tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20802052
Những bài báo
28.05.2017
Nhiều tác giả
Những bài viết về Phó Giáo sư Lê Bá Hán



Có một gia đình hiếu học


Cha là Phó giáo sư Lê Bá Hán. Bốn người con thì một là Giáo sư, ba là Phó giáo sư, hiện đang công tác tại các trường Đại học, Viện nghiên cứu trong và ngoài nước. Đó là hình ảnh gia đình cố Phó giáo sư Lê Bá Hán, một người con của đất Hà Tĩnh.


Tôi nghe danh PGS Lê Bá Hán từ lúc còn học phổ thông nhưng không có may mắn được học thầy. Ngày tôi vào trường Đại học Sư phạm Vinh cũng là lúc thầy vừa nghỉ hưu và chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh. Những gì tôi biết về thầy qua các anh chị sinh viên khoá trước chỉ là mấy nét khái quát : thầy dạy rất hấp dẫn, tâm huyết, lại hiền lành, yêu thương học sinh.


Dịp gần đây, tôi được phân công thu tập thông tin về các GS, PGS đã công tác tại Đại học Sư phạm Vinh (nay là Đại học Vinh) để Tỉnh uỷ xuất bản cuốn sách về GS, PGS và những người con ưu tú của Hà Tĩnh trên mọi miền tổ quốc. Trong danh sách khá dài đó có thầy Lê Bá Hán. Đang băn khoăn chưa biết gửi phiếu cung cấp thông tin cho ai vì thầy đã mất thì tôi nhận được điện thoại của PGS.TS Đinh Trí Dũng, trưởng khoa Ngữ Văn, Đại học Vinh, một học trò của thầy Hán. Thế là tôi có được địa chỉ của con trai thầy - anh Lê Quang Hưng, hiện đang công tác tại Đại học Sư phạm Hà Nội.


Vài ngày sau khi gửi phiếu đề nghị cung cấp thông tin, tôi nhận được điện thoại của Phó giáo sư Lê Quang Hưng. Anh vừa đi công tác dài ngày từ Sài Gòn ra và hẹn sẽ gửi bản cung cấp thông tin của cả hai bố con cho tôi. Lúc này tôi cũng chưa biết ngoài anh Hưng ra thầy cô còn có 3 người con gái nữa cũng đều là Giáo sư, Phó giáo sư.


PGS Lê Bá Hán sinh ngày 15/2/1933 ở xã Đức Bồng, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1957, sau khi tốt nghiệp xuất sắc Đại học Văn khoa Quốc gia, ông được giữ lại làm cán bộ giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hai năm sau, khi Phân hiệu Đại học Vinh được thành lập, ông nhận nhiệm vụ vào “khai sơn phá thạch” nơi vùng đất gian khổ này. Và ông đã bám trụ, đã “chung thuỷ” với khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Vinh từ đó cho tới khi nghỉ hưu vào năm cuối của thế kỷ XX.


Hơn bốn mươi năm gắn bó với Đại học Sư phạm Vinh, thầy Lê Bá Hán đã từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như chủ nhiệm bộ môn Lý luận văn học, chủ nhiệm chuyên ngành Lý thuyết và Lịch sử văn học (hệ đào tạo sau đại học), chủ tịch Hội đồng Khoa học Trường Đại học Sư phạm Vinh. Đó cũng là những năm tháng vượt qua vô vàn gian khổ của cuộc chiến tranh chống Mĩ, nỗ lực vượt lên bao hạn chế của một trường đại học địa phương. Trong hoàn cảnh ấy, thầy Lê Bá Hán vẫn hòa nhập với không khí học thuật của cả nước, vẫn được bạn bè, đồng nghiệp trong giới khoa học xã hội nể trọng. Sau ngày nước nhà hoàn toàn thống nhất, thầy Lê Bá Hán đã nhiều lần được mời vào thỉnh giảng cho các trường đại học ở miền Trung và miền Nam của đất nước. Thầy đã được phong chức danh PGS Văn học năm 1984, được tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1992. Thầy từng là Ủy viên Hội đồng Học hàm chuyên ngành Văn học, trực thuộc Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.


Với tinh thần làm việc bền bỉ, năm 2000, sau khi có quyết định nghỉ hưu, PGS Lê Bá Hán vào miền Nam và tiếp tục giảng dạy, làm việc tại khoa Ngữ văn Trường Đại học Dân lập Văn Hiến, TP Hồ Chí Minh với chức vụ Trưởng khoa. Sự say nghề, tấm lòng yêu thương, tận tụy đối với các thế hệ học trò trong suốt gần 50 năm làm nghề giáo của thầy Lê Bá Hán) đang được nhiều lớp cán bộ, sinh viên truyền tụng.


Ngoài giảng dạy, Phó giáo sư Lê Bá Hán đã để lại những công trình nghiên cứu giá trị với vai trò chủ biên, viết chung như Cơ sở lý luận văn học (đây là bộ giáo trình lý luận văn học ở bậc đại học từ đầu thập kỷ 60 thế kỷ XX gồm nhiều tập), Những bức thư văn học; Thuật ngữ nghiên cứu văn học; Lý luận văn học (2 tập); Góp phần ôn tập văn học; Phấn đấu sáng tạo theo đường lối văn nghệ của Đảng, Từ điển thuật ngữ văn học; Tinh hoa Thơ mới, thẩm bình và suy ngẫm; Nửa thế kỉ nghiên cứu và học tập thơ văn Hồ Chí Minh ... PGS Lê Bá Hán cũng đã chủ nhiệm nhiều đề tài nghiên cứu quan trọng như“Về một số vấn đề lý luận văn nghệ đang được tranh luận qua công cuộc đổi mới” hay “Con người Nghệ An trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Công trình khoa học và công nghệ trọng điểm của UBND Tỉnh Nghệ An)


Suốt cuộc đời say sưa, miệt mài giảng dạy, nghiên cứu khoa học, PGS Lê Bá Hán đã được Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng nhiều huân chương, huy chương cao quý. Con người giỏi giang, nhân hậu là vậy nhưng không may mắc căn bệnh hiểm nghèo. Thầy đã ra đi ngay trước ngày Nhà giáo Việt Nam tháng 11 năm 2006 giữa sự tiếc thương của người thân, học trò, bạn bè và đồng nghiệp.


Những người con thành đạt:


PGSLê Bá Hán có 4 người con thì tất cả đều là những người thành đạt trên con đường học vấn. Hai người nối nghiệp cha theo ngành khoa học xã hội là PGS.TS Lê Quang Hưng - bảo vệ tiến sỹ Ngữ văn tại Đại học Sư phạm Hà Nội, hiện là Trưởng khoa Việt Nam học của trường đại học lớn này, và cô con gái thứ ba, PGS.TS Lê Thị Hoài Phương, bảo vệ tiến sỹ chuyên ngành Phê bình – Lý luận sân khấu tại Trường Đại học Quốc gia Sân khấu, Âm nhạc và Điện ảnh Lêningrat, Liên bang Nga. Hai chị em gái, chị đầu và em út lại đam mê lĩnh vực khoa học tự nhiên, đều lấy bằng tiến sỹ tại các trường đại học danh tiếng của Pháp. Con gái đầu PGS.TS Lê Thị Hoài Châu, một chuyên gia về didactic toán, bảo vệ luận án tiến sỹ ngành Lý luận dạy học tại Đại học Joseph Fourier – Grenoble và cô con út Lê Thị Hoài An hiện là GS. TSKH của Đại học Paul Verlaine Metz, Cộng hòa Pháp.


Con gái đầu của PGS Lê Bá Hán – Lê Thị Hoài Châu, ngay từ nhỏ là một tấm gương ham học. Tốt nghiệp khoa Toán trường Đại học Sư phạm Vinh năm 1975, chị làm giáo viên trường chuyên Phan Bội Châu, Nghệ Tĩnh, sau đó là cán bộ giảng dạy khoa Toán, Đại học Sư phạm Huế (1980 – 1991), Đại học Sư phạm Vinh (1992-1998) và Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh (kể từ tháng 9 - 1998). Ngoài công việc này, hiện nay, chị còn đảm nhiệm chức vụ Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn.


Trong một trường đại học sư phạm lớn như Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu và giảng dạy Lý luận dạy học là một sứ mệnh quan trọng. Là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công (năm 1997) luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận dạy học tại Pháp, chị là một trong vài người có công hàng đầu trong việc truyền bá và giảng dạy các lý thuyết của trường phái Pháp (didactic) ở Việt Nam. Kể từ năm 2000, đã có nhiều khóa thạc sỹ được đào tạo theo chương trình hợp tác với Pháp do chị chủ trì. Với niềm đam mê khoa học, chị đã có nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc được báo cáo tại các Hội nghị quốc tế về giảng dạy toán (như Hội nghị lần thứ 49 do Ủy ban quốc tế nghiên cứu và cải tiến việc dạy học toán tổ chức ở Bồ Đào Nha) hay công bố trên các tạp chí uy tín ở nước ngoài (như Recherche en Didactique des Mathématiques - Cộng hòa Pháp)..., là tác giả của nhiều sách chuyên khảo, giáo trình đại học, là đồng tác giả của cuốn sách song ngữ Những yếu tố cơ sở của didactic toán. Chị đã chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ được đánh giá cao. Đã có hai tiến sỹ do chị đồng hướng dẫn trong chương trình hợp tác giữa Đại học Joseph Fourier và Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.


Người con thứ hai của PGS Lê Bá Hán là PGS.TS Lê Quang Hưng, Trưởng khoa Việt Nam học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Anh là con trai duy nhất trong bốn anh chị em, đam mê văn chương rồi nối nghiệp giảng dạy, nghiên cứu của cha. Năm 1977, sau khi tốt nghiệp xuất sắc khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Vinh, anh được giữ lại công tác tại khoa, thành đồng nghiệp của cha mình. Thi đỗ đi học Nghiên cứu sinh ở Nga, nhưng đúng vào thời điểm chế độ Xô viết tan rã, anh chuyển sang làm Nghiên cứu sinh trong nước. Với niềm đam mê Thơ mới, đặc biệt là Xuân Diệu, anh đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội với đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Từ năm 1998, anh chuyển về làm cán bộ giảng dạy khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, được phong chức danh Phó Giáo sư năm 2003 và được bổ nhiệm Trưởng khoa Việt Nam học, Ủy viên Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ 2008 đến nay.


PGS.TS Lê Quang Hưng đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu, phê bình văn học được bạn bè, đồng nghiệp đánh giá cao như Phân tích thơ văn Chủ tịch Hồ Chí Minh (2 tập – viết chung), Tinh hoa Thơ mới, thẩm bình và suy ngẫm (đồng tác giả) Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, -Từ điển Tác giả, Tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường (tham gia), Chân dung các nhà văn Việt Nam hiện đại, (2 tập - viết chung), Đến với tác phẩm văn chương… Năm 1996, với chùm tiểu luận về Xuân Diệu. Anh đã được UBND Tỉnh Nghệ An tặng Giải B Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hồ Xuân Hương (mười năm 1986 - 1996)


Ngoài viết sách, PGS.TS Lê Quang Hưng còn chủ nhiệm nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ và cấp Bộ trọng điểm như “Cấu trúc thể loại của nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” (2005 – 2006), “Xây dựng chuẩn mực văn hóa học đường ở bậc Trung học phổ thông trong bối cảnh đất nước đổi mới, hội nhập (2008 – 2009), từng tham gia biên soạn nhiều giáo trình Đại học và sách giáo khoa phổ thông các cấp.


Người con thứ ba trong gia đình là PGS.TS Nghệ thuật học Lê Thị Hoài Phương. Ngay từ lúc học phổ thông, Hoài Phương đã có duyên nợ với nghệ thuật. Năm 1976, vừa tốt nghiệp phổ thông trung học, chị đã được đạo diễn điện ảnh Trần Vũ mời đóng vai cô sinh viên Hà trong bộ phim truyện Chuyến xe bão táp, ngay sau đó chị làm Phát thanh viên đầu tiên của Đài Truyền hình Vinh, Nghệ Tĩnh. Năm 1981, với tư cách sinh viên xuất sắc của trường Đại học Văn hoá Hà Nội, chị được cử đi học nước ngoài ở Trường Đại học Quốc gia Sân khấu, Âm nhạc và Điện ảnh tại thành phố Lêningrat (sau này là Học viện Nghệ thuật Sân khấu Sant-Petersburg - Nga) rồi tốt nghiệp chuyên ngành Phê bình – Lý luận Sân khấu, vào năm 1987. Cũng tại Học viện này, năm 1998 chị bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ Nghệ thuật học với đề tài về kịch Lưu Quang Vũ.


Chị Lê Thị Hoài Phương được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 2009 và hiện nay là Trưởng Ban Nghiên cứu Nghệ thuật, kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Chị là thành viên Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam; Chủ tịch Hội đồng đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nghệ thuật Sân khấu của Viện. Chị còn là hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.


Trong nhiều năm công tác, chị Lê Thị Hoài Phương từng được cử đi nghiên cứu ở nước ngoài về Chính sách Văn hóa và Quản lý Nghệ thuật (Trường đại học Goldsmiths, thuộc Trường Tổng hợp London, nước Anh). Năm 2004 - 2005 chị là một trong số bảy nhà khoa học của Việt Nam trúng tuyển nhận học bổng của Chương trình Trao đổi học giả Fulbright (Hoa Kỳ), sang nghiên cứu tại Trường Đại học Tổng hợp Bang Ohio. PGS.TS Lê Thị Hoài Phương đã được mời tham luận tại nhiều hội nghị quốc tế, đã có bài báo công bố trên tạp chí nước ngoài và hiện đang hợp tác với một số học giả Hàn Quốc để viết sách.


Ngoài công việc nghiên cứu, PGS. TS Lê Thị Hoài Phương còn là giáo viên thỉnh giảng cho 2 trường đại học là Đại học Văn hóa Hà Nội và Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh. PGS.TS Lê Thị Hoài Phương đã chủ nhiệm nhiều đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Viện, xuất bản 8 đầu sách in chung và riêng, trong đó có những tác phẩm được giới nghệ thuật đánh giá cao như Sân khấu – Nghề và Nghiệp, Hợp tác quốc tế về văn hóa trong thời kỳ Đổi mới ở Việt Nam...


Khác với các anh chị, GS.TSKH Lê Thị Hoài An - cô con gái út hiện định cư tại Mont Saint Aignan, Cộng hòa Pháp. Hiện nay chị là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng tin học, Đại học Paul Verlaine Metz, chủ tịch Hội đồng chuyên gia chuyên ngành tin học, Đại học Metz, Cộng hòa Pháp.


Tốt nghiệp thủ khoa khoa Toán Đại học Sư phạm Hà nội, năm 1980, chị An được giữ lại làm cán bộ giảng dạy khoa Toán của trường. Năm 1991 chị được cử sang học thạc sĩ tại Đại học Joseph-Fourrier Grenoble, Cộng hòa Pháp. Tiếp đó, chị làm luận án tiến sĩ tại Đại học Rouen, Cộng hòa Pháp. Chỉ sau hai năm (năm 1994), chị bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (bằng xuất sắc) chuyên ngành Tối ưu hóa và vận trù học.


Chưa dừng lại ở đó, chị Lê Thị Hoài An tiếp tục làm luận án tiến sỹ khoa học. Năm 1997, chị bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học chuyên ngành Toán tin ứng dụng, cũng tại Đại học Rouen. Với thành tích này, năm 1998, chị được bổ nhiệm Phó giáo sư tại Viện khoa học ứng dụng quốc gia Rouen, và 5 năm sau được bổ nhiệm Giáo sư tại Đại học Paul Verlaine Metz.


Với niềm đam mê toán và tin học ứng dụng, GS.TSKH Lê Thị Hoài An đã tập trung nghiên cứu các vấn đề khoa học có ý nghĩa thiết thực với cuộc sống như phương pháp tối ưu hóa, vận trù học và các ứng dụng vào nhiều lĩnh vực công nghệ - quản lý sản xuất, giao thông vận tải, tài chính, viễn thông, tin sinh học, khai thác dữ liệu, xử lý ảnh, mã hóa và an toàn tin học.


Cùng với công việc giảng dạy, trong hoạt động nghiên cứu GS.TSKH Lê Thị Hoài An đã công bố trên 100 bài báo khoa học trên các tạp chí và các nhà xuất bản hàng đầu thế giới trong lĩnh vực Toán-Tin ứng dụng. Chị đã có trên 100 báo cáo tại các Hội thảo khoa học quốc tế, là chủ biên của 5 cuốn sách chuyên ngành. Con số những luận án tiến sỹ do chị đã và đang hướng dẫn thật đáng nể : 21 luận án tiến sỹ, 3 luận án tiến sỹ khoa học. Là một nhà khoa học quốc tế năng động, chị đã chủ trì nhiều hội thảo quốc tế, tham gia nhiều chương trình đào tạo thạc sỹ và nghiên cứu sinh ở một số nước ngoài Pháp như Nga, Luxembourg, Maroc, Algérie, Iran và Việt Nam. Là một người con đất Việt, GS.TSKH Lê Thị Hoài An luôn hướng về quê hương bằng nhiều đóng góp trong các chương trình trao đổi và nghiên cứu khoa học. Chị đã chủ trì nhiều chương trình hợp tác giữa Viện, các Trường đại học của Pháp, Canada với các trường đại học ở Việt Nam, giúp đỡ và tài trợ học bổng cho nhiều cán bộ trẻ và sinh viên mới tốt nghiệp sang Pháp học tập và nghiên cứu, tạo điều kiện đón tiếp một số cán bộ nghiên cứu trình độ cao ở Viện Toán học Hà Nội và một số trường đại học sang cộng tác khoa học tại Pháp hàng năm.


Đóng góp lớn nhất của chị Lê Thị Hoài An là đã cùng với chồng mình - anh Phạm Đình Tảo - Giáo sư, Tiến sỹ tại Viện khoa học ứng dụng Quốc gia Rouen (thứ nam của Cố GS Phạm Đình Ái, người đã được Bác Hồ tặng thưởng huân chương về thành tích chế ra axit sunfuric phục vụ kháng chiến chống Pháp) phát triển thuật toán DCA - một hướng đi mới rất hiệu quả của các phương pháp tối ưu không lồi được nhiều người biết đến và nhiều nơi trên thế giới sử dụng. Những công trình nghiên cứu của anh chị về vấn đề này được thế giới đánh giá rất cao và được sử dụng vào việc giải quyết nhiều vấn đề quan trọng trong các lĩnh vực công nghệ khác nhau.


Khi gửi email, chị Hoài An đã không khỏi trăn trở với sự phát triển của trường đại học trên quê hương mình: “Là một nhà khoa học, tôi rất mong muốn được đóng góp công sức của mình vào việc đào tạo cán bộ cho trường Đại học Hà Tĩnh, một địa phương có truyền thống hiếu học và là cái nôi của rất nhiều nhà khoa học. Vì vậy chiến lược phát triển Đại học Hà Tĩnh trở thành trường có tầm cỡ quốc gia không những cần thiết cho sự nghiệp phát triển quê hương mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong việc khuyến khích, phát huy truyền thống hiếu học của người Hà Tĩnh chúng ta, và góp phần phát triển đất nước Việt Nam”.


Thay lời kết


Làm nên sự thành đạt của năm nhân vật kể trên, thật là có lỗi nếu không nói tới vai trò của các thành viên khác trong đại gia đình. Người vợ của cố Phó giáo sư Lê Bá Hán, cô Nguyễn Thị Lộc, cũng từng là một cô giáo. Cô đã có nhiều năm giảng dạy ở các bậc phổ thông, nhiều năm tham gia Ban phụ trách Khối phổ thông Chuyên Toán của trường Đại học Sư phạm Vinh. Chính người vợ, người mẹ vừa nỗ lực trong nghề nghiệp vừa tần tảo, đầy hi sinh trong cuộc sống gia đình ấy đã đóng góp một phần không nhỏ cho những thành đạt của chồng con. Những người con dâu, con rể của thầy Hán, cô Lộc cũng là những nhà giáo, cán bộ quân đội có vị trí trong nghề nghiệp của mình.


Tôi đã nhận gần 500 email trong quá trình biên tập cuốn sách về các nhà khoa học quê Hà Tĩnh. Mặc dù là một người Hà Tĩnh nhưng tôi vẫn không khỏi bất ngờ với số lượng GS, PGS, cán bộ cao cấp người tỉnh mình đang công tác trên mọi miền tổ quốc. Có quá nhiều người kiệt xuất, nhiều gia đình thành đạt, mà trong đó, gia đình cố Phó Giáo sư Lê Bá Hán là một điển hình.


Để kết thúc bài viết này, tôi xin trích đăng bài thơ cuối cùng của cố Phó giáo sư Lê Bá Hán khi ông về thăm quê sau nhiều năm xa cách như một nén nhang thành tâm gửi tới người thầy, người cha đáng kính. Ông và gia đình đã và đang "sống đẹp trọn cuộc đời" như lời ước nguyện với quê hương.


NGÀY VỀ


Kỷ niệm ngày về quê hương


 


Ra đi mớ tóc còn xanh


Ngày về mái đầu đã bạc


Một buổi chiều u ám rời quê


gạt thầm nước mắt


Sáng xuân nay trở về


ấm áp quá Vũ Quang ơi!


Xin gửi quê hương trọn niềm yêu dấu


Nguyện cùng quê hương


sống đẹp trọn cuộc đời.


10/2/2006


Thái Sơn


Nguồn: http://lienket4nha.vn


Tự hào được là con của cha


Gần ba năm rồi kể từ ngày cha của chúng tôi (PGS, NGƯT Lê Bá Hán) đi xa, nhưng chẳng có ngày nào chúng tôi không cảm thấy có ông bên cạnh. Cha luôn trong lòng, trong tâm tưởng chúng tôi. Trên mỗi bước chúng tôi đi, trong mỗi việc chúng tôi làm, chúng tôi đều cảm thấy cha đang dõi theo với đôi mắt lúc hiền từ, trìu mến mỗi khi chúng tôi làm được điều tốt, điều có ích, và cũng có lúc trầm tư, ưu phiền mỗi khi chúng tôi gặp điều trắc trở...


Sinh ư nghệ, tử ư nghệ. Cha chúng tôi ra đi ngay trước ngày 20 tháng 11, ngày Nhà giáo Việt Nam, cũng là ngày hội chung lớn nhất của đại gia đình chúng tôi, một gia đình có tất cả bố, mẹ, các con trai, con gái và dâu, rể đều là nhà giáo (chưa kể phần lớn các chú, các dì, các cậu là anh chị em của bố mẹ chúng tôi cũng làm nghề đi dạy). Trước đây, trong niềm vui chung, ngày 20 tháng 11 hằng năm là ngày vui nhất của gia đình tôi với hoa tươi tràn ngập và ríu rít tiếng cười nói của từng đoàn học trò đến chúc mừng thầy cô chật ních cả nhà. Vậy mà ngày Nhà giáo năm ấy lại là một ngày đau buồn tột cùng của gia đình chúng tôi. Đó là ngày 20 tháng 11 đầu tiên trong đời chúng tôi không có cha cùng đón nhận những bó hoa tươi thắm và những lời chúc tụng cho cái nghề cao quý mà cha tôi đã dành trọn cả cuộc đời. Nỗi đau càng thấm thía hơn khi hôm ấy vẫn có mấy người học trò cũ của cha tôi mang hoa tới tặng thầy. Tôi đã phải mấy lần vừa khóc vừa trả lời điện thoại của học trò của cha tôi ở mấy tỉnh phía Nam gọi ra chúc lễ thầy, vì nhiều người vẫn chưa hay tin cha tôi vừa ra đi... Đầu dây bên kia là những tiếng kêu thảng thốt, nghẹn ngào khi nghe tôi thông báo... Đã ba dịp 20 tháng 11 qua đi, không hiểu sao, trong thâm tâm tôi cứ ám ảnh điều này: Cha tôi - một nhà giáo, một người thầy đã dành trọn 50 năm của cuộc đời mình cho sự nghiệp trồng người, và ra đi đúng trước ngày 20 tháng 11, ngày của nhà giáo - phải chăng đây là định mệnh, là sự "sắp xếp" của tạo hóa để cho ông từ biệt cõi trần gian này tại thời điểm được "chốt" lại bằng chính cái ngày ý nghĩa nhất của cái nghề mà ông đã chọn? Nếu như trong nửa thế kỷ qua có những nhà giáo hết lòng với trò, tận tụy với nghề thì chúng tôi có thể tự hào rằng cha của chúng tôi là một người trong số đó. Khởi nghiệp sư phạm từ năm 1957 tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội, năm 1959 về Vinh để cùng một số nhà giáo khác gây dựng trường đại học đầu tiên trên quê hương xứ Nghệ là ĐHSP Vinh. Sau hơn 40 năm gắn bó, năm 2000 ông lại được mời làm Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Văn Hiến, TP Hồ Chí Minh. Nếu như không vì căn bệnh quái ác cướp đi sự sống thì cha của chúng tôi vẫn chưa chịu nghỉ ngơi theo đề nghị của vợ con, bởi, như ông đã nói, "được làm việc cũng là niềm vui, muốn làm việc vì mình vẫn có ích cho nhiều người". Lúc sinh thời, cha tôi dạy Lý luận văn học. Nhiều thế hệ học trò của ông, nhiều năm sau khi đã tốt nghiệp ra trường, vẫn truyền nhau lòng ngưỡng mộ thầy Lê Bá Hán, dạy môn Lý luận văn học nhưng bài giảng của thầy không hề khô khan, trái lại rất hấp dẫn, sinh động. Những cựu sinh viên đã từng được cha tôi hướng dẫn làm luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đều nhận xét: Tính thầy rất cẩn thận, tỉ mỉ, thầy yêu cầu trò phải làm việc nghiêm túc, bản thân thầy thì chẳng tiếc công sức và thời gian, chỉ bảo tận tình, đọc bản thảo sửa chữa cho trò từng ly, từng tý... Chúng tôi gọi cha là Cậu, gọi mẹ là Mợ. Cậu Mợ tôi có bốn người con, một trai, ba gái, đều là GS, PGS, TS, giảng dạy ở các trường đại học trong và ngoài nước. Cả bốn chị em chúng tôi đã "nhiễm" lòng yêu nghề, yêu trò của cha mẹ một cách tự nhiên, cứ như là hưởng gen di truyền vậy. Dẫu một nửa theo nghề của mẹ - dạy toán, một nửa theo nghề của cha - dạy khoa học xã hội, nhưng tất cả chúng tôi đều được nhiều thế hệ học trò kính yêu, thán phục là những nhà giáo có tâm và có trí. Sống làm người tử tế, Cha tôi là một người giàu lòng nhân ái, bản tính hiền hòa và rất tình cảm. Làm nghề dạy văn nên tâm hồn ông rất nhân hậu (mà cũng có thể vì bản tính ông như vậy nên nghề đã "chọn" ông). Với vợ và các con cháu, ông luôn dành tình thương yêu sâu nặng. Vào những năm 1980, khi những đứa con của ông bà đã trưởng thành và lần lượt đi xa, cậu tôi đã nhiều lần khóc thầm sau khi chia tay con cháu. Như vào một ngày tháng 7 năm 1981, sau khi chia tay tôi lên đường sang Liên Xô (cũ) học tập, trên xe ôtô trở về Vinh, cậu tôi đã khóc rất nhiều (mãi sau này cậu tôi mới kể trong một lá thư gửi cho tôi); gia đình chị cả của chúng tôi là Lê Thị Hoài Châu có thời kỳ sống cùng ông bà ở Vinh, sau này chuyển vào TP Hồ Chí Minh. Tiễn mấy mẹ con chị vào Nam, cậu tôi thương nhớ mà viết thành thơ: Con đi rồi, nhà bỗng rộng thênh/ Quay mặt vào tường cậu nằm khóc mãi/ Gia đình con vào nơi xa ngái/ Giông bão cuộc đời, thương lắm con ơi! Trong gia đình cậu tôi là người tình cảm như vậy, với bà con hay anh em đồng nghiệp, ông cũng luôn là người gần gũi, lúc nào cũng ôn tồn, nhẹ nhàng rất mô phạm. Suốt chục năm chiến tranh chống Mỹ, đưa vợ con cùng Trường Đại học Sư phạm Vinh đi sơ tán ở miền núi, thôn quê, đến đâu tôi cũng thấy cậu của chúng tôi được các ông bà nông dân nơi sơ tán kính trọng, gần gũi. Ông hòa đồng với cuộc sống của người dân lao động rất tự nhiên, chân tình. Từ tháng 8-2000 cậu mợ tôi chuyển vào sống ở TP Hồ Chí Minh, công tác tại Trường ĐH Văn Hiến. Chặng đường từ nhà ở quận Tân Phú đến trường khá xa, thời tiết thì nắng, nóng quanh năm. Cậu tôi thường đến trường bằng xe ôm do anh Bảo ở gần nhà chở. Nhiều lần mợ tôi và chúng tôi đều khuyên ông nên đi taxi cho bảo đảm sức khỏe, nhưng ông vẫn không nghe. Chúng tôi cứ nghĩ là do tính ông tiết kiệm nên đi xe ôm cho đỡ tốn kém. Sau khi cậu tôi đã mất, mợ tôi mới kể, có lần mợ tôi cố thuyết phục ông đi làm bằng taxi, cậu tôi nhỏ nhẹ nói: "Không phải tôi tiếc tiền đâu, nhưng hoàn cảnh nhà thằng Bảo khó khăn lắm, cả nhà trông chờ vào cái nghề xe ôm của nó, tôi đi thế này thì nó có thêm thu nhập". Nghe mợ tôi kể, tôi thấy thương cậu tôi đến xót xa, và cảm phục ông vô cùng. Tôi cũng tự trách mình, là con của ông nhưng chúng tôi cũng chưa thể hiểu hết được cái cao cả trong con người ông... Thế nhưng ở Đại học Sư phạm Vinh, cậu tôi cũng nổi tiếng là người khảng khái, ngay thẳng. Hình như đã trải qua nhiều vất vả, mất mát rồi, nên ông đã chọn cho mình một lẽ sống: làm một người tử tế. Người tử tế là người, như ông đã từng dạy các con của ông, sống có nhân cách, có lòng tự trọng, lấy chữ Tâm làm đầu, thương yêu mọi người, không xu nịnh, không làm điều ác... Tất nhiên cậu mợ tôi không dùng nhiều lời lẽ để dạy dỗ các con, nhưng bản thân lối sống của cha mẹ chúng tôi đã là tấm gương cho tất cả các con của ông bà noi theo một cách tự nhiên như cơm ăn, áo mặc hằng ngày. Và đến lượt chúng tôi lại dạy con mình như thế.


Lê Thị Hoài Phương


Nguồn: nhandan.com.vn  18/11/2009


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ Hồng Anh, một nhà khoa học chân chính - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
xem thêm »