tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20235972
02.06.2017
Nhiều tác giả
Những bài nên đọc về Trung Quốc trong và sau vụ Thiên An Môn



Tư duy cải cách của Triệu Tử Dương và biến cố Thiên An Môn


Nguồn: Bao Tong, “Remembering Zhao Ziyang”, Project Syndicate, 17/01/2005


Biên dịch: Đậu Thế Hoàng


Vào thời điểm khi Triệu Tử Dương [Zhao Ziyang, Tổng bí Thư ĐCS Trung Quốc từ 1/11/1987 đến 23/6/1989] qua đời năm 2005, ông đã phải sống trong điều kiện bị hoàn toàn cô lập khỏi xã hội Trung Quốc do bị quản thúc tại gia bất hợp pháp suốt 16 năm, một điều khiến cho cả luật pháp lẫn Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) phải thấy xấu hổ.


Sự bức hại Triệu Tử Dương là sự bức hại một nhà lãnh đạo tận tâm, người đã cống hiến những nỗ lực đột phá trong hơn một thập niên giúp mở đường cho công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc. Vào cuối thập niên 1970, nông dân Trung Quốc từ lâu đã mất quyền sở hữu ruộng đất do tập thể hóa và việc thành lập các Công xã Nhân dân. Đó là quyền mà họ chưa bao giờ giành lại được. Tuy nhiên, Triệu Tử Dương là người đầu tiên ủng hộ việc trao lại quyền tự chủ cho nông dân và khởi xướng các đợt thử nghiệm đầu tiên để bãi bỏ Công xã Nhân dân.


Ngành công nghiệp Trung Quốc trước đó đã bị chuyển hóa thành các doanh nghiệp quốc doanh thông qua quốc hữu hóa và kế hoạch hóa tập trung. Triệu Tử Dương là người đầu tiên đề xuất “quyền tự chủ mở rộng cho các xí nghiệp Trung Quốc” và “khôi phục mối quan hệ lành mạnh giữa chính phủ và công nghiệp.” Quyền tự chủ mở rộng cho các xí nghiệp và giai cấp nông dân là các bước đi quan trọng đầu tiên, theo đó thành công của chúng đã dẫn tới công cuộc cải cách kinh tế toàn diện sau này.


Đây là các mục tiêu nằm trong số những thắng lợi mà Triệu Tử Dương giành được để giúp người dân Trung Quốc thoát khỏi tình trạng trì trệ ngột ngạt của chủ nghĩa xã hội theo kiểu Mao. Trong vai trò là Thủ tướng Trung Quốc, Triệu Tử Dương thực hiện mười năm cải cách kinh tế, nhờ đó mang lại sự tiến bộ vững chắc để người dân, đặc biệt là giai cấp nông dân, được hưởng những cải thiện đời sống đích thực.


Nhưng Triệu Tử Dương cũng là nhà lãnh đạo duy nhất của ĐCSTQ đề xuất gói cải cách chính trị nhằm giải quyết hệ thống cai trị độc đảng ở Trung Quốc. Việc Đảng độc quyền kiểm soát quyền lực chính trị một cách có hệ thống đảm bảo rằng mỗi sai lầm mà đảng mắc phải – chẳng hạn như thập niên tồi tệ thời Cách mạng Văn hóa – đều sẽ biến thành một cuộc khủng hoảng dai dẳng trên phạm vi toàn quốc.


Để có được sự ổn định thật sự và lâu dài, Triệu Tử Dương đề xuất các cải cách mà cuối cùng nhằm mục đích hợp pháp hóa và hệ thống hóa nền dân chủ. Ông mong muốn thành lập một nền chính trị dân chủ có thể hỗ trợ và nuôi dưỡng một nền kinh tế thị trường lành mạnh. Dù các mục tiêu thực tế ngắn hạn trong các cải cách chính trị của Triệu Tử Dương bị hạn chế bởi hoàn cảnh khi chúng được đề xuất, nhưng các biện pháp này đều nhằm mục đích kiềm chế quyền lực của Đảng Cộng sản và đại diện cho một bước đi cụ thể hướng tới việc trao lại quyền lực cho nhân dân Trung Quốc một cách hòa bình. Gói cải cách của Triệu Tử Dương, một sự chuyển hướng rõ nét khỏi chế độ độc tài của Mao, đã được thông qua bởi Đại hội Đảng lần thứ 13, cơ quan quyền lực chính thức cao nhất trong nội bộ Đảng Cộng sản.


Trong thời gian 20 tháng giữ chức Tổng Bí thư ĐCSTQ, Triệu Tử Dương đã tạo ra một nền văn hóa chính trị mà trong đó Bộ chính trị hạn chế can thiệp vào các tòa án, và ông còn ngăn không cho cơ quan này cố gắng kiểm soát văn chương và nghệ thuật. Triệu Tử Dương đã bãi bỏ chính sách các xí nghiệp được vận hành bởi các tổ chức Đảng cùng hệ thống fa ren (pháp nhân) vốn là thành phần cốt cán của các xí nghiệp.


Đáng tiếc thay, những cải cách chính trị của Triệu Tử Dương đã bị chấm dứt khi ông bị miễn nhiệm. Kết cục thảm hại là dân quyền và các nguyên tắc dân chủ bị phủ nhận một cách vô tội vạ, và nổi lên thứ mà giới lãnh đạo ngày nay gọi là “chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, một lối uyển ngữ đầy cay đắng hàm ý Đảng không bị ai kiểm soát và quyền lực chính phủ gắn chặt với các nhóm lợi ích kinh tế.


Số phận của ông Triệu cũng là một lời nhắc nhở đáng sợ về những bất công khác đang tồn tại trong lương tâm của những nhà cầm quyền hiện nay. Lý do duy nhất khiến Triệu Tử Dương bị đối xử tệ hại là việc ông phản đối đàn áp một cách bạo lực cuộc biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Đáng lẽ ra đó phải là quyết định ông phải đưa ra trong vai trò Tổng Bí thư, song sự thể đã không diễn ra như vậy.


Cần nhắc lại rằng, nguyên Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang, người đã bị Đặng Tiểu Bình buộc phải từ chức hai năm trước đó do quan điểm tự do của mình, đã qua đời vào tháng 4 năm 1989, châm ngòi cho các đợt biểu tình ôn hòa và tự phát của sinh viên ở Bắc Kinh và sau đó lan rộng ra cả nước. Chỉ tính riêng Bắc Kinh đã có nửa triệu sinh viên đại học tham gia phong trào này.


Phong trào kéo dài trong 50 ngày và nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của người dân Bắc Kinh và mọi tầng lớp nhân dân trên cả nước. Triệu Tử Dương chỉ ra cho Bộ Chính trị thấy rằng những quan điểm được sinh viên và người dân thể hiện khi họ tưởng niệm Hồ Diệu Bang, biểu tình chống tham nhũng, và khao khát về nền dân chủ thực sự trùng khớp với những gì mà bản thân họ suy nghĩ. Ông tin rằng có thể giải quyết được các cuộc biểu tình của sinh viên và tôn trọng các nguyên tắc dân chủ và pháp quyền.


Dưới sự chỉ đạo của Triệu Tử Dương, Bộ chính trị và Ban Thường vụ kêu gọi đối thoại với sinh viên. Song, hướng đi đầy triển vọng này đã thay đổi hoàn toàn khi Đặng Tiểu Bình để lộ ý định việc đàn áp biểu tình một cách bạo lực.


Cuối cùng, giữa năm Ủy viên Ban Thường vụ Bộ chính trị đã xảy ra mâu thuẫn: Lý Bằng và Diêu Y Lâm muốn triển khai quân đội. Triệu Tử Dương phản đối cách làm này. Ban đầu, Kiều Thạch và Hồ Khải Lập đứng về phía Triệu Tử Dương, nhưng về sau rút lại sự ủng hộ, và thay vào đó họ đề nghị Đặng Tiểu Bình đưa ra quyết định cuối cùng.


Với sự chia rẽ trở nên rõ ràng, Đặng Tiểu Bình chọn cách qua mặt tất cả các thể chế đang tồn tại khi đó là Bộ chính trị, Ủy ban Trung ương Đảng và Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc cùng Ban Thường vụ của nó. Không cần bàn bạc thêm, Đặng Tiểu Bình huy động 500.000 lính tiến vào Bắc Kinh đàn áp sinh viên và dân thường tay không tấc sắt. Vụ Thảm sát Thiên An Môn năm 1989 là một thảm kịch đối với Trung Quốc, và là một thảm kịch khác trong thế kỷ 20. Mười sáu năm đã qua (cho tới năm 2005), nhưng nỗi đau vẫn còn đó, được chôn sâu trong trái tim và tâm trí của người dân Trung Quốc.


Trong những năm đã qua, giới lãnh đạo Trung Quốc không những phải chịu trách nhiệm về việc quản thúc tại gia bất hợp pháp đối với Triệu Tử Dương, mà còn về nỗ lực xóa bỏ tên ông khỏi lịch sử một cách có hệ thống. Nhưng, việc họ cố gắng che giấu sự thật về quá khứ sẽ chỉ làm lộ ra sự yếu kém và sự trơ trẽn của họ mà thôi. Có một thứ họ không thể nào thay đổi được: hình ảnh Triệu Tử Dương vẫn còn đó, trong cuộc đấu tranh giành lại các quyền và nền dân chủ của nhân dân Trung Quốc.


Bao Tong (Bào Đồng), nguyên là Giám đốc Văn phòng Cải cách Chính trị của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, từng là Thư ký của Thủ tướng Quốc Vụ viện Triệu Tử Dương từ năm 1980 đến năm 1985.


Ý nghĩa của sự kiện Quảng trường Thiên An Môn


Nguồn: John Delury, “Tiananmen Square Revisited”, Project Syndicate, 20/05/2009.


Biên dịch: Nguyễn Thị Hồng Thư


Việc xuất bản cuốn hồi ký bí mật đuợc ghi âm của nhà cải cách Đảng Cộng sản Trung Quốc thất thế Triệu Tử Dương, người đã nỗ lực “xóa bỏ căn bệnh của hệ thống kinh tế Trung Quốc từ gốc rễ” và qua đời trong lúc bị quản thúc tại gia vì những nỗ lực ấy, đang khơi lại cuộc tranh cãi về những di sản phức tạp của các cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989.


Thực sự, khi mà Trung Quốc đang phủ bóng lớn hơn bao giờ hết lên nền kinh tế thế giới thì thật đáng để nhớ lại rằng vào tháng 6 này của 20 năm trước, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã gần như sụp đổ. Làn sóng biểu tình tụ hợp tại Thiên An Môn năm đó đặt ra một nguy cơ mang tính sống còn đối với đất nước được dẫn dắt bởi Đảng Cộng sản này, nhà nước được sinh ra 40 năm trước đó bởi Mao Trạch Đông.


Nguy cơ đó đến từ 2 hướng: từ bên trong những thang bậc cao nhất của giới lãnh đạo Đảng, nơi mà những khác biệt tư tưởng về cải cách đã chia rẽ Bộ Chính trị, và từ những người dân thành thị, với sinh viên Bắc Kinh là những người tiên phong, vốn đứng lên trong một cuộc nổi dậy cởi mở và hòa bình để chống lại thẩm quyền của nhà nước.


Ngạc nhiên thay, Đảng bước ra khỏi cuộc khủng hoảng trong sự đoàn kết tập trung quanh tầm nhìn của Đặng Tiểu Bình về một “nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, và lấy lại tính chính danh trong mắt người dân thành thị thông qua việc thực hiện tầm nhìn đó. Đảng đã phục hồi sự thống nhất trên nền tảng của hội nhập toàn cầu, tăng trưởng theo định hướng thị trường, những thành tích đạt được mà không có sự can thiệp bởi “Nữ thần Dân chủ” của các sinh viên, nhưng đem lại lợi ích vật chất hữu hình cho các cư dân thành phố.


Không nghi ngờ gì khi mà quá trình phát triển đô thị, đầu tư, và tăng trưởng GDP đã tăng tốc trong suốt những năm 1990, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng khoảng cách giữa những người thành thị “thắng cuộc” và người nông thôn “thua cuộc”. Năng lượng phản kháng vốn từng tiếp sức trong một thời gian ngắn cho sự kiện Quảng trường Thiên An Môn nay đã tiêu tan khỏi các thành phố và lan rộng ở nông thôn. Trong giai đoạn khởi đầu đầy hào hứng của các cuộc biểu tình đòi dân chủ năm 1989, có hơn 80.000 sinh viên diễu hành trên các đường phố Bắc Kinh yêu cầu chính quyền phải đáp ứng các nhu cầu của người dân nhiều hơn. Đến năm 2005, đã có hơn 80.000 vụ biểu tình đông người được báo cáo trên khắp cả nước, nhưng phần lớn lại không diễn ra ở các thành phố phồn thịnh vùng duyên hải, và chắc chắn là không phải ở các trường đại học tinh hoa của quốc gia.


Suốt 20 năm qua, những công nhân bị mất việc làm, những nông dân bị mất đất, các học viên Pháp Luân Công, và những người dân giận dữ của Tây Tạng đã tổ chức các cuộc biểu tình. Tuy thế, không hề có những cuộc biểu tình của những người thành thị do sinh viên dẫn đầu như những cuộc biểu tình tại Thiên An Môn năm 1989.


Thời kỳ kinh tế phất lên dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Giang Trạch Dân và người kế vị, Hồ Cẩm Đào, đã hướng sự nổi loạn của giới trẻ vào khởi nghiệp và sự thành đạt trong nghề nghiệp chuyên môn, và điều đó đã chỉ khả thi vì Đặng Tiểu Bình đã ngăn ngừa giới lãnh đạo Đảng rạn nứt trong suốt những cuộc biểu tình của sinh viên cuối những năm 1980 và phản ứng dữ dội của những thành phần bảo thủ vào đầu những năm 1990. Khi những cuộc biểu tình bắt đầu, người kế vị do Đặng Tiểu Bình chọn lựa, Thủ tướng Triệu Tử Dương, đã mong muốn sử dụng làn sóng quần chúng nhân dân như một đòn bẩy nhằm thúc đẩy cải cách thị trường mạnh hơn, và có thể cả cải tổ chính trị. Nếu Trung Quốc có một Mikhail Gorbachev của riêng mình thì đó có thể là Triệu Tử Dương.


Đặng Tiểu Bình đã ủng hộ Triệu Tử Dương tự do hóa nền kinh tế, mặc dù điều này đã tạo ra nhiều kết quả tốt xấu khác nhau trong năm 1988 và 1989, với tình trạng lạm phát tăng vọt và sự âu lo về kinh tế lan tràn. Nhưng Đặng Tiểu Bình, người đã chịu những “vết sẹo” từ những năm tháng của chủ nghĩa Mao mà đặc biệt là sự hỗn loạn do Cách mạng Văn hóa, đã không muốn dung thứ cho sự bất ổn chính trị. Và sự khoan dung đối với những người biểu tình của Triệu Tử Dương đã khiến Bộ Chính trị chia thành hai phe khác nhau. Vì vậy Đặng đã để Triệu trở thành “con mồi” cho những lãnh đạo bảo thủ trong Đảng.


Phe cứng rắn đã chiến thắng sau đợt đàn áp. Trong mắt họ, sự hỗn loạn của năm 1989 là minh chứng cho thấy “cải tổ và mở cửa” sẽ dẫn tới thời kỳ hỗn loạn và sụp đổ. Đặng tạm thời rút lui, để những người theo chủ trương kế hoạch hóa tập hợp xung quanh đảng viên kỳ cựu Trần Vân (Chen Yun) làm chậm lại tiến trình thị trường hóa và khắc phục sự cô lập của quốc tế đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau sự kiện Thiên An Môn.


Nhưng sau đó, với chuyến “Nam tuần” nổi tiếng của ông vào năm 1992, Đặng Tiểu Bình đã dẫn đến sự thất thế của phe bảo thủ phản đối thị trường. Tại thành phố Thâm Quyến đang phát triển bùng nổ, với camera truyền hình quay trực tiếp, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thẳng ngón tay lên trời, khiển trách Đảng của ông ta: “Nếu Trung Quốc không thực hành chủ nghĩa xã hội, không tiếp tục ‘cải tổ và mở cửa’ và phát triển kinh tế, không cải thiện mức sống của nhân dân, thì dù hướng đi của chúng ta là gì chăng nữa, thì cũng sẽ là đường cùng.”


Sau khi miễn cưỡng thanh trừng những người chủ trương cải cách vào năm 1989, thì năm 1992 Đặng Tiểu Bình đã nắm lấy cơ hội để loại bỏ những người theo chủ trương kế hoạch hóa, đưa vào người anh hùng tân tự do của Trung Quốc, Chu Dung Cơ, nhằm khởi động lại cỗ máy kinh tế. Đặng đã phán đoán tâm thế đất nước một cách sắc sảo: người dân đã sẵn sàng để được bảo rằng “làm giàu là vinh quang”. Giới lãnh đạo mới của Đảng những năm 1990 và 2000 không nao núng trước con đường mà Đặng đã vạch ra: đều đặn mở rộng cải cách thị trường, tích cực tham gia vào thương mại quốc tế, đô thị hóa quy mô lớn và phát triển thành thị, và toàn tâm toàn ý cho sự thống nhất của Đảng.


Vào ngày 4 tháng 6, ngày các binh lính của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc quét sạch các sinh viên và những người ủng hộ họ khỏi Quảng trường Thiên An Môn, được phương Tây ghi nhớ như là một ví dụ bi kịch về bạo lực nhà nước được sử dụng để đàn áp những công dân tay không tấc sắt, và là một tượng đài kỷ niệm cho những khao khát bị kìm nén về tự do và dân chủ của người dân Trung Quốc. Nhưng, trong con mắt lạnh lùng của lịch sử, làn sóng của năm 1989 và hậu quả của nó cuối cùng có thể được xem như là một “thời khắc Machiavelli” của Đảng Cộng sản Trung Quốc, khi mà Đặng Tiểu Bình đối diện thời khắc sinh tử của chế độ, và thấy được điều gì là cần thiết cho sự tồn tại của nó: Sự thống nhất của Đảng dựa trên sự tăng trưởng của thành thị.


Bằng cách tái thống nhất giới lãnh đạo Đảng và tái xây dựng mối đoàn kết giữa Đảng và người dân thành thị, cơn khủng hoảng đã củng cố sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc, và làm tăng tốc quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc. Trong tác phẩm kinh điển Bàn về cách mạng (On Revolution) của mình, Hannah Arendt đã quan sát một cách bi quan rằng “bất kỳ tình huynh đệ nào của con người cũng đều có khả năng đã được nuôi lớn từ sự tương tàn lẫn nhau, bất kỳ tổ chức chính trị nào mà con người đạt được cũng đều bắt nguồn từ cội rễ tội ác của nó.” Theo cách nhìn này, Quảng trường đẫm máu vào sáng ngày 4 tháng 6 có lẽ là nơi đã khai sinh ra một nước Trung Quốc hậu cách mạng.


John Delury là giám đốc Dự án China Boom Project tại Hội Châu Á, New York.


Di sản của vụ Thảm sát Thiên An Môn


Nguồn: Johan Lagerkvist, “The Legacy of Tiananmen Square“, Yale Global, 03/06/2014.


Biên dịch: Nguyễn Tiến Chương


Hai mươi lăm năm trước đây, những cảnh tượng hãi hùng đã diễn ra tại giao lộ Muxidi tại trung tâm Bắc Kinh. Hàng ngàn sinh viên và công nhân đã cố gắng để ngăn cản Quân đội Giải phóng Nhân dân tiến quân về phía Quảng trường Thiên An Môn và nhận ra trong sự ngỡ ngàng rằng những người lính đã sử dụng đạn thật chống lại họ. Đặng Tiểu Bình, vị “lãnh đạo tối cao” đằng sau hậu trường của Trung Quốc, đã ra lệnh cho quân đội xóa sạch Quảng trường trước ngày 4 tháng Sáu. Khi những thi thể đẫm máu ngã xuống đất, người dân đã hét lên rằng “Phát xít!”, “Quân sát nhân!”, “Chính phủ tội phạm”. Muxidi giao với Đại lộ Trường An, cắt qua Quảng trường Thiên An Môn, đã trở thành trung tâm của vụ thảm sát, đánh dấu sự kết thúc tàn bạo sau gần bảy tuần đầy kịch tính của cuộc tuần hành vì dân chủ ở thủ đô và trên cả nước.


Vết máu từ lâu đã được rửa sạch, nhưng tư duy đằng sau thảm kịch – rằng phải kiên định hỗ trợ cho sự trỗi dậy của Trung Quốc mà không chấp nhận những lời chỉ trích, chất vấn hay phản đối- đã thúc đẩy sự tăng trưởng phi thường của Trung Quốc và thay đổi bản chất sự tương tác của thế giới với Bắc Kinh.


Khi nhìn lại, kết quả của các cuộc đàn áp bạo lực, bây giờ được gọi đơn giản là Sự kiện Thiên An Môn hay Sự kiện ngày 4 tháng 6, đã làm cả Trung Quốc và toàn thế giới sợ hãi. Nếu không có vụ thảm sát và sự dịch chuyển cương quyết sang một xã hội thị trường cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, một nhà lãnh đạo phương Tây như Thủ tướng Na Uy Erna Solberg sẽ đã không tránh gặp mặt vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng lưu vong. Đức Đạt Lai Lạt Ma đến thăm Oslo năm nay để kỷ niệm giải Nobel Hòa bình ông nhận được vào năm 1989. Solberg đã giải thích rằng: “Không phải là vì Trung Quốc nói rằng chúng tôi không được gặp gỡ Đạt Lai Lạt Ma, chúng tôi chỉ biết rằng nếu chúng tôi gặp, chúng tôi sẽ gặp khó khăn (với Trung Quốc) còn nhiều hơn”.


Sự trỗi dậy của Trung Quốc phụ thuộc vào sự cai trị hà khắc của Đảng Cộng sản với một sự tập trung cao độ vào việc tạo ra công ăn việc làm và tích lũy công nghệ mới bằng cách trở thành công xưởng sản xuất của thế giới, một người khổng lồ xuất khẩu và cho vay với phương Tây.


Trung Quốc đã lo lắng về một tương lai như vậy vào năm 1989. Người dân đã thương tiếc về cái chết ngày 15 tháng 4 của cựu Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang. Ông là một ánh sáng hiếm hoi về tự do trong Đảng Cộng sản, ủng hộ một nền báo chí tự do hơn, và người đàn ông đứng sau sự phục hồi địa vị của hàng triệu người bị đàn áp trong cuộc Cách mạng Văn hóa. Sự đau buồn tăng lên trở thành một cuộc biểu tình xã hội lớn thúc đẩy dân chủ và chống tham nhũng. Quảng trường Thiên An Môn, trung tâm biểu tượng của Trung Quốc, nhanh chóng trở thành tâm điểm của việc huy động biểu tình.


Yêu cầu của sinh viên được đáp lại bằng sự im lặng, và sinh viên bắt đầu chiếm Quảng trường Thiên An Môn suốt ngày đêm. Chính phủ tiếp tục phản kháng, và hàng ngàn sinh viên bắt đầu tuyệt thực để gây sức ép. Một buổi lễ tiếp đón được lên kế hoạch từ lâu ở quảng trường dành cho nhà lãnh đạo của Liên Xô, Mikhail Gorbachev, đã bị hủy bỏ vào ngày 15 tháng 5. Các “lãnh đạo Đảng,” bao gồm cả Đặng Tiểu Bình, bị mất mặt và đã rất giận dữ. Thể hiện sự thất thế của vị Tổng bí thư ôn hòa Triệu Tử Dương và sự thắng thế của vị Thủ tướng cứng rắn Lý Bằng, Đặng Tiểu Bình “gợi ý” rằng cần phải công bố thiết quân luật. Sau khi không thể đánh bật các sinh viên ra khỏi quảng trường, Đặng Tiểu Bình đã rất thất vọng. Cùng với sự ủng hộ của Lý Bằng lúc này đang rất lo lắng, Đặng đã ra lệnh cho các đội quân tinh nhuệ xóa sạch quảng trường Thiên An Môn. Bốn năm sau đó, con số của chính phủ nói rằng 241 người đã bị giết, trong khi Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc ban đầu đưa ra số người chết là 2.600.


Tuy nhiên, ngày nay, rất ít người ở Trung Quốc biết về bất kỳ số lượng thương vong. Người ta không được phép thảo luận về thảm kịch này. Kiểm duyệt nhà nước đã tỏ ra hiệu quả trong việc không cho phép đại đa số giới trẻ Trung Quốc biết đến thông tin. Những nỗ lực để bịt miệng các nhà hoạt động đòi kỷ niệm vụ thảm sát đã được tăng cường, như các vụ bắt giữ luật sư Pu Zhiqiang, nhà văn Liu Di và nhà nghiên cứu triết học Xu Youyu vào tháng 5 cho thấy.


Giới tinh hoa chính trị và kinh tế phương Tây cũng đã góp phần vào thứ chính trị ký ức mạnh mẽ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày 17 tháng 5 năm 1989, Đặng Tiểu Bình đã buột miệng nói rằng “phương Tây sẽ quên”. Ông ta đã trả lời như vậy trước những lo ngại của cán bộ rằng nước ngoài có thể áp đặt lệnh trừng phạt và tẩy chay Trung Quốc nếu quân đội được sử dụng đàn áp các sinh viên. Đặng Tiểu Bình hiểu quá rõ những giấc mơ của phương Tây trong việc khai thác tiềm năng thị trường của Trung Quốc và nỗi sợ hãi địa chính trị đối với việc Bắc Kinh liên minh lại với Moscow.


Hai tháng sau, trong một chuyến thăm bí mật gặp Đặng Tiểu Bình, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Brent Scowcroft mang một thông báo giải thích rằng Tổng thống George H.W. Bush sẽ làm mọi thứ có thể để duy trì mối quan hệ. Cô lập Trung Quốc chưa bao giờ là vấn đề được xem xét nghiêm túc đối với các nhà lãnh đạo thực dụng của thế giới phương Tây.


Các cuộc đàn áp của chính phủ đã được giữ kín và dần chìm vào quên lãng. Biện pháp trừng phạt chỉ mang tính chất ngắn ngủi. Vào đầu năm 1990, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bắt đầu đổ vào Trung Quốc, được coi là một điểm đến an toàn cho tư bản nước ngoài. Những lời của Đặng Tiểu Bình rằng “phát triển là một sự thật khó khăn” và rằng Trung Quốc hơn ai hết cần sự ổn định đã được nhiều người lắng nghe. Khi cựu Thủ tướng Göran Persson của Thụy Điển đến thăm Trung Quốc vào năm 1996, ông so sánh trực tiếp một Trung Quốc chuyên chế với một nước Nga mới dân chủ hóa trong một bài phát biểu trước hàng trăm doanh nhân: “Đối với tôi, một điều vô cùng nổi bật là ý nghĩa của ổn định chính trị đối với tăng trưởng kinh tế. Khi bạn nhìn vào trường hợp của Trung Quốc bạn có thể thấy được điều đó”


Tầm quan trọng của vụ thảm sát tại Bắc Kinh là rất lớn, nhưng như thế nào và tại sao lại như thế vẫn chưa được hiểu rõ cho đến ngày nay. Đối với Trung Quốc, quyết định của Đặng Tiểu Bình sử dụng xe tăng chống lại dân thường gửi đi một tín hiệu vẫn còn vang vọng trong toàn xã hội (cho tới ngày nay): Đừng bao giờ chống đối Đảng- Nhà nước.


Sau khi Đặng Tiểu Bình giành được chiến thắng cuối cùng trước phe chính thống của Đảng vào năm 1992, cuộc đàn áp đã giúp thực thi việc sa thải công nhân quy mô lớn trở nên dễ dàng hơn. Cải cách thị trường khiến người dân chuyển hướng sự chú ý của mình và quên đi năm 1989- năm cuộc thảm sát diễn ra. Người dân cũng được cho là sẽ tàng lờ sự gian lận, hối lộ, gia đình trị và các hành vi tham nhũng khác của các nhà lãnh đạo chính trị vốn nhét đầy túi của họ và những người trong gia đình, với sự giúp đỡ từ các ngân hàng khắp phương Tây.


Kết quả là, Trung Quốc đã trở thành một đất nước bất bình đẳng mà nhiều người cho là thiếu cả tinh thần đoàn kết và đạo đức. Tăng trưởng kinh tế cũng đã khiến một Trung Quốc phi dân chủ ngày càng có xu hướng dân tộc chủ nghĩa và tự tin hơn, trong khi sự gia tăng của chủ nghĩa chuyên chế trên toàn thế giới đã đe dọa các nền dân chủ tự do và khiến các giá trị cơ bản của họ bị xói mòn.


Sự đồng lõa toàn cầu trong việc hỗ trợ chủ nghĩa tư bản chuyên chế ở Trung Quốc và các nơi khác đã dẫn đến sự thống trị hiện thời của Trung Quốc trong chính trị toàn cầu. Người ta thường đổ trách nhiệm cho những phản ứng của phương Tây đối với cuộc tấn công 11/9, khi hai cuộc chiến tranh dài làm hao mòn ngân sách và năng lượng của Mỹ, nhưng đó chỉ là một phần lời giải thích cho xu hướng này.


Sự nhón chân đi nhẹ nói khẽ của các nhà lãnh đạo phương Tây trong các chuyến thăm đến Bắc Kinh có thể minh họa được cho việc ai là người cầm chịch trong chính trị toàn cầu hiện đại. Thủ tướng Anh David Cameron đã dẫn đầu một đoàn đại biểu các doanh nhân thăm Trung Quốc vào tháng 12 năm 2013. Những dòng tweet của ông từ ngày 2-4 tháng 12 minh họa cho những ưu tiên của Anh đối với Trung Quốc: Trong 27 dòng tweet, chỉ có một dòng liên quan đến nhân quyền; tất cả những dòng khác đều liên quan đến kinh doanh. Kết thúc chuyến đi của mình, Cameron đã nhấn mạnh rằng: “Sự kết thúc của một chuyến đi thành công. Các hợp đồng giá trị 6 tỷ Bảng đã được ký kết và đây là một bước tiến trong mối quan hệ giữa Anh và Trung Quốc.”


Trong khi tuyên bố suông ủng hộ nhân quyền mà không có hành động cụ thể nào, nền kinh tế vốn sẽ sớm trở thành lớn nhất thế giới này tiếp tục theo đuổi sự pha trộn giữa chính trị độc tài và kinh tế thị trường tự do của Đặng Tiểu Bình. Niềm hy vọng rằng những cơn gió của dân chủ tự do có thể lan rộng khắp toàn thế giới sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin đã bị dập tắt.


Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách phương Tây vẫn nhiệt tình thúc đẩy lợi ích kinh tế của quốc gia ở Trung Quốc, hy vọng rằng dân chủ sẽ là kết quả tự nhiên của việc Trung Quốc tiếp đón chủ nghĩa tư bản. Tại một thời điểm khi mà gió đã đổi chiều, thế giới phải xem xét lại những lời hứa đã thất bại của năm 1989 và đặt ra những câu hỏi mới. Pu Zhiqiang đã lập luận rằng “mong muốn có được sự thoải mái một cách dễ dãi” đã góp phần vào sự lãng quên tập thể đối với vụ thảm sát. Sự tự mãn và sợ hãi đã đóng băng những quyền phổ cập của con người thành những nỗ lực cao cả nhưng không thực tế của quá khứ. Tuy nhiên, sự ép buộc lãng quên quá khứ gần đây của Trung Quốc sẽ không thành công mãi mãi. Một Trung Quốc đang trỗi dậy phải chống chọi với tiềm thức của kí ức. Những ký ức bị đè nén muốn quay trở lại, và chúng sẽ trở lại theo những cách tinh tế và trọn vẹn.


Johan Lagerkvist là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Quan hệ Quốc tế của Thụy Điển và là phó giáo sư tại Đại học Stockholm. Cuốn sách mới của ông “Thiên An Môn Redux” sẽ được xuất bản bằng tiếng Anh vào cuối năm nay.


Nhìn lại Trung Quốc thời kỳ hậu Thiên An Môn


Nguồn: Minxin Pei, “Surviving Tiananmen”, Project Syndicate, 03/06/2014. Biên dịch: Hiếu Minh


Có thể thật khó tưởng tượng, nhưng 25 năm trước, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) gần như bị lật đổ bởi một phong trào dân chủ. Điều đó đã không xảy ra nhờ vào thần kinh thép của Đặng Tiểu Bình, nhà cố lãnh đạo tối cao và đoàn xe tăng của Quân đội Giải phóng Nhân dân được đưa ra để thi hành thiết quân luật và đàn áp cuộc biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn, với cái giá là hàng trăm mạng người, nhằm tránh sự sụp đổ của chế độ.


Nhân dịp 25 năm thảm sát Thiên An Môn (6/6/1989-6/6/2014), hai câu hỏi được đặt ra: Làm cách nào Đảng cộng sản đã tồn tại trong một phần tư thế kỷ qua, và liệu nó có thể tiếp tục thêm 25 năm nữa không?


Câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên khá rõ ràng: thay đổi chính sách, chiến thuật thao túng khôn khéo, và rất nhiều may mắn đã giúp ĐCSTQ dành được những sự ủng hộ cần thiết để duy trì quyền lực và đàn áp các thế lực gây mất ổn định


Rõ ràng đã là cũng có những sai lầm nghiêm trọng. Sau cuộc thảm sát, các nhà lãnh đạo bảo thủ Trung Quốc đã nỗ lực đảo ngược những cải cách tự do hoá mà Đặng Tiểu Bình đã khởi xướng trong những năm 1980, làm cho nền kinh tế Trung Quốc lâm vào suy thoái. Sự kiện Liên Xô sụp đổ năm 1991 cũng gây ra hoang mang trong Đảng.


Nhưng Đặng Tiểu Bình đã một lần nữa cứu ĐCSTQ. Tập hợp tất cả sức lực và vốn liếng chính trị, nhà lãnh đạo 87 tuổi đã làm sống lại các cải cách kinh tế thị trường, mở ra một cuộc cách mạng kinh tế mang lại một làn sóng tăng trưởng và phát triển chưa từng có, nhờ đó uy tín ĐCSTQ tăng lên đáng kể.


Đặng Tiểu Bình và những người kế tục đã củng cố xu hướng này bằng cách trao cho công dân Trung Quốc khá nhiều quyền tự do cá nhân, nhen nhóm sự trỗi dậy của xã hội tiêu dùng và giải trí đại chúng mù quáng. Trong thế giới mới của “bánh mì và rạp xiếc” này, ĐCSTQ dễ dàng giành được sự ủng hộ của công chúng và đàn áp phe đối lập. Những động thái được dàn dựng công phu nhằm thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và khai thác tinh thần bài ngoại cũng có tác dụng.


Ngay cả sự đàn áp, trụ cột duy trì sự tồn vong của chế độ, cũng được tinh chỉnh. Sự giàu có mới giành được của Trung Quốc cho phép các lãnh đạo xây dựng một trong những hệ thống tường lửa Internet tinh vi nhất thế giới và trang bị những công cụ hiệu quả nhất cho các lực lượng an ninh trong nước.


Trong việc đối phó với cộng đồng bất đồng chính kiến nhỏ nhưng bền bỉ, Đảng dùng chiến thuật “chặt đầu”. Nói cách khác, chính phủ xoá bỏ các mối đe doạ từ những nhân vật chống đối cầm đầu bằng cách bỏ tù hoặc ép đi lưu vong, bất kể tầm quan trọng của những nhân vật này. Lưu Hiểu Ba (Liu Xiabo) – người giành giải Nobel Hoà bình năm 2010 đã bị tuyên án 11 năm tù bất kể sự phản đối của cộng đồng quốc tế.


Dù thô bạo, nhưng cách tiếp cận này hiệu quả. Tuy nhiên ĐCSTQ có lẽ đã không thành công đến vậy nếu không nhờ vào may mắn ở một số lĩnh vực quan trọng. Ví dụ, những cải tổ sau 1992 trùng với sự trỗi dậy của toàn cầu hoá, mang lại cho Trung Quốc một nguồn vốn khổng lồ (khoảng 1 nghìn tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài từ 1992), sự phát triển chóng mặt của công nghệ mới, và sự tiếp cận thị trường tiêu dùng phương Tây gần như không bị cản trở. Do đó Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới, với lượng xuất khẩu tăng gấp 10 lần cho đến năm 2007.


Một yếu tố có lợi nữa cho chế độ của Đảng là ưu thế dân số vàng (một lực lượng lao động dồi dào và tỷ lệ trẻ em và người già phụ thuộc thấp). Điều này mang lại cho Trung Quốc một lực lượng lao động giá rẻ, trong khi tiết kiệm cho chính phủ một lượng chi tiêu lớn cho lương hưu và chăm sóc y tế.


Vấn đề ĐCSTQ đang đối diện hiện tại là những yếu tố đã làm cho Đảng tồn tại từ sau sự kiện Thiên An Môn hoặc đã biến mất, hoặc chuẩn bị biến mất. Thực vậy, những cải tổ theo hướng thị trường đã chết về mọi mặt. Sự ‘cướp bóc’ làm giàu của nhân viên nhà nước và gia đình họ, cũng như của những doanh nhân có nhiều mối quan hệ, đã chi phối nhà nước Trung Quốc và sẽ chặn đứng bất kỳ cải cách nào có thể đe doạ đến vị thế hưởng lợi của họ.


Ngoài ra, ĐCSTQ cũng không thể dựa vào sự phồn thịnh ngày một lớn để duy trì sự ủng hộ của công chúng nữa. Tham nhũng ở khắp nơi và bất bình đẳng ngày càng tăng, cùng với việc môi trường bị tàn phá, đã làm cho người dân Trung Quốc – đặc biệt là tầng lớp trung lưu, đối tượng đã từng hi vọng nhiều vào cải cách – trở nên ngày càng vỡ mộng.


Cùng lúc đó, với việc dân số già đi nhanh chóng, lợi thế về dân số của Trung Quốc đang mất dần. Và vì Trung Quốc đã là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, với hơn 11% thị phần toàn cầu, xuất khẩu ít khả năng sẽ tăng lên trong những năm tới.


Chỉ còn hai lá bài trong bộ công cụ hậu Thiên An Môn của Đảng là đàn áp và chủ nghĩa dân tộc. Và thực tế, cả hai lá bài này tiếp tục có vai trò trung tâm trong chiến thuật của Tổng bí thư Tập Cận Bình nhằm đảm bảo sự sống còn của ĐCSTQ.


Tuy nhiên Tập Cận Bình cũng đang thử nghiệm hai công cụ mới: một chiến dịch chống tham nhũng chưa có tiền lệ và một nỗ lực làm sống lại các cải cách theo hướng thị trường. Cho đến nay, cuộc chiến chống tham nhũng có tác dụng lớn hơn so với kế hoạch cải tổ kinh tế.


Trên bề mặt, chiến thuật của Tập Cận Bình có vẻ tốt. Tuy nhiên một cuộc chiến chống tham nhũng của quan chức và thúc đẩy cải cách nhắm đến việc triệt hạ chế độ “đạo tặc” chắc chắn sẽ đặt Tập Cận Bình vào thế đối lập với giới tinh hoa chính trị và kinh tế Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào Tập có thể vượt qua sự phản kháng mà không cần phải huy động người dân, khi mà sự huy động người dân về mặt chính trị có thể đe doạ chế độ một đảng.


ĐCSTQ đã vượt qua những lời tiên đoán tối tăm sau 1989: Đảng đã tồn tại và đã ngăn chặn được những đe doạ đối với quyền lực của mình. Nhưng cơ hội để Đảng có thể kéo dài thêm một phần tư thế kỷ nữa là thấp, và không có nhiều khả năng tăng lên.


Minxin Pei (Bùi Mẫn Hân) là Giáo sư ngành Quản trị chính quyền tại Claremont McKenna College và là nhà nghiên cứu cao cấp không thường trú tại German Marshall Fund của Mỹ.


http://nghiencuuquocte.org/


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ sỹ lừng danh Muhammad Ali: Tôi chẳng thù ghét gì Việt cộng cả! - Bob Orkand 22.08.2017
2 bài về Ấn Độ, Trung Quốc - Nhiều tác giả 21.08.2017
19/08/1934: Adolf Hitler trở thành Tổng thống Đức - Tư liệu 19.08.2017
Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ - Vũ Minh Giang 13.08.2017
Người Khmer Krom đòi Nam Bộ là ‘vô lý’ - Nguyễn Văn Huy 13.08.2017
Tìm hiểu vấn đề biển đảo giữa Việt Nam và Campuchia - Trần Công Trục 13.08.2017
Koh Tral/ Phú Quốc: Giấc mơ tuyệt vọng của Campuchia - Jeff Mudrick 13.08.2017
Vì sao thành Hà Nội bị phá? - Tư liệu 07.08.2017
Lá thư tâm huyết của Tướng Trần Độ - Tư liệu sưu tầm 04.08.2017
Người đẹp: Số đo 3 vòng chuẩn - Tư liệu sưu tầm 03.08.2017
xem thêm »