tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20802033
Những bài báo
26.05.2017
Nhiều tác giả
Triều đình Phong kiến chống tham nhũng như thế nào?



Người xưa chống tham nhũng: Chặt tay, chém đầu quan tham


Ăn trộm của một huyện không thể tha


Trịnh Khả (1403 - 1451) có mặt trong hội thề Lũng Nhai và trở thành một trong những vị tướng của Lam Sơn, lập được nhiều công lao. Năm 1428, ông được Lê Lợi phong hàm Kim tử vinh lộc đại phu, Tả lân hổ vệ tướng quân, tước Liệt hầu, có tên trong bảng khắc ghi danh sách 93 vị công thần khai quốc.


Đầu đời Lê Nhân Tông, Trịnh Khả được phong hàm Nhập nội suy trung tán lí dương vũ công thần, kiêm Lỗi Giang trấn phủ quân; Thượng tướng quân, cai quản việc quân các vệ ở Tây Đạo, tước Quận thượng hầu. Lúc này, cùng với Lê Thụ, ông là bậc tể phụ của triều đình, nhưng khác với Lê Thụ, ông thẳng thắn, biết tự nhận lỗi của mình.


Sinh thời, ông rất ghét bọn quan lại tham ô và bọn xu nịnh, Đại Việt thông sử viết: “Viên Chủ bạ Nam Đạo là Đàm Thảo Lư ẩn lậu 4 quan tiền thuế, theo luật không đến nỗi xử tử, nhưng y đã từng vu hãm Nguyễn Thiên Tích nên ông ghét lắm, bèn quyết định ghép vào tội chết”. Viên Chuyển vận phó sứ huyện Văn Bàn là Trương Tông Ký ăn hối lộ, việc phát giác, án làm xong sắp đem chém thì tả hữu xin tha, ông nói: “Ăn trộm của một nhà còn không tha được huống hồ ăn trộm của một huyện sao tha được”. Để kẻ bị tội tâm phục khẩu phục, Trịnh Khả lại cho tra xét lại và cuối cùng vẫn xử tội chết, điều đó khiến các quan vừa nể vừa sợ.


Chặt tay để răn đe


Vua Lê Thánh Tông là người kiên quyết chống nhũng lạm và tùy theo tội mà xử nặng hay nhẹ, nhưng có khi tội nặng ông vẫn tha mạng sống để họ hối lỗi, từ đó mà phụng sự triều đình tốt hơn. Có kẻ phạm tội bị buộc vào tội hình và có người đứng ra xin cho nộp tiền chuộc nhưng Lê Thánh Tông bảo bầy tôi trong triều: “Xin cho người mắc tội được nộp tiền chuộc, như thế thì người giàu có nhiều của đút lót mà khỏi tai vạ, người nghèo vì không có tiền mà phải chịu tội lỗi, thế là làm trái cả phép tắc của tổ tông và hạ lệnh cho pháp ty xét xử trị tội theo luật định”.


Một lần, con trai của Tây quân Đô đốc Lê Thiệt cưỡi ngựa phi thẳng vào chỗ đông người gây ra tai nạn mà còn bỏ mặc họ. Khi biết là con của Lê Thiệt, Thánh Tông sai lính nọc ra đánh 50 roi và cách chức ông bố. Lê Thánh Tông cũng cấm vợ các quan lớn không được đi lại, chơi bời với nhau vì sợ bọn họ cấu kết rồi đi cửa hậu, con cái của các quan lớn cũng không được lợi dụng chức quyền của bố mình để làm các việc phi pháp.


Minh Mạng là vua thứ hai của nhà Nguyễn, không chỉ ban chiếu dụ nhằm đưa ra các chủ trương hạn chế, ngăn ngừa nạn tham nhũng mà còn xử lý rất nghiêm khắc, đặc biệt là hàng quan theo Hoàng Việt luật lệ.


Minh Mạng cho rằng xử tội chết có thể khắt khe nhưng rất cần thiết để ngăn chặn tệ tham nhũng và làm gương cho kẻ khác. Tư vụ Nội vụ phủ Nguyễn Đức Tuyên ăn bớt nhựa thơm bị phát hiện, vua dụ: “Tội của Tuyên đáng lẽ cho trói mang dong ra chợ Cửa Đông chém đầu nhưng lần này tạm chặt một bàn tay thủ phạm treo lên, xóa tên của nó ra khỏi sổ quan, để lại cho nó cái đầu khiến cho nó suốt đời phải hối hận và nhờ đó mọi người biết mà tỉnh ngộ”. Viên coi kho Đinh Văn Tăng tham nhũng trong cân đong thóc gạo bằng việc đổi cách làm phương hộc (một dụng cụ đo lường) nên bị chém đầu và chặt một bàn tay ướp muối phơi khô rồi treo lên để mọi người thấy mà ghê. Đối với người thân, Minh Mạng cũng xử lý nghiêm khi họ phạm tội, không phân biệt người thân hay sơ, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật.


Vụ xử tội nhận hối lộ lớn nhất


Tự Đức (1847 - 1883) là vị vua thứ tư của triều Nguyễn, ông nổi tiếng về chống tham nhũng, hối lộ và xử nghiêm bằng luật. Vũ Dinh là quan thanh liêm, chính trực có lần cho lính theo dõi bắt quả tang người coi kho lấy trộm tiền, giấu vào túi áo rồi tìm cách trốn ra quán uống rượu. Bản án được lập:


Nhất nhật nhất tiền


Thiên nhật thiên tiền


Thằng cứ mộc đoạn


Thủy trích thạch xuyên


(nghĩa là: Một ngày một đồng/Ngàn ngày ngàn đồng/Dây cưa gỗ đứt/Nước chảy đá mòn). Tội biển thủ nếu không trị nặng thì một ngày kia, kho tàng nhà nước sẽ trống rỗng, cho nên phải chém. Nhà vua xem xong liền phê chuẩn y án.


Tháng 12.1854 (năm Giáp Dần), một thương nhân Trung Quốc là Chu Trung Lập gửi đơn lên triều đình tố giác quan lại nhiều địa phương ăn của đút lót thương thuyền ngoại quốc. Tự Đức liền phái quan Quản viện đô sát cầm đầu đoàn thanh tra triều đình đến Quảng Nam điều tra làm rõ vụ việc và phát hiện những tố giác là có thật. Chiếu theo Hoàng Việt luật lệ, 17 người bị xử tội giảo giam hậu (bắt thắt cổ chết nhưng còn tạm giam đợi lệnh), 25 người bị tội lưu đày, 12 người bị tội làm lao dịch, 8 người bị phạt đánh gậy và cách chức. Nhiều quan lớn cũng dính vào vụ này như: Tham tri Bộ Hộ Phan Tĩnh, nguyên Bố chánh Đào Trí Phú, nguyên đốc học Phan Bật chia nhau 60 lạng bạc bị tội lưu đày, Tri phủ Điện Bàn Nguyễn Bá Đôn ăn hối lộ 12 lạng bạc, án sát Đặng Kham nhận đút lót 82 lạng bạc, Kham sợ quá lâm bệnh chết trong tù. Đây là vụ án xử tội nhận hối lộ lớn nhất ở nước ta thời kỳ phong kiến.


Xây dựng kỷ cương đặt quan, phân chức


Nhũng lạm, ngoài chính bản thân con người còn có nguyên nhân khác là kẽ hở của cơ chế tạo cơ hội cho quan tham đục khoét. Song dù quy định có chặt chẽ thế nào cũng không thể bao quát hết được nên trước hết vua, quan phải là tấm gương.


Vua Lý Nhân Tông sắp băng hà đã để lại di chiếu nhắc nhở việc tang lễ phải tiết kiệm. Vua Lê Thánh Tông thấy con dân của mình khốn khó đã triệt bỏ đồ nhạc, giảm bớt thức ăn. Thời Trần có Trần Thời Kiến nổi tiếng thanh liêm được vua ban cho cái hốt với bài minh ca ngợi, còn Vũ Tụ thời Lê Sơ làm quan to nhưng vẫn sống thanh bần được vua ban cho thẻ bài “Liêm tiết”.


Lê Thánh Tông rất đề cao quan thanh liêm, thấy người tài đức, vua đã ra sắc lệnh: “Từ nay, Cấp sự trung trong Lục khoa và Giám sát ngự sử nếu có khuyết ngạch thì Bộ Lại chọn các quan trong kinh sư, ngoài các đạo... là người liêm khiết, cần mẫn, cứng rắn, ngay thẳng, có thành tích về chính trị, thì cất nhắc lựa bổ”. Người được đề cử vào chức vụ ấy sẽ thử việc trong một năm, nếu xứng thì giữ nguyên, không đổi sang chức khác. Với quan miền viễn biên, nếu thanh liêm, “hết lòng vỗ về thương yêu dân, không nhũng nhiễu” và việc thu thuế vẫn đầy đủ khi mãn hạn 6 năm, hoàn thành tốt công việc sẽ cho chuyển về nơi tốt hơn. Và không chỉ vậy, Lê Thánh Tông còn thưởng tiền bạc.“Nhà ngươi (quan Nguyễn Thiện) làm bầy tôi, hết lòng thành lo việc nước, thường dâng lời nói phải, có lúc trẫm dùng uy quyền để lấn át cũng chưa thấy nhà ngươi nao núng. Thật là đáng khen. Vậy đặc cách sai viên Ty lễ giám đem sắc dụ đến ban khen thưởng cho bạc lạng”. Nguyễn Phục luôn ăn nói ngay thẳng do đó đã được thăng làm Tham chính Thanh Hóa và thưởng nhiều vàng bạc.


Về dùng hiền tài thời Trần có chuyện như sau: Khi người thân có ý muốn đưa người nhà ra làm quan, Trần Thủ Độ biết rõ người đó tài trí ra sao đã nói rằng phải chặt ngón tay, người thân hỏi sao làm vậy, ông trả lời triều đình đã có quy định về chọn người làm quan, chặt ngón tay để phân biệt quan giỏi và quan kém cỏi. Thế là người thân không dám xin xỏ nữa.


Răn bề tôi có công


Đầu năm 1428, Đại Việt sạch bóng quân xâm lăng, Lê Lợi lên ngôi vua. Trải qua hai mươi năm bị ngoại xâm, chiến tranh tàn phá, đất nước chìm ngập trong khó khăn chồng chất nên Lê Thái Tổ đã dồn hết tâm lực để giải quyết những công việc quốc gia đại sự. Mặc dù vậy, Lê Thái Tổ vẫn luôn canh cánh nỗi lo giữ nghiêm phép nước.


Ngày 26.2.1429, Lê Thái Tổ ra lệnh cho các đại thần và các quan hành khiển xem lại các điều lệnh của ông có gì phương hại đến việc quân, việc nước, hoặc giả là việc sai dịch không. Ngày 18.10.1429, ông lại ra lệnh cho các đại thần, tổng quản và các quan từ hành khiển trở xuống: “Người xưa có câu: Vua không chọn tướng mà dùng thì có khác gì đem dâng nước mình cho giặc. Trẫm không lúc nào không suy nghĩ đến điều đó. Bởi đêm ngày lo nghĩ nên mới đem việc quân, việc nước quan trọng mà trao cho các khanh. Thế mà các khanh cứ điềm nhiên như không, trên thì phụ lòng tin dùng của triều đình, dưới thì chẳng chút đoái thương đến quân dân, sao mà biếng nhác việc quan đến thế? Nay, ta ra chiếu này để răn báo, nếu không biết tự mình sửa lỗi, lại còn tái phạm, thì phép nước còn chờ đó, khi ấy đừng nói là trẫm phụ bề tôi cũ có nhiều công lao”.


Nói ra điều ấy Lê Lợi muốn bách quan nghiêm giữ phép nước nhưng trước hết quan lại, nhất là các bậc khai quốc công thần, trước phải tự làm gương. Nước thịnh hay loạn cốt ở trăm quan, được người giỏi thì nước trị, dùng người xấu thì nước loạn.


Quy chế về bảo cử, tiến cử được tiến hành rất tốt và nghiêm túc dưới thời Lê Thánh Tông. Nhiều trường hợp tiến cử, bảo cử không đúng đã bị bác bỏ như trường hợp Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Như Đỗ đề cử Nguyễn Thế Mỹ và 8 người ứng tuyển vào các vị trí nhưng xét thấy họ đều mới ra làm quan, tài cán tầm thường nên Lê Thánh Tông lại hạ lệnh cho cử 10 người hiện làm quan trong kinh từ hàng ngũ phẩm trở xuống. Thậm chí trường hợp của Lê Niệm tiến cử người không xứng chức đã bị bãi miễn.


Không chỉ ra quy định về chọn quan, năm 1471, Lê Thánh Tông đặt Lục khoa (cơ quan thanh tra, giám sát) bên cạnh Lục bộ, Lục tự, có trách nhiệm xem xét hành vi sai trái của quan lại. Ngay cả Bộ Lại, bộ có quyền hành cao nhất trong việc tuyển bổ, thăng giáng mà không đúng thì cơ quan thanh tra có quyền tố cáo, giới thiệu người khác để cho “lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, khinh trọng cùng ràng buộc nhau, khinh trọng cùng kiềm chế nhau, uy quyền không giảm mà lẽ nước khó lay suy”. Sớm có ý thức kiến thiết, xây dựng đội ngũ quan lại nên Lê Thánh Tông đã tỏ rõ quan điểm của mình: “Nhân được thời mà ra trị nước, tất phải đặt quan, phân chức, xây dựng kỷ cương, định rõ chế độ cho một đời, mở nền thái bình cho muôn thuở”.


Sĩ phu thức giả chống tham quan


Từ nhà Lý đến nhà Nguyễn, thời nào cũng có bậc sĩ phu thức giả đóng góp ý kiến khi đất nước trước nguy cơ bị xâm lược hay tỏ rõ thái độ trước các tệ nạn trong giới quan trường.


Chu Văn An (1292 - 1370) quê ở làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, H.Thanh Đàm (nay thuộc xóm Văn, xã Thanh Liệt, H.Thanh Trì, Hà Nội) là bậc hiền nho, một tấm gương tiết tháo, suốt đời không màng danh lợi. Nhận thấy tài năng và đức độ của Chu Văn An, vua Trần Minh Tông đã mời ông làm Tư nghiệp Trường Quốc Tử Giám dạy học cho thái tử.


Đến đời Trần Dụ Tông, thế sự thay đổi, vua quan ăn chơi sa đọa, gian thần thì nhũng lạm, đục khoét dân nghèo ngày càng nhiều. Cảm xót trước vận mệnh nước nhà, Chu Văn An nhiều lần can ngăn nhưng vua không nghe và ông đã dâng sớ xin chém 7 nịnh thần - những kẻ xu nịnh, o bế vua, dựa vào quyền thế vua để lộng hành thu lợi riêng và làm hại cho dân cho nước. Song việc bất thành nên ông cáo quan về dạy học, viết sách cho đến lúc mất.


Đây là tờ sớ mang dấu ấn lịch sử rất quan trọng, tiến sĩ Lê Tung dưới triều vua Lê Thánh Tông và Lê Tương Dực, tác giả của Đại Việt thông giám tổng luận viết: “Thất trảm chi sớ nghĩa động quỷ thần”. Danh sĩ Nguyễn Văn Lý (thế kỷ 20) có thơ:


Thất trảm vô vi tồn quốc luận


Cô vân tuy viễn tự thân tâm


(tạm hiểu: Sớ thất trảm không được thi hành, cả nước bàn luận. Đám mây tuy xa vẫn tự có tinh thần trong lòng).


“Tham nhũng tràn lan là nguy cơ mất nước”


Xuất thân dòng dõi khoa bảng, Lê Quý Đôn (1726 - 1784) có kiến thức uyên bác trong nhiều lĩnh vực như: Lịch sử, địa lý, thiên văn, lý số, khoa học, kinh sách và thơ văn... trong đó sách Vân đài loại ngữ của ông được coi là bộ bách khoa toàn thư hoàn hảo nhất thời Lê Trung hưng.


Giữa bối cảnh vua Lê - chúa Trịnh thống trị ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn cát cứ ở Đàng Trong khiến Lê Quý Đôn ý thức được hiểm họa thường lặp lại của lịch sử là mỗi lần đất nước rối ren suy yếu thì kẻ thù lại dòm ngó. Vì thế, ông đã khuyến cáo triều đình 5 nguy cơ mất nước gồm: Một là sĩ phu thức giả ngoảnh mặt đi trước thời cuộc; Hai là xã tắc tham nhũng tràn lan; Ba là binh kiêu ngạo, tướng thoái hóa; Bốn là học trò không kính trọng thầy giáo; Năm là trẻ con khinh thường người già. Lê Quý Đôn vốn tinh thông về lý học, biết trời đất hết vơi rồi lại đầy, hết đầy rồi lại vơi, nhưng theo ông thì phải “tận nhân lực mới tri thiên mạng”.


Viết sách chống tham nhũng


Đặng Huy Trứ (1825 - 1874) nổi tiếng thông minh, đĩnh ngộ từ nhỏ. Khoa thi Hội năm 1844, ông lọt qua các vòng thi Kỳ coi như đã chắc chắn đỗ tiến sĩ nhưng khi vào thi Đình lần cuối chẳng may bài thi phạm húy nên bị cách tuột và cấm thi suốt đời.


Biết tài học của ông, một vị quan lớn đương triều đã mời ông về dạy học cho con em trong nhà và 8 năm sau, nhờ vị quan nọ tâu xin với vua, ông được thi lại và lại đỗ tiến sĩ. Ra làm quan, Đặng Huy Trứ lần lượt trải các chức: Thông phán Ty Bố chính Thanh Hóa, Tri huyện Quảng Xương, Tri phủ Thiên Trường (Nam Định). Một thời gian sau, ông được triệu về kinh làm Hàn lâm viện trước tác rồi Ngự sử. Ông là người đầu tiên mang nghề nhiếp ảnh vào VN khi mở hiệu ảnh ở phố Thanh Hà (Hà Nội) năm 1868.


Là mệnh quan của triều đình nhưng ông cũng là nhà thơ và là tác giả bộ sách Từ thụ yếu quy gần 2.000 trang có nội dung chống hối lộ, tham nhũng. Từ thụ yếu quy nghĩa là nguyên tắc chủ yếu của việc từ chối và có thể nhận những thứ biếu xén mà kẻ làm quan cần tỉnh táo phân biệt để giữ mình. Mở đầu cuốn sách, ông viết: “Trong ba chữ răn mình của nhà quan thì chữ thứ nhất là Thanh. Thanh là liêm khiết giữ mình, không lấy của ai mảy may”.


Từng lăn lộn trong chốn quan trường gần 20 năm, nên khi viết Từ thụ yếu quy, Đặng Huy Trứ có cái nhìn thật sự thông cảm trước những sự thể khó xử của kẻ làm quan: “Trước chưa làm quan nay ra làm quan, trước địa vị thấp nay địa vị cao, khi giỗ chạp, vai lợn không kín mâm cỗ đâu có thể được? Khi đã có nhân dân, có xã tắc, muốn đi xe nát, cỡi ngựa còm đâu có thể được?...”. Và ông khẳng định không thể lấy của nước, càng không thể dùng bạo lực và mánh khóe để lấy của cấp dưới và của dân. Ông cho rằng với của mang đến thì thư tâm mà ứng xử. Có thể nhận thì nhận, không thể nhận thì dứt khoát từ chối. Nhận hay không nhận thì trong bụng đã có nguyên tắc định trước rồi. Nhận theo điều nghĩa, lấy điều tiết kiệm mà giữ mình, giữ mình ở khoảng không đục không trong, tiêu dùng thì không hoang cũng không bủn xỉn. Nếu bảo phải thanh liêm hoàn toàn thì cái khí tiết gian khổ ấy khó lâu bền được... Ông rút ra 104 kiểu hối lộ quan chức mà từ Hán gọi là “tang”. Ông quan niệm, bổn phận của người làm quan trước hết là phải vì dân: “Dân không chăm sóc chớ làm quan” và “Vì dân, bệ ngọc giải oan khiên...”. Không những thế, ông còn cho rằng:


Mình thiệt, dân lợi, dân gắn bó


Đẽo dân, mình béo, dân căm hờn


Hờn căm, gắn bó tùy ta cả...


Nguyễn Ngọc Tiến/ thanhnien.vn


Hội thề không tham nhũng vẫn còn nguyên giá trị


Hội Minh Thề, nơi có lễ thề không tham nhũng, vừa trở thành di sản phi vật thể quốc gia. Và câu chuyện chống tham nhũng của người xưa không chỉ bó gọn trong hội thề này.


Hội xưa trở lại


Đã ngoài 80 tuổi, cụ Phạm Đăng Khoa (thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, H.Kiến Thụy, TP.Hải Phòng) vẫn không quên được ngày đầu tiên được mặc quần áo mới đi xem hội Minh Thề (Minh Thệ), ngày trước Cách mạng Tháng 8. “Khi đó tôi khoảng mười mấy tuổi, đi theo ông nội ra xem thề xem tế. Cụ phải quần chùng áo the khăn xếp, đi giày Gia Định. Tiếc là kiểu giày này giờ tìm không được để đi cho đẹp”, cụ Khoa nhớ lại.


Tới năm 2002, khi huyện tổ chức khôi phục lại hội, cụ Khoa vui vô cùng. Nhiều cụ khi đó đã 80 - 90 tuổi cũng cùng tâm trạng. “Chúng tôi phải họp để nhớ, ghi lại. Ai chứng kiến thế nào thì kể lại, ghi lại. Chúng tôi hỏi nhau về cách diễn đạt, cách vẽ vòng thiêng trong hội thề. Cụ Phù, cụ Trúc, cụ Mọc… và nhiều cụ nữa cũng đã từng được tham gia kể lại để ghi chép. Hồi đó cứ tuổi mười tám trở lên là được tham gia”, cụ Khoa nói.


Trong bản văn của hội Minh Thề có đoạn: “Ở trong việc thi hành pháp luật sẽ được Thánh đức xét soi. Nếu người nào chứa chấp của gian tà, bao che kẻ trộm cắp, thần linh sẽ điều tra xét hỏi, công tư rõ ràng, lấy quyền hành chính trực chiếu theo luật thề này mà trị tội. Khi đã rõ ràng cứ việc thi hành đừng bảo rằng là tệ ác. Chiếu theo công việc, mong Thánh đức ban khen như phong tục đã định. Chúng dân sẽ ngoan ngoãn tuân theo sự công bằng của pháp lý”.


Các cụ cũng còn tìm đọc những bản dịch hương ước, bia đá, thư tịch, văn tự cổ. Hồ sơ di sản của hội cho biết các bước, thứ tự diễn ra trước đài thề, cách thức đọc văn thề, cách thức dâng dao bầu, dâng kim kê (gà trống), cách thức cắt máu ăn thề... đều theo tục lệ của làng ghi trong bản Tục lệ năm 1923. Sau đó, kịch bản 10 trang cho hội Minh Thề mới được cụ Khoa soạn ra, trình xã và huyện đọc. “Khi bắt đầu manh nha ý tưởng khôi phục lễ hội, điều tôi lo lắng nhất là bị coi là mê tín dị đoan. Đến khi lãnh đạo huyện đọc kịch bản thấy hợp lý nên đồng ý cho làng khôi phục lễ hội”, cụ Khoa nói.


Ông Lại Đình Ngọc, Phó giám đốc Sở VH-TT-DL Hải Phòng, cho biết sau năm 1945, Minh Thề bị gián đoạn một thời gian dài. Mãi đến năm 1993, khi cụm di tích đền chùa Hòa Liễu được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, nhân dân địa phương bắt tay vào việc phục dựng lễ hội truyền thống. Hội Minh Thề chính thức được phục dựng vào năm 2002. Lễ hội được tổ chức vào 14 tháng giêng âm lịch hằng năm.


Cụ Khoa cho biết khôi phục xong lễ hội, các bậc cao niên trong làng đi tìm người tâm huyết để truyền dạy, để có người lo tổ chức và bảo tồn sau này. Hiện tại, anh Phạm Văn Cường (30 tuổi, nhân viên công ty cây xanh), anh Nguyễn Văn Tuyên (42 tuổi, nghệ sĩ hát chèo ở làng) rất nhiệt tình học. Hằng năm, trước lễ hội 2 tháng, các anh đều phải gặp các cụ để tập luyện đọc hịch, nghe giảng nghi lễ, giải thích kịch bản. “Tế thần tế thánh thì tôi vẫn đọc. Nhưng phải có các anh đọc hịch hội cơ. Đọc hịch hội mới khó. Đọc phải dõng dạc, chân phải đứng chữ đinh, rồi thì quần chùng áo the, khăn đội đầu, khăn đỏ thắt ngang lưng… Như thế đọc hịch tuyên thệ không tham nhũng mới mạnh mẽ chứ”, cụ Khoa hào hứng nói. Ngoài tốt giọng, nhiệt tình, người đọc hịch được chọn phải có gia đình trọn vẹn, con cái ngoan ngoãn.


Lãnh đạo nên về thề cùng với dân


Hồ sơ di sản phi vật thể của hội Minh Thề cho biết hội do bà Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn (vợ Thái tổ Mạc Đăng Dung) tiếp thu nghi lễ các đời trước mà tạo nên.


PGS-TS Vũ Thị Phụng, Chủ nhiệm Khoa Lưu trữ học và quản trị văn phòng, ĐH KHXH-NV, ĐH Quốc gia Hà Nội, cho biết có thể coi hội Minh Thề là một biểu hiện về việc người xưa nêu vấn đề tránh tư lợi. “Phòng chống tham nhũng và tránh tư lợi đã được nêu thành giá trị từ sớm”, bà nói.


GS Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa VN, cho rằng: “Đây là một hội thề cho quan chức, vì tham nhũng gắn với nhà nước. Vì thế, việc nó tồn tại ở Hải Phòng cũng là một trong những chỉ báo gắn với nhà Mạc vì nó phải gắn với trung ương. Như thế, khi nhà Mạc tan thì nó phai dần đi, cuối cùng chỉ còn dân thề. Dân thề cũng tốt thôi. Nhưng theo tôi cũng rất cần lãnh đạo về thề cùng với dân. Như thế thì nó sẽ thành một hiện tượng văn hóa xã hội có tính biểu tượng cao hơn”.


Trong khi đó, ông Đỗ Xuân Trịnh, Phó bí thư H.Kiến Thụy, nói: “Được công nhận là di sản phi vật thể quốc gia sẽ giúp chúng tôi có điều kiện để xây dựng, hoàn thiện, duy trì và quảng bá lễ hội hơn. Có thể từ năm tới, chúng tôi sẽ mở rộng, mạnh dạn mời lãnh đạo T.Ư về dự lễ hội”. T.N -


Quan không thề trong sạch sẽ bị phạt tiền


Trước Minh Thề, việc ăn thề của các vua quan về lòng trung cũng đã được sử sách ghi lại. Vua quan thời Lý, Trần có tục ăn thề hằng năm tại đền Đồng Cổ, Hà Nội. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, các quan đi từ cửa Đông vào, đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề, đọc lời thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung xin Thần minh giết chết”. Đến thời Trần, triều đình cũng tuyên bố các điều khoản lễ Minh Thệ theo như lệ cũ của nhà Lý. Tuy nhiên, lời thề có thay đổi nội dung thành: “Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề này, Thần minh giết chết”. Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép, khi đọc lời thề xong, tể tướng sai đóng cửa điểm danh, người nào vắng mặt phải phạt 5 quan tiền.


Trinh Nguyễn - Lê Tân/ thanhnien.vn


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Võ Hồng Anh, một nhà khoa học chân chính - Tư liệu sưu tầm 21.10.2017
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
xem thêm »