn trên cõi đời này, và một sự trừng phạt chắc chắn ở thế giới bên kia".


Xque nói một cách khác hẳn. Lão bảo "Những thứ tai nạn như gãy một cái xương không đáng cho một người khôn ngoan quan tâm đến. Hãy nghĩ rằng những sự không may ấy cũng có thể xảy ra cho những kẻ khôn ngoan nhất trong nhân loại, và chắc chắn là điều tốt cho cả loài người, như thế cũng đủ cho mình cam chịu những chuyện rủi ro". Lão lại nói "Gọi những điều ấy là tai họa, thật là một sự lạm dụng danh từ, vì trong đó làm gì có sự không thích ứng về mặt tinh thần: nỗi đau đớn kia, tức là hậu quả tệ hại nhất của những tai nạn như vậy, chỉ là điều đáng khinh bỉ nhất trên đời", kèm theo nhiều câu tương tự rút ra từ quyển "Những vấn đề Tơxkiulan" của Tiuly, tập hai, và từ lời bá tước Saftơbơry vĩ đại. Lúc nói những lời này, một bữa, hăng quá, lão cắn ngay phải lưỡi, cắn thế nào mà không những lão phải chấm dứt ngay bài diễn thuyết, mà còn xúc động mạnh đến nỗi lão lẩm bẩm thốt ra một hai tiếng chửi; nhưng tai hại hơn cả là tai nạn này đã tạo cho Thoăckơm có mặt lúc đó, hắn vốn coi những lý thuyết như vậy là vô thần và ngoại đạo, một cơ hội để gán ngay đấy là một sự trừng phạt vào đầu lão Xque. Thoăckơm nói với một nụ cười giễu cợt hết sức quái ác làm nổ tung bầu máu nóng (nếu gọi được như vậy) ở nhà triết học mà việc cắn phải lưỡi đã khiến ông mất bình tĩnh. Bởi không thể trút cơn giận ra đằng mồm cho hả, nên rất có thể nhà triết học đã tìm một phương pháp thô bạo hơn để trả thù, nếu không, may thay, ông thầy thuốc lại có mặt trong phòng và đi ngược với quyền lợi của chính mình, ông ta đã can thiệp và duy trì được hòa bình.


Chỉ thỉnh thoảng cậu Blifin mới đến thăm bạn, và cũng không bao giờ đi một mình. Tuy nhiên, người thanh niên đáng quý này vẫn nhận là rất quan tâm đến Tôm, cũng như rất chú ý đến sự không may xảy đến cho bạn. Nhưng cậu ta thận trọng tránh mọi thái độ thân mật, e rằng vì vậy mà nhiễm hại đến tính chín chắn của mình, như cậu ta vẫn thường nói bóng gió; nhằm mục đích ấy, mồm cậu ta bao giờ cũng sẵn câu ngạn ngữ của Xôlômôn nói chống lại sự lây nhiễm cái xấu. Không phải cậu ta nói gay gắt như Thoăckơm, vì cậu ta vẫn luôn luôn tỏ ý ít nhiều hy vọng Tôm sửa đổi được. Cậu ta nói "Lòng tốt không ai bì được của bác cậu, trong dịp này, chắc chắn sẽ có tác động đối với một kẻ chưa hoàn toàn sa đọa", nhưng cậu ta lại kết luận "nếu sau đây Jôn còn phạm lỗi lầm nữa thì tôi cũng đành chịu không thể nói lấy một lời bênh vực cho anh ấy được nữa".


Còn tôn ông Wêtxtơn ít khi bước ra khỏi phòng dưỡng bệnh, trừ khi ông mắc bận trên đồng hoặc còn đánh bạn với chai rượu. Thỉnh thoảng, ông lại đem cả bia lui vào phòng dưỡng bệnh uống, việc này cũng không phải là không có khó khăn vì lẽ ông không được phép nài Jôn cùng uống rượu bia với mình. Chưa có tay lang băm nào đề cao thuốc hắn chế ra, coi là một thứ linh dược trị bá chứng, bằng khi ông đề cao rượu bia; theo ông, dược tính của rượu bia còn vượt xa mọi thứ thuốc trong cửa hàng bào chế. Tuy nhiên, vì người ta đã nài xin mãi nên ông mới đành lòng thôi không áp dụng thứ thuốc ấy nữa, nhưng không có cách nào giữ cho ông khỏi sáng sáng rúc lên một hồi tù và dưới cửa sổ phòng người bệnh mỗi khi ông đi săn và lúc vào thăm Jôn, ông cũng không bao giờ chịu bỏ cái thói hò hét vẫn quen mỗi khi nhập vào bất cứ đám đông nào, chẳng cần biết lúc ấy người bệnh đang thức hay ngủ.


Cái tác phong ồn ào ấy vì không nhằm chút gì ác ý, nên may mắn thay cũng không đưa đến điều gì tai hại và Jôn lại được đền bù rộng rãi, được gặp mặt Xôfia, vì khi anh chàng vừa ngồi dậy được, nhà quý tộc đã cho cô cùng vào thăm anh. Sau đó không lâu, Jôn đã có thể theo sang nghe cô chơi đàn thụ cầm, và cô đã vui lòng hạ cố khiến anh chàng trong hàng tiếng đồng hồ liền say mê với thứ âm nhạc tuyệt vời; chỉ trừ những lúc nhà điền chủ thấy cần bảo con gái ngừng lại và đòi chuyển sang cho nghe bản nhạc ông già Ximôn, hoặc một bản nhạc nào đó mà ông ưa thích. Mặc dầu Xôfia đã cố gắng giữ gìn ý tứ, nhưng cô cũng không thể tránh khỏi vẫn thỉnh thoảng để lộ ra một vài dáng vẻ bên ngoài: vì tình yêu cũng giống như một thứ bệnh, hễ không phát ra được chỗ này thì nhất định nó phải phá ra ở chỗ khác. Cái điều cô giấu kín không hé môi nói, thì cái cách cô nhìn, cô đỏ mặt và nhiều cử chỉ nho nhỏ khác mà cô không chủ động được đã tiết lộ ra.


Một hôm, trong khi Xôfia đang chơi đàn thụ cầm, Jôn ngồi nghe, thì nhà điền chủ bước vào trong phòng thấy anh, ông kêu lên:


- Này Tôm, ta vừa mới đấu một trận ở dưới nhà với lão mục sư Thoăckơm ngu độn để bênh vực anh đấy. Lão nói với ông Oluơtdi ngay trước mặt ta rằng anh bị gãy tay là bị trời trừng phạt. Ta mới bảo, mẹ kiếp sao lại thế được? Chẳng phải vì bảo vệ một thiếu nữ mà nó đến nỗi thế là gì? Trời trừng phạt thật ư! Úi dào ôi! Nếu nó không bao giờ làm điều gì xấu xa hơn thì nó sẽ được lên thiên đường sớm hơn tất cả mục sư trong nước này đấy. Nó có nhiều lý do để tự hào với việc làm ấy hơn là để hổ thẹn.


Jôn đáp:


- Thực thế, thưa ngài, con không có lý do để tự hào cũng như để hổ thẹn, nhưng nếu vì tai nạn ấy mà con bảo vệ được cô Wêtxtơn thì con sẽ luôn luôn nghĩ rằng đó là tai nạn đáng sung sương nhất trong đời con.


Nhà điền chủ nói:


- Lại vì việc ấy mà lão làm cho ông Oluơtdi ghét anh cơ chứ. Mẹ kiếp, nếu lão mục sư mà không bận áo đàn bà, thì ta đã quật cho lão một roi rồi. Vì, anh ạ, ta yêu quý anh lắm. Nếu sức ta giúp được anh điều gì mà không làm thì ta cứ bị trời phạt ngay. Sáng mai, tha hồ cho anh lựa chọn trong đám ngựa của ta trong chuồng, trừ con Sơvaliê và con Xlaosơ.


Jôn cảm tạ ông, nhưng từ chối không nhận ngựa. Nhà điền chủ nói thêm:


- Anh cứ chọn con ngựa cái màu hung mà con Xôfia vẫn cưỡi ấy. Nó đáng giá năm mươi ghini và đến mùa xuân này nó tròn sáu tuổi đấy.


Jôn giận dữ thốt lên nói:


- Con ấy dù có đáng giá một nghìn ghini con cũng không màng.


Ông Wêtxtơn đáp:


- Thôi, thôi! Vì nó đã làm cho anh gãy tay phải không. Hãy quên đi, và nên tha thứ. Ta nghĩ anh, một trang nam nhi, đâu lại thèm để tâm thù hằn một con vật không biết nói như vậy.


Đến đây, Xôfia xen vào và để chấm dứt cuộc trao đổi, cô xin cha cho phép mình dạo đàn cho cha nghe, một yêu sách không bao giờ ông từ chối.


Lúc nãy nghe hai người nói chuyện, vẻ mặt Xôfia luôn luôn thay đổi, và rất có thể, cô gán cho thái độ căm thù kịch liệt con ngựa cái của Tôm có một nguyên nhân khác, chứ không phải như cha cô đã suy đoán. Lúc ấy, tâm trạng cô xao xuyến ra mặt, cô chơi đàn sai quá thể, nhưng vì ông Wêtxtơn chưa nghe đã ngủ thiếp đi rồi, nên không nhận thấy. Tuy nhiên, Jôn vốn khá tỉnh táo, lại không phải là không sành tai nghe đàn, càng không phải không có mắt nhìn, nên anh đã nhận thấy một cái gì đây; những nhận xét này kết hợp với tất cả những điều đã qua mà bạn đọc hẳn còn nhớ, đã khiến cho Jôn khi nhìn lại toàn bộ thì yên trí rằng trong trái tim dịu dàng của Xôfia đang có sự gì không ổn. Một ý nghĩ mà tôi tin rằng nhiều công tử trẻ tuổi sẽ vô cùng ngạc nhiên thấy tại sao anh ta lại đã không nhận thấy được từ lâu. Tình thực mà nói, anh đã quá thiếu tự tin, không đủ bạo dạn để nhìn thấy những cử chỉ tỏ tình của một thiếu nữ; đó là một điều bất hạnh chỉ có thể tránh nếu được sớm hưởng nền giáo dục thành thị mà hiện nay, nói chung đang rất hợp thời.


Khi những ý nghĩ trên đã hoàn toàn choán lấy tâm trí Jôn, tâm hồn anh bị xáo động; trong một hoàn cảnh như vậy, một người phẩm chất kém vững vàng và kém trong sạch hơn, rất có thể đã có kèm theo những hậu quả rất nguy hiểm. Thực tình, Tôm cũng nhận thấy Xôfia vô cùng quý giá. Vẻ người cô, mới đáng ưa làm sao. Tài năng và lòng tốt của cô lại càng đáng khâm phục. Thực ra, vì chưa bao giờ Tôm có ý nghĩ chiếm lấy Xôfia, và cũng chưa bao giờ anh chủ động chiều theo khuynh hướng tình cảm của mình, thành thử đối với cô, anh vốn có một mối tình say mê hết sức nồng nàn mà bản thân anh không có. Lúc này đây, trái tim anh mới phơi bày rõ toàn bộ điều bí mật, đồng thời nó cũng đoán chắc với anh rằng mối cảm tình của anh đã được con người đáng quý mến kia đáp lại.


 


(còn tiếp)


Nguồn: TOM JONES Đứa trẻ vô thừa nhận. Tiểu thuyết của HENRY FIELDING, 2 tập, 1000 trang. Trần Kiêm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THE HISTORY OF TOM JONES, A FOUNDLING của HENRY FIELDING. Nhà xuất bản MAC DONALD, Luân Đôn, 1935. Tái bản theo bản in năm 1983 của NXB Văn học.


www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »