tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20545641
21.05.2017
Tư liệu sưu tầm
Sức khỏe: Bạn cần biết về Tắc kè



Tên khoa học là Gekko gekko, họ Gekkonidac, bộ Lacertilia, lớp Reptilia. Nó là một dược liệu quí mà nhân dân ta vẫn quen dùng từ lâu. Do việc khai thác quá mức nên số lượng tắc kè ngoài thiên nhiên giảm sút nhanh chóng, nên việc nuôi nó để chủ động sử dụng là điều cần thiết.


TẮC KÈ là loại dược liệu quý hiếm, có giá trị kinh tế cao.Tắc kè còn gọi là Đại Bích Hổ hay Cáp Giới.Theo y học dân tộc tắc kè là một vị thuốc bổ có tác dụng làm giảm mệt mỏi, chữa nhiều chứng ho khó trị, ho ra máu, hen suyễn, đái rắt , đái són, đau xương... tráng dương bổ thận... rất hiệu quả.Trong các bài thuốc nam tắc kè được dùng ngâm rượu hoặc sấy khô tán thành bột để uống.Theo các kết quả phân tích cho thấy thân và đặc biệt là đuôi tắc kè có chứa rất nhiều a xit a min và các chất béo có tác dụng kích thích sự hoạt động của hệ thần kinh, tăng sức khỏe con người. (KS Đặng Tịnh)


Ngoài sử dụng trong y học tắc kè còn được sử dụng làm các món ăn bổ dưỡng, rất được các nhà hàng khách sạn ưa chuộng.


Trước đây tắc kè ngoài tự nhiên rất nhiều, nhưng do nhu cầu sử dụng của thị trường nội địa và xuất khẩu ngày càng cao nên tắc kè ngoài tự nhiên bị săn bắt quá mức gần như cạn kiệt . Do thị trường tiêu thụ tắc kè rất phong phú và đa dạng, hiện còn khan hiếm, để đáp ứng một phần nhu cầu của thị trường nên trang trại của chúng tôi đã và đang cung cấp tắc kè giống , tắc kè thịt cho các hộ chăn nuôi và nhà hàng, khách sạn.


Hình dáng bên ngoài Tắc kè giống như con thạch sùng (thằn lằn) nhưng to và dài hơn. Thân dài 15-17cm, đuôi dài 10-15cm. Đầu hình tam giác nhọn về phía mõm. Mắt có con ngươi thẳng đứng. Có hai chân trước và hai chân sau, mỗi chân có 5 ngón toè rộng, mặt dưới ngón có các nút bám để con vật dễ leo trèo. Toàn thân từ đầu đến đuôi có những vảy nhỏ hình hạt lồi với nhiều màu sắc (xanh thẫm, xanh nhạt, vàng, đen, đỏ nhạt...). Màu sắc của con vật thay đổi theo màu sắc của môi trường sống để ngụy trang che giấu kẻ thù ăn thịt. Đuôi tắc kè được xem là phần bổ nhất của con vật. Tắc kè mất đuôi trị giá bị giảm hẳn.


Tắc kè có tên trong y học cổ truyền là cáp giới. Các vùng nông thôn Việt Nam, nhiều gia đình đã nuôi tắc kè, nó ở trong các hốc cây, cột nhà hoặc nằm ở dưới các lớp ngói âm dương.


Tắc kè hoạt động săn mồi về ban đêm là chủ yếu, nó ăn sâu bọ, gián, muỗi, ruồi, nhện và các loài bọ cánh cứng khác. Mùa đông, khi nhiệt độ xuống dưới 20oC thì tắc kè ngủ đông. Mùa xuân về, thời tiết ấm áp, những tiếng kêu: “tắc kè, tắc kè… è” là tiếng gọi bạn tình trong mùa động dục.


Da tắc kè có nhiều màu óng ánh luôn thay đổi theo môi trường với mực đích ngụy trang để trốn tránh kẻ thù. Nếu khi bắt được tắc kè mà túm lấy đuôi nó, lập tức đuôi sẽ đứt lìa giúp cho tắc kè chạy thoát. Tắc kè cũng giống như con thằn lằn, đứt đuôi là hình thức tự vệ và nó sẽ tái sinh đuôi khác. Tắc kè thuộc họ bò sát nhưng không có nọc độc.


Khi tắc kè được 6 đến 7 tháng tuổi đạt trọng lượng khoảng 80g trở lên thì bắt đầu đẻ trứng, một tháng đẻ một lần mỗi lần đẻ từ 2 đến 5 trứng.Chúng đẻ liên tục trong nhiều năm, trứng bám vào vách tường hoặc thân cây sau 2 đến 3 tháng thì nở.Tắc kè con thường sống chung tổ với bố mẹ, chúng chỉ đi tìm tổ mới khi tổ cũ đã quá đông các thành viên.


Tắc kè ăn các loại côn trùng còn sống như: dế mèn, gián, châu chấu, trùn quế, sâu, mối, nhện...


Theo sách: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GSTS Đỗ Tất Lợi: “Thịt tắc kè vị mặn, tính ôn, có tác dụng làm giảm mệt mỏi, cơ thể suy nhược, chữa nhiều chứng ho khó trị rất hiệu quả, tráng dương bổ thận, tăng cường sinh lực, trẻ em còi xương, suy dinh dưỡng, hen suyễn, người già đau lưng, đau khớp...". Còn theo nhiều sách y học cổ truyền, thịt tắc kè, rượu và thuốc bào chế từ con tắc kè có tác dụng trợ dương, ích âm, trị ho lâu, ho ra máu. Từ giá trị bổ dưỡng đó trong dân gian nhiều người đã coi tắc kè là một con vật quý hiếm, người dùng thường xuyên có thể nâng cao sức khỏe, tăng cường sự dẻo dai. Các kết quả phân tích cho thấy thân và đặc biệt là đuôi của nó có chứa nhiều axít amin và các chất béo có tác động kích thích sự hoạt động của hệ thần kinh, tăng cường sức khoẻ cho con người…


Cầm con tắc kè ngửa bụng, giữ cho tư thế nằm yên và thẳng, xem các dấu hiệu sau:


- Con đực gốc đuôi phồng to, lỗ huyệt lồi có gờ cao, còn con cái gốc đuôi thon, lỗ huyệt lép hơn.


- Dưới lỗ huyệt có hai chấm gọi là chấm dưới huyệt. Ở con đực chấm dưới huyệt to như hạt gạo, lồi và rất đen, còn con cái mờ và lép.


- Dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái bóp vào chỗ phồng to của gốc đuôi, nếu là con đực thì có gai giao cấu lòi ra mầu đỏ thẫm, con cái không có.


CHẾ BIẾN:


Tắc kè sau khi bắt về nếu muốn dùng tươi thì chặt bỏ đầu và bốn bàn chân. Dùng dao khứa dọc sống lưng, lột da, mổ bụng bỏ ruột, chặt thành từng miếng đem ướp gia vị: Nước mắm, gừng tươi rồi đem nấu cháo. Hoặc sau khi làm thịt tắc kè xong, rửa sạch để ráo nước, tẩm nước gừng rồi sấy khô, tán thành bột. Bột tắc kè có thể trộn mật ong, làm thành viên để để dùng dần.


Muốn bảo quản tắc kè được lâu, nhất là tắc kè thương phẩm, cần chế biến tắc kè khô như sau: Đặt tắc kè nằm ngửa trên một miếng gỗ phẳng, đóng đinh ghim bốn bàn chân vào mặt gỗ, dùng dao sắc rạch một đường từ cổ cho đến đuôi, moi bỏ ruột, lau sạch máu và nhớt. Dùng hai que to, một que xiên ngang căng hai chân trước. Que nữa xuyên ngang căng hai chân sau. Dùng tiếp hai que ngắn và mềm hơn đặt chéo trong lòng bụng để căng cho phẳng. Cuối cùng dùng một que dài xuyên từ đầu xuống tận đuôi.


Cắt giấy bản thành từng giải quấn chặt đuôi vào que để khỏi bị đứt hoặc gãy, vì đuôi tắc kè vốn được coi là phần quý nhất. Sau khi đã xử lí xong đem phơi khô hoặc sấy khô. Dược liệu sau khi đã được sấy khô có hình dẹt phẳng. Đầu, đuôi, chân đều được căng trên một mặt phẳng. Lúc này, mắt tắc kè khô lõm xuống, miệng hơi há có hàm răng nhỏ, lưng có màu đen xám, sống lưng nhô rõ, toàn thân dược liệu có những hàng vảy nhỏ…


thegioicontrung.info


Theo Yhọc cổ truyền, tắc kè có vị mặn, tính bình, hơi có độc, quy vào kinh phế, thận, với công năng bổ phế, bổ thận, định suyễn, trợ dương.


Cách chế biến: Tắc kè lột bỏ hết phủ tạng, lấy bông tẩm cồn lau sạch máu, lấy 2 thanh tre nhỏ cài vào 4 bàn chân để cho thân tắc kè căng mỏng ra. Dùng một thanh nứa mảnh, dài, một đầu cắm vào dưới ức tắc kè, dọc theo bụng và đuôi, lấy một sợi dây cuốn chặt đuôi vào thanh nứa đó, đem phơi hoặc sấy khô. Tắc kè có nhiều chất bổ, nhất là phần đuôi, vì thê khi chế biến tắc kè cần bảo tồn đuôi.


Đông y, dong y, tho xuan duong, thuốc quý, thuoc quy, tắc kè, tac ke, tac ke ngam ruou, tac ke chua benh, tắc kè chữa bệnh


Công dụng của Tắc kè:


- Tắc kè tán bột chữa ho:


Trị ho đờm, ho ra máu, hen suyễn: tắc kè cắt bỏ phần đầu, từ mắt trở lên và 4 bàn chân, cạo bỏ các vảy trắng bên ngoài thân, cắt miếng nhỏ, sao vàng, tán bột mịn, ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 8 – 10g vào lúc đói. Uống liền nhiều ngày cho đến khi hết các triệu chứng.


Trị ho lâu ngày, phế khí thượng nghịch, khó thở, trong đờm có máu mủ, lồng ngực bứt rứt, cơ thể mệt mỏi: tắc kè 1 đôi, hạnh nhân, cam thảo mỗi vị 200g; nhân sâm, phục linh, bối mẫu, tang bạch bì, tri mẫu mỗi vị 80g. Hạnh nhân cắt bỏ đầu nhọn, bỏ vỏ sao hơi vàng; cam thảo, nhân sâm chích nước gừng; tang bạch bì chích mật ong; bối mẫu, tri mẫu sao vàng. Tất cả tán bột mịn, trộn đều, đóng vào lọ thủy tinh có nắp kín, ngày uống 2 lần, mỗi lần 6 – 8g. Uống liền 3 – 4 tuần lễ, nghỉ 1 tuần có thể uống tiếp liệu trình nữa.


Trị ho, mặt và chân tay bị phù nề: tắc kè 1 đôi, nhân sâm 20g (hoặc đảng sâm 40g). Tắc kè bào chế như trên, nhân sâm hoặc đảng sâm chích gừng. Tất cả tán bột mịn, bảo quản trong lọ có nắp kín, ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần 4 – 6g, trước bữa ăn.


Trị ho lao, người già ho nhiều đờm, tim yếu: tắc kè 1 đôi, đảng sâm, sa nhân, quy bản, mỗi vị 20g, đại táo 12g. Quy bản, rửa sạch, phơi khô, sao vàng. Đại táo sấy khô giòn. Tất cả tán bột mịn, thêm mật ong vừa đủ, làm viên 1g. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 1 – 2 viên, trước bữa ăn. Uống liền 3 – 4 tuần lễ. Có thể uống nhiều đợt.


- Tắc kè ngâm rượu trị thận hư, đau lưng


Trị đau lưng, thần kinh suy nhược: tắc kè 2 – 5 con, cách chế biến như trên, cắt miếng nhỏ, ngâm với rượu 35o – 40o, tỷ lệ 1 phần tắc kè / 7 phần rượu, ngâm trong 3 – 4 tuần lễ, chiết lấy rượu, ngâm tiếp lần 2 (1 phần tắc kè / 5 phần rượu), trong 2 – 3 tuần lễ, chiết lấy rượu. Gộp dịch rượu ngâm của 2 lần, lắc đều. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 20 – 30ml, trước bữa ăn. Để khử mùi tanh, có thể cho vào bình rượu 8 – 10g trần bì và 2g tiểu hồi.


- Trị thận hư, sinh dục yếu, di tinh, tiết tinh sớm:


Tắc kè 2 – 5 con, cách chế biến và bào chế như trên. Ngâm một bình rượu tắc kè như bài trên, đồng thời ngâm riêng một bình rượu thuốc khác gồm hà thủ ô đỏ, ba kích, mỗi vị 50g, thỏ ty tử 15g, trần bì 10g, tiểu hồi 2g. Tỷ lệ thuốc/rượu là 1/7, cách ngâm và thời gian ngâm như trên. Phối hợp giữa rượu tắc kè và rượu thuốc theo tỷ lệ 1:1, hoặc 1:2; lắc đều. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 20 – 30ml, trước bữa ăn, hoặc trước khi đi ngủ. Có thể uống mỗi đợt 3 – 4 tuần lễ, hoặc tới khi các triệu chứng thuyên giảm.


Tắc kè ngâm rượu chữa bệnh gì?


Rượu tắc kè:


- Tắc kè còn có tên gọi là đại bích hổ, cáp giải, cáp giới. Tên khoa học là Gekko gekko L họ tắc kè. Bạn đừng nhầm với con thằn lằn (thạch sùng). Nó dài hơn con thằn lằn, đầu, lưng, đuôi đều có vẩy nhỏ nhiều sắc màu từ xanh lá mạ đến xanh rêu. Đuôi tắc kè có thể coi là bộ phận qúi nhất. Nếu bạn bắt nó, nó có thể rụng đuôi rồi mọc lại.


Tắc kè là vị thuốc quí tương đương với nhân sâm. Thường được dùng trong những trường hợp bất lực ở đàn ông. Khi dùng phải dùng 1 đôi (một đực một cái mới công hiệu). Ngoài ra tắc kè còn là vị thuốc bổ phế, dùng để chữa các chứng ho lâu ngày không hết.


Phương thuốc: Tắc Kè (1 đực, 1 cái) 50g, đảng sâm 80g, huyết giác 10g, trần bì 10g, tiểu hồi 10g, đường cát 40g, rượu nếp 400 2 lít.


Dùng tươi: Chặt bỏ đầu từ 2 mắt trở lên, bỏ 4 bàn chân, lột da, mổ bụng, bỏ nội tạng, nướng thật vàng thơm, nhớ giữ còn đuôi.


Dùng khô: Mổ bụng, bỏ hết phủ tạng, lau sạch bằng giấy bản tẩm rượu. Đem phơi hay sấy khô.


Khi dùng nhúng vào nước sôi, cạo sạch lớp vảy ở lưng, chặt bỏ đầu từ dưới 2 mắt trở lên và 4 bàn chân. Tẩm rượu (hoặc mật ong) nướng cho vàng đều. Ngâm 2 con trong 1 lít rượu gạo 40 độ, cho các vị thuốc đã nói ở trên vào,chôn dưới đất 100 ngày (bách nhật) để cân bằng âm dương rồi mới đào lên. Sau đó lọc bỏ bã, cho vào chai thủy tinh, đậy nút kín


Mỗi lần uống 1 ly nhỏ (30ml). Ngày 3 lần trước bữa ăn.


Công dụng: Bổ phế, bình suyễn, bổ thận tráng dương.


Chủ trị: Thận dương suy kém, đau lưng mỏi gối, tiểu đêm, hen suyễn (thể hư hàn).


BS Lê Thúy Tươi/ tuoitre.vn


Tắc kè có tên trong y học cổ truyền là cáp giới. Các vùng nông thôn Việt Nam, nhiều gia đình đã nuôi tắc kè, nó ở trong các hốc cây, cột nhà hoặc nằm ở dưới các lớp ngói âm dương.


Tắc kè hoạt động săn mồi về ban đêm là chủ yếu, nó ăn sâu bọ, gián, muỗi, ruồi, nhện và các loài bọ cánh cứng khác. Mùa đông, khi nhiệt độ xuống dưới 20oC thì tắc kè ngủ đông. Mùa xuân về, thời tiết ấm áp, những tiếng kêu: “tắc kè, tắc kè… è” là tiếng gọi bạn tình trong mùa động dục.


Da tắc kè có nhiều màu óng ánh luôn thay đổi theo môi trường với mực đích ngụy trang để trốn tránh kẻ thù. Nếu khi bắt được tắc kè mà túm lấy đuôi nó, lập tức đuôi sẽ đứt lìa giúp cho tắc kè chạy thoát. Tắc kè cũng giống như con thằn lằn, đứt đuôi là hình thức tự vệ và nó sẽ tái sinh đuôi khác. Tắc kè thuộc họ bò sát nhưng không có nọc độc.


Khi tắc kè được 6 đến 7 tháng tuổi đạt trọng lượng khoảng 80g trở lên thì bắt đầu đẻ trứng, một tháng đẻ một lần mỗi lần đẻ từ 2 đến 5 trứng.Chúng đẻ liên tục trong nhiều năm, trứng bám vào vách tường hoặc thân cây sau 2 đến 3 tháng thì nở.Tắc kè con thường sống chung tổ với bố mẹ, chúng chỉ đi tìm tổ mới khi tổ cũ đã quá đông các thành viên.


2. PHÂN BIỆT CON ĐỰC,CON CÁI:


Cầm con tắc kè ngửa bụng, giữ cho tư thế nằm yên và thẳng, xem các dấu hiệu sau:


– Con đực gốc đuôi phồng to, lỗ huyệt lồi có gờ cao, còn con cái gốc đuôi thon, lỗ huyệt lép hơn.


– Dưới lỗ huyệt có hai chấm gọi là chấm dưới huyệt. ở con đực chấm dưới huyệt to như hạt gạo, lồi và rất đen, còn con cái mờ và lép.


– Dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái bóp vào chỗ phồng to của gốc đuôi, nếu là con đực thì có gai giao cấu lòi ra mầu đỏ thẫm, con cái không có.


3.THỨC ĂN:


Tắc kè ăn các loại côn trùng còn sống như: dế mèn, gián, châu chấu, trùn quế, sâu, mối, nhện…


4.CÁCH LÀM CHUỒNG NUÔI:


Căn cứ vào tập tính sinh hoạt, đặc biệt là tập tính thích sống ở một hang tổ quen thuộc trên thân cây, không ưa rời chỗ ở cũ chuyển đến nơi khác nên ta đã nuôi được tắc kè trong chuồng nuôi theo cách sau đây:


– Một hai mặt chuồng là tường gạch còn lại là lưới. – Từ mặt nền xây tường gạch thô cao lên khoảng 50cm để khi rọn rửa chuồng không làm rỉ lưới. Làm khe hở sát dưới nền dài 20cm – cao 1cm để thoát nước, nền láng xi măng hoặc lát gạch.


– Phía trên tường quây bằng lưới inox hoặc lưới sắt mắt cáo đường kính mắt lưới 0,3cm. Kích thước chuồng: Dài 3m – rộng 2m- cao 2m.


– Làm cửa cao để người nuôi tiện ra vào.


– Bên trong chuồng đặt vài cây gỗ hoặc ống tre nứa cho chúng leo trèo và đẻ trứng.


Sau đó chúng ta chon những con tắc kè khỏe mạnh gần đến độ tuổi sinh sản thả vào chuồng để nuôi. Chỉ cần cho chúng ăn uống tốt là chúng tự sinh sản và phát triển rất tốt.


5.CÁCH NUÔI:


– Đối với tắc kè bố mẹ: bên trong chuồng cho nhiều ống tre nứa loại to, dài khoảng 25cm cho chúng đẻ trứng. Mật độ: 30 đến 50 con/1m vuông cao.


– Đối với tắc kè con và tắc kè thịt: chỉ cần cho quần áo, chăn mền cũ, thân cây to là được. Mật độ: 50 đến 100 con/1m vuông cao.


– Gác vài cái máng tre bổ đôi cho tắc kè uống nước.


6.CÔNG DỤNG:


Theo sách: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GSTS Đỗ Tất Lợi có đoạn viết “Thịt tắc kè vị mặn, tính ôn, có tác dụng làm giảm mệt mỏi, cơ thể suy nhược, chữa nhiều chứng ho khó trị rất hiệu quả, tráng dương bổ thận, tăng cường sinh lực, trẻ em còi xương, suy dinh dưỡng, hen suyễn, người già đau lưng, đau khớp…” Còn theo nhiều sách y học cổ truyền, thịt tắc kè, rượu và thuốc bào chế từ con tắc kè có tác dụng trợ dương, ích âm, trị ho lâu, ho ra máu. Từ giá trị bổ dưỡng đó trong dân gian nhiều người đã coi tắc kè là một con vật quý hiếm, người dùng thường xuyên có thể nâng cao sức khỏe, tăng cường sự dẻo dai. Các kết quả phân tích cho thấy thân và đặc biệt là đuôi của nó có chứa nhiều axít amin và các chất béo có tác động kích thích sự hoạt động của hệ thần kinh, tăng cường sức khoẻ cho con người…


7.CÁCH CHẾ BIẾN:


Tắc kè sau khi bắt về nếu muốn dùng tươi thì chặt bỏ đầu và bốn bàn chân. Dùng dao khứa dọc sống lưng, lột da, mổ bụng bỏ ruột, chặt thành từng miếng đem ướp gia vị: Nước mắm, gừng tươi rồi đem nấu cháo. Hoặc sau khi làm thịt tắc kè xong, rửa sạch để ráo nước, tẩm nước gừng rồi sấy khô, tán thành bột. Bột tắc kè có thể trộn mật ong, làm thành viên để để dùng dần.


Muốn bảo quản tắc kè được lâu, nhất là tắc kè thương phẩm, cần chế biến tắc kè khô như sau: Đặt tắc kè nằm ngửa trên một miếng gỗ phẳng, đóng đinh ghim bốn bàn chân vào mặt gỗ, dùng dao sắc rạch một đường từ cổ cho đến đuôi, moi bỏ ruột, lau sạch máu và nhớt. Dùng hai que to, một que xiên ngang căng hai chân trước. Que nữa xuyên ngang căng hai chân sau. Dùng tiếp hai que ngắn và mềm hơn đặt chéo trong lòng bụng để căng cho phẳng. Cuối cùng dùng một que dài xuyên từ đầu xuống tận đuôi.


Cắt giấy bản thành từng giải quấ n chặt đuôi vào que để khỏi bị đứt hoặc gãy, vì đuôi tắc kè vốn được coi là phần quý nhất. Sau khi đã xử lí xong đem phơi khô hoặc sấy khô. Dược liệu sau khi đã được sấy khô có hình dẹt phẳng. Đầu, đuôi, chân đều được căng trên một mặt phẳng. Lúc này, mắt tắc kè khô lõm xuống, miệng hơi há có hàm răng nhỏ, lưng có màu đen xám, sống lưng nhô rõ, toàn thân dược liệu có những hàng vảy nhỏ…


Sắc xanh tuyệt đẹp của loài tắc kè hoa


Trong thế giới tắc kè hoa, màu sắc là một ngôn ngữ được sử dụng để bảo vệ lãnh thổ, thể hiện cảm xúc và giao tiếp với bạn tình tiềm năng. Nó cũng là một phương tiện điều tiết thân nhiệt. Cách tắc kè hoa thay đổi màu sắc thật thú vị: Các tế bào chứa nhiều sắc tố nằm dưới da và có thể “mở”, “đóng”để phơi bày màu sắc.


Tắc kè hoa chủ yếu được tìm thấy ở châu Phi và Madagascar. Khoảng 50% tắc kè hoa trên thế giới là loài đặc hữu ở Madagascar. Hiện mới chỉ có 66 loài được nhận dạng. Có lẽ tắc kè hoa là loài đặc biệt nhất trong số mọi loài thằn lằn, do được “thiết kế” hoàn hảo để sống trên cây. Cơ thể của chúng dẹt, tạo điều kiện để di chuyển dễ dàng qua các cành cây và cho phép chúng hấp thụ nhiệt hiệu quả trong buổi sáng và buổi tối bằng cách hướng phần cơ thể về phía mặt trời.


Tắc kè là vận động viên bơi lội rất giỏi, tự căng phồng cơ thể bằng không khí. Con ngươi của chúng có thể xoay độc lập nên tắc kè có thể nhìn theo hai hướng cùng lúc mà không cần di chuyển đầu. Khả năng này, đặc biệt hữu ích đối với một loài động vật phải nguỵ trang để tránh kẻ thù: Tắc kè có thể nằm bất động tuyệt đối để theo dõi nguy hiểm và con mồi ở mọi hướng. Khi đã định vị được con mồi, thường là côn trùng, tắc kè hoa phóng lưỡi để tóm nó, khả năng phóng lưỡi dài và dính với tốc độ chóng mặt để bắt con mồi đang di chuyển nhanh.


Giới khoa học cho tới nay vẫn chưa thể giải thích tại sao chúng lại có thể đẩy lưỡi với sức mạnh phi thường đến thế. Khi tức giận, tắc kè hoa mở tế bào chứa sắc tố nâu – melanin, giúp biến nó thành màu thẫm. Khi nó thư giãn, tế bào chứa sắc tố vàng hoặc xanh kết hợp, làm cho da có màu xanh dịu. Khi bị kích thích tình dục, tắc kè hoa tạo ra rất nhiều màu sắc và hoa văn. Vào ban đêm, nhiều tắc kè hoa biến thành màu trắng, có lẽ là lúc chúng thư giãn hoàn toàn.


Rượu ngâm thảo dược


Thảo dược (thuốc Nam, thuốc Bắc) được sơ chế và ngâm trong rượu. Có rất nhiều loại rượu ngâm với các loại thảo dược, thường theo hai phương thức: hoặc ngâm rượu riêng từng loại hoặc ngâm hỗn hợp theo các bài thuốc cổ truyền.


Trong thực tế, tùy địa phương, vùng miền có nhiều bí quyết ngâm rượu riêng, tuy nhiên người ta thường thấy rượu được ngâm với dâm dương hoắc, sâm các loại, kỷ tử, táo tàu, cùi nhãn, cùi vải, củ và rễ đinh lăng, cây mật gấu, thục, ba kích, chuối hột, mơ, tầm gửi (đặc biệt tầm gửi gỗ nghiến), quế chi, xuyên khung, nhục thung dung, hà thủ ô v.v.


Sưu tầm từ Internet


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Stalin và vấn đề ký ức lịch sử của nước Nga - Tư liệu sưu tầm 23.09.2017
Sau vụ xử Bạc Hy Lai: Tham nhũng có đe dọa tương lai Trung Quốc? - Tư liệu 21.09.2017
Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18 - Li Tana 19.09.2017
Chuyến du lịch Việt Nam của vị Nga Hoàng cuối cùng - Tư liệu sưu tầm 19.09.2017
Franklin Roosevelt – Người duy nhất đắc cử ba nhiệm kỳ tổng thống Mỹ - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Tưởng Giới Thạch – Tổng thống Trung Hoa Dân quốc - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Mao Trạch Đông trong mắt người Trung Quốc hiện nay - Lý Lỵ & Chương Lập Phàm 18.09.2017
Huyện Kiên Lương: Vững vàng hội nhập và phát triển/ Du lịch đảo ở Kiên Lương - Nhiều tác giả 17.09.2017
Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang - Tư liệu 17.09.2017
Vài ký ức về ba tôi: Bộ trưởng Vũ Trọng Khánh - Vũ Trọng Khải 10.09.2017
xem thêm »