tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20235978
02.06.2017
Nhiều tác giả
Chiến tranh ba mươi năm ở Châu Âu



Nguyên nhân dẫn tới Chiến tranh Ba mươi năm là gì?


Nguồn:  “What happened in the Thirty Years War?”, The Economist, 13/01/2016.


Biên dịch: Nguyễn Ngọc Tường Ngân


Căng thẳng ở Trung Đông giữa Saudi Arabia (do nhà Saud dòng Sunni cai trị) và Iran (lãnh đạo phe Shia) đã khiến nhiều nhà bình luận so sánh tình trạng này với cuộc Chiến tranh Ba mươi năm (1618-1648) ở châu Âu. Đó là một cuộc xung đột gây ra hậu quả tàn phá cho Trung Âu, với khoảng 20% ​​dân số của Đức bị giết. Cuộc chiến tranh này có nguồn gốc tôn giáo khi các Hoàng đế của Đế chế La Mã Thần thánh (ban đầu là Ferdinand II của triều Habsburg) đã cố gắng áp đặt sự thống trị của Công giáo lên các khu vực của người Tin Lành thuộc đế quốc. Cuộc Cải cách Kháng cách (Reformation) đã bắt đầu ở Đức năm 1517 với các luận đề của Martin Luther và nhiều quân vương thuộc đế quốc (vốn có một cấu trúc gần như một liên bang) đã cải đạo sang Tin Lành.


Một cuộc nổi dậy ban đầu của người Tin Lành Bohemia, những người đã ném đại diện của Đế quốc ra ngoài cửa sổ tòa nhà hội đồng thành phố (gọi là sự kiện “Defenestration of Prague” trong tiếng Anh – NBT), đã dễ dàng bị nghiền nát. Nhưng sự thành công của Hoàng đế La Mã Thần thánh, cùng những nỗ lực tịch thu lãnh thổ, đã làm các cường quốc Tin Lành khác lo sợ. Đầu tiên Đan Mạch can thiệp (nhưng không thành công) và sau đó vua Gustavus Adolphus của Thụy Điển đã giành được một chuỗi các chiến thắng quân sự cho phe Tin lành, trước khi ông bị giết trong một trận chiến năm 1632.


Các chiến tuyến không hoàn toàn dựa trên cơ sở tôn giáo. Pháp, một cường quốc Công giáo, đã tài trợ cho các cuộc xâm lược của Thụy Điển và sau đó trực tiếp tham chiến; còn một số nhà lãnh đạo Tin lành ban đầu đã chiến đấu ủng hộ Hoàng đế (bản thân phe Tin Lành cũng bị chia rẽ thành hai dòng là Luther và Calvin).


Nhiều quốc gia tham chiến đã có những động cơ lãnh thổ: Thụy Điển muốn kiểm soát vùng Baltic trong khi Pháp đã lợi dụng cuộc chiến để giành được Alsace và Lorraine, hai khu vực sau này đã gây ra căng thẳng lặp đi lặp lại trong các thế kỷ 19 và 20. Cuộc xung đột cũng là một phần của cuộc chiến kéo dài lâu hơn, tới 80 năm,  giữa Tây Ban Nha và tỉnh thuộc địa trước đó là Hà Lan.


Vậy thì sự tương đồng là gì? Đầu tiên, các sự kiện đều gây nên những tác động lâu dài, cho dù đó là cuộc Cải cách Kháng cách, cuộc Cách mạng Iran năm 1979, hay cuộc Chiến tranh Iraq năm 2003. Những thay đổi trong cán cân quyền lực khiến những quốc gia khác phải phản ứng.


Thứ hai, các cuộc xung đột tôn giáo, một khi đã bắt đầu, rất khó có thể dừng lại vì những tình cảm mà chúng khơi dậy. Hồi thế kỷ 17, các cường quốc cuối cùng bị kiệt sức đã đồng ý không tìm cách áp đặt đức tin của họ lên các quốc gia khác.


Thứ ba, người chiến thắng ban đầu có thể không phải là người giành được chiến thắng cuối cùng: Sức mạnh quân sự của Mỹ ít áp đảo hơn so với sau năm 2003. Trong khi đó, sau khi Chiến tranh Ba mươi năm kết thúc vào năm 1648, ảnh hưởng của triều đại Habsburg đối với phần lớn các tiểu quốc Đức đã suy giảm và triều đại này cuối cùng chuyển thành Đế chế Áo-Hung.


Hòa ước Westphalia (The Peace of Westphalia)


Tác giả: Đào Minh Hồng


Vào nửa đầu thế kỷ 17, những căng thẳng về chính trị và kinh tế ngày càng gia tăng giữa các quốc gia Châu Âu. Cùng lúc với thời kỳ Phát kiến địa lý, khai phá mở đường tới những nguồn tài nguyên của Tân thế giới, châu Âu cũng chuyển mình với  sự ra đời của những học thuyết mới như chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời, ý thức dân tộc, ý thức về chủ quyền quốc gia cũng đã thức tỉnh các vị vua, hình thành nên những mầm mống đầu tiên của chủ nghĩa dân tộc ở Châu Âu. Phong trào cải cách tôn giáo từ giữa thế kỷ 16 đã chia Châu Âu thành hai phe: những nhà nước theo Cựu giáo (Thiên chúa giáo) hoặc những nhà nước theo Tân giáo (Tin Lành). Những xung đột giữa các quốc gia Châu Âu ở thời kỳ này luôn mang màu sắc của các cuộc chiến tranh tôn giáo. Cuộc chiến tranh tôn giáo 30 năm là cuộc chiến tranh toàn Châu Âu lần đầu tiên trong lịch sử thế giới. Khởi đầu là xung đột tôn giáo giữa người Thiên chúa giáo (Cựu giáo) và những người Tin Lành (Tân giáo), nó đã trở thành một cuộc chiến giành quyền lực ở châu Âu.


Chiến tranh 30 năm (1618 – 1648)


1618-1620: Người Bohemia (theo Tân giáo) nổi dậy chống Áo (theo Thiên chúa giáo)1620-1627: Đan Mạch (Tân giáo) tham chiến


1618- 1629: Phe Tân giáo thua trận


1630: Thụy Điển (theo Tân giáo) tham chiến


1631-1632: Phe Tân giáo thắng trận


1635: Pháp tham chiến


1645: Pháp và Thụy Điển chiến thắng ở Đức


1648: Hoà ước Westphalia chấm dứt chiến tranh


Hòa ước Westphalia bao gồm một loạt các hiệp ước hòa bình được ký kết từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1648 tại Osnabrück và Münster. Hai sự kiện quan trọng nhất liên quan đến Hòa ước Westphalia bao gồm lễ ký Hòa ước Münster ngày 30 tháng 01 năm 1648 giữa Hà Lan và Tây Ban Nha (được chính thức phê chuẩn ngày 15 tháng 05 năm 1648) và lễ ký hai hiệp ước bổ sung ngày 24 tháng 10 năm 1648: Hiệp ước Münster giữa đế quốc La Mã Thần thánh với Pháp và các đồng minh của cả hai bên; và Hiệp ước Osnabrück giữa đế quốc La Mã Thần thánh với Thụy Điển và các đồng minh. Hoà ước Westphalia đã đánh dấu sự kết thúc cuộc Chiến tranh 30 năm ở Đức (1618-1648) và Chiến tranh 80 năm giữa Tây Ban Nha và Hà Lan.


Nội dung của Hòa ước bao gồm những nội dung chính:


Thụy Điển được chiếm một vùng đất rộng lớn của nước Đức, được bồi thường 5 triệu đồng Taler và có quyền tham gia hội nghị của đế quốc Đức;


Nước Pháp được vùng Alsace và vùng Lorraine và có quyền tham gia hội nghị của đế quốc Đức;


Nước Đức bị chia cắt thành 300 tiểu vương quốc;


Các chư hầu Đức hoàn toàn được độc lập;


Về vấn đề tôn giáo: cả Tin Lành (Tân giáo) và Thiên chúa giáo (Cựu giáo) đều bình đẳng. Đạo Calvin cũng được thừa nhận. Các quốc gia có quyền quyết định lựa chọn tôn giáo cho mình;


Công nhận nền độc lập của Thụy Sĩ và Hà Lan.


Hòa ước Westphalia được đánh giá là văn bản đầu tiên xác nhận chủ thể trong quan hệ quốc tế là quốc gia. Khái niệm quốc gia – dân tộc (nation-state) cũng bước đầu được xác định và Hoà ước được xem là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu của hệ thống quan hệ quốc tế hiện đại. Trong mối quan hệ với Châu Âu ở thế kỉ 17, nó đã đánh dấu thành quả của cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa bá quyền, chống lại khát vọng tạo ra một đế chế siêu quốc gia của vương triều Habsburg. Nó cũng báo hiệu sự suy yếu quyền lực của người Tây Ban Nha, sự chia cắt nước Đức (gây trở ngại cho sự thống nhất trong hơn 200 năm) và sự vươn lên của nước Pháp trong vai trò cường quốc chính của Châu Âu.


Một số nguyên tắc quan trọng được chính thức công bố trong Hoà ước Westphalia về sau đã tạo ra cơ sở để hình thành nền luật pháp và chính trị của mối quan hệ hiện đại giữa các quốc gia. Nó góp phần định hình một xã hội của các quốc gia – dân tộc dựa trên nguyên tắc chủ quyền quốc gia là tối thượng, xác nhận sự độc lập của các quốc gia và nhấn mạnh rằng mỗi quốc gia có quyền lực nhất định mà các quốc gia khác phải tôn trọng. Hoà ước cũng công nhận tính hợp pháp của tất cả các hình thức chính thể và thừa nhận quan điểm về tự do tôn giáo và sự khoan dung. Cụ thể, các bên thừa nhận nguyên tắc cuius regio, eius regilio (vương quốc của ai, tôn giáo của người đó) được ghi nhận trong Hòa ước Augsburg (1555). Theo đó các đấng quân vương được toàn quyền quyết định tôn giáo cho quốc gia và thần dân của mình, cho dù đó là Thiên chúa giáo, Tin lành, hay đạo Calvin.


Như vậy, Hòa ước Westphalia mang một ý nghĩa quan trọng đối với nền quan hệ quốc tế hiện đại. Bằng cách phá hủy quan niệm về chủ nghĩa toàn cầu tôn giáo, “trật tự Westphalia” thúc đẩy những quan điểm về độc lập và chủ quyền của mỗi quốc gia, đưa cân bằng quyền lực trở thành khái niệm chính trong chỉ đạo và công thức của chính sách đối ngoại. Từ năm 1648 trở đi, quyền lợi của các quốc gia trở thành tối cao cả về luật pháp lẫn chính trị. Đây là một dấu mốc lịch sử cho dù trật tự các quốc gia được công bố tại Westphalia chủ yếu ảnh hưởng tới châu Âu và các quốc gia theo đạo Cơ đốc. Nguyên tắc không can thiệp không được áp dụng với các quốc gia theo đạo Hồi và phần còn lại của thế giới. Tiêu chuẩn kép này tồn tại một cách bảo thủ trong nền ngoại giao Châu Âu đến suốt thế kỉ 19 và 20; trong khi đó trật tự Westphalia dần dần và mặc nhiên trở thành một trật tự toàn cầu.


Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).


nghiencuuquocte.org/2015/07/25


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ sỹ lừng danh Muhammad Ali: Tôi chẳng thù ghét gì Việt cộng cả! - Bob Orkand 22.08.2017
2 bài về Ấn Độ, Trung Quốc - Nhiều tác giả 21.08.2017
19/08/1934: Adolf Hitler trở thành Tổng thống Đức - Tư liệu 19.08.2017
Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ - Vũ Minh Giang 13.08.2017
Người Khmer Krom đòi Nam Bộ là ‘vô lý’ - Nguyễn Văn Huy 13.08.2017
Tìm hiểu vấn đề biển đảo giữa Việt Nam và Campuchia - Trần Công Trục 13.08.2017
Koh Tral/ Phú Quốc: Giấc mơ tuyệt vọng của Campuchia - Jeff Mudrick 13.08.2017
Vì sao thành Hà Nội bị phá? - Tư liệu 07.08.2017
Lá thư tâm huyết của Tướng Trần Độ - Tư liệu sưu tầm 04.08.2017
Người đẹp: Số đo 3 vòng chuẩn - Tư liệu sưu tầm 03.08.2017
xem thêm »