tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20549141
Lý luận phê bình văn học
31.05.2017
Triệu Xuân
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử



Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân in trong tập Hổ Thần của Ngọc Toàn, NXB Hội Nhà văn, 2015.


Ham mê đọc, nghiên cứu lịch sử trong nước và thế giới, tìm hiểu cội nguồn dân tộc có lẽ là sự say mê của hầu hết các nhà văn viết văn xuôi, nhất là những người chuyên viết tiểu thuyết. Từ xa xưa, ở hầu hết các quốc gia chứ không chỉ ở Việt Nam, bao giờ chính sử cũng cô đọng, ngắn gọn. Bởi thế, chính sử không phản ánh hết sự tích, không hiển thị được đầy đủ những nhân vật quần chúng đã làm nên lịch sử. Cụ thể, cuộc kháng chiến hiển hách ba lần chống quân Nguyên xâm lược do Vua Trần và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lãnh đạo, chỉ được đưa vào chính sử rất ngắn gọn. Biết bao công tích của nhân dân, biết bao tướng tài thao lược, biết bao nhân vật quần chúng từng hiến thân mình, lập công hiển hách chống ngoại xâm, đã thành vô danh, bị quên lãng, vì… không được chép vào pho sử của triều đình. Thế nên, đến đầu thế kỷ XXI này, chúng ta vẫn phải dựa vào truyền thuyết, huyền sử, thần phả của các đền thờ miếu mạo, gia phả từng dòng họ để tôn vinh những vị tướng có thật, những người dân xuất chúng đã góp công của, tính mạng, trí tuệ giúp vua tôi nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông… Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ, truyền thuyết về Mười tám vị Vua Hùng, và hàng trăm truyền thuyết, huyền sử khác đã và đang được chắt lọc, bổ sung vào việc làm sáng tỏ sự thật lịch sử, tôn vinh quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Dựa vào các truyền thuyết, huyền sử chúng ta hoàn thiện tư liệu để lập bộ hồ sơ về Tín ngưỡng thờ cúng Quốc Tổ Hùng Vương. Vào lúc 12:10 (giờ Paris - tức 18 giờ 10 phút giờ Việt Nam), ngày 06/12/2012, tại kỳ họp lần thứ 7 Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể diễn ra ở Paris (Pháp), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã chính thức thông qua quyết định công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Truyền thuyết, dã sử thật đáng trân trọng!


Năm 2013, tôi được Hội Nhà văn mời dự Trại sáng tác tiểu thuyết tại Nhà sáng tác Đại Lải, Vĩnh Phúc. Trại mở một tháng, riêng cho 5 nhà văn chuyên viết truyện dài. Suốt ngày đêm, chúng tôi tận dụng thời gian và sự tĩnh lặng để gõ bàn phím. Những cuộc trò chuyện hiếm hoi chỉ có vào lúc trước và sau các bữa ăn. Một lần, anh bạn đồng nghiệp quê Thanh Hóa hỏi tôi đang viết gì, tôi nói như thế… như thế, rồi hỏi lại:


-          Còn anh?


-          Tôi viết về đơn vị pháo binh… Thú thực, đây là mảng hiện thực mà tôi có chút vốn sống, hồi ấy tôi đi bộ đội mà! Nhưng, cứ viết mãi về mảng đề tài này, tôi thấy thế nào ấy. In vài cuốn tiểu thuyết rồi mà chẳng có cuốn nào gây được tiếng vang…


-          Anh có tích lũy được nhiều tư liệu về mảnh đất “chín Chúa ba Vua” Thanh Hóa của anh không?


Anh bạn tỏ ra ngỡ ngàng trước câu hỏi của tôi, rồi buông một tiếng:


-          Không!  


-          Sao thế?


-          Một thời gian dài, Trịnh Nguyễn phân tranh, chia cắt đất nước, bị chúng ta lên án. Nhà Nguyễn bị phê phán, coi Gia Long là “cõng rắn cắn gà nhà”. Bởi thế, tôi… không bao giờ quan tâm, phải, tôi chưa nghĩ đến chuyện này!


Tôi thật sự ngạc nhiên! Một người sinh ra, lớn lên ở Thanh Hóa, vướng vào cái nghiệp viết tiểu thuyết, với tay ra là chạm vào quê hương của chín Chúa ba Vua mà lại chưa hề tìm hiểu, tích cóp tư liệu về cụm đề tài này! Quả là thất vọng! Sự nghiệp của chín Chúa ba Vua lẫy lừng lắm. Nếu anh ta có bề dày tri thức, vốn sống về đề tài này, khéo bố cục, có tài kể chuyện, chắc chắn sách in ra còn nổi hơn cả bộ tiểu thuyết trường thiên về Triều Trần của Hoàng Quốc Hải. Vỉa quặng quý giá như thế ở sát kề mình mà nhà văn thờ ơ, vô cảm; bảo sao sách anh ấy viết ra cứ chìm lẫn, ít có tiếng vang!


Lâu nay, nhiều sự kiện lịch sử, bản chất sự kiện trong quá khứ bị nhiều yếu tố làm méo mó, sai lạc. Nếu các nhà văn, các nhà sử học không chuyên tâm, nếu họ sao nhãng việc tìm về cội nguồn dân tộc, tìm hiểu dân sử, dã sử, huyền sử để làm sáng tỏ sự thật lịch sử bị bụi thời gian và chính kiến che mờ, thì nguy lắm thay, uổng lắm thay!


Cuối năm 2011, tôi biên tập để xuất bản tập truyện dã sử Bí mật đền Sỹ Nhiếp của Ngọc Toàn (NXB Văn học, 2012). Sau đó, bằng cuốn sách này, tôi giới thiệu anh gia nhập Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, và anh đã được kết nạp. Nay, anh viết được mười một truyện khác, in trong tập Hổ Thần: Lửa cháy tháp Báo Thiên; Thần giữ của, Hổ Thần; Nghĩa địa bên sông Chanh; Ông chéo ngà bà rách tai; Hoa khôi xứ Mường; Trái tim đen; Đám rước ma và kho tàng nhà Trần; Thủy mẫu; Hoàng hôn trên đất Hoa hạ; Tòa án ma quỷ trong Tử Cấm thành.


 Vẫn cách kể chuyện quen thuộc, theo phương cách dựa vào vài chi tiết có thật trong lịch sử, vài chi tiết trong truyền thuyết, chuyện kể lưu truyền trong dân gian, rồi tác giả sáng tác, hư cấu theo một chủ đề tư tưởng thống nhất. Lẽ ra, viết mãi theo kiểu ấy, thì sẽ nhạt, nhảm. Nhưng, khéo thay ngòi bút Ngọc Toàn, anh có khá nhiều vốn sống dân dã, phong tục tập quán từ xưa ở từng miền đất mà anh mượn làm bối cảnh. Thế là anh đưa vốn sống ấy vào truyện, thổi vào đó hồn cốt dân gian, hình ảnh thiên nhiên, bến sông, ánh trăng, tiếng gầm của thú dữ, chim kêu vượn hót, tiếng suối reo, hương thơm các loài hoa, tiếng cười của thiếu nữ thôn quê… Ngọc Toàn khá thành thạo các thao tác tôi vừa kể. Từng truyện đều có cốt truyện mạch lạc. Cách kể chuyện khéo. Đôi lúc anh kể theo lối tưng tửng. Đôi lúc anh dùng thủ pháp điện ảnh, lời thoại ngắn, lời dẫn gọn. Anh biết đánh vào sự háo hức, tò mò của người đọc.


Đây là một đoạn trong Nghĩa địa bên sông Chanh, câu chuyện về những người dân lương thiện dốc lòng chống giặc ngoại xâm và nội xâm, chống bọn quan lại hèn đớn, tham nhũng, ức hiếp dân lành:


“…Cụ thủ từ trông coi đền Thánh Trần đã trên hai mươi năm, từ lúc Hạo Nhiên còn bé. Lần nào cụ cũng cho chàng mấy quả muỗm trong đền. Cụ tú Mền dạy học, qua tay cụ đã bao nhiêu học trò. Số cụ lận đận, thi ba lần chỉ đậu Tú tài. Thời Lê, đỗ Tú tài lần thứ nhất được gọi là ông Tú, thi tiếp đỗ lần thứ hai thì được gọi là Tú Kép, đến lần thứ ba được gọi là Tú Mền…


Cụ thủ từ nói:


-          Trước tiên là phải ăn, người đời bảo “dĩ thực vi tiên”. Hạo Nhiên, cháu lấy cần câu ở ngoài hiên, đi bắt châu chấu, rồi ra ruộng lúa nhử mấy con cá rô. Năm nay, cá nhiều lắm, chắc chắn được mùa. Không con sâu bọ nào có thể đẻ trứng trên thân lúa. Cá rô ăn sạch cả sâu lẫn trứng.


Hai món ăn dân dã, cá rô ron rán già cả con chấm với tương và cá rô mề luộc, gỡ lấy thịt, giã xương lọc nước cốt nấu canh rau cải, ăn với cơm gạo dự hương nấu bằng nồi đất. Hạo Nhiên vừa ăn vừa khen:


-          Lâu lắm cháu không được ăn ngon như thế này. Mùi vị quê hương không ai có thể quên được. À, mà rau cải trồng ở làng Hoàng Long, Thanh Đặng phải không cụ?


Cụ thủ từ cười:


-          Anh tinh lắm, tôi phải xin giống từ làng Hoàng Long ở Thuận Thành Kinh Bắc về trồng. Tôi đã phát hiện bí quyết của họ là trồng hành tỏi xen lẫn những luống cải. Rau thơm và ngọt hẳn lên, hành tỏi củ cũng to ra…”.


Khá nhiều những trường đoạn như thế, nó không chỉ lôi cuốn người đọc có tuổi, gợi nhớ những kỷ niệm yêu thương thuở nhỏ ở quê hương; mà nó còn cung cấp nhiều điều mới lạ, chân xác cho các bạn đọc trẻ. Đọc truyện dã sử mà nghe được âm hưởng của đất và người nơi những miền đất xa lơ xa lắc, hỏi ai không thích!


Ở chỗ nào mà anh biết tiết chế kiến thức, chắt lọc tư liệu thì sự việc không che lấp con người, nhân vật lung linh, sinh động. Ở chỗ nào anh mải phô kiến thức thì hỏng! Đôi lúc, anh say sưa hư cấu mà quên mất tính lịch sử của hiện tượng, của sự kiện. Ở những đoạn này, nếu không được biên tập kỹ, truyện sẽ rơi vào phi lý, vô căn cứ, xâm phạm tính chân thực của lịch sử, của thời đại, tất dẫn đế hệ quả là thiếu sức thuyết phục người đọc!


Mười một truyện trong tập này đều theo một chủ đề xuyên suốt là tôn vinh lòng dũng cảm, mưu trí của nhân dân Việt Nam từ xưa tới nay, thà chết vinh không chịu sống nhục, không thỏa hiệp với bọn xâm lược và lũ bán nước. Phảng phất trong từng truyện là bức tranh gợi cảm về tâm hồn dân Việt, ngợi ca bản sắc văn hóa, lòng nhân ái của dân tộc.


Nhà văn Ngọc Toàn sinh vào mùa Xuân năm Kỷ Mão, 1939, tại Hà Nội; đến Xuân Ất Mùi này, anh Bẩy mươi bẩy tuổi. Từ sau truyện lịch sử đầu tay Người quản tượng của Vua Quang Trung, anh đã xuất bản các tác phẩm: Triệu Đà, Hai vị Đô đốc, Cái chết của Đại hãn, Vùng đất mới, Bí mật đền Sỹ Nhiếp. Tất cả đều ngắn, gọn, đều viết về đề tài lịch sử, dã sử, mà anh gọi là dị sử. Tôi tin là văn chương về đề tài lịch sử sẽ không bao giờ vắng bóng trên văn đàn. Một đất nước, một dân tộc mà không biết trân quý lịch sử, không tôn vinh truyền thống, lớp trẻ không đọc văn học sử, chắc chắn đất nước ấy, dân tộc ấy sẽ tiêu vong, trước hết là về văn hóa, rồi sau đó…! Cho nên, tôi nghĩ, văn chương Việt Nam hiện nay rất cần những cây viết trẻ dồn tâm sức, trí tuệ vào mảng đề tài vô cùng ít người viết này!


Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, 28-01-2015


Nguồn: Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân in trong tập Hổ Thần của Ngọc Toàn, NXB Hội Nhà văn, 2015.


www.trieuxuan.info


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »